(Nghèo, giàu)
623. – Nghèo chẳng nên nói dối, giàu chẳng nên cậy mình. Thái-Công
624. – Kẻ tiểu-nhân nghèo thì bủn-xỉn, giàu thì kiêu căng. Lễ ký
625. – Người mà tính hung-hăng, lại ghét nghèo khổ thì tất làm xằng. Luận-ngữ
626. – Nghèo mà không nịnh, giàu mà không kiêu. Luận-ngữ
627. – Nghèo mà không oán mới khó, giàu mà không kiêu còn dễ. Luận-ngữ
628. – Người giàu có mà không khôn ngoan, thì cũng như bù-nhìn mặc áo gấm. Triệu-Vũ
629. – Ai sinh ra mà giàu ngay thì hay kiêu [1], ai sinh ra mà sang ngay thì hay ngạo [2]. Hậu-Hán-thư
630. – Có cái rất giàu mà không phải là vàng bạc, có cái sống rất lâu mà không phải là thọ nghìn năm. Hoài-Nam-tử
631. – Rất sang không đợi phải có chức tước, rất giàu không đợi phải có tiền tài. Hoài-Nam-tử
632. – Chăm cho có vốn to mà tiêu dùng chừng mực, thì giời cũng không bắt nghèo được. Tuân-Tử
633. – Nhà có của-cải hàng nghìn, hàng vạn mà không biết cách làm ăn, thì cũng như nghèo vậy. Hàn thi ngoại truyện
634. – Giàu phải nghĩ đến lúc nghèo, trẻ phải nghĩ đến lúc già. Thuyết-Uyển
635. – Ta được giàu sang, chớ để người cười là phường béo ăn [3] ; ta phải nghèo hèn, chớ để người chê là đồ vô chí [4]. Lục sinh
636. – Không lấy bậy của ai, gọi là giàu ; không bị nhục với ai, gọi là sang. Công-Nghi
637. – Luồn cúi để giàu sang, chẳng bằng nghèo hèn mà khí khái. Khổng-Tòng-tử
638. – Giời cho ta giàu sang sung-sướng, là chiều chuộng ta để cho ta dễ làm lành ; giời bắt ta nghèo khổ lo buồn, là mài giũa ta để cho ta kiên gan, bền chí. Trương-Hoành-Cừ
639. – Bần tiện sinh ra cần kiệm, cần kiệm sinh ra phú quý, phú quý sinh ra kiêu sa, kiêu sa sinh ra dâm-dật, dâm-dật lại sinh ra bần tiện. Sử điển nguyện thế tập
640. – Nghèo không là xấu, nghèo mà không có chí mới là xấu ; hèn không đáng ghét, hèn mà không có nghề mới đáng ghét. Lã-Khôn
❀ ❀ ❀
[1] Kiêu : Khoe mình, lên mặt.
[2] Ngạo : Khinh người.
[3] Béo ăn : Chỉ vụ ăn uống sung sướng, không biết lo tính xa. Những công việc cho thân, cho nhà .v. v…
[4] Vô chí : Chịu ép một bề, không biết để tâm lo liệu việc lập lấy thân.