Giang hồ mạng thường lưu truyền tin đồn thất thiệt rằng Hồng Hài Nhi không phải con đẻ của Ngưu Ma vương, mà là con tư sinh của Thái Thượng Lão Quân cùng Bà La Sát. Ấy là bởi đọc chưa kỹ Tây Du Ký, nên nhầm lẫn các chi tiết với nhau.
Tin đồn thất thiệt vốn dựa trên hai sở cứ: Một là quạt ba tiêu của Bà La Sát, được cho là của Thái Thượng Lão Quân. Hai là Hồng Hài Nhi phun ra lửa, hẳn là gen di truyền của họ Lý. Ấy là biết một mà chẳng biết hai, xin mạn phép được phá giải cả hai sở cứ đó.
1. Quạt ba tiêu
Quạt ba tiêu xuất hiện bốn lần trong Tây Du Ký, lần đầu là ở hồi 35 khi Kim Giác, Ngân Giác ăn trộm bảo bối của Lão Quân mà giáng trần. Lần thứ hai là ở hồi 39, khi Ngộ Không tìm tới cung Đâu Suất xin linh đơn cứu tử Quốc vương nước Ô Kê. Lần thứ ba là ở hồi 52, Lão Quân dùng quạt thu hồi vòng kim cương của Độc Giác Tỷ. Lần cuối là ở hồi 59 trong tay của Bà La Sát. Nhiều độc giả bắt lấy chi tiết này mà cho rằng Bà La Sát dùng quạt của Lão Quân. Rất tiếc, Ba tiêu chỉ là danh từ chỉ chung các cây quạt có hình lá chuối, hai cây quạt này ngoài cái tên giống nhau thì chẳng có điểm nào chung cả, chắc chắn là hai vật riêng biệt.
a. Công năng khác nhau
Quạt của Lão Quân thuộc tính dương, có thể sinh ra lửa. Hồi 35 chép công năng của quạt Lão Quân: “Hắn [Kim Giác] sợ quá, tay trái cầm bảo kiếm, tay phải vòng ra đằng sau, rút cây quạt ba tiêu, quay về hướng đông nam, đối diện với ly cung, lấy lửa can bính đinh rồi quạt phành phạch, bỗng nhiên khắp mặt đất, lửa sáng rừng rực. Thứ bảo bối này có thể quạt bốc ra lửa ở trên mặt đất.”
Trong bài thơ tả cây quạt cũng nói rõ: “Dụng thử phiến, phiến thử hỏa - Dùng quạt quý, quạt lửa sinh”.
Hồi 39 lại chép:
“Vừa vào tới cửa, đã thấy Thái Thượng Lão Quân đang ngồi trong phòng luyện đơn. Mấy vị tiên đồng cầm quạt ba tiêu đang quạt lò nấu thuốc.” Hẳn là ngoài việc quạt gió thì còn dùng tính năng sinh lửa của cây quạt báu để luyện đan.
Trong khi cây quạt ba tiêu của Bà La Sát thì lại thuộc tính âm. Hồi 59 viết:
“[Bà La Sát] bèn rút cây quạt Ba Tiêu ra vung lên, phát ra một luồng gió âm đẩy Hành Giả đi đâu mất tăm mất dạng…” Thứ gió mà quạt thổi ra là âm phong, chỉ rõ cây quạt là vật chí âm.
Khi tới cầu Linh Cát Bồ tát, Bồ tát cũng nói rõ về cây quạt này: “nãi Thái Âm chi tinh diệp, cố năng diệt hỏa khí - Đấy là chiếc lá tinh túy của Thái Âm, nên mới dập tắt được lửa khi quạt.”
Một vật chí dương, một vật chí âm, hẳn nhiên không thể là một được.
b. Cách dùng khác nhau
Tây Du Ký hai lần tả về cách dùng cây quạt của Lão Quân: “tay phải vòng ra đằng sau, rút cây quạt ba tiêu, quay về hướng đông nam, đối diện với ly cung, lấy lửa can Bính Đinh rồi quạt phành phạch, bỗng nhiên khắp mặt đất, lửa sáng rừng rực”. Khi không niệm thần chú, chỉ cần quay đúng hướng rồi vận lực là cây quạt sinh lửa. Cách thứ hai là niệm chú dùng để thu bảo bối và hàng phục Độc Giác Tỷ. Hồi 52 miêu tả: “Lão Quân niệm thần chú, phe phẩy chiếc quạt một lát, yêu quái quẳng chiếc vòng ra, Lão Quân đỡ lấy và quạt tiếp một lát nữa, yêu quái lúc ấy mới thịt nhũn gân mềm, hiện rõ bản tướng là một con trâu xanh.”
Cây quạt của Bà La Sát cũng có hai cách sử dụng không niệm chú và niệm chú. Hồi 59 viết: “rút cây quạt Ba tiêu ra vung lên, phát ra một luồng gió âm đẩy Hành Giả đi đâu mất tăm mất dạng, không sao có thể bấu víu vào đâu được nữa”. Ấy là cách dùng tương tự như Kim Giác quạt lửa, không cần thần chú. Còn khi niệm chú, ấy là để phóng to hoặc thu nhỏ cây quạt.
c. Cất giữ
Cây quạt của La Sát có khả năng thu nhỏ, phóng to. Hồi 60 miêu tả cây quạt được La Sát cất trong họng: “La Sát cười hi hi, nhè ra từ trong mồm một chiếc lá tí xíu đưa cho Đại thánh..” hoặc “La Sát đỡ lấy cây quạt, niệm chú biến cây quạt nhỏ lại bằng một lá hạnh, ngậm vào trong mồm”.
Cây quạt của Lão quân chưa từng nghe nói tới khả năng này, thường được giắt trong người. Hồi 35 tả Kim Giác:
“Ma anh cầm chiếc quạt ba tiêu ở cổ áo sau gáy”, “thấy yêu quái gục mặt xuống chiếc bàn đá ngáy khò khò, chiếc quạt ba tiêu thò ra khỏi vai, che kín một nửa gáy”, “Ma anh ngồi một mình trong động, gục mặt xuống chiếc bàn đá, để bảo kiếm bên cạnh bàn, giắt quạt ba tiêu ra sau lưng”.
Khi Ngộ Không chiếm được báu vật thì cũng phải tay xách nách mang: “Đại thánh buộc chặt hồ lô, bình ngọc vào bên sườn, cất sợi dây kim tuyến vào tay áo, cắm quạt ba tiêu vào sau vai”.
d. Nhân chứng đặc biệt
Dĩ nhiên là Tôn Ngộ Không, người đã cầm trên tay cả hai cây quạt. Không lý gì Hành Giả chẳng nhận ra nếu chúng cùng là một vật cả, thậm chí vẻ ngoài của cây quạt của Bà La Sát còn được miêu tả khá kỹ “Hành Giả cầm lấy trong tay, xem kỹ một lượt, thấy đúng là có khác cây quạt giả lần trước, mây lành phơi phới, khí đẹp dâng dâng, trên có ba mươi sáu sợi tơ điều kết sợi dọc sợi ngang, trong ngoài dệt kín.”
Với bốn điều trên, có thể khẳng định mười phần rằng hai cây quạt hoàn toàn khác nhau, hơn nữa cây quạt của Lão Quân là bảo bối bậc nhất, có thể khắc chế bảo bối khác và thu phục Thanh Ngưu tinh, còn thường xuyên dùng để quạt lò luyện đan, không lẽ gì giao cho La Sát cầm bấy lâu được.
2. Tam muội chân hỏa
Nhiều độc giả cho rằng khả năng phun lửa của Hồng Hài Nhi là do Lão Quân truyền dạy, bởi Lão Quân sở hữu lò Bát quái. Thực ra hai loại lửa hoàn toàn khác nhau. Lửa trong lò Bát quái là lửa văn vũ, hồi 7 chép: “Hay là để thần mang nó về bỏ vào lò bát quái, đốt nó bằng thứ lửa văn vũ mà thần thường dùng để luyện linh đơn, thì người nó nhất định sẽ biến thành tro bụi.” Đây là khái niệm thuần Đạo giáo dùng trong thuật luyện đan. Hán ngữ đại từ điển giải thích lửa văn vũ là lửa văn và lửa vũ, trong đó lửa văn nhỏ yếu, lửa vũ lớn mạnh.
Ở hồi 17, Tôn Ngộ Không đánh nhau với Hắc Hùng Tinh có thuật lại sự tích của bản thân:
“Tống tại Lão Quân lô lý luyện, Lục đinh thần hỏa mạn tiên ngao - Bị tống vào luyện trong lò của Lão Quân, chịu Lục đinh thần hỏa từ từ thiêu đốt dày vò”*. Lục đinh là một khái niệm thuần túy Đạo giáo. Đinh Mão, Đinh Tỵ, Đinh Mùi, Đinh Dậu, Đinh Sửu là sáu vị âm thần chịu sự sai khiến của Ngọc Đế. Đạo sĩ có thể dùng bùa chú để triệu thỉnh.
Các bản dịch Như Sơn, Thụy Đình đều cắt bỏ hai chữ “Lục đinh”, chỉ dịch là “lửa thần”.
Lửa của Hồng Hài Nhi thì khác hoàn toàn, đó là Tam muội chân hỏa. Tam muội (Samādhi - Tam ma địa) là một khái niệm của Thích giáo, chỉ phép tu thiền. Đại để có thể hiểu Tam muội chân hỏa là thứ lửa thần thông, luyện từ phép tu thiền. Hồng Hài Nhi luyện được thần thông này ở Hỏa Diệm Sơn như hồi 40 dẫn lời Thổ địa nói: “Nó đã tu hành ba trăm năm ở Hỏa Diệm Sơn, luyện được cả thứ lửa tam muội, thần thông quảng đại.”
Nói về thần thông tam muội thì Tây Du Ký xuất hiện không ít nhân vật. Hoàng Phong đại vương luyện được tam muội thần phong, hẳn là giống như Hồng Hài Nhi luyện phép lửa ở Hỏa Diệm Sơn thì con chuột ấy luyện phép gió ở sa mạc*. Hoặc Tôn Ngộ Không cũng luyện ra tam muội hỏa như ở hồi 7, Lão Quân nói: “Nó lại luyện thân thể bằng thứ lửa tam muội nữa”. Nếu căn cứ vào phép sinh lửa tam muội mà bàn, thì Tôn Ngộ Không mới đáng là cha của Hồng Hài Nhi. Nhưng dĩ nhiên không phải Tôn Đại thánh rồi, bởi năm trăm năm trước cuộc thỉnh kinh, Ngộ Không đạp đổ lò Bát quái, một viên gạch rớt xuống tạo ra Hỏa Diệm Sơn. Mà sau thời điểm ấy hai trăm năm, Hồng Hài Nhi mới bắt đầu tu luyện và thành đạo.
Trong bộ phim Tây Du Ký 1986, Hoàng Phong đại vương dùng bảo bối để thổi ra gió vàng, ấy là sai so với truyện. Về việc tu luyện ở sa mạc, đã nói tại chương Lại yêu quái đầu tiên.
3. Thiếu đâu cặp sừng?
Lại có độc giả căn cứ vào ngoại hình của Hồng Hài Nhi là thuộc nhân loại, không giống Ngưu Ma vương, không có sừng trên đầu.
Đúng là Tây Du Ký không hề mô tả Hồng Hài Nhi có cặp sừng, tuy nhiên ngay đến em trai của Ngưu Ma vương là Như Ý chân tiên núi Giải Dương cũng không hề có sừng. Hồi 53 có bài thơ miêu tả Như Ý chân tiên:
Phượng nhãn quang minh mi đích thụ
Cương nha tiêm lợi khẩu phiên hồng.
Ngạch hạ nhiệm phiêu như liệt hỏa
Tấn biên xích phát đoản bồng tùng.
Hình dung ác tự Ôn nguyên soái,
Tranh nại y quan bất nhất đồng.
Bài thơ này bản Như Sơn phỏng dịch không sát, còn bản Thụy Đình bỏ không dịch, mạn phép dịch lại:
Mày ngài mắt phượng mi dựng ngược
Răng nhọn như sắt môi lọt hồng.
Dưới cằm râu bạc như lửa cháy,
Tóc mai đỏ rực lại rối bồng.
Hình dung ác tựa Ôn nguyên soái,
Có chăng áo mũ ấy bất đồng.
Cũng như Hồng Hài Nhi được ví với Na Tra Thái tử thì Như Ý chân tiên được ví như Ôn Nguyên soái mà thôi, không phải dưới ngoại hình của loài trâu bò. Anh em ruột còn không giống nhau thì cha con cũng có thể khác biệt. Hồng Hài Nhi hẳn là giống mẹ, bởi Bà La Sát là yêu nữ đã tu luyện nên thân người, như ở hồi 60 mô tả “Bảo kiếm cầm tay, miệng thét rống, Dữ tợn khác nào mụ Nguyệt Bà”, mà hồi 61, Ngộ Không có nói: “Ta thấy mụ đã nên thân người nên tha cho mụ đi”.