(Chí tiết, khí khái)
532. – Kẻ học-giả có chí muốn biết những sự cao minh, mà còn xấu hổ mặc không được đẹp, ăn không được ngon, thì chưa đáng cùng nói chuyện cao minh được. Luận-ngữ
533. – Thấy lợi nghĩ đến nghĩa mà không lấy bậy, lâm nạn [1] làm hết sức mà không tiếc thân, một nhời giao ước, tuy lâu ngày mà vẫn nhớ mãi. Luận-ngữ
534. – Đáng chết thì chết : quyết không cẩu thả cầu sống, để cho « tâm » không được yên, thà chỉ nên thí thân đi, để cho « tâm » được yên và « đức » được trọn vẹn. Luận-ngữ
535. – Người đã biết nuôi « chí » thì không nghĩ đến « hình » (quí tinh thần hơn quí thân thể). Trang-tử
536. – Người nào có chí, làm việc hay nên. Hậu-Hán-thư
537. – Nghèo là cảnh thường của học trò ; chết là sự hết của đời người. Gia-ngữ
538. – Ai mà thân được nhàn rỗi thì chí thường hẹp-hòi. Gia-ngữ
539. –Đói xác be hơn no lè-tè bọ hung. Bão-phác-tử
540. – Người đi học chẳng lo không có tài, chỉ lo không có chí. Diêm-thiết-luận
541. – Người quân-tử, trọng được, khinh được, làm tội được, giết chết được, nhưng không thể bắt làm xằng được. Diêm-thiết-luận
542. – Người quân-tử không buồn tuổi sắp già, chỉ lo chí trễ-nải. Trung-luận
543. – Người đời đục cả, ta một mình trong ; người đời say cả, ta một mình tĩnh. Khuất-Bình
544. – Liêm sỉ là việc nhớn, tử sinh là việc nhỏ. Diệp-Mộng-Đắc
545. – Không gì nghèo bằng không có tài, không gì hèn bằng không có chí. Uông-Cách
546. – Học trò trong nước mà không có khí tiết, thì thế nước thoi-thóp như người sắp chết. Tiết-Huyên
547. – Người ta thứ nhất phải « có chí » [2], thứ nhì phải « có thức » [3] thứ ba phải « có thường » [4]. Tăng-quốc-Phiên
548. – Phải trái không rõ-ràng, tiết nghĩa không giảng xét, thiên-hạ sỡ dĩ loạn là tại thế. Hồ-Lâm-Dực
❀ ❀ ❀
[1] Lâm nạn : Gặp lúc biến-cố hoạn-nạn.
[2] Có chí : Để tâm mãi vào việc gì và cố làm cho được.
[3] Có thức : Hiểu biết tình người, việc đời.
[4] Có thường : Bao giờ cũng vậy, không biến đổi, không gián đoạn.