(Học và hỏi)
85. – Hay hỏi thì biết rộng, tự dụng [1] thì hẹp hòi. Thư-kinh
86. – Không lo, sao có được ; không làm sao có nên. Thư-kinh
87. – Ai phải là ta học. Thư-kinh
88. – Có học những câu cổ-nhân dạy thì mới hay. Thư-kinh
89. – Ngọc không giũa, không thành đồ đẹp ; người không học, không biết nhẽ phãi. Lễ-ký
90. – Càng học càng biết mình còn kém. Lễ-ký
91. – Để nhớn tuổi mới học thì khó nhọc mà khó thành. Lễ-ký
92. – Thấy người hay, nghĩ sao cho bằng ; thấy người dở, tự xét mình xem có dở như thế không. Luận-ngữ
93. – Chất phác quá thì ra quê mùa, văn hoa quá thì ra hào-nhoáng. Luận-ngữ
94. – Nghe cho nhiều, rồi chọn điều phải, và cố làm kỳ được ; xem cho rộng, rồi ghi nhớ lấy, để suy xét cho tường. Luận-ngữ
95. – Bất cập là dở, mà thái quá cũng không hay. Luận-ngữ
96. – Tính người lúc mới sinh không khác nhau mấy, chỉ vì tập quen hay thì hay, tập quen dở thì dở. Luận-ngữ
97. – Học rộng mà phải chuyên tâm, bền chí, hỏi những điều thiết thực [2] mà suy nghĩ để hay cho tâm thân. Luận-ngữ
98. – Đối với kẻ tự hại thân [3], dầu nói cũng bằng thừa ; đối với kẻ tự liều thân, dầu giúp cũng vô ích. Mạnh-tử
99. – Những người trải qua tai hoạn, thì thường thấu nhẽ và giỏi việc. Mạnh-tử
100. – Tin sách cả, không bằng không sách còn hơn. Mạnh-tử
101. – Kẻ sĩ cần nhất phải khí độ cho to, và kiến thức cho rộng. Bùi-hành-Kiệm
102. – Người ta biết nhiều cũng là làm giàu. Gia-ngữ
103. – Gươm tuy tốt , có mài mới sắc ; tài tuy tốt, có học mới cao. Tập-ngữ
104. – Đợi rỗi mới học, thì lúc rỗi cũng không có thế học được. Hoài-nam-tử
105. – Trăm sông học bể, đến được bể ; gò đống học núi, không đến được núi ; là tại một đằng đi một đằng đứng. Dương-tư
106. – Băng [4] ở nước ra mà lạnh hơn nước ; màu xanh ở chàm ra mà thẩm hơn chàm. Tuân-tử
107. – Không biết thì hỏi, không hay thì học. Phồn-lộ
108. – Tài cao mà không học, vẫn chưa là hoàn toàn. Thuyết-uyển
109. – Kẻ học giả không lo không có tài, chỉ lo không có chí. Trung-Luận
110. – Hại còn gì to bằng không chịu sữa lỗi ; nhục còn gì to bằng không biết xấu hổ. Văn-trung-Tử
111. – Học cũng có ích như giồng cây : mùa xuân được hoa, mùa thu được quả. Nhan-thị gia-huấn
112. – Đồ dùng bẩn thì biết rửa, tâm địa [5] bẩn sao lại để yên. Ý-Lâm
113. – Càng học càng hay cũng như khát mà ra sông, ra bể uống, uống nhiều thì được nhiều, uống ít thì được ít. Thận-Tử
114. – Vui nhất không gì bằng xem sách ; cần nhất không gì bằng dạy con. Sử-Điển
115. – Thường được nghe những câu ngang tai [6], thường gặp phải những việc phật ý [7], cũng là một sự mài giũa cho người ta được hay. Hồng-Tự-Thành
116. – Sĩ phu mà ba ngày không xem sách, thì soi gương mặt mũi đáng ghét, nói truyện nhạt-nhẽo khó nghe. Hoàng-Đình-Kiên
117. – Học mà chưa thấy vui thì chưa gọi là học. Tư-mã-Quang
118. – Phú quí mà kiêu ngạo, cố nhiên là không phải ; học thức mà kiêu ngạo, cái hại cũng khá to. Trình Hiệu
119. – Đọc sách hay, làm cho thân ta được ít lỗi. Lã-Khôn
120. – Học cần nhất phải biến hoá khí chất. [8] Tiết Huyện
121. – Xem nhiều cổ huấn [9] để cho hay người, biết nhiều truyện đời để cho thạo việc. Hoàng Sĩ-Ngạn
122. – Học giả nên thu liễm [10] tinh thần : ví như lò lửa, để tụ lại thì vừa nóng, vừa sáng mãi, tải ra thì chóng tàn. Hạ Đông-Nam
123. – Học vậy sau mới biết có lỗi, học kỹ vậy sau mới biết đổi lỗi. Phan Nam-San
124. – Trải qua một phen tỏa triết [11], tăng thêm một phần kiến thức. Kinh-viên tiểu-ngữ
125. – Nhà phú quí nên học cách khoan dung, người thông minh nên học thói trung hậu. Trần-Kế-Nho
126. – Có học vấn mà không có đạo đức thì là người ác ; có đạo đức mà không có học vấn thì là người quê. La Tư-Phúc
127. – Đọc sách mà con mắt không tinh, thế là vùi dập cái khổ tâm [12] của người đời cổ. Ngạn-ngữ
❀ ❀ ❀
[1] Tự dụng : Tự cậy thông minh tài giỏi để làm mọi việc.
[2] Điều thiết thực : Điều cần đến, điều có sự thật.
[3] Tự hại thân : Tự mình làm hại mình.
[4] Băng : Nước đá.
[5] Tâm địa : Tấm lòng, trí khôn, thần hồn của người ta.
[6] Câu ngang tai : Câu nói thẳng thường khó nghe.
[7] Việc phật ý : Việc công bằng thường trái ý riêng.
[8] Biến hoá khí chất : Biến đổi những tính dở, nết xấu.
[9] Cổ huấn : Nhời dạy bảo của người đời trước.
[10] Thu liễm : Thu lại, lượm lại, không để cho tản nát ra.
[11] Tỏa triết : Ngăn trở đè nén không để cho như ý.
[12] Khổ tâm : Lo nghĩ lao khổ để làm một việc khó khăn.