Như đã nói trong chương Bí ẩn Kim Thiền Tử, sư phụ đầu tiên của Ngộ Không là Tu Bồ Đề, vị sư phụ này chỉ dạy thần thông, không dạy phép tu tâm dẫn tới việc tạo ra một con khỉ quái náo hải nghịch địa phá thiên. Để bù đắp cho khiếm khuyết này, tác giả đã cho Ngộ Không thêm một người thầy, bên cạnh vị sư phụ trên danh nghĩa là Đường Tăng. Người thầy ấy đã truyền cho phép tu tâm để hoàn thiện con người Ngộ Không. Đó là Ô Sào thiền sư.
1. Ngộ Không và Đa tâm kinh
Tây Du Ký hồi 19 kể rằng sau khi thu phục Bát Giới, ba thầy trò tiếp tục sang tây, tới núi Phù Đồ, Bát Giới khoe có Ô Sào thiền sư là người đạo hạnh. Thầy trò Đường Tăng đến gặp thiền sư, được truyền cho Đa Tâm kinh. Trên con đường thỉnh kinh, Tôn Ngộ Không thường xuyên nói tới bài kinh này, thậm chí còn nhắc nhở Đường Tăng chớ quên nó.
Hồi 43 ở sông Hắc Thủy:
Đi chừng hơn một tháng, bỗng nghe tiếng nước réo ầm ầm. Tam Tạng sợ hãi, hỏi:
- Đồ đệ ơi, tiếng nước réo từ đâu thế nhỉ?
Hành Giả cười nói:
- Sư phụ già đời mà còn đa nghi, thì không làm hòa thượng được đâu. Chúng ta cả đoàn bốn người, có mỗi mình sư phụ nghe thấy tiếng nước. Vả lại sư phụ quên mất bản “Đa tâm kinh” rồi à?
Thậm chí Ngộ Không còn giảng cho sư phụ mình:
- Thưa lão sư phụ, sư phụ quên mất câu “không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý” rồi. Chúng ta là những người xuất gia, mắt không nhìn sắc, tai không nghe thanh, mũi không ngủi hương, lưỡi không nếm vị, thân không biết nóng lạnh, ý không còn vọng tưởng. Như vậy mới gọi là từ bỏ sáu giặc. Giờ đây sư phụ đi cầu kinh mà cứ nơm nớp trong lòng sợ yêu quái, không chịu xả thân, lưỡi muốn ăn bữa chay, mũi ngửi mùi thơm ngọt, tai ưa nghe âm thanh, mắt ngắm nhìn sự vật, sáu giặc ầm ầm kéo đến, thì làm sao mà sang phương Tây lễ Phật được.
Hồi 83 ở nước Diệt Pháp:
Hành Giả cười nói:
- Sư phụ quên bản Đa Tâm Kinh của thiền sư Ô Sào rồi à?
Tam Tạng nói:
- Ta vẫn nhớ chứ.
Một lần nữa, đệ tử lại giảng kinh cho sư phụ:
- Đúng rồi. Tâm lắng có mình riêng chiếu, tâm còn vạn cảnh đều trong, sơ suất lỡ lầm thành biếng nhác, nghìn đời muôn kiếp chẳng thành công, chỉ cần một tấm lòng thành, Lôi Âm ở ngay trước mặt. Cứ nhìn sư phụ hốt hốt hoảng hoảng, thần trí bất an, thì đạo lớn còn xa lắm và Lôi Âm cũng xa lắm! Sư phụ chớ nghi ngờ cứ đi theo con. Tam Tạng nghe nói, tinh thần trở lại bình tĩnh, muôn nỗi lo lắng đều tiêu tan.
Hồi thứ 85 ở quận Phụng Tiên:
“Khi ấy Tôn Hành Giả bảo thắp nhang chính giữa, thỉnh sư phụ niệm tâm kinh, còn ba anh em đứng dưới làm phép.”
Hồi thứ 93 là một đoạn hội thoại kỳ đặc:
Đường Tăng nói:
Đồ đệ ạ, tuy là không xa đất Phật, nhưng các nhà sư trong chùa hôm qua chẳng nói rằng tới kinh đô nước Thiên Trúc còn hơn hai nghìn dặm, bây giờ chẳng rõ là còn bao nhiêu đường đất nữa.
Hành Giả nói:
- Sư phụ quên mất bài Tâm Kinh của thiền sư Ô Sào rồi à? Tam Tạng nói:
Bát Nhã Tâm Kinh là y bát tùy thân của ta. Từ sau ngày được thiền sư Ô Sào dạy cho, ngày nào ta chẳng niệm, bỗng chốc quên làm sao được? Đến đọc ngược ta cũng niệm được ấy chứ, quên thế nào được!
Hành Giả nói:
- Sư phụ chỉ biết có niệm thôi, chứ bảo sư phụ giải nghĩa thì khó đấy.
Tam Tạng nói:
- Con khỉ kia, tại sao lại bảo ta không giải nghĩa được? Thế nhà ngươi có giải được không?
Hành Giả nói:
- Con giải được chứ! Con giải được chứ!
Từ lúc ấy, Tam Tạng, Hành Giả chẳng nói năng gì nữa.
Thậm chí Đường Tăng cũng phải thừa nhận là Ngộ Không hiểu rất sâu Tâm kinh: “Ấy là Ngộ Không giải bằng cách không dựa vào ngôn ngữ văn tự. Đó là cách giải chân chính đấy.”
Điểm chung của các lần Ngộ Không nhắc tới Đa tâm kinh của Ô Sào thiền sư đều là những lúc Đường Tâm ngã tâm, lo sợ đường xa quái nhiều. Qua đó cho thấy Ô Sào thiền sư đích thực là vị sư phụ luyện cho Tôn Ngộ Không cái tâm kiên cố.
2. Rốt cuộc ngài là ai?
Với bản lĩnh cao vời như vậy, hẳn Ô Sào thiền sư phải là một bậc đại trí, đại thần thông tương đương Bồ Đề tổ sư chứ? Vậy thì ngài là ai?
Tây Du Ký viết tiếp việc Tam Tạng hỏi đường sang tây, được thiền sư đọc cho một bài thơ chỉ dẫn:
Đường đi thì chẳng khó,
Hãy nghe ta dặn đây:
Nghìn sông sâu núi cao,
Nhiều yêu ma quỷ quái.
Dù non cao vời vợi,
Yên lòng chớ sợ run.
Đi tới Ma Nhĩ Nham,
Nghiêng bàn chân mà bước.
Rừng Hắc Tùng phía trước,
Các yêu ra chặn đường.
Yêu tinh đầy khắp thành,
Ma vương đầy khắp núi.
Công đường hổ ngồi đợi,
Chủ bạ là sói lang.
Sư tử voi xưng vương,
Hổ, báo làm thống soái.
Lợn lòi gánh đồ đạc,
Thủy quái phía trước chờ.
Lâu năm khỉ đá già,
Đang nổi cơn thịnh nộ.
Nên hỏi người quen cũ,
Họ biết đường sang Tây.
Đây là một bài thơ châm biếm xã hội Trung Quốc đương thời với các câu “Yêu tinh đầy khắp thành, Ma vương đầy khắp núi. Công đường hổ ngồi đợi, Chủ bạ là sói lang. Sư tử voi xưng vương. Hổ, báo làm thống soái”. Tuy vậy nó lại ứng với các chặng đường mà đoàn thỉnh kinh sẽ phải trải qua trong tương lại.
Ma Nhĩ Nhai là địa phương nào? Tây Du Ký hồi 60 cho ta lời giải đáp: “Ma vương lòng lo cẳng nhũn, vội quay mình chạy sang bên đông lại gặp Đại Lực kim cương tì lư sa môn ở ngọn Ma Nhĩ (nguyên văn Ma Nhĩ Nhai), núi Tu Di, ngăn lại, quát to…” Vậy là Ma Nhĩ Nhai thuộc núi Tu Di, đây chính là nơi ở của một vị Bồ tát hai lần xuất hiện trợ giúp Ngộ Không - đó là Linh Cát Bồ tát. Câu thơ này ám chỉ việc Linh Cát Bồ tát ra tay giúp Ngộ Không hàng phục Hoàng Phong đại vương, vốn là con yêu quái chuột vàng ăn trộm dầu trong đèn lưu ly của Phật tổ.
Có hai địa danh cùng mang tên “Rừng Hắc Tùng” trong Tây Du Ký, một là sào huyệt của Hoàng Bào lão quái, một là sào huyệt của yêu tinh chuột mũi vàng lông trắng, hỗn danh Bán tiệt Quan Âm, Địa Dũng phu nhân, cũng là con gái nuôi của Lý thiên vương mà cũng chính là con chuột ăn trộm hương hoa đuốc báu của Phật tổ Như Lai.
Câu “Công đường hổ ngồi đợi, chủ bạ là sói lang” chỉ việc ở nước Bảo Tượng, Đường Tăng bị biến thành hổ nhốt trong cũi ngay giữa triều đình, còn yêu quái chính là tinh chó sói Khuê Mộc Lang.
Câu “Sư tử, voi xưng vương” hẳn là chỉ nước Sư Đà, nơi ba lão yêu Kim sí đại bàng ở Linh Sơn, Thanh sư của Văn Thù Bồ tát và Bạch tượng của Phổ Hiền Bồ tát chiếm nước làm sào huyệt, ăn thịt sạch từ vua chí dân.
Câu “Lợn rừng quảy hành trang, Thủy quái trước mặt đó” là chỉ việc Trư Bát Giới chuẩn bị đại chiến với Sa Tăng ở sông Lưu Sa.
Nếu để ý kỹ thì các yêu ma được nhắc tới ở trên đều liên quan đến đất Phật, hai con chuột trộm đồ ở Linh Sơn, hai con vật cưỡi của hai vị Bồ tát, Sa Tăng là thủy quái mà Quan Âm đã thu phục. Ngược lại các yêu quái khác lại không được nhắc tới. Tại sao vị Ô Sào thiền sư lạ lẫm này lại thông tỏ chặng đường phía trước, đặc biệt các kiếp nạn liên quan đến Tây phương đệ tử, trong khi ta đều biết Như Lai truyền cho Quan Âm Bồ tát việc lo liệu hòa thượng đông thổ sang tây thỉnh kinh? Chính bởi Ô Sào thiền sư là Quan Âm Bồ tát hóa thân.
Chúng ta đều biết Đa tâm kinh mà Tây Du Ký viết chính là Ma ha bát nhã ba la mật đa tâm kinh, bản dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Trung mà bộ truyện này sử dụng chính là do Trần Huyền Trang đã dịch trong lịch sử. Bài kinh này mở đầu bằng “Quán Tự Tại Bồ tát hành thâm bát nhã ba la mật đa…” Quán Tự Tại chính là một danh hiệu của Quan Âm Bồ tát.
Bốn câu cuối của bài thơ: “Đa niên lão thạch hầu, na lý hoài sân nộ. Nhĩ vấn na tương thức, tha tri tây khứ lộ. - Lâu năm khỉ đá già, Đang nổi cơn thịnh nộ. Nên hỏi người quen cũ, Họ biết đường sang Tây”, đã cho thấy Ô Sào thiền sư hiểu rõ đầu đuôi ngọn ngành của việc thỉnh kinh, đặc biệt là việc Tôn Ngộ Không với Đường Tăng là “người quen cũ” - tức duyện phận thầy trò hai kiếp đã nhắc tới trong chương Bí ẩn Kim Thiền Tử. Tôn Ngộ Không vốn biết rõ đường tới Lôi Âm. Ở hồi 15, Đường Tăng hỏi: “Ngộ Không, nước réo ở đâu thế nhỉ?” Ngộ Không đã nhanh chóng đáp: “Con nhớ chỗ này gọi là khe Ưng Sầu, núi Xà Bàn, chắc là nước réo ở khe ấy.” Một minh chứng rõ cho thấy Tôn Hành Giả đã từng đi qua chốn này.
Trong những kiếp nạn gặp Độc Giác Tỷ, Lục nhĩ Di hầu, thì Ngộ Không đều bay thẳng sang Tây thiên cầu cứu Phật tổ. Khi tới chùa Tiểu Lôi Âm, Ngộ Không nói rõ: “Xem cảnh tượng này thì chính là chùa Lôi Âm, nhưng đường lối thì không phải.”
Bởi đã biết đường, lại thêm không muốn Ô Sào thiền sư tiết lộ chuyện tiền kiếp, nên Ngộ Không gạt đi: “Chúng ta đi thôi, việc gì phải hỏi ông ấy, cứ hỏi tôi đây là xong.
Nếu so sánh với sự xuất hiện của các thành viên khác trong đoàn thỉnh kinh, thì Tam Tạng do Quan Âm Bồ tát trực tiếp tới, tặng áo cà sa và gậy tích trượng báu; Tôn Ngộ Không sau khi nhập đội thì Quan Âm trực tiếp tới đưa Đường Tăng chiếc vòng Khẩn cô nhi; Bạch Long ở khe Ưng Sầu cũng do Quan Âm thân tới triệu tập; Sa Tăng ở sông Lưu Sa do Quan Âm cử Huệ Ngạn Hành giả tới thu nạp. Duy có thâu Trư Bát Giới là từ trước và sau không thấy Quan Âm ra mặt, mà chỉ có một Ô Sào Thiền sư.
Với bấy nhiêu thiên cơ ẩn giấu như vậy, nếu bảo Ô Sào thiền sư không phải Quan Âm Bồ tát - người tổ chức và luôn theo sát đoàn thỉnh kinh - thì làm sao giải thích cho được?