Bộ phim Tây Du Ký 1986 xây dựng cố sự thầy trò Đường Tăng tới Tây Lương Nữ quốc như một câu chuyện diễm tình thơ mộng. Nữ vương xinh đẹp si tình vị hòa thượng khôi ngô, trăm phương ngàn kế tìm cách quyến rũ. Trên nền nhạc bài Tình nhi nữ tuyệt vời biểu thị tâm ý nồng nàn, những ca từ đại thể như trút bỏ vương quyền, giới luật, muốn làm đôi bướm cùng bay… Về cuối tập phim, Đường Tam Tạng lưu luyến bịn rịn mãi chẳng nỡ rời, ba gã học trò đứng bên cười ngặt nghẽo, rồi nhà sư lên ngựa, đi mấy bước còn ngoảnh đầu lại nhìn. Người xem hẳn ai cũng cho rằng Đường Tăng chẳng phải gỗ đá, có tình cảm thật với Nữ vương.
Sự thực thì không phải như vậy chút nào. Tây Du Ký tuy miêu tả Tây Lương Nữ quốc như một đất nước phồn thịnh: “Phố xá nhà cửa nơi đây rất tề chỉnh, cửa hàng khang trang, nói chung có hàng muối, hàng gạo, quán rượu, quán nước. Khi lâu đài trống điểm kẻ buôn người bán qua lại buôn bán đông vui sầm uất, cờ treo trước quán cuốn rèm mây.” Nhưng ẩn sau những lời ca ngợi ấy lại là chê trách xứ man di mọi rợ, thiếu lễ nghĩa văn hóa.
Tây Lương Nữ quốc được nhắc tới lần đầu tiên là ở Trần Gia trang, bờ bên này sông Thông Thiên. Chỉ cách nhau một con sông mà như hai thế giới cách xa vạn dặm: “Thứ hàng bên chúng tôi giá trăm đồng, sang đến bên kia đáng giá vạn đồng. Có thứ bên kia chỉ độ trăm đồng, sang tới bên này cũng đáng giá vạn đồng.”
Xứ sở ấy chắc hẳn có tập tục phá thai nam, bởi nữ nhân nước ấy thường uống nước sông Tử Mẫu để có thai. Chữ Tử (7) nguyên nghĩa là “con trai”, nên hẳn uống nước đó không chỉ sinh nữ mà còn sinh nam. Rồi tên con suối mà người uống nước tới soi bóng để phát hiện có thai hay không lại mang tên Nghênh Dương, chữ Dương cũng lại ám chỉ nam giới. Ngọn núi có con suối Phá Nhi dùng để phá thai có tên là Giải Dương, cũng là một ẩn dụ về việc phá đi những thai nam, cho nên Tây Lương Nữ quốc chỉ có toàn đàn bà phụ nữ là vậy.
Nước ấy lại có tập tục ghê sợ là “tiền gian hậu sát” đàn ông. Hồi 53, bà cụ nói với mấy thầy trò: “Nhà tôi có bốn, năm người đều đã đứng tuổi cả rồi, không còn tơ vương chuyện gió trăng nữa, cho nên không động chạm tới các ngài. Giá mà ở nhà khác đông người trẻ tuổi, đời nào các cô ấy buông tha, bắt các ngài phải ăn nằm với mình. Nếu các ngài không chịu, họ sẽ hại đến tính mạng, lột da các ngài làm túi thơm ngay!” Tập tục này có lẽ rất giống với những bộ lạc man rợ, bán khai, thay vì bắt đàn bà phụ nữ về làm vợ, làm nữ nô để sinh sản thì phụ nữ ở đây sau khi bắt đàn ông lấy giống xong liền trực tiếp sát hại, lột da.
Không chỉ đám phụ nữ quê mùa còn giữ thói mọi rợ, mà ngay trong thành thị cũng đầy tính hoang dã. Khi bốn thầy trò Đường Tăng vào thành, phụ nữ ven đường nhìn thấy đều “vỗ tay reo mừng, mặt mày hớn hở nói: Người giống đã tới! Người giống đã tới!” Dân thường đã vậy, Nữ vương còn hoang dã hơn. Khi vừa tới cổng Dịch quán, nàng nhìn thấy Đường Tăng khôi ngô thì: “lòng dạ mê mẩn, sóng tình lai láng, lửa dục bừng bừng, miệng anh đào xinh xắn hé mở, cất tiếng gọi: Ngự đệ Đại Đường ơi, sao mãi chàng chưa tới cưỡi phượng đè loan?”
Nguyên văn tiếng Trung là “chiếm phượng thừa loan” ngoài nghĩa mời Đường Tăng lên ngồi phượng liễn, loan giá (xa giá của nữ vương), thì còn trực tiếp mời gọi Đường Tăng như bản dịch đã dẫn. Đây mới là bản ý của Nữ vương bởi sau đó chính nàng mời Đường Tăng lên “long xa” chứ không phải phượng liễn hay loan giá. Bản Như Sơn dịch đoạn này thật xuất sắc, giữa thanh thiên bạch nhật, giữa đường phố đông người, Nữ vương công nhiên mời gọi Đường Tăng cùng làm chuyện giường chiếu, lại dùng ngôn từ vừa gợi dục, vừa bóng bẩy “cưỡi phượng đè loan”. Cho nên “Tam Tạng nghe nói, đỏ mặt tía tai, xấu hổ ngượng ngập, chẳng dám ngẩng đầu.”
Thế rồi lại rủ Đường Tăng: “Ngự đệ chàng ơi, xin mời lên xe rồng, cùng thiếp về điện Kim Loan kết đôi vợ chồng nào!” Điện Kim Loan là nơi thiết triều, đâu phải nơi ân ái chốn hậu cung?
Ôi, xứ man di mọi rợ như vậy thì Tam Tạng pháp sư sao dám lưu luyến. Từ đầu chí cuối không hề có một cử chỉ, ánh mắt tỏ vẻ lưu luyến như trong phim đã dựng.