Giải mật Tây Du

Lượt đọc: 78 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4: Trịnh Quán Thập Tam Niên

❊ ❊ ❊

 Năm Trinh Quán thứ 13 là một mốc thời gian rất quan trọng của Tây Du Ký, bởi trước hết đó là năm mà Đường Tam Tạng rời Trường An lên đường sang tây thỉnh kinh. Nhưng thật bất ngờ và vô lý là tác giả lại để bộ truyện có tới hai thời điểm năm Trinh Quán thứ 13, đầu tiên là năm mà Trần Quang Nhị thi đỗ Trạng nguyên, và tiếp theo là khi Trần Huyền Trang lên đường. Việc cố tính đặt trùng thời điểm này hẳn nhiên phải ẩn chứa nhiều ý tứ của tác giả.

Trước tiên, xin tóm lược mấy sự kiện có liên quan về niên hiệu Trinh Quán được ghi lại trong Tây Du Ký.

1. Năm Trinh Quán thứ 13, Đường Thái tông tổ chức thi, Trần Ngạc tự Quang Nhị, tức bố của Trần Huyền Trang đỗ Trạng nguyên. (Hồi 9)

2. Trinh Quán nguyên niên là năm Tỵ. (Hồi 9)

3. Đường Thái tông du địa phủ, tưởng đã hết dương thọ, được phán quan Thôi Giác sửa sổ sinh tử thêm hai mươi năm thọ. (Hồi 11)

4. Đường Thái tông vay một trong mười ba kho bạc cõi âm của Tướng Lương (ở trần thế Tướng Lương chuyên nghề bán nước và bán chậu). (Hồi 11)

5. Uất Trì Cung đem vàng trả, Tướng Lương không nhận, bèn sai dựng chùa Tướng Quốc. (Hồi 12)

6. Đường Thái tông mở đại hội thủy lục, mời Trần Huyền Trang chủ trì, Huyền Trang được phong Tả tăng cương, Hữu tăng cương, Thiên hạ đại xiển Đô tăng cương và được cử đi thỉnh kinh. (hồi 12)

Án chiếu các sự việc này với lịch sử Trung Quốc, ta sẽ thấy sự trùng khớp đáng ngạc nhiên, để dẫn tới một kết luận là Tây Du Ký thường xuyên ám chỉ người thật việc thật của triều đại nhà Minh.

1. Trinh Quán thập tam niên

Hồi 9 chép: “nguyên văn: Bỉ thì thị Đại Đường Thái tông Hoàng đế đăng cơ, cải nguyên Trinh Quán, dĩ đăng cực thập tam niên, tuế tại Kỷ Tỵ…” tạm dịch “Bấy giờ Thái tông Hoàng đế nhà Đại Đường đăng cơ, cải niên hiệu Trinh Quán, đã đăng cực mười ba năm, là năm Ất Tỵ.” Câu này quả thực chứa đầy mâu thuẫn ngay trong chính nội dung của nó.

Trinh Quán nguyên niên trong lịch sử là năm 627, tức năm Bính Tuất; năm Trinh Quán thứ 13 là năm 639 là Mậu Tuất, cả hai đều không liên quan gì đến đến năm Tỵ cả. Tại sao tác giả có thể nhầm lẫn sơ đẳng đến như vậy? Năm Kỷ Tỵ ở đây dùng để ám chỉ năm 1389, khi đó Chu Đệ, bắt đầu cuộc tấn công lên phía bắc vào triều đình của Kiến Văn đế.

Lại nữa, Thái tông là miếu hiệu được đặt ra sau khi mất của Hoàng đế. Khi Hoàng đế đăng cơ thì chưa có miếu hiệu. Lại thêm ở trước nói “đăng cơ”, ở sau lại nói “đăng cực mười ba năm”, vậy là ý làm sao? “Đăng cơ” là ám chỉ Chu Đệ được phong vương, mà “đăng cực” là chỉ Chu Đệ lên làm Hoàng đế vậy. Tây Du Ký hồi 11 chép về việc hồn của Đường Thái tông tới gặp Diêm vương như sau:

Mười Diêm vương soát lại một lượt từ đầu, thấy ghi ở dưới tên Thái Tông là ba mươi ba năm, bèn thất kinh hỏi:
- Bệ hạ lên ngôi được mấy năm rồi?
Thái Tông thưa:
- Trẫm lên ngôi đến nay là mười ba năm.

Trong lịch sử, Đường Thái tông chỉ ở ngôi 23 năm thôi, không lẽ nào tác giả lại không biết mà sửa bừa. Con số 13 và 33 là ẩn chứa huyền cơ.

Lấy Trinh Quán thập tam niên để chỉ Hồng Vũ thập tam niên, đó là năm Chu Đệ được phong Yên vương.

Niên hiệu Hồng Vũ kéo dài 31 năm, rồi Kiến Văn đế lên ngôi được 2 năm thì bị soán. 33 năm chính là khoảng thời gian từ khi Chu Đệ làm Yên vương tới khi bỏ tước Yên vương mà lên ngôi Hoàng đế.

2. Vay bạc Tướng Lương

Để trốn khỏi sáu mươi tư giặc cỏ, bảy mươi hai yên trần ở Địa phủ, Đường Thái tông theo lời Thôi Phán quan mà tạm vay một trong mười ba kho tiền cõi âm của Tướng Lương. Nhân vật này được mô tả: “Nguyên ông này làm nghề bán hàng nước, cùng vợ là Trương thị bán chậu sành ngoài cửa. Mỗi khi bán được đồng tiền nào, họ chỉ ăn uống qua loa, còn bao nhiêu đem bố thí cho các nhà sư, hoặc mua vàng mã cúng đốt gửi kho âm phủ, vì vậy được dồi dào phúc quả.”

Sau khi về trần, Thái tông sai người đem bạc tới trả, nhưng Tướng Lương không chịu nhận nên triều đình đem bạc ấy dựng ngôi chùa Sắc kiến Tướng Quốc và “Bên trái là sinh từ của vợ chồng Tướng Lương”.

Đây là một ẩn dụ rất tương đồng với nhân vật lịch sử Diêu Quảng Hiếu thời Minh sơ. Diêu Quảng Hiếu (1335-1418) là nhà chính trị, Phật học, nhà văn… thời trẻ xuất gia ở Diệu Trí am, là mưu sĩ chủ chốt của Chu Đệ khi còn là Yên vương. Sau khi Chu Đệ lên ngôi, họ Diêu được phong quản Tăng lục ty, được người đời gọi là Hắc y Tể tướng. Tăng cương ty quản lý mười ba Bố chính ty, tức quản lý tất cả sự vụ Phật giáo tại mười ba tỉnh toàn quốc. Mười ba kho bạc là ám chỉ ý này.

Sau Diêu Quảng Hiếu mất, để tưởng nhớ công lao, Minh Thành tổ cho dựng miếu thờ Diêu Quảng Hiếu cực lớn ở phía tây cửa Đức Thắng, đắp đất làm đảo, dẫn nước xung quanh vào thủy đàm, dân chúng thắp hương lễ bái, xin nước từ thủy đàm nhỏ xuống bên dưới. Chi tiết vợ chồng Tướng Lương làm nghề bán nước trong Tây Du Ký là có ẩn ý như vậy.

Về ngôi chùa Sắc kiến Tướng Quốc, đó là ám chỉ chùa Hộ Quốc. Ban đầu Diêu Quảng Hiếu ngụ tại chùa Khánh Thọ, sau khi mất được đem thần vị thờ tại chùa Đại Long Hưng trong cung. Năm Gia Tĩnh thứ 14, chùa Đại Long Hưng cháy, Gia Tĩnh đế cho dời di ảnh Diêu tới Hộ Quốc tự.

“Tăng cương ty” do Diêu Quảng Hiểu quản lý cũng là cơ quan được thiết lập ở triều nhà Minh chứ triều nhà Đường chưa từng có. Hai chữ “Tăng cương” được nhắc đi nhắc lại ba lần trong danh hiệu Thái tông phong cho Trần Huyền Trang cũng là một ám chỉ triều đại khá rõ ràng.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.