(Lành, dữ)
562. – Thiện không làm nhiều, không đủ nổi tiếng ; ác không tích nhiều, không đủ hại thân. Dịch hệ-từ
563. – Người thiện làm điều lành, suốt ngày như chưa đủ ; người ác làm điều dở, cũng suốt ngày như chưa đủ. Thư-kinh
564. – Giồng « đức » chăm cho nhớn, trừ « ác » bỏ cho sạch. Thư-kinh
565. – Người tốt mà giàu, thế là giời thưởng ; người xằng mà giàu, thế là giời phạt. Tả truyện
566. – Thiện thì thiện theo, ác thì ác theo, cũng như bóng theo hình, vang theo tiếng. Đổng-Trọng-Thư
567. – Chớ bảo điều thiện này nhỏ mà chẳng làm, chớ bảo điều ác kia nhỏ mà cứ làm. Thục Tiên-chúa
568. – Công chẳng gì giỏi bằng bỏ ác mà làm thiện, tội chẳng gì to bằng bỏ thiện mà làm ác. Tân-thư
569. – Biết hay mà không tin, goi là dại ; biết dở mà không chừa, goi là mê. Dục-tử
570. – Bụng người quân-tử, muốn cho người ta cũng hay như mình ; bụng kẻ tiểu-nhân, muốn cho người ta cũng dở như mình. Trình-Di
571. – Ẩn ác, dương thiện là bực thánh ; thích thiện ghét ác là bực hiền ; tánh bạch thiện, ác quá dáng là hạng người tầm thường ; điên đảo thiện, ác để sướng miệng gièm pha, là hạng tiểu-nhân hiểm ác. Chu-Trung Trang-công
572. – Suốt đời làm lành, lành cũng chưa đủ ; một ngày làm ác, ác đã có thừa. Hà-Viên
573. – Kẻ trách mình, có thể làm nên điều hay cho người ; kẻ trách người, thật là thêm cái dở cho mình. Hứa-Hành
574. – Nghe thấy người ta hay thì ngờ, nghe thầy người ta dở thì tin, thế là bụng đầy những gươm giáo. Trân-kế Nho