Thầy trò Đường Tăng đi tới chùa Tiểu Lôi Âm thì gặp phải Hoàng Mi quái. Yêu quái không chỉ thần thông quảng đại mà còn có mấy món bảo bối kinh người, khiến không chỉ bốn thầy trò gặp nạn mà còn liên lụy thêm rất nhiều thần tiên. Dĩ nhiên yêu quái càng đáng sợ thì ẩn chứa ý nghĩa càng sâu xa. Từ vũ khí, bảo bối tới tính ám chỉ của cố sự đều thực tuyệt diệu.
1. Kim não
Kim não là cái não bạt bằng vàng vốn là cái khánh vàng của Phật Di Lặc, Hoàng Mi quái quăng lên nhốt cứng Ngộ Không lại. Não bạt vốn phải một bộ hai cái, hình dáng giống như chiếc đĩa khum khum, có núm để cầm, gõ vào nhau thì vang tiếng. Nó không hề giống như cái khánh, cũng không phải lấy dùi mà gõ.
Bộ phim Tây Du Ký 1986 tạo hình cái não bạt này hao hao như chiếc nón ngựa của Việt Nam, yêu quái quăng bảo bối lên thì nó chụp nhốt Ngộ Không xuống đất. Nhưng căn cứ theo nội dung truyện thì Ngộ Không chẳng hề tìm cách chui xuống đất để thoát ra, giống như khi đối phó với Bách Nhãn Ma quân, mà chỉ vung gậy sắt đánh loạn xạ, phóng to, thu nhỏ người, rồi tìm cách khoan thủng não bạt. Theo mô tả của Kim Đầu Yết đế thì “chiếc não bạt này không biết là thứ bảo bối gì, từ trên xuống dưới hợp thành một khối, bọn thần sức yếu, không sao nhấc nổi”; rồi sau Cang Kim Long nói: “Đại thánh ở trong ấy sờ tìm vào những đường ghép để tôi lấy sừng khoan vào”. Cứ thế mà suy thì bảo bối này gồm hai mảnh đúng như bộ hai chiếc não bạt, khi chụp lấy Ngộ Không thì khép chặt lại thành một.
Bản ý của tác giả là dùng bảo bối này ám chỉ âm hộ của người phụ nữ. Yêu quái tiết lộ: “hết hạn ba ngày ba đêm là sẽ hóa ra máu dịch hết”. Ba ngày hóa máu dịch, án theo phép quy đổi thời gian, một ngày (1.440 phút) trên trời bằng một năm hạ giới (360 ngày); ba ngày hạ giới tương ứng với 1/360 ngày trên trời, chính là 12 phút. Đây áng chừng là khoảng thời gian giao hợp dẫn tới sự xuất tinh mà Tây Du Ký dùng hình ảnh “hóa máu dịch” để ngầm chỉ*.
Một người bạn của tôi góp ý rằng con số “ba ngày” có thể là chỉ khoảng thời gian hành kinh của phụ nữ. Lại có một bạn khác nói rằng “ba ngày” chính là khoảng thời gian tối đa để tinh trùng sống trong âm đạo, sau ba ngày mà không gặp được trứng thì cũng hóa ra máu huyết. Theo ý kiến cá nhân thì thời điểm tác giả viết Tây Du Ký (thế kỷ 16), người ta chưa có khái niệm về tinh trùng, cũng như thời gian tồn tại của tinh trùng trong âm đạo (ở châu Âu, tinh trùng được Antonie van Leeuwenhoek dùng kính hiển vi phát hiện ra năm 1677). Mặc dù vậy, đây cũng là những kiến giải khá lý thú, tôi xin ghi lại đây để độc giả tham khảo.
Tôn Ngộ Không không thể tự thoát khỏi não bạt liền cầu cứu các lộ thần tiên. Thần Yết Đế lên gặp Ngọc Đế xin viện quân, Ngọc Đế liền phán: “Sai hai mươi tám vị tinh tú mau xuống hàng yêu giải ách.”
Hai mươi tám vị tinh tú vốn bản lĩnh kém hơn Ngộ Không, tại sao Ngọc Đế không cử thêm Thác Tháp Thiên vương hay Na Tra Thái tử như khi đánh nhau với Độc Giác Tỷ, mà không chần chừ sai khiến hai mươi tám vị này? Bởi con số 28 là chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ.
Tây Du Ký lại miêu tả Cang Kim Long ra sức phá não bạt:
Vị sao ấy biến thân nhỏ lại, dùng chiếc sừng nhọn hoắt như một mũi kim lựa theo chỗ ghép nối của chiếc não bạt xoáy vào trong. Vị sao dùng hết sức ngàn cân của mình xuyên vào, mới chọc thủng được vào bên trong, đoạn dùng cả bản thân và chiếc sừng làm phép, hô “Dài! Dài! Dài!”, chiếc sừng bèn dài ra, to bằng miệng bát. Nhưng chỗ thủng của cái não bạt lại không giống đồ đúc bằng vàng khác, tựa như da thịt nở ra khít liền vào, ngậm chặt vào quanh chiếc sừng của Cang Kim Long, tứ phía không một khe hở.
Thế rồi:
Vị sao mất không biết bao nhiêu sức lực mới rút được sừng ra, do dùng quá sức đến nỗi gân cốt mềm nhũn, ngã lăn ra đất.
Những ẩn dụ về việc dùng “sừng” khoan vào “chỗ ghép nối” của “não bạt” - tức là nơi chập lại của “hai cái đĩa”; khoan vào rồi thì gắng “dài” ra, não bạt lại “tựa như da thịt nở ra khít liền vào, ngậm chặt vào quanh chiếc sừng của Cang Kim Long, tứ phía không một khe hở”; sau khi hành sự thì “quá sức đến nỗi gân cốt mềm nhũn, ngã lăn ra đất”, đều mô tả quá trình giao hợp và kết thúc của nam và nữ*.
Xem thêm câu chuyện tiếu lâm Bức thư lạ ở cuối chương.
2. Lang nha bổng
Hoàng Mi quái sử dụng một cây Lang nha bổng là cây dùi gõ khánh của Phật Di Lặc. Khác với nhân vật Tần Minh trong Thủy hử, cây lang nha bổng này không phải loại vũ khí dài hình trượng, mà được mô tả là “một cây Lang nha bổng ngắn, mềm”. Bài thơ miêu tả Tôn Ngộ Không đánh nhau với yêu quái, có đoạn so sánh hai cây gậy rằng:
Nhất điều đoản nhuyễn Phật gia binh,
Nhất điều kiện ngạnh tàng hải tạng.
Đô hữu tùy tâm biến hóa công,
Kim phiên tương ngộ tranh cường tráng.
Đoản nhuyễn Lang nha tạp cẩm trang,
Kiên ngạnh Kim cô giao long tượng.
Nhược thô nhược tế thực khả khoa,
Yếu đoản yếu trường thậm đình đang.
Án theo từng câu mà giải nghĩa thì có thể dịch sát hơn bản Như Sơn (bản Thụy Đình bỏ không dịch bài thơ này):
Một thanh binh khí ngắn mềm;
Một cây cứng rắn ẩn tiềm bể khơi.
Tùy tâm biến hóa ai ơi,
Bữa nay gặp gỡ so nhau tráng cường.
Lang nha kia bọc gấm nhung
Bổng này thật cứng sánh cùng giao long.
Nhỏ to rất mực khoa trương
Muốn dài muốn ngắn một đường là xong.
Đọc qua có thể thấy đây là miêu tả (hai) cái dương vật, chứ không phải binh khí nào cả, nên nó được bọc trong gấm - tức cái quần.
3. Túi hậu thiên
Túi hậu thiên có hình dạng là cái túi vải cũ, yêu quái quăng lên một cái là hút sạch được mọi đối thủ. Phật Di Lặc nói rằng thứ ấy còn có tên là “túi nhân chủng”. Cả tên gọi lẫn mô dạng đều ám chỉ tới bộ phận túi da nằm dưới dương vật, còn gọi là bìu dái. Hai chữ “nhân chủng” vốn hô ứng với hồi 54, thầy trò Đường Tăng tới Tây Lương Nữ quốc, đám phụ nữ ven đường đồng loạt hò reo “nhân chủng đến rồi, nhân chủng đến rồi”. Tô Như
4. Ẩn ý của tác giả
Hai phương bắc, nam mà Ngộ Không cầu cứu đều có chung một đặc điểm. Đãng Ma Thiên tôn ở phía bắc là con của Tịnh Lạc Quốc vương, không thích ngôi vị mà chỉ thích đi tu. Tiểu Trương Thái tử ở phía nam là con Lưu Sa Quốc vương cũng bỏ ngôi đi tu. Chí hướng của hai người này đều đi ngược với ý nghĩa của Túi hậu thiên, tức là việc truyền lại giống người. Cho nên xảy ra mâu thuẫn dẫn tới động đao binh. Cũng bởi chủ trương trái ngược giữa Hoàng Mi là đại diện của phái hoan lạc, Phật giáo là đại diện của phái tiết dục, mà Tây Du Ký đặt tên sào huyệt của Hoàng Mi là Tiểu Lôi Âm, để đối nghịch với Lôi Âm tự ở đất Phật?
Phật Di Lặc lại kể rằng: “Ngày ba tháng Ba, nhân lúc ta đi dự hội Nguyên Thủy, để hắn ở nhà trông nom, hắn liền lấy mấy thứ bảo bối đó đem đi, biến thành yêu quái giả làm Phật tổ.” Như đã nói ở chương Tứ thánh thử thiền tâm, ngày mùng 3 tháng Ba chính là ngày hội Cuồng hoan, Phật Di Lặc muốn nói gã tiểu đồng bỏ đi vì lạc thú xác thịt.
Hành động Ngộ Không biến thành trái dưa chui vào bụng yêu quái chính là ẩn dụ của việc thụ thai. Bởi Hoàng Mi quái là gã “tiểu đồng lông mày vàng”, suốt ngày đùa nghịch dùng “dùi” gõ “khánh”, nên Phật Di Lặc mới vẽ chữ “Cấm” lên tay Ngộ Không để dụ yêu quái. Một chữ “Cấm” này giống như chiếc vòng Cấm kim cô mà Quan Âm Bồ tát chụp lên đầu Hắc Hùng tinh. Cấm ấy để ngăn Tham mà trong cố sự này mang nghĩa Tham dục.
5. Lớp lịch sử chìm sau ẩn ý
Sau khi đã làm rõ được ý nghĩa của ba món bảo bối, cùng ý nghĩa nam nữ giao hoan được gắn trên người Hoàng Mi quái, ta lại đi tới lớp ẩn ngữ chìm sau các biểu tượng ấy.
Di Lặc (Matreya) trong Phật giáo Ấn Độ là một vị Bồ tát, được đức Phật tổ Như Lai thụ ký là Phật tương lai. Điểm đặc sắc của Bồ tát Di Lặc là không tu thiền định, không đoạn phiền não, ngài phát nguyện hành bố thí, ban từ bi tại cõi nhân gian. Tạo hình nguyên thủy của Bồ tát Di Lặc là đầu đội mũ báu, mình mặc thiên y, đeo tràng hạt. Khi Phật giáo truyền vào Trung Hoa, đến thời Ngũ Đại thì dần dần được đồng hóa với Bố Đại Hòa thượng. Bồ tát Di Lặc được mang hình tượng một ông Phật bụng to, luôn tươi cười, bởi vậy mà ngài còn có tên là Hoan Hỉ Phật.
Song song với vị Di Lặc Hoan Hỉ Phật này, trong Mật giáo Tây Tạng cũng có một vị Hoan Hỉ Phật khác, với phép tu hành thực quá đặc biệt: thông qua giao hợp nam nữ để tham ngộ Phật tính. Vị Hoan Hỉ Phật được Mật giáo thờ phụng này có hình tượng là một người nam và một người nữ đang giao hợp hoặc người nam đang dẫm lên người nữ.
Án chiếu với nội dung Tây Du Ký, Hoàng Mi quái là tiểu đồng của Phật Di Lặc, trốn xuống hạ giới xưng là Hoàng Mi lão phật. Tác giả muốn ám chỉ đây là vị Hoan Hỉ Phật của Mật giáo chiếm đoạt cái tên của Phật Di Lặc. Cũng bởi Mật giáo còn được gọi là Hoàng giáo, nên tiểu đồng này có tên là Hoàng Mi.
Tại sao Ngô Thừa Ân lại muốn xây dựng vị Hoan Hỉ Hoàng Mi này giáng hạ Tiểu Lôi Âm rồi bị Phật Di Lặc thu phục? Vốn bởi Hoan Hỉ Phật của Mật tông du nhập vào Trung Quốc ở khoảng thời nhà Nguyên và được giai cấp thống trị hai triều Nguyên, Minh đặc biệt hoan nghênh. Họ mượn danh tham ngộ Phật tính mà thực chất là tìm thú vui xác thịt.
Đến đời Hoàng đế Gia Tĩnh, tại chùa Đại Từ Ân trong Hoàng cung còn thờ mấy trăm bức tượng Hoan Hỉ Phật. Năm Gia Tĩnh thứ 15, Thượng thư bộ Lễ là Hạ Ngôn dâng sớ thỉnh hủy bỏ các tượng Phật này vì thương phong bại tục, ảnh hưởng tới việc dạy dỗ Thái tử. Gia Tĩnh đế vốn sùng Đạo giáo nên đồng ý cho hủy hết tượng Hoan Hỉ Phật tại chùa Đại Từ Ân.
Cố sự chùa Tiểu Lôi Âm trong Tây Du Ký chính nhắc tới việc Gia Tĩnh đế hủy tượng Hoan Hỉ Phật ở chùa Đại Từ Ân này.
6. Phụ - Bức thư lạ
Về ý nghĩa tính dục của chiếc não bạt (ở Việt Nam còn gọi là chũm chọe), cuốn Kho tàng truyện tiếu lâm Việt Nam của tác giả Nguyễn Đổng Chi có chuyện Bức thư lạ, xin phép trích lục để độc giả tham khảo:
Có anh lính đi xa, nhân có bạn ghé thăm, nhờ bạn đem về cho vợ ở nhà trăm quan tiền và một bức thư.
Giữa đường, anh bạn tò mò giở thư ra xem, không thấy biên số tiền gửi bao nhiêu cả, chỉ thấy vẽ bốn con chó, một cái hình bát quái, hai con dê và một cái chũm chọe nên nảy ra cái ý ăn bớt. Về đến nơi, anh ta chỉ giao cho vợ bạn bức thư và bốn chục quan thôi.
Người vợ xem thư biết thiếu tiền, lên quan nhờ phân xử.
Quan hỏi:
- Chồng mày gửi người ta bốn mươi quan tiền, người ta mang về đưa tận tay cho, còn kiện nỗi gì?
Người vợ đáp:
- Bẩm quan lớn, anh ta ăn bớt ạ! Chồng con gửi cho những một trăm quan kia ạ!
- Sao mày biết?
- Bẩm quan lớn, thư chồng con viết rành rành ra đấy xin quan xem thư, sẽ rõ!
Quan giở bức thư quái gở kia ra xem, không hiểu gì cả liền hỏi:
- Thế là thế nào? Bức thư không có chữ nghĩa gì cả, sao mày lại biết chồng của mày gửi một trăm quan?
- Bẩm quan lớn, chồng con biên rõ ràng ra đấy. Bốn con chó là tứ cẩu, cẩu là cửu, tứ cửu tam thập lục, là ba mươi sáu. Bát quái có tám quẻ, bát bát vị chi lục thập tứ, là sáu mươi tư. Sáu mươi tư với ba mươi sáu chả là một trăm quan đó sao?
Quan cho phải, bắt anh kia trả số tiền. Nhưng ngài còn hỏi chị kia:
- Thế còn hai con dê và cái chũm chọe là ý thế nào? Chị ta sượng sùng không nói. Quan hỏi mãi mới thưa:
- Đây là nhà con vẽ đùa.
- Đùa thế là có ý gì, phải nói ra.
- Bẩm quan lớn, hai con dê và cái chũm chọe là nhà con muốn hẹn con rằng đến tết Trùng dương thì nhà con sẽ về thăm nhà… đấy ạ!