Sau khi học nghệ thành tài, trở về Hoa Quả Sơn, Tôn Ngộ Không “ngày ngày đi mây về gió, ngao du bốn biển, chơi khắp nghìn non, trổ tài võ nghệ thần thông, tìm tòi, kết giao với anh hùng hào kiệt. Lúc ấy, hội được bảy anh em là: Ngưu ma vương, Giao ma vương, Bằng ma vương, Sư Đà vương, Di Hầu vương và Ngẫu Nhung vương, liên kết với Mỹ Hầu vương thành bảy. Hàng ngày họ giảng văn luận võ, chén tạc chén thù, câu ca điệu múa sớm đến tối về, vô cùng vui vẻ. Thế mới thực gọi là: gật cổ vượt qua ngàn dặm thẳm, quay lưng vút tận tám trăm đường.”
Ngộ Không tự xưng là Tề Thiên Đại thánh rồi, sáu vị huynh đệ kết nghĩa cũng đồng loạt xưng là Đại thánh, đó là Bình Thiên Đại thánh, Phúc Hải Đại thánh, Hỗn Thiên Đại thánh, Di Sơn Đại thánh, Thông Phong Đại thánh, Khu Thần Đại thánh. Thất Đại thánh này được coi như đối trọng với Thất tiểu thánh xuất hiện ở hồi sau, chính là Nhị Lang thần tiểu thánh và sáu anh em Mai Sơn.
Nhưng sau khi Ngộ Không trở về vì đại náo Hội Bàn Đào, mười vạn thiên binh thiên tướng vây bủa thiên la địa võng tấn công Hoa Quả Sơn, thì tịnh không thấy mặt mũi sáu vị anh em kết nghĩa kia đâu cả. Lý do vì đâu?
1. Một xã hội bất bình đẳng
Nếu không tính Địa phủ thì thế giới Tây Du bao gồm Thượng giới và Hạ giới. Vì sao ta bỏ qua Địa phủ, ấy bởi đó là nơi xứ sở của người chết, hầu như chỉ có đi mà chẳng có về. Còn Thượng giới và Hạ giới là nơi các vị thần tiên qua lại như cơm bữa. Với một xã hội như vậy, Ngọc Hoàng Thượng Đế là một vị Hoàng đế, thần tiên là quan lại, quý tộc, con người là bình dân. Khi một người tu đạo thành tiên, người đó rời khỏi giới bình dân để thành quý tộc. Người đó có quyền lựa chọn vào triều làm quan, tức là lên Thiên đình; hoặc lựa chọn ở lại nhân thế hưởng hương khói và sự ngưỡng vọng của dân gian, như Nhị Lang Thần ở Quán Khẩu. Đó sẽ là một xã hội ngăn nắp trật tự! Nhưng…
Trong xã hội ấy lại nảy sinh một giống loài mới: những yêu quái đắc đạo: như Tôn Ngộ Không, như Ngưu Ma vương và vô vàn yêu quái khác mà đoàn thỉnh kinh đã gặp trên đường sang tây. Giống loài này bị phân biệt đối xử một cách khủng khiếp. Họ không được xếp chung với loài người. Một người tu hành đắc đạo, ngay khi ấy, người đó được phi thăng lên Thiên đình để làm thần tiên. Đây không phải là ghi chép chung chung trong Đạo kinh, mà Tây Du Ký cũng khẳng định điều này.
Hồi 19, Trư Cương Liệp (tức Trư Bát Giới sau này) tự thuật rằng:
Công thành danh toại lên trời ở
Người tiên từng cặp đón đưa về.
Dưới chân bỗng hiện mây năm sắc
Kim khuyết cung tiên ở suốt đời.
Khi Bát Giới chưa phải yêu quái, ngay khi đắc đạo, chàng ta tự động được phi thăng lên trời, được thiên thần tiếp rước (nguyên văn Công viên hành mãn khước phi thăng, thiên tiên đối đối lại nghênh tiếp), được phong làm Thiên Bồng Nguyên soái. Hồi 22, yêu quái sông Lưu Sa (tức Sa Tăng sau này) tự thuật rằng:
Ba nghìn công trọng, lòng theo lễ
Lên điện Minh Hoa lạy Ngọc Hoàng.
Ngọc Hoàng Thượng Đế lại gia phong
Quyển Liêm Tướng ấy chức oai hùng.
Khi Sa Tăng chưa biến thành yêu quái, chỉ cần đắc đạo, người ấy tự động được lên Thiên đình, vào gặp Ngọc Hoàng. Hồi 66, kể về sự tích Bắc phương Chân Vũ đại đế rằng:
Công thành hạnh đủ,
Ban ngày bay lên.
Ngọc Hoàng ban triệu,
Chân Vũ là tên.
Chân Vũ đại đế cũng giống như tiền thân của Bát Giới, Sa Tăng, vừa đắc đạo là bạch nhật phi thăng đây là một thuật ngữ của Đạo giáo, chỉ việc cưỡi mây cưỡi gió bay thẳng lên trời.
Nếu so sánh với lần đầu tiên Tôn Ngộ Không lên trời, bị thiên binh chặn ngoài cửa Nam Thiên vì không có tên trong sổ tiên, thì thấy rõ sự khác biệt. Mà không chỉ Tôn Ngộ Không, đám Thất Đại thánh mặc dù pháp lực cao cường hơn hẳn các vị thần tiên, nhưng chẳng có ai được phi thăng lên trời làm quan cả. Dường như các ngôi vị cao quý trên Thiên đình chỉ dành cho loài người mà thôi.
Thật là một xã hội bất công bằng!
2. Vì đâu Lục Đại thánh đoạn tuyệt
Với một thế giới bất bình đẳng như vậy, việc khởi nghĩa,
làm cách mạng của tầng lớp bị phân biệt đối xử, nhằm lật đổ một hệ thống cũ là điều khó tránh khỏi. Bối cảnh Ngộ Không xưng Tề Thiên Đại thánh là khi bỏ chức Bật Mã Ôn trở về núi, có hai Độc giác Quỷ vương tới đầu quân và dâng tấm Hoàng bào đỏ rực, đồng thời đề xuất Ngộ Không hãy xưng là Tề Thiên Đại thánh. Khỉ ta thích quá bèn lệnh dựng cờ đề bốn chữ ấy, và cấm lâu la không được gọi là đại vương nữa. Hành động khoác “Giả hoàng bào” và dựng cờ bỏ xưng vương mà xưng Đại thánh, là ẩn dụ của việc đám lục lâm thảo khấu khởi nghĩa, tự xưng vương xưng đế. Bấy giờ Thiên đình cử Thác Tháp thiên vương Na Tra thái tử cùng một đạo thiên binh tới chinh phạt, bị Ngộ Không dễ dàng đánh cho phải bỏ chạy.
Sau khi chiến thắng trở về, sáu anh em kết nghĩa tới chúc mừng, Hầu vương bèn xui: “Tiểu đệ đã xưng là Tề Thiên Đại thánh, anh em cũng nên xưng là Đại thánh chứ!”
Một người khởi nghĩa chưa đủ để lật đổ Thiên đình, cần thêm anh hùng các nơi đồng loạt khởi nghĩa. Thế là Ngộ Không xúi sáu anh em cùng “lên ngôi”, lão Ngưu xưng là Bình Thiên, lão Giao xưng Phúc Hải, lão Bằng xưng Hỗn Thiên, lão Sư Đà xưng Di Sơn, lão Di Hầu xưng Thông Phong, lão Ngu Nhung (một loài linh trưởng lông vàng) xưng Khu Thần. Xét về ngoại hiệu của sáu vị đại ma vương này, Bình Thiên là san trời, Phúc Hải là lật biển. Hỗn Thiên là khuấy trời, Di Sơn là dời non, Thông Phong là biến hóa đa đoan thần xuất quỷ một, Khu Thần là đuổi thần. Tất cả các ngoại hiệu đều mang hàm nghĩa nổi loạn, đảo lộn trật tự thế giới. Căn cứ vào đó để thấy việc kết nghĩa, khởi nghĩa và xưng Đại thánh của bảy anh em, ban sơ đều vì mục đích tạo phản, làm cách mạng, nhằm chống lại Thiên đình.
Hơi khác với ngoại hiệu của sáu người anh em, Tôn Ngộ Không lại xưng là Tề Thiên. Những tưởng ngoại hiệu này mang nghĩa hỗn xược, đòi ngang bằng trời. Nhưng ta lại cũng có thể hiểu nó mang ẩn nghĩa rằng Ngộ Không chỉ muốn được lên trời làm Đại thánh là đủ, chứ không đòi bình thiên, không hỗn thiên. Và quả thực là khi Thái Bạch Kim Tinh hạ trần mang theo chiếu thư của Ngọc Hoàng, vời Ngộ Không lên trời làm một chức Tề Thiên Đại thánh hữu danh vô thực, con khỉ ấy bèn vứt bỏ huynh đệ, vứt bỏ sơn trại, vứt bỏ lâu la, về triều làm một chức Đại thánh nhàn tản. Cuộc cách mạng phiên thiên phúc hải vì vậy mà thất bại. Trong đoạn sau của Tây Du Ký, ta không còn thấy Ngưu ma vương xưng là Bình Thiên Đại thánh, mà chỉ còn là một Đại lực Ngưu ma vương mà thôi (hồi 59).
Với một người đồng chí dễ dàng buông bỏ mục đích, dễ dàng trở cờ theo giặc như vậy, hiển nhiên Lục Đại thánh không còn coi kẻ đó là huynh đệ nữa. Tội ai nấy chịu. Tiệc mừng Tề Thiên Đại thánh trở về Hoa Quả Sơn chỉ có “Đại thánh cùng yêu vương bảy mươi hai động, bốn kiện tướng đang chia nhau rượu tiên”. Mà trận chiến chống lại thiên binh thiên tướng cũng vắng mặt Lục Đại thánh.
Trên đường thỉnh kinh, khi gặp lại Ngưu ma vương ta cũng thấy tình cảm hai người nhạt như nước lã.