(Cách giao tiếp với mọi người)
590. – Lễ, quý có đi, có lại với nhau. Lễ-ký
591. – Cùng bè bạn chơi, nói phải có « tín » [1]. Luận-ngữ
592. – Làm bạn với người thẳng, người thật, người giỏi thì có ích ; làm bạn với người gian, người nịnh, người lém thì có hại. Luận-ngữ
593. – Không biết phân biệt câu nói hay, dở, thì không thể nào biết kẻ tà, người chính được. Luận-ngữ
594. – Chơi với người hay như vào nhà hoa, lâu không ngửi thấy thơm, thế là hóa hay, Chơi với kẻ dở, như vào hàng cá, lâu không ngửi thấy tanh, thế là hóa dở. Lễ-ký
595. - Giàu sang mà nhũn-nhặn thì ai chả quý, giầu sang mà âu yếm thì ai chả thân. Gia-ngữ
596. – Lễ nhiều ; nói ngọt là mồi giử ta. Tả khưu-Minh
597. – Quen biết sơ-sài mà truyện nói thân thiết, thể là người ngu. Thôi-nhân
598. – Xem chơi với ai, đủ biết con người hay, dỡ. Quản-tử
599. – Người chê ta mà chê phải là thầy ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta, người nịnh hót ta là kẻ hại ta. Tuân-Tử
600. – Ở phải chọn láng-diềng, chơi phải chọn bạn. Tuân-Tử
601. – Kẻ lấy thần-thế chơi với nhau, thần thế đổ là hết bạn ; kẻ lấy của-cải chơi với nhau, của-cải tan là mất bạn. Văn-trung-tử
602. – Quân-tử khi lấy gì, thì xem người cho, đáng lấy mới lấy ; khi cho gì, thì ai cũng cho, không cần phải chọn. Thuyết-Uyển
603. – Người quân-tử mời được, nhưng không dụ đươc ; bỏ được, nhưng không khinh được. Văn-trung-tử
604. – Chơi với người trên, chớ nịnh ; chơi với người dưới, chớ kiêu. Dương-tử
605. – Người ta đi xa, qua sông không khó, trèo non không khó, chỉ khó tại nơi nhân-tình giáo-dở, hiểm hơn non sông. Bạch-Cư-Dị
606. – Kẻ ta nói chọc tức mà không giận, phi là người có đại-lượng [2] tất là kẻ có thâm cơ [3].Lưu-Phân
607. – Người nào không hay chịu nghe nhời, thì một câu, ta cũng không nên nói với. Hoàng-đình-Kiên
608. – Thích điều hay thì bạn hay đến, thích điều dở thì bạn dở đến. Trình-Hiệu
609. – Người ta chưa biết bụng mình, chẳng nên vội cần cho người ta biết ; người ta chưa hợp ý mình, chẳng nên vội cầu cho người ta hợp. Tiết-Huyên
610. – Người ta bất đắc dĩ phải ở với kẻ vô nghĩa [4] thì ngoài phải hòa nhã, trong phải bình tâm, ngõ-hầu mới khỏi tai vạ. Nguyện-thể-tập
611. – Không hứa bậy, cho nên mỉnh không phụ ai ; không tin bậy, cho nên không ai phụ mình. Ngô-hoài-Dã
612. – Kẻ hay nói xấu người, thật là khinh-bạc ; kẻ gặp ai cũng khen ngợi, thì cũng chưa phải là người hay. Trần-Cơ-Đình
613. – Đối người phú-quý, có lễ độ không khó, có thể thống mới khó ; đối người bần tiện, có ơn huệ không khó, có lễ độ mới khó. Lưu-Cao
614. – Kẻ không phục ai, cùng kẻ thấy ai cũng phục, đều là ngu-si, càn-dỡ cả. Kinh-viên tiểu-ngữ
615. – Câu khen quá đáng của người bạn, lại hại hơn câu chê quá đáng của kẻ cừu-thù. Ly-mã-Bão
616. – Lên giời khó, cầu cạnh người ta lại khó hơn ; hoàng-liên đắng, nghèo khổ lại đắng hơn ; giá mùa xuân bạc (mỏng), tình người lại bạc hơn ; núi sông hiểm, lòng người lại hiểm hơn. Biết được khó, chịu được khổ, quen đươc bạc, dò được hiểm, thì mới khả dĩ ở đời. Tiền-Hạc-Than
617. – Lòng nghĩ làm hại người, chẳng nên có ; lòng nghĩ để phòng người chẳng nên không. Tôn-Miện
618. – Quân-tử đối với người, dạy dỗ không nghe, vậy sau mới trách ; thể tất [5] không được vậy sau mới giận. Lã-Khôn
619. – Đối với người lo, chớ vui ; đối với người khóc, chớ cười ; đối với người thất ý [6] chớ khoe. Lã-Khôn
620. – Hai bên cùng hối, thì không sự căm giận gì là không tan ; hai bên cùng ưa, thì không sự giao du gì là không hợp ; bai bên cùng giận, thi không sự tai vạ gì là không gây nên. Lã-Khôn
621. – Muốn làm người tốt, phải tìm bạn tốt. Cổ-ngữ
622. – Kẻ nào theo ý ta mà nói là kẻ tiểu-nhân, ta nên xa tránh. Thân-hàm-Quang
❀ ❀ ❀
[1] Tín : Nói thế nào, làm như thế. Không dối trá.
[2] Đại-lượng : Lượng cả bao dong.
[3] Thân-cơ : Cơ mưu sâu độcc nham hiểm.
[4] Vô-nghĩa : Không biết lẽ phải trái ; người xằng.
[5] Thể tất : Đem thân mình xử vào địa vị người.
[6] Thất ý : Buồn bực không được như lòng ước ao.