(Yêu, ghét)
575. – Yêu ai, nhưng cũng nên biết điều dở của người ấy ; ghét ai, nhưng cũng phải biết điều hay cho người ấy. Lễ-ký
576. – Khi yêu thì muốn cho sống, khi ghét lại muốn cho chết ; mình không có quyền làm được sống, chết, mà lúc thì muốn cho sống, lúc lại muốn cho chết, như thế thật là mê hoặc lắm thay. Luận-ngữ
577. – Có kẻ nhiều người ghét, song hoặc là kẻ có tính khác thường [1] chăng, ta hẳn phải xét xem, thật đáng ghét vậy sau mới ghét. Có kẻ nhiều người yêu, song hoặc là kẻ có tính nịnh đời [2] chăng, ta hẳn phải xét xem thật đáng yêu, vậy sau mới yêu. Luận-ngữ
578. – Người mê thích điều lành, phúc tuy chưa đến songhọa đã xa ; người mà không thích điều lành, họa tuy chưa đến, song phúc đã xa. Trung-luận
579. – Ngườimà nhiều người ghét, thì nguy lắm. Tuân-tử
580. – Việc được, thì gièm-pha nổi lên ; đức cao, thì chê-bai kéo đến. Hàn-Dũ
581. – Yêu người mà yêu vô lý, thành ra làm hại cho người ; ghét người mà ghét vô lý, thành ra làm hại cho thân. Ngụy-Tế-Thụy
582. – Người quân-tử, ta nên thân, song không nên quá chiều mà phụ họa ; kẻ tiểu-nhân, ta nên tránh, song không nên ruồng-rẫy như hằn thù. Thân-Hàm-Quang
❀ ❀ ❀
[1] Khác thường : Tư-tưởng, hành vi một cách sâu xa trái hẳn với hạng người tầm thường.
[2] Nịnh đời : A-dua lấy lòng tất cả những hạng người.