Chúng ta đều biết vào thời nhà Minh đã xuất hiện rất nhiều thương nhân và các nhà truyền giáo phương Tây tại Trung Quốc. Do vậy hiển nhiên có sự giao thoa giữa hai nền văn hóa phương Tây và phương Đông. Tây Du Ký cũng không nằm ngoài dòng chảy này. Có ý kiến cho rằng Phật giáo Tây phương chính là ẩn dụ của Thiên Chúa giáo truyền từ phương Tây vào Trung Quốc ở thời điểm mà tác giả viết nên bộ tiểu thuyết. Chính vì thế, Tây Du Ký ngầm diễn tả sự xung đột, tranh giành ảnh hưởng trong triều đình và trong xã hội giữa tôn giáo cũ là Đạo giáo với tôn giáo mới. Không biết do vô tình hay cố ý mà Tây Du Ký đã đan xen một số cố sự của phương Tây vào trong câu chuyện của mình, trong đó hình ảnh chúa Jesus cũng được nhắc đến.
1. Chúa Hài Đồng và Thánh giá
Hồi 37 kể về thầy trò Đường Tăng ở nước Ô Kê. Vua nước đó bị yêu quái giết hại, bản thân nó biến thành Quốc vương, chiếm lấy cả nước. Đường Tăng được quỷ hồn của nhà vua thác mộng kể lại sự tình. Tôn Ngộ Không liền hóa thành “Món hàng lập vua” để kể lại cho Thái tử biết sự thật. Món hàng lập vua (Lập đế hóa) ấy chính là ẩn dụ của chúa Hài Đồng.
Món hàng này được giới thiệu rằng “bảo bối biết hết mọi chuyện năm trăm năm quá khứ, năm trăm năm hiện tại, năm trăm năm tương lai, cộng là một nghìn năm trăm năm”. Đây là điều không bình thường, bởi ta hay thấy cách nói “năm trăm năm quá khứ, năm trăm năm hiện tại” chứ “năm trăm năm hiện tại” nghĩa là sao? Rõ ràng tác giả chỉ muốn đưa tới con số 1.500 năm.
Tây Du Ký ra đời khoảng nửa cuối thế kỷ 16, vậy thì 1.500 năm trước chính là thế kỷ đầu của Tây lịch, đánh dấu sự ra đời của Chúa Jesus và Thiên Chúa giáo. Để ám chỉ Chúa Hài Đồng, tác giả giới thiệu “Món hàng lập vua” vốn là “một chú hòa thượng nhỏ xíu độ hai tấc” đựng trong tráp, sau khi ra khỏi tráp thì “bèn hóa phép thần thông, vươn người dài tới ba thước bốn, năm tấc”. Ba thước bốn, năm tấc là kích thước của đứa nhỏ. Tiêu đề của hồi, tác giả lại đặt là “Ngộ Không thần hóa dẫn anh nhi”(bản Như Sơn dịch “Hóa phép, Ngộ Không dẫn trẻ thơ”, bản Thụy Đình dịch “Ngộ Không hóa phép dẫn hài nhi”), anh nhi là trẻ sơ sinh, là hài đồng, trong khi Thái tử không còn bé bỏng gì, đã mang ba ngàn quân đi săn bắn. Tiêu đề hồi phải hiểu là “Ngộ Không hóa phép thành Chúa Hài Đồng”.
Tây Du Ký lại có bài thơ miêu tả quỷ hồn của Quốc vương trong đó có câu: “tay cầm một cây ngọc khuê trắng la liệt những vì sao”. Cây ngọc khuê ấy chính là tín vật mà Quốc vương lưu lại cho Đường Tăng, được gọi là “kim sương bạch ngọc khuê” - ngọc khuê trắng nạm vàng. Ngọc khuê là thứ đồ cổ ngọc hinh thanh dài, quý tộc thời cổ cống nộp triều đình, dùng trong tế tự, tang táng, chưa từng có việc nạm vàng cho ngọc khuê, cũng như không có việc khảm ngọc lên để thành “la liệt những vì sao”. Đây giống như hình ảnh ẩn dụ của cây thánh giá Thiên Chúa giáo được nạm vàng, khảm ngọc hơn là một thanh ngọc khuê của đế vương Trung Hoa.
2. Câu chuyện nhà tiên tri Elijah
Cầu mưa ở quận Phượng Tiên là một cố sự hơi nhàm chán vì không có yêu quái nào xuất hiện cả, chỉ có một địa phương gặp hạn hán như bao nhiêu thành trấn khác mà thầy trò Đường Tăng đã kinh qua. Hạn hán thì cầu mưa, câu chuyện tưởng như đơn giản, mà thực tế lại diễn ra phức tạp hơn nhiều, bởi Ngọc Hoàng Thượng Đế đang trừng phạt người dân ở đây.
Hồi 87 kể về nguồn cơn của sự trừng phạt ấy qua lời Ngọc Đế nói:
“Ngày 25 tháng Mười hai hồi ba năm trước đây, trẫm xuất hành giám sát muôn trời, chơi khắp ba cõi, xa giá tới phương ấy, thấy viên thượng quan làm điều bất nhân, đem lễ chay cúng trời, đổ cho chó ăn, miệng nói bẩn thỉu, gây nên tội mạo phạm.”
Ngộ Không về mắng Quận hầu: “Chỉ tại cái đồ nhà ngươi đã mạo phạm đến trời đất vào ngày 25 tháng Mười hai hồi ba năm trước, đến nỗi để dân đen mắc cạn, bây giờ trời không chịu cho phép làm mưa”
Rồi Quận hầu thú nhận: “Ngày 25 tháng Mười hai hồi ba năm trước, ở trong bản nha chúng tôi làm lễ cúng trời, vì người vợ ác, cãi nhau văng tục, nhất thời cả giận mất khôn, đun đổ bàn thờ, vung té cỗ chay, quả có gọi chó đến ăn thực.”
Trong một đoạn ngắn mà cụm “ngày 25 tháng Mười hai” xuất hiện liên tiếp ba lần như một sự nhấn mạnh. Nhưng ta nên biết phong tục Trung Hoa và Việt Nam giống nhau ở điểm ngày 23 tháng Chạp cúng Táo quân, rồi Táo quân về trời tâu báo sự tình gia chủ trong năm. Ngày 23 Táo quân về trời báo cáo, nhẽ đâu ngày 25 Ngọc Đế lại đi tuần du kiểm tra. Cái sự tình ở ngày 25 tháng Mười hai thật đáng khả nghi. Trong Tây Du Ký chưa từng kể về việc Ngọc Đế rời thiên đình tuần du bởi ngài đã có các thần Thiên Lý Nhãn, Thuận Phong Nhĩ làm tại mắt. Nước sôi lửa bỏng như hồi Tề Thiên Đại thánh làm phản ở hạ giới, Ngọc Đế cũng chỉ “Lập tức sai mang xa giá cùng Đạo tổ, Quan Âm, Vương Mẫu cùng các vị thần tiên đến cửa Nam Thiên. Các thiên binh lực sĩ đã tề chỉnh đón rước.”
Ngày 25 tháng Mười hai ở hồi này ám chỉ Tây lịch chứ không phải Âm lịch, tức ngày lễ Giáng sinh. Ngọc Đế tuần du ám chỉ Chúa giáng sinh.
Câu chuyện của quận Phượng Tiên là một bản sao nho nhỏ lấy từ câu chuyện nhà tiên tri Elijah trong Kinh Thánh. Ahab là vị vua Israel, sau khi kết hôn với Jezebel - con gái của vua Tyre, bà này đã thuyết phục vua Ahab từ bỏ việc thờ phụng Thiên Chúa, mà lập miếu thờ thần Baal, khiến dân chúng bỏ Thiên Chúa mà thờ ngoại đạo. Chi tiết này được Tây Du Ký mô phỏng rằng Quận hầu “vì người vợ ác, cãi nhau văng tục, nhất thời cả giận mất khôn, đun đổ bàn thờ, vung té cỗ chay, quả có gọi chó đến ăn thực”.
Nhà tiên tri Elijah được Thiên Chúa cử tới để khiển trách vua Ahab và khiến dân Israel hối cải. Elijah tới gặp vua Ahab và tuyên bố nếu không nghe lời ông thì đất nước sẽ không có sương cũng chẳng có mưa. Và Chúa Trời đã cho Elijah quyền đóng cửa các tầng trời ba năm rưỡi khiến Israel lâm vào cảnh hạn hán kéo dài. Giống như vậy, trong Tây Du Ký, vì Ngọc Đế giận Quận hầu nên cấm làm mưa ba năm liền ở quận Phượng Tiên.
Vào năm thứ ba, Elijah quay lại gặp vua Ahab, ông thách đấu với bốn trăm năm mươi nhà tiên tri thờ thần Baal xem bên nào cầu được mưa. Bốn trăm năm mươi nhà tiên tri thờ thần Baal cầu mưa từ sáng tới tối không được. Tới phiên Elijah bảo dân chúng sửa bàn thờ Thiên Chúa và dâng lễ, lập tức nước dâng tràn mương. Dân chúng Israel lập tức quỳ xuống xưng tụng Đức Thiên Chúa. Elijah cầu nguyện lần nữa, trời liền đổ mưa.
Chi tiết này cũng được mô phỏng lại trong Tây Du Ký, bắt đầu từ việc dân chúng được thấy dấu hiệu tha thứ của Ngọc Đế thì một lòng sùng tín:
Khắp nơi trong quận Phượng Tiên, quan viên lớn nhỏ, quân lính dân thường suốt ba năm không được nghe tiếng sấm, không được nhìn ánh chớp. Hôm nay thấy sấm vang, chớp giật, thì ai nấy đều quỳ cả xuống, đầu cúi sát lư hương, tay cầm cành dương liễu, miệng lầm rầm khấn:
- Nam vô A Di Đà Phật! Nam vô A Di Đà Phật!
Lời thiện ấy được nhiệm vang quả nhiên kinh động thượng thiên.
Và kết thúc bằng trời giáng cơn mưa ngọt.
Vậy nước Israel và quận Phượng Tiên còn có liên hệ gì với nhau không? Xin thưa là có. Trung Quốc có hai loại hoa phượng tiên, một có tên khoa học là Impatiens Balsamina, tên tiếng Việt Nam là hoa bóng nước. Loại thứ hai có tên khoa học là Lawsonia Inermis, tên tiếng Anh là Henna hay Camphire. Loại thứ hai này chính là loài hoa xuất hiện nhiều trong Kinh Thánh. Nhã ca của Solomon 1 viết:
My beloved is to me a cluster of henna blossoms In the vineyards of Ein Gedi.
Tạm dịch*:
Các đoạn dịch Nhã ca của Solomon trong chương này lấy từ www.nvbible.org.
Người yêu tôi như một chùm hoa phượng tiên Hái từ vườn nho Ein Gedi.
Nhã ca của Solomon 4 viết:
Your shoots are a royal garden full of pomegranates
With choice fruits:
Camphire and spikenard
Tạm dịch:
Các chồi của em là vườn thạch lựu,
Với các loại trái cây ngon nhất,
Hoa phụng tiên và cây cam tùng.
Nhã ca của Solomon 7 viết:
Come, my beloved,
Let us go into the open,
Let us lodge among the henna shrubs,
Tạm dịch:
Nào, anh yêu dấu,
Ta hãy ra ngoài đồng,
Ngủ đêm bên các chùm hoa phụng tiên.
Tác giả Tây Du Ký đã dùng loài hoa nổi tiếng trong Kinh Thánh này đặt tên cho quận, mang tới một ẩn dụ về Thiên Chúa giáo.