1. Ba người con của Thác Tháp Thiên vương
Ba cái tên Kim Tra, Mộc Tra, Na Tra vốn rất quen thuộc với độc giả Phong Thần diễn nghĩa, là ba anh em con trai của Lý Tịnh. Tuy nhiên trong Tây Du Ký, tên của Mộc Tra lại được chép là Mộc Xoa.
Hồi thứ 6 viết:
“Huệ Ngạn bèn cất tiếng gọi: Thiên binh giữ cửa doanh, các người vào báo ngay có Mộc Xoa, Thái tử thứ hai của Lý Thiên vương, đại đồ đệ của Đức Quan Âm ngoài Nam Hải, hiệu là Huệ Ngạn đến dò xét tình hình.”
Hay như tên của cả ba anh em đều được chép cùng nhau ở hồi 83: “Con trai lớn là Kim Tra, hầu hạ Như Lai, làm Tiền bộ hộ pháp; con thứ hai là Mộc Xoa, làm đồ đệ Quan Thế Âm ở Nam Hải; con thứ ba là Na Tra ở luôn với tôi, hôm sớm vào triều hộ giá.
Như vậy là trong Tây Du Ký, chỉ có hai người tên mang chữ Tra, còn người con giữa đích thực là Mộc Xoa chứ không phải do bản in nhầm lẫn. Vì đâu mà có sự sai khác trong tên gọi của ba anh em? Ấy là bởi cả ba cái tên này đều có nguồn gốc xuất xứ không phải từ Trung Quốc. Ta hãy bắt đầu từ người cha của họ: Thác Tháp Thiên vương Lý Tịnh.
Vệ quốc công Lý Tĩnh, công thần khai quốc của nhà Đường được nhân dân ngưỡng vọng. Sau khi ông mất, được dân gian sùng bái mà tôn thành Thác Tháp Thiên vương Lý Tịnh (chữ 靖 - có hai âm đọc là Tĩnh và Tịnh), rồi trong quá trình du nhập Phật giáo Mật tông vào Trung Quốc, không rõ bởi lý do gì mà Thác Tháp Thiên vương được đồng hóa với Tỳ Sa Môn Thiên vương. Và theo thời gian, ba vị thần của Mật tông cũng được đồng hóa thành ba người con của Thác Tháp Thiên vương. Ba vị đó là Quân Đồ Lợi Minh vương, Ba La Đề Mộc Xoa và Na Tra Câu Phat La.
Na Tra (哪吒): Sự đồng hóa Na Tra Câu Phạt La (Nalakuvara - có sách phiên âm là Na La Cưu Bà) thành Na Tra Tam thái tử khá đơn giản. Theo Mật tông thì Na Tra Câu Phạt La là phó thần của Tỳ Sa Môn Thiên vương, do đó được Đạo giáo thu nạp làm hộ pháp thần, rồi trở thành con trai thứ ba của Lý Tịnh. Cái tên tiếng Phạn cũng được thu ngắn thành Na Tra.
Trường hợp Mộc Xoa (木叉) thì phức tạp hơn rất nhiều. Ba La Đề Mộc Xoa theo tiếng Phạn có nghĩa là Giải thoát, lại có nghĩa là Giới luật. Thời Đường có một vị cao tăng pháp hiệu là Tăng Già đại sư, có hai vị đệ tử là Mộc Xoa và Huệ Ngạn. Dân gian truyền rằng đại sư là hóa thân của Quan Âm Bồ tát, rồi họ đồng nhất hai vị Mộc Xoa, Huệ Ngạn thành một nhân vật duy nhất: Mộc Xoa, pháp danh Huệ Ngạn. Rồi với sự du nhập của Mật tông vào Trung Quốc, Mộc Xoa đã trở thành Ba La Đề Mộc Xoa và theo gót Quân Đồ Lợi Minh vương và Na Tra Câu Phạt La mà trở thành con thứ của Thác Tháp Thiên vương Lý Tịnh. Cái tên Mộc Xoa cũng từ từ được một số bộ phận trong dân chúng biến thành Mộc Tra.
Kim Tra (金吒): Sự biến hóa này còn phức tạp hơn bội phần. Quân Đồ Lợi Minh vương còn được gọi là Quân Tra Lợi Minh vương, Cam Lộ Minh vương, Quân Tra Lợi Kim cương đồng tử. Trong khi đó, Tỳ Sa Môn Thiên vương có người con trai lớn gọi là Cam Lộ Thái tử. Từ việc đồng hóa Thác Tháp Thiên vương với Tỳ Sa Môn Thiên vương, rồi sinh ra việc gán Cam lộ Thái tử làm người con lớn của Thác Tháp Thiên vương, và bước tiếp theo là đồng hóa Cam Lộ Thái tử với Cam Lộ Minh vương, tức Quân Đồ Lợi Minh vương và được gọi sang cái tên Quân Tra Lợi Minh vương. Bản Tây Du Ký - Thế Đức đường in đời nhà Minh vẫn dùng cái tên Quân Tra này để gọi người con lớn của Thác Tháp Thiên vương (ở hồi 83, khi Tôn Ngộ Không lên Thiên đình bắt vạ Thiên vương về con chuột mũi trắng động Không Đáy). Từ đây có hai giả thuyết về nguyên do cái tên Kim Tra ra đời: 1) là từ chữ Quân biến thẳng sang chữ Kim, 2) là từ cái tên Quân Tra Lợi Kim cương đồng tử mà biến sang Kim Tra để hợp với Mộc Tra theo ngũ hành của người Trung Quốc.
2. Nhị Lang Thần
Bạn đọc Tây Du hiếm người không mê nhân vật này: tài năng, đẹp trai lại có khí phách. Tuy nhiên nhân vật này cũng ẩn giấu rất sâu mà đôi khi sẽ khiến người ta phải ồ lên khi sự thật được phơi bày.
2.1. Sơ lược về Nhị Lang thần
Nhị Lang thần tên đầy đủ là “Anh liệt chiêu huệ thanh nguyên diệu đạo phu trạch hưng tế Nhị lang hiển thánh chân quân”. Về ngoại hình, đa phần đều cho rằng Nhị Lang thần có ba mắt, dùng binh khí là thanh đao ba mũi hai lưỡi, lại có cung vàng đạn bạc, và có con chó Hạo Thiên khuyển đi kèm. Theo Nhị Lang bảo quyển - được biên soạn đời Gia Tĩnh nhà Minh thì Nhị Lang thần họ Dương tên Tiễn, phụ thân là Dương Thiên Hữu vốn là Tả kim đồng trên thượng giới cùng mẫu thân là Vân Hoa Nữ vốn là tiên nữ ở cung Đấu Ngưu, vì lưu luyến phàm trần nên trốn xuống, kết hôn cùng nhau.
Bộ truyện Phong Thần diễn nghĩa xây dựng nhân vật Dương Tiễn cũng tương tự, chỉ hơi khác là mẫu thân vốn người thượng giới còn phụ thân là người phàm. Nhưng Phong Thần diễn nghĩa không hề nhắc đến danh hiệu Nhị Lang thần.
Còn trong Tây Du Ký thì ngược lại, hoàn toàn không nhắc tên họ của Nhị Lang thần. Đây là một điểm rất đáng lưu tâm.
Nguyên văn Tây Du Ký hồi 6 viết:
“Bồ tát đạo: ’Nãi bệ hạ lệnh sanh Hiển thánh Nhị lang chân quân, kiến cư Quán châu Quán giang khẩu, hưởng thụ hạ phương hương hỏa”.
Bản Thụy Đình dịch: “Chính là cháu gọi bệ hạ bằng cậu, Hiển Thánh Nhị Lang chân quân hiện ở cửa sông Quán, thuộc Quán Châu, hưởng thụ hương hỏa hạ giới.” Bản Như Sơn dịch tương tự. Ngoài ra có bản dịch không rõ của ai thì bịa thẳng: “Quan Âm tâu rằng: Người ấy kêu Bệ Hạ bằng cậu ruột. Nhị Lang hiền thánh tên Dương Tiễn.”
Cũng hồi 6, lúc Ngộ Không giao chiến Nhị Lang thần, có câu:
“Đại thánh nói: Nhớ lại hồi trước em gái Thượng Đế nhớ phàm trần xuống hạ giới lấy chồng là Dương quân, đẻ được một con trai, đã từng vác búa bổ vỡ núi Đào Sơn, có phải là ngươi không?”
Như vậy Tây Du Ký chỉ nói Nhị Lang thần mang họ Dương (bởi người cha là Dương quân) chứ không nhắc tới cái tên đầy đủ Dương Tiễn. Rồi kết hợp với Phong Thần diễn nghĩa mà dân gian đã đồng nhất hai nhân vật này lại làm một chứ chưa hẳn ban đầu Nhị Lang thần đã là Dương Tiễn.
2.2 Cái tên Dương Tiễn từ đâu ra?
Nhắc tới Dương Tiễn, ngoài gợi nhớ tới Nhị Lang thần thì còn một nhân vật cực kỳ nổi tiếng cũng mang cái tên này. Đó là hoạn quan nổi danh thời Tống Huy tông, sánh ngang với những Thái Kinh, Cao Cầu, Đồng Quán, được gọi là tứ đại gian thần. Trong đó Dương Tiễn và Đồng Quán là hai thái giám một văn một võ, quyền khuynh thiên hạ. Và chính Dương Tiễn này là nguồn cơn của cái tên Dương Tiễn được gán cho Nhị Lang thần.
Sách Tỉnh thế hằng ngôn - quyển 13 có truyện Khám bì ngoa đơn chứng Nhị Lang thần đại để tóm lược như sau:
Tống Huy tông có một vị phu nhân tên Hàn Ngọc Kiều, nhân không được sủng ái mà u uất sinh bệnh. Huy tông liền bảo Điện tiền Thái úy Dương Tiễn: “Vị phu nhân này do khanh tiến dâng. Nay cho khanh đưa về phủ để dưỡng bệnh. Chờ khi hết bệnh lại đưa vào cung.” Dương Tiễn vâng mệnh đưa Hàn phu nhân về phủ. Trong phủ ngăn riêng ra tây viện cho Hàn thị, cấm chỉ người ngoài, duy có Thái y và gia nhân được qua lại. Hàn phu nhân bệnh tình vẫn nặng, phu nhân của Dương Tiễn mới khuyên rằng: “Phía bắc có ngôi miếu thờ Chân quân, hiệu là Thanh nguyên diệu đạo Nhị lang thần”, nên tới dâng hương. Hàn phu nhân ưng lời bèn tới miếu dâng hương cầu nguyện, quả nhiên chỉ một tháng sau bệnh dần khỏi, bèn lại tới miếu tạ ơn. Hàn thị ngẫu nhiên thấy tượng Nhị Lang thần, phong tư tuấn nhã, mắt phượng mày ngài thì thầm khấn “chỉ xin được một trượng phu diện mạo hệt như thần thì thật thỏa nguyện bình sinh”. Tối về Dương phủ, bất ngờ có vị tôn thần giống y hệt thần tượng giáng hạ, cùng Hàn thị tư thông.
Lâu ngày, có bọn gia nhân mách Dương Tiễn là có tiếng người nói chuyện trong viện Hàn phu nhân ban đêm. Dương Tiễn sai người rình nghe ngóng thì được báo Hàn phu nhân ở trong viện cùng người nào đó uống rượu, lại xưng là “tôn thần”. Dương Tiễn ngờ là yêu quái bèn tự thân đêm tối qua xem, quả nhiên thấy pho tượng Nhị Lang thần ngồi trò truyện với Hàn thị, bèn thỉnh Vương pháp quan là đồ đệ của Lâm chân nhân tới trừ quái. Vương pháp quan tới liền bị Nhị Lang thần đánh chết. Dương Tiễn lại mời Phan đạo sĩ ra tay, dùng gậy đánh trúng lưng Nhị Lang thần, khiến rớt lại một chiếc giày da (bì ngoa). Từ chiếc giày mà truy tìm ra thủ phạm là viên quan coi miếu, trước học được chút yêu thuật, sau lại nghe được lời khấn vái của Hàn phu nhân nên nảy ra tà ý…
Tuy Tỉnh thế hằng ngôn được Phùng Mộng Long viết ra ở thời Minh, nhưng câu truyện này hẳn phải được lưu truyền trong dân gian từ thời Tống. Do việc liên quan tới Nhị Lang thần, lại phát sinh tại phủ đệ của Dương Tiễn, nên dân gian tam sao thất bản, dần dà đồng hóa Nhị Lang thần với Dương Tiễn làm một. Tây Du Ký tuy không trực tiếp nói ra điều này, nhưng có một số ẩn ý ngầm chỉ.
2.3. Nhị Lang thần trong Tây Du Ký là thái giám?
Một điểm đặc biệt là dung mạo của Nhị Lang thần được mô tả trong Tây Du Ký không hề uy nghi lẫm liệt xứng đáng với một vị đệ nhất chiến thần của Thiên đình. Hồi 6 tả Nhị Lang thần “Nghi dung thanh tuấn mạo đường đường”, bản Thụy Đình dịch “Dung nghi tốt đẹp thật đường hoàng”. Cách dùng chữ “thanh tuấn” chỉ ra Nhị Lang thần có phần hơi tiểu bạch kiểm, mày râu nhẵn nhụi. Trong khi đó các tranh vẽ Nhị Lang thần trước đó, như Trảm giao đồ, đều thiên về tả vẻ uy mãnh của ngài.
Trang phục của ngài thì đặc biệt hơn nữa: “Đầu đới tam sơn phi phượng mạo”. Bản Thụy Đình dịch “Mũ phượng, đội đầu
khoe vẻ trắng”, bản Như Sơn dịch là “Đầu đội mũ phượng ba ngôi”. Kỳ thực Tam sơn mạo từ cổ thời chỉ dành cho các bậc tôn quý đội, nhưng sang tới đời Minh thì thường các Đại thái giám hay dùng. Ở đây có thể thấy một sự ám chỉ tới Dương Tiễn là đại thái giám đời Tống Huy tông.
3. Thế giới Tây Du rất khác chúng ta vẫn tưởng
Không riêng gì độc giả Việt Nam mà cả độc giả Trung Quốc cũng như các nhà làm phim và khán giả của bộ phim truyền hình Tây Du Ký rất nổi tiếng ra đời năm 1986 đã nhầm lẫn về ngoại hình của các nhân vật Tây Du, mà điển hình nhất là Na Tra và Nhị Lang Thần.
3.1. Na Tra rất khác
Thử liệt kê các đặc điểm về Na Tra tam thái tử trong tưởng tượng của chúng ta nhé.
a. Một bé trai
b. Mặc bộ quần áo hoa sen
c. Cầm giáo, cổ đeo vòng Càn Khôn
d. Chân đạp đôi bánh xe phong hỏa.
a. Điểm (a) rất đúng. Na Tra trong Tây Du Ký được miêu tả như một tiểu đồng. Hồi 4 khi Na Tra đánh nhau với Ngộ Không, con khỉ chế nhạo rằng: “Thái tử ranh con kia, răng non chưa mọc máu đầu chưa khô, sao dám nói láo thế?”
Hồi 51 viết khi Ngộ Không dẫn Na Tra tới khiêu chiến với Độc Giác Tỷ, đám tiểu yêu vào báo rằng: “Tâu đại vương, Tôn Hành Giả dẫn một đồng nam đến ở ngoài cửa thách đánh nhau!”
Và Ma vương thấy Tam thái tử là một “tiểu đồng nam kia tướng mạo thanh kỳ, mười phân tinh tráng”. Ở hồi 41, miêu tả ngoại hình của Hồng Hài Nhi, cũng được với Na Tra: “Chiếc quần bằng gấm thêu long phượng, Hình tựa Na Tra khó có hai”.
Vậy có thể nói điểm (a) hoàn toàn chính xác, ngoại hình của Na Tra Tam thái tử là một tiểu đồng nam.
b. Quần áo của Na Tra thì sao? Có phải đeo yếm Hỗn Thiên, áo cánh sen hồng, quần lá sen xanh? Hoàn toàn không. Vị Tam thái tử này mặc giáp trụ ra trận. Tây Du Kỹ hồi 4 viết sau khi Cự Linh Thần bại trận dưới tay Tôn Ngộ Không trở về, thì “Na Tra thái tử giáp trụ chỉnh tề, chạy ra ngoài dinh vòng đến động Thủy Liêm.”
Khi đánh nhau với Độc Giác Tỷ, có thơ miêu tả rằng:
Tung gió đai thêu bay sắc lửa,
Ánh trời bào gấm nở tươi hoa.
Dải quàng chói lọi ràng tâm kính,
Giáp báu hung hung phủ ủng da.
Khi Na Tra tới trợ giúp Ngộ Không hành phục Ngưu Ma vương, gặp liền nói: “Đại thánh, y giáp trong mình, không thể hành lễ”
Rất nhiều dẫn chứng cụ thể cho thấy Na Tra tam thái tử xung trận là mặc giáp trụ chỉnh tề chứ không phải áo hoa sen. Sự nhầm lẫn này có lẽ do bởi Tây Du Ký miêu tả sự tái sinh của Na Tra sau khi lạng thịt trả mẹ lóc xương trả cha, được Phật tổ “lấy ngó sen làm xương, lá sen làm áo”. Nguyên văn “hà diệp vi y”, chữ “y - 衣” ở đây không mang nghĩa “áo” mà là lớp vỏ bên ngoài mà thôi.
c. Na Tra dùng giáo? Hoàn toàn không. Trong Tây Du Ký, Na Tra mang sáu ban binh khí gồm Trảm yêu kiếm, Khảm yêu đao, Phược yêu sách, Hàng yêu xử, Tú cầu, Hỏa luân. Khi biến ra ba đầu sáu tay, Na Tra cầm đủ sáu món binh khí này, còn khi chưa biến hình thì Thái tử cầm Trảm yêu kiếm. Tuyệt nhiên không cầm giáo.
Ở hồi 4, Thái tử quát bảo Ngộ Không: “Yêu hầu kia, có phép thần thông gì mà dám xưng danh hiệu như thế? Ngươi không phải sợ! Hãy nếm thử lưỡi gươm của ta đây!”
Khi đánh nhau với Độc Giác Tỷ thì: “Thái tử cầm kiếm trảm yêu vung lên đón đánh, hai người vừa mới bắt tay vào cuộc chiến đấu”.
Khi Ngộ Không lên trời thừa kiện Lý Thiên vương vì con chuột mũi trắng: “Thiên vương đã vác đạo tiến đến nhằm đầu Hành Giả chém xuống. Tam thái tử liền chạy lên trước đưa kiếm chém yêu ra đỡ lại”.
Trong suốt cả bộ truyện Tây Du Ký, Na Tra Thái tử không một lần dùng giáo. Hình tượng cầm giáo là lấy từ bộ Phong Thần diễn nghĩa mà thôi.
d. Na Tra cưỡi bánh xe phong hỏa? Cũng không nốt. Như trên đã trích dẫn, bánh xe lửa là một trong sáu ban binh khí của Na Tra. Vị Thái tử này dùng nó để hóa ra lửa mà chiến đấu chứ không phải để đạp lên mà di chuyển. Hồi 61 miêu tả rất kỹ cách dùng Hỏa luân: “Na Tra lấy bánh xe ra, để lên trên sừng lão Ngưu, thổi lửa thiêng, lửa bốc cháy bừng bừng”.
Khi bị trúng một gậy của Ngộ Không: “Na Tra đương lúc hóa phép nghe có tiếng gậy sắt vút, vội tránh, nhưng không kịp trở tay đã bị đánh một gậy đau quá vội thu thập bảo bối lại, đem sáu ban binh khí dồn vào mình như cũ, thua trận chạy về.” Rõ ràng Na Tra thu hồi sáu ban binh khí bao gồm cả Hỏa luân lại, rồi bỏ chạy chứ không hề cưỡi bánh xe mà chạy. Đây lại là một nhầm lẫn của khá nhiều độc giả, đem hình tượng Na Tra trong Phong Thần diễn nghĩa sang Tây Du Ký.
3.2. Nhị Lang Thần lại càng khác
Tôi còn nhớ bộ phim Tây Du Ký sản xuất năm 1986 có cảnh Nhị Lang Thần đánh nhau với Tôn Ngộ Không. Nhị Lang Thần mặc giáp trụ vàng tươi, và điểm đặc biệt khác người là có một con mắt dọc trên trán. Không! Tây Du Ký không hề tả Nhị Lang Thần có ba con mắt. Bài thơ tả Nhị Lang Thần chỉ nói “mắt sáng lấp lánh, tai thì rủ vai”. Cũng không có chuyện Nhị Lang dùng con mắt thần thứ ba để phát hiện biến hóa của Ngộ Không, chỉ đơn giản là “Nhị Lang trợn tròn mắt phượng quan sát”.
Trong trận chiến này, tác giả hai lần mô tả Nhị Lang Thần dùng mắt, đều chỉ đơn thuần là “phượng nhãn - mắt phượng”. Không có con mắt thứ ba nào như Dương Tiễn trong Phong Thần diễn nghĩa.
3.3. Gậy Như ý không như phim và truyện vẫn làm
Đoạn văn mô tả cây gậy được các bản dịch ở ta dịch như sau: “Ngộ Không mười phần mừng rỡ đem ra khỏi kho bể, thấy cây sắt có hai đầu bịt vàng, giữa là một đoạn sắt đen, gần ngay chỗ bịt vàng có một hàng chữ: Gậy như ý bịt vàng, nặng một vạn ba nghìn năm trăm cân.
Khá giống với hình ảnh cây gậy trong phim Tây Du Ký 1986 cũng như trong các tranh truyện. Rất tiếc là bản dịch lại không chính xác. Nguyên văn: “Ngộ Không thập phần hoan hỉ, nã xuất hải tạng khán thời nguyên lai lưỡng đầu thị lưỡng cá kim cô, trung gian nãi nhất đoạn ô thiết. Khẩn ai cô hữu tuyên thành đích nhất hàng tự, hoán tố: Như ý kim cô bổng, trọng nhất vạn tam thiên ngũ bách cân.”
Không cần hiểu Hán tự cũng biết cây gậy này tên đầy đủ là Như ý kim cô bổng. Hóa ra có chỗ tương đồng với Ngộ Không đó là cùng đeo “kim cổ”. Kim cô ở Ngộ Không là cái vòng vàng siết trên đầu. Vậy cớ sao kim cô ở cây gậy lại dịch thành bịt vàng? Cô là cái vòng, cái đai, do vậy chính xác thì đoạn tả cây gậy phải là “cây gậy có đai vàng siết ở hai đầu, giữa là một đoạn sắt đen”. Nghĩa là về mặt hình thức, đó là một cây gậy sắt, hai đầu có đánh đai vàng. Ở đây nhấn mạnh việc cả Tôn Ngộ Không lẫn cây gậy đều bị chịt vòng kim cô, ấy là chủ ý của tác giả chứ không phải vô tình trùng hợp.
Cái đai vàng đó có tác dụng gì với cây gậy? Ta hãy trở lại cách câu truyện xây dựng hình tượng Tôn Ngộ Không, vốn là con khỉ. Khỉ thì không dùng đao hay kích như Long vương giới thiệu, mà nó thích dùng côn bổng, tại bản chất con khỉ nó ưa dùng cành cây làm vũ khí. Ngoài đời thực côn sắt với gậy sắt không nhiều, mà đa phần là côn bổng làm từ tre hay gỗ. Tre, gỗ vốn không bền, dụng lực nhiều thì hay nứt toác, do vậy cần đai siết ở hai đầu. Đó là lý do Kim cô xuất hiện trên côn bổng. Ngoài ra vàng vốn nặng, niềng ở đầu gậy để tăng trọng lượng hai đầu, là cách để tăng lực công kích.
Cũng cần lưu ý là đoạn văn trên ghi rằng “đem ra khỏi kho bể - hải tạng” rõ ràng ám chỉ vật đó cất trong kho chứ không phải cắm dưới đáy biển như phía trước miêu tả.
Đó là nói về côn bổng làm vũ khí, nhưng sự thực gậy Như ý có phải dùng để chiến đấu không? Ta hãy xem lão Long nói gì? Hồi 3 chép “Đó là khi Đại Vũ đi trị thủy, dùng khối sắt ấy để đo sông bể nông sâu…” Tác dụng chủ yếu của định hải thần thiết là định hải, đây không phải trấn định mà là đoán định - đo độ nông sâu của sông, biển. Nguyên mẫu của gậy Như ý chính là cây gậy dùng để đo mực nước nông sâu.
Đến đây lại xuất hiện vấn đề: sông suối còn dùng gậy dò được, biển sâu gậy nào cho thấu. Quả đúng vậy, nên ngư dân và các nhà hàng hải xưa đã nghĩ ra cách buộc một sợi dây dài vào cây gậy và thả xuống biển để đo, dụng cụ ấy gọi là đĩnh (cũng là cái neo). Đĩnh dùng đá làm vật nặng gọi là thạch đĩnh, dùng gỗ gọi là mộc đĩnh. Mô tả về mộc đĩnh ghi nhận có mấy loại: loại lớn dài 2 trượng 7 thước, loại nhỏ 2 trượng 4 thước, hai đầu được nẹp chặt. Quả nhiên mộc đĩnh có ngoại hình và độ dài tương tự với gậy Như ý khi Ngộ Không thu nhỏ lại làm binh khí.
Lại nữa, gậy Như ý khi cần thì thu nhỏ lại như cây kim (châm) nên còn được gọi là Định hải thần châm. Đây là thâm ý của tác giả, bởi trong tạp kịch ban đầu, thoại bản, nó có tên là thần thiết. Chức năng thu nhỏ như kim nhét lỗ tai có lẽ được đưa vào để ngầm ấn định cái tên “châm”. Lại xem hồi 6, đoạn thơ tán Ngộ Không đánh nhau với Huệ Ngạn có câu “Như ý bổng thị thiên hà định, trấn hải thần trận pháp lực hồng - gậy Như ý định thiên hà, thần vật trấn hải pháp lực lớn”, tự nhiên xuất hiện hai chữ “trấn hải”. Thế là từ gậy Như ý đã nhảy thành “trấn hải châm”.
Trùng hợp là truyền thuyết về Trịnh Hòa trong chuyến hạ tây dương, có cố sự là khi đội thuyền tới vịnh Tuyền Châu, gặp phải bão tố, sóng biển cuộn trào. Vị Tam Bảo thái giám này liền sai ném “trấn hải châm” xuống biển, lập tức sóng yên biển lặng để đoàn thuyền lên đường. (Thực tế có lẽ là thuyền đã thả neo (đĩnh) để chờ bão tan chăng?) Ở đây ta lại gặp lại Tam Bảo Thái giám Trịnh Hòa cùng trấn hải trâm, vô tình (hay hữu ý?) mà trùng khớp với công cuộc thỉnh kinh và cây Như ý kim cô bổng sẽ còn được nhắc tới nhiều lần trong cuốn sách này.
3.4. Mắt lửa ngươi vàng
Phần lớn độc giả có xu hướng nghĩ rằng nhờ bị nung trong lò Bát quái bốn mươi chín ngày, nên Tôn Ngộ Không có được đôi mắt lửa ngươi vàng, nhìn xa ngàn dặm. Mỗi khi gặp yêu khí mờ mịt hay thần tiên, yêu quái biến hình, khỉ ta lại giương đôi mắt lửa ngươi vàng ra quan sát, có lúc nhìn thấy, có lúc không. Sự thực thì Tây Du Ký chưa bao giờ nói Ngộ Không phân biệt được người hay yêu quái là nhờ có đôi mắt lửa ngươi vàng cả. Nói chính xác là Tôn Ngộ Không sử dụng đôi mắt của mình để nhìn xuyên thấu ảo ảnh, phép thuật, bởi đôi mắt đó là mắt lửa ngươi vàng nên truyện viết rằng “giương đôi mắt lửa ngươi vàng” mà thôi. Nghĩa là từ trước khi vào lò Bát quái thì con khỉ đó đã có năng lực ấy rồi, nó sẽ giương đôi mắt thần để nhìn. Chứng cứ rõ nhất đó là ở Nhị Lang Thần, người có phép thần thông tương tự như Tôn Ngộ Không. Nhị Lang Thần không có mắt lửa ngươi vàng mà chỉ có cặp mắt phượng. Nên khi muốn phá giải ảo ảnh, Nhị Lang Thần liền giương đôi mắt phượng lên nhìn, như hồi 6 viết: “Nhị Lang trợn tròn đôi mắt phượng quan sát, thấy Đại thánh biến ra con chim sẻ, đậu trên ngọn cây”.
Rốt cuộc, mắt lửa ngươi vàng chỉ là “bị gió thổi khói vào nên đôi mắt đen bị đỏ tấy lên, thành ra mắc bệnh đau mắt” mà thôi. 3.5 Vũ khí của Sa Tăng
Trong các bộ truyện tranh và phim thường vẽ vũ khí của Sa Tăng là cây trượng có hai đầu nhật nguyệt, giống như vũ khí của Lỗ Trí Thâm trong Thủy Hử. Đây là một sai lầm rất lớn, mà nói chính xác hơn thì phải là hai sai lầm rất lớn. Lỗ Trí Thâm không dùng thứ vũ khí ấy, mà Sa Tăng lại càng không.
Thứ vũ khí có hai đầu nhật nguyệt gọi là nguyệt nha sạn, nhật nguyệt sạn hay phương tiện sạn. Sạn là cái xẻng, nhật nguyệt sạn là vũ khí có đầu giống cái xẻng, mặt cong lõm là nguyệt, mặt cong lồi là nhật. Còn thiền trượng vốn là cây gậy có đầu bọc mềm, khi nhà tu hành hành thiền, gặp phải hôn trầm (ngủ gật) thì sư phụ hoặc bề trên dùng đầu mềm điểm vào để tỉnh lại. Về sau dùng để chỉ vũ khí dạng trượng của nhà tu hành, một đầu gắn các vòng. Chính xác thì thiền trượng chính là cây tích trượng mà Đường Tăng hay chống.
Còn vũ khí của Sa Tăng thì có tên nguyên văn là “Hàng yêu bảo trượng”. Sa Tăng xuất thân từ người tu đạo chứ không phải nhà sư, nên không có chuyện Sa Tăng sử dụng vũ khí là thiền trượng.
Bảo trượng hàng yêu có hình dáng của một cây gậy, một cây côn gỗ. Không có bất kỳ tình tiết nào trong Tây Du Ký nhắc tới việc nó có gắn hai đầu như cây nhật nguyệt sạn như chúng ta vẫn tưởng.
Hồi 22, Bát Giới đại chiến với Sa Tăng ở sông Lưu Sa, nhìn cây bảo trượng mà cười rằng: “Cái thứ gậy chống đám ma ấy mà dám bảo ông tổ nhà ngươi ‘Hãy trông cây gậy’ à?”
Và Sa Tăng đáp bằng bài thơ:
Bảo trượng ta đây vinh dự to,
Là thoi dệt lụa ở cung nga.
Ngô Cương chọn một cành gỗ tốt,
Lỗ Ban thợ giỏi chế mà ra.
Ở hồi 49, Linh Cảm đại vương nói cây bảo trượng giống cái giằng xay.
Hình ảnh của cây bảo trượng này lại càng được làm sáng tỏ hơn ở hồi 88, khi ba vị vương tử châu Ngọc Hoa xin làm đồ đệ học võ nghệ của Tôn, Trư, Sa. Trong đó “vương tử cả cầm cây côn tề mi, vương tử hai múa cây đinh ba chín răng, vương tử út vác cây gậy sơn đen bóng”. Vương tử út chính là người bái Sa Tăng làm thầy bởi vũ khí của họ tương tự nhau.
Các hình tượng gậy chống đám ma, thoi dệt lụa, giằng xay, gậy sơn đen đều chỉ là cây côn gỗ bình thường, không hề có hai đầu nhật nguyệt.