(Xử công việc)
368. – Phải có nhẫn nại [1], công việc mới xong. Thư-kinh
369. – Việc có dự trước thì làm mới nên.Trung-dung
370. – Nóng-nẩy muốn chóng thì việc không xong ; ham-mê lợi nhỏ thì hỏng việc nhớn. Luận-ngữ
371. – Nhân đức vặt, khí khái xằng, thường làm hại công việc nhớn. Luận-ngữ
372. – Roi tuy dài, không đánh tới bụng ngựa. (Quyền thế tuy mạnh cũng không trị đến được). Tả truyện
373. – Người quân-tử chăm biết việc nhớn, việc xa ; kẻ tiểu-nhân chăm biết việc nhỏ, việc gần. Tả truyện
374. – Kéo chưa biết cầm, mà sai cắt áo, thì thiệt hại to. Tả truyện
375. – Người « trí » hay lo, người « nghĩa » hay làm, người « nhân » hay trì thủ [2]. Cốc-lương
376. – Việc gì mà công chúng đang giận, thì chớ phạm đến ; việc gì mà riêng mình ham muốn, thì khó làm nên. Tử-sản
377. – Lấp nước không lấp tự nguồn, tất nước lại chẩy ; chặt cây không chặt tự gốc, tấy cây nẩy mầm. Sử-Tô
378. – Ôm củi đi chữa cháy, củi không cháy hết thì lửa vẫn chưa tàn. Chiến-quốc-sách
379. – Không lòng báo thù, mà để cho người ta ngờ là báo thù, thì nguy ; có lòng báo thù mà để cho người ta biết là báo thù, thì vụng. Tô-Đại
380. – Người đi đêm, tuy không là gian, nhưng không thể cấm chó không cắn được. Chiến-quốc-sách
381. – Việc đời có việc không nên biết, có việc nên không biết ; có việc không nên quên, có việc không nên không quên. Đường-Tụy
382. – Cả nghe thì sinh dở, tự phụ [3] thì hỏng việc. Châu-Dương liệt-truyện
383. – Việc đáng làm thẳng tay mà không thẳng tay, thì thường lại bị hại. Hán-thư
384. – Cứng quá thì gẫy, mềm quá thì oặt. Tuấn-Bất-Nghi truyện
385. – Trăm lần nghe, không bằng 1 lần trông thấy. Triệu-sung-Quốc truyện
386. – Gỡ chỉ rối, không nên nóng-nẩy. Cung-Toại truyện.
387. – Lấy cái dây rất nhỏ, buộc cái vật rất nặng, treo lên chỗ cao lưng-chừng, rủ xuống vực sâu vô hạn, tuy người ngu cũng biết phàn-nàn rằng sắp đứt. Mai-Tặng truyện
388. – Người loà cưỡi ngựa mù, nửa đêm đi ra ao sâu. Thế-Thuyết
389. – Có khó nhọc một phen, mới được lâu dài rỗi-rãi. Dương-Hùng
390. – Nước đã đánh đổ, sau hốt không được ; việc đã để hỏng, sau hối không kịp. Mã-Vũ
391. – Làm nhà bên đường, gặp ai cũng bàn, thì ba năm không làm xong. Tào-Bao truyện
392. – Sai một li, đi nghìn dặm. Hậu-Hán thư
393. – Nền không chắc mà tường cao, là sự bại hoại nằm sẵn ở đó. Hậu-Hán thư
394. – Khuấy nước sôi cho khỏi reo, không bằng rút củi cho bớt lửa. Hậu-Hán thư
395. – Đã nuôi cọp, phải cho ăn thịt no, không thì bị nó sửa mất. Lã-Bố truyện
396. – Việc đời không được như ý, mười việc thường đến tám, chín việc. Dương-Hỗ
397. – Chẳng quí một thước ngọc, mà trọng một tất quang-âm [4]. Hoài-Nam-tử.
398. – Đá giũa ngọc, muối đánh vàng, vật có nhiều thứ tầm thường mà làm tốt được cho thứ quí-báu. Tiềm-phu.
399. – Ai giồng đào, mận, mùa hè có bóng mát-mẻ, mùa thu lại được quả ngon ; ai giồng tật-lê, mùa hè không chỗ nghỉ-ngơi, mùa thu lại phải ai-góc. Thuyết-Uyển
400. – Nghĩ sâu, tính xa, thì không cùng khốn. Tố Thư
401. – Thấy gì quái gở, không cho là quái gở, thì quái gở tự nhiên lui. Nghệ văn loại tụ.
402. – Kỵ nhau còn gì bằng nước với lửa, thế mà khéo dùng, đem lửa đun nước, thì được bao nhiêu là việc. Phó-tử giả ngôn
403. – Đem xương trừ kiến, kiến lại càng nhiều ; lấy cá đuổi ruồi, ruồi lại càng đến. Hàn-phi-tử
404. – Việc làm kín đáo thì mới nên, câu truyện tiết lộ thì hay hỏng. Hàn-phi-Tử
405. – Việc làm trái nhẽ mà muốn xong, khác nào cầm ngược quần mà tìm cạp. Đặng-Tích-Tử
406. – Chẳng nên bới lông mà tìm vết. Hàn-phi-Tử
407. – Nhà cháy, người đến chữa thì ơn ; những bực già cả bảo dọn củi, giữ bếp, được suốt đời không hỏa hoạn [5] thì lại không ơn đến. Thi-tử
408. – Không gì giỏi bằng hay bàn, không gì yêu bằng hay nhẫn, không gì hơn người bằng có đức, không gì sướng thân bằng làm lành. Hoàng-Thạch-công
409. – Thiên hạ vốn không có việc gì, chỉ tại đám người tầm thường hay sinh sự quấy rối. Lục-Tượng-Tiên
410. – Việc đời, người nghe thấy, không bằng người trông thấy rõ hơn, người trông thấy không bằng người đã ở đấy biết tường tận hơn. Lục-Du
411. – Việc tất đến thế, lý tất phải thế, chỉ có người trầm tĩnh mới trông thấy trước và biết rõ ràng. Tô-Tuân
412. – Phàm việc để tâm lo sợ thì hay nên, khinh thường thì hay hỏng. Lã-Tổ-Khiêm
413. – Người khôn lo việc : không lo việc một ngày, thường lo việc trăm năm. Tạ-Kim
414. – Người đại trượng-phu đau lòng việc nước, nên thung-dung, trầm tĩnh, để mà lo mà toan. Lục-Triều-sử-luân
415. – Không có việc, chớ nên sinh việc ; có việc chớ nên sợ việc. Tôn-Hạ-Phong
416. – Làm việc vô ích để cầu phúc, không bằng làm việc có ích để cứu người. Lục Thế-Nghi
417. – Xưa nay những bậc anh hung, chỉ vì không chịu thiệt, mà hại bao nhiêu công việc to. Lâm Thoái-trai
418. – Kẻ tính hay hồ nghi, chớ cùng lo toan việc nhớn. Kinh-viên tiểu ngữ
419. – Xử những việc khó càng nên khoan dong ; xử với người khó xử, càng nên trung hậu ; xử thời buổi khó-khăn, ngờ-vực, càng nên tự nhiên như vô tâm. Lý-Tiêu-Viễn
420. – Cái thói viêm lương [6], kẻ phú quí lại tệ hơn kẻ bần tiện ; cái lòng đố kỵ [7], người thân thích lại tệ hại hơn người dưng. Nếu không coi bằng « mắt lạnh nhạt » xử bằng « khí hòa bình » thì thật là ngày ngày ngồi trong màn phiền não [8]. Trần-Cấp-Sơn
421. – Chớ đem lòng ham mê, say đắm mà tự giết mình ; chớ đem tiền của bất nghĩa mà giết con cháu ; chớ đem chính sự ác mà giết dân ; chớ đem học thuật xằng mà giết thiên hạ, hậu thế [9]. Lưu-Cao
422. – Tưởng rằng không có việc, tất là có việc ; sợ rằng có việc, tất là không có việc. Nhân sinh tất độc thư
423. – Việc không yên tâm chẳng nên làm, việc trái nhẽ phải chẳng nên làm, việc gây oan nghiệt chẳng nên làm, việc hại người ta chẳng nên làm. Nhân sinh tất độc thư
424. – Người khôn chẳng đánh nhau với thiên mệnh [10], chẳng đánh nhau với công lý[11]. Trần-Kế-Nho
425. – Việc sắp sẩy ra mà ngăn được, việc đương sẩy ra mà cứu được, việc đã hỏng mà vớt lại được, thế là có quyền biến, là có tài năng. Chưa có việc mà biết có việc sắp đến, mới có việc mà biết việc sau thế nào, định việc mà biết việc sẩy ra thế này, thế khác, thế gọi là lo xa, là có kiến thức. Lã-Khôn
426. – Tâm chí chưa phải cay đắng, hoạn nạn chưa từng trải qua, thời trí khôn chậm và đảm lực [12] non. Hồ-Lâm-Dực
427. – Khổ bụng [13] thì thế nào giời cũng thương ; nặng tay [14] thì nên nghĩ người khó chịu. Cổ ngữ
428. – Nên tập quen chịu nực, quen chịu rét, quen chịu khó, quen chịu khổ. Tăng-Quốc-Phiên
429. – Người mà tính khí bất thường, thì suốt đời không làm nên được một việc. Tăng-Quốc-Phiên
430. – Xưa nay người tầm-thường mà bại hoại, đều vì tính « lười » ; người tài giỏi mà bại hoại[15], đều vì tính « kiêu ». Tăng-Quốc-Phiên
431. – Thiên-hạ thật không có cảnh ngộ nào là dễ xử, nhân gian thật không có thì giờ nào là bỏ đi. Tăng-Quốc-Phiên
432. – Bằng lòng yên số phận, cắm cổ làm việc đời. Tăng-Quốc-Phiên
433. – Việc xong mới hối mình rằng dại, việc xong mới chê người còn khờ như thế đều là chưa lịch duyệt [16] lắm cả. Tăng-Quốc-Phiên
❀ ❀ ❀
[1] Nhẫn nại : Chịu khổ, bền chí, không chán nản, không ngã lòng.
[2] Trì thủ : Giữ gìn, không phóng phiếm, không bạo động.
[3] Tự phụ : Cậy mình tài giỏi.
[4] Quang-Âm : Ánh sáng, tức là thì-giờ.
[5] Hoả hoạn : Tai nạn lửa cháy.
[6] Viêm lương : Nóng, lạnh thấy thịnh vượng thì vồ-vập, thấy suy đồi thì lánh xa.
[7] Đố kỵ : Ghen ghét.
[8] Màn phiền não : Nơi buồn bực khổ sở.
[9] Hậu thế : Đời sau.
[10] Thiên mệnh : Số mệnh giời đã định cho người ta.
[11] Công lý : Lẽ phải, ai ai cũng công nhận như vậy.
[12] Đảm lực : Sức can đảm để làm việc gì.
[13] Khổ bụng : Chịu nghĩ, chịu thiệt ; chịu khổ.
[14] Nặng tay : Làm nhiều việc khổ hại cho người ta.
[15] Bại hoại : Hư hỏng.
[16] Lịch duyệt : Từng trải, biết qua, làm qua.