(Cư xử ở đời)
475. – Có của cải mà để không kín-đáo, là gợi cho người ta ăn trộm. Có nhan sắc mà tính hay vuốt-ve, là gợi cho người ta ghẹo bỡn. Dịch-kinh
476. – Giời làm ác nghiệt, thì còn có thể tránh được ; tự mình gây nên ác nghiệt, thì mình làm mình chịu, còn tránh làm sao được. Thư-kinh
477. – Không ghen ghét ai, không cầu cạnh ai, thì làm việc gì mà chẳng lành, chẳng tốt. Thi-kinh
478. – Đã sáng lại khôn, mới giữ được thân. Thi-kinh
479. – Kẻ nói thì nhân đức mà kì thực không có gì, thường gặp phải những sự oán hận, tai vạ. Lễ-ký
480. – Có biết vâng lời, vậy sau mới biết sai khiến. Lễ-ký
481. – Người ta không biết mình mà mình không giận, thế chả là quân-tử ư. Luận-ngữ
482. – Chẳng lo người ta không biết mình, chỉ lo mình không biết phân biệt người hay, người dở. Luận-ngữ
483. – Đối với người già thì kính mến, đối với bè-bạn thì tin thật, đối với người trẻ thì thương yêu. Luận-ngữ
484. – Chẳng giận điều nọ xọ sang điều kia, chẳng lỗi lần nầy lại phạm lần nữa. Luận-ngữ
485. – Người không lo xa, tất nhiên có ưu hoạn [1] gần. Luận-ngữ
486. – Tự trách mình nhiều mà trách người ít, thì không ai oán giận. Luận-ngữ
487. – Người quân tử hợp quần [2] mà chẳng kết đảng [3]. Luận-ngữ
488. – Trọng người giỏi mà dong người thường ; khen người hay mà thương người dở. Luận-ngữ
489. – Yêu người, người thường yêu lại ; kính người, người thường kính lại. Mạnh-Tử
490. – Việc gì thiên-hạ đang tức giận, thì chớ giây đến. Tả truyện
491. – Muốn cho người ta yêu mình, trước hết phải yêu người đã. Muốn cho người ta theo mình, trước hết phải theo người đã. Quốc-ngữ
492. – Phong tục xô đẩy, người khôn cũng khó tránh. Dương-Vận-truyện
493. – Kẻ tự cho mình là giỏi thì tai không được nghe nhời khôn nhẽ phải nữa. Gia-ngữ
494. – Sự ưu-hoạn là bạn cùng ở suốt đời với người ta. Trang-tử
495. – Tự mình không biết mình là một điều hại nhớn. Lã thị-xuân-thu
496. – Đối với người có tài đức to, thì đừng chê-bai những nết nhỏ mọn. Đối với người có danh dự nhớn, thì đừng chỉ trích những lỗi cỏn-con. Hoài-Nam-tử
497. – Dùng « nhân » [4] để trị người, dùng « nghĩa » [5] để trị ta. Đổng-Trọng-Thư
498. – Ăn ở hay mà gặp dở thì gọi là số ; ăn ở dở mà gặp hay thì gọi là may. Trung-luận
499. – Biết phòng xa thì cai quản người, không biết phòng xa thì người cai quản. Diêm thiết luận
500. – Cùng ở với nhau lức ưu-hoạn thì dễ, cùng ở với nhau lúc có quyền lợi thì khó. Lã-Đông-Lai
501. – Gia đình như sẩy ra việc không hay, nên xử một cách thung dung, chớ có khích liệt [6]. Bầu bạn như ở có điều không phải, nên can một cách thiết thiệt [7], chớ có ưu du [8]. Thiệu-Khang-Tiết
502. – Chỉ có chút lòng nại phiền [9] thì việc gì cũng làm được, người nào cũng xử được. Nhân sinh tất độc thư
503. – Người ta thường thường tiết cái đã qua về trước, mong cái sắp đến sau này, mà xao nhãng hững hờ cái hiện đang có. Tôn-Trưng-quân
504. – Người ta giữ được sáu chữ « Thiên lý [10], Quốc pháp [11], Nhân tình [12] » thì suốt đời không có tội lỗi. Bão-Huấn
505. – Người khéo dùng « oai » không giận bậy ; người kéo dùng « ơn » không cho bậy. Lã-khôn
506. – Người ta mà nóng-nẩy, nông-nổi, hẹp-hòi, thì xử việc, việc hay hỏng, tiếp người, người hay giận, mà chính mình cũng phải thiệt-thòi. Lã-khôn
507. – Quân-tử được nghìn vạn người khen-ngợi, không lấy làm sướng, phải một vài người kiến thức chỉ nghị [13], thì lấy làm lo. Tăng-Quốc-Phiên
❀ ❀ ❀
[1] Ưu hoạn : Sự lo phiền hoạn nạn làm cho người ta khốn khổ.
[2] Hợp quần : Ăn ở một cách có đoàn thể, giữ-gìn lấy nhau.
[3] Kết đảng : Kết thành phe tụi, công kích lẫn nhau, để thỏa lọng tự tư tự lợi.
[4] Nhân : Lòng thương yêu dong thứ.
[5] Nghĩa : Lòng nghiêm thẳng khắc khổ.
[6] Khích liệt : Trêu chọc dữ dội.
[7] Thiết thật : Thật sự, đến nới đến chốn.
[8] Ưu du : Bỏ xuôi, mặc kệ.
[9] Nại phiền : Chịu quen được khó nhọc, nhẫn nại.
[10] Thiên lý : Lẽ phải tự nhiên ai cũng nên theo.
[11] Quốc pháp : Phép nước, điều nên theo, điều nên tránh.
[12] Nhân tình : Tính người hay, dở.
[13] Chỉ nghị : Chỉ trích một việc gì mà bàn-bạc chê cười.