Bằng cách này hay cách khác, theo lệ thường của những năm trước, họ cũng thu hoạch xong những mùa vụ ít ỏi của mình—củ cải, khoai tây và bí ngô được cất trữ dưới hầm; lúa yến mạch đã gặt xong; bắp đã bóc vỏ; lúa mạch kiều mạch sẵn sàng đem xay; thậm chí những luống cày vẹo vọ của Tom chuẩn bị cho vụ gieo trồng mùa xuân cũng đã hoàn tất. Bằng cách này hay cách khác, với sự giúp đỡ đắc lực của u và sự vâng lời ngoan ngoãn như một đứa trẻ của Tom, họ đã thu gom được thành quả sau bao tháng hè. Và rồi tháng Chín bỗng chập chờn trước ngõ—để rồi tiếp đó là tiết thu phân.
Đối với Luke, dường như chưa bao giờ trời mưa nhiều đến thế. Hơi nước đục ngầu bốc lên không dứt từ những vùng đất trũng trong thung lũng; các đỉnh đồi hoàn toàn biến mất trong lớp sương mù đặc quánh. Có những đợt mưa lớn trút xuống mặt đất sũng nước như những trận mưa phi tiêu bằng thép. Những cơn gió giật từng hồi lướt qua các dãy nhà trong trang trại, làm mái lợp kêu lách tách và rền rĩ; những khung cửa sổ rên siết và va đập lạch cạch. Thứ thời tiết ảm đạm nhất mà cậu bé từng nhớ được!
Và vào ngày tồi tệ nhất trong tất cả, họ nhận được tin dữ. Luke lấy nó từ chiếc hòm thư ở lối đi nhỏ—băng qua cơn mưa xối xả và mịt mù trong chiếc áo choàng cao su cũ. Bức thư đã ẩm ướt hết cả—từ dấu bưu điện nước ngoài, con tem cho đến mọi thứ—vào khoảnh khắc cậu đặt nó vào tay u.
Đó là một bức thư kép—hoặc người ta phỏng đoán thế khi vừa mở ra. Bên trong có một bức thư khác, hoàn chỉnh, được dán kín và đề người nhận bằng chữ viết của Nat; nhưng hiển nhiên là người ta phải đọc tờ giấy đính kèm trước đã. Đó chỉ là một mảnh giấy nhỏ, kỳ lạ, trông có vẻ chính thức, với vài dòng đánh máy trên đó cùng phần đầu đề in đậm hiện lên một cách đầy kỳ lạ. Họ cùng nhau đọc nó—hoặc cố gắng đọc. Ban đầu họ chẳng thể hiểu nổi ý nghĩa của nó. Paris—tận nước Pháp xa xôi—và rồi những từ ngữ ở bên dưới—cùng tên của u ở trên cùng, y hệt như phần địa chỉ trên tờ báo:
Bà Jere Haynes,
Stony Brook, New York.
Đúng là thư gửi cho u rồi. Kế đó, bỗng nhiên những con chữ hiện lên rõ mồn một qua lớp chữ nhòe nhoẹt:
Bà Jere Haynes,
Stony Brook, New York.
Thưa Bà: Chúng tôi rất tiếc phải thông báo với bà rằng bản thông cáo chính thức ngày sáu tháng Chín có tin tức cho biết người viết bức thư kèm theo đây, Nathaniel Haynes, ở Stony Brook, New York, Hoa Kỳ, đã hy sinh khi đang làm nhiệm vụ lái xe cứu thương tại Khu vực Verdun, và đã được an táng tại vùng đó. Những chi tiết tiếp theo sẽ được thông báo sau.
Đội Xe cứu thương Hoa Kỳ, Paris.
Ngay cả khi đã nhận thức được sự thật, u vẫn không hề kêu lên một tiếng nào. Bà ngồi mím đôi môi một cách kỳ lạ, nhìn chằm chằm vào những dòng chữ đã bay qua không gian rộng lớn của trái đất tựa như những cánh chim dữ. Chính Luke là người nhớ đến bức thư còn lại:
"Những người thân yêu và tử tế của con—Cha, Mẹ và các Anh Em: Con đoán là con dám gọi mọi người như vậy khi đã ở đủ xa mọi người. Có lẽ mọi người sẽ không phiền lòng khi con kể cho nghe tin tức của con.
"Chà, chúng con đã qua từ nước Anh vào thứ Năm tuần trước và bắt tay vào công việc theo hợp đồng ở đây. Mọi chuyện diễn ra khá suôn sẻ; nhưng hẳn mọi người có thể đoán ra là cậu con trai quý tử của nhà mình không thể chịu đựng được cảnh chôn chân một chỗ. Con cá là u đã đoán ra từ trước rồi đấy. Chà, thưa u, chắc là do cái máu hay lang thang trong con đây. Chưa bao giờ con có thể gắn bó lâu dài với cái gì. Dù sao thì nó cũng đã quật con nhừ tử khi con đặt chân tới đây.
"Nói ngắn gọn lại là con đã bỏ việc ở công ty vào ngày hôm qua và tình nguyện làm tài xế xe cứu thương. Chẳng có gì ngoài vinh quang cả; nhưng con chắc chắn sẽ thích nó cho mà xem! Dù sao thì họ cũng đang thiếu nhân sự và một thanh niên thì thích giúp đỡ trong khả năng có thể. Ước gì con có thể gửi về một ít tiền; nhưng con đã dốc sạch những gì mình có để sắm sửa trang thiết bị. Phải è cổ trả tận tám đô-la cho một bộ đồ lót đấy. Mọi người tính sao về chuyện đó nào?
"Mọi người có thể viết thư cho con theo địa chỉ đề cậy Đội Xe cứu thương, Paris.
"Giờ thì u đừng có lo lắng nhé! Con không ra trận đánh nhau đâu. Con có thử xin gia nhập Binh đoàn Lê dương nhưng không có cơ hội. Con vẫn ổn. Hãy nghĩ về con như một cậu bé Chữ Thập Đỏ dễ thương và là một tay thông thái trên chiếc xe chở đầy khí tài. Và con sẽ có những chuyện cực kỳ hấp dẫn để làm cho đôi mắt của lão Luke phải trợn ngược lên cho mà xem! Mong là chân của tía đã đỡ hơn. Và u hãy nhận một nụ hôn từ con nhé. Biết đâu mọi người lại nghĩ là con không biết quý trọng gia đình mình. Nếu mà con giỏi viết lách thì con đã nói cho mọi người biết những điều khác rồi.
"Con trai và người em của mọi người,
"Nat Haynes."
Điều tồi tệ nhất trong tất cả chính là việc u không hề khóc—cứ ngồi đó nhìn chằm chằm vào đống lửa, hoặc nơi từng là đống lửa khi củi đãụ tắt vì thiếu bàn tay chăm sóc. Luke cảm thấy việc một người phụ nữ không khóc là điều không hợp lý chút nào. Cậu thử cất lời an ủi:
"Dù sao thì anh ấy cũng được bình an, u ạ—hãy nhớ lấy điều đó! Thế cũng là rất nhiều rồi. Không phải lúc nào chúng ta cũng biết điều đó, trong những lúc anh ấy cứ lang thang mãi ở bên này. U đã lo lắng cho anh ấy rất nhiều đấy thôi, u biết mà."
Nhưng u không đáp lại. Bà hiếm khi mở miệng nói chuyện—di chuyển ít nhất có thể. Khi đã dọn thức ăn ra cho cậu và Tom, bà luôn quay về góc nhà của mình và đẫn đờ nhìn vào đống lửa. Luke phải mang đĩa đến tận nơi và dỗ dành bà ăn. Ngay cả ngày mà Chú Clem và Dì Mollie lên thăm, bà cũng chẳng thèm để ý đến họ. Chỉ có một lần bà nhắc đến Nat với Luke.
"U thương anh ấy nhất phải không, u?" cậu rụt rè hỏi vào một buổi tối ảm đạm.
Bà đáp lại bằng một vẻ ngạc nhiên ngây dại.
"Ơ hay, thằng bé là con đầu lòng của ta cơ mà!" bà nói; và một lúc sau như thể đang tự lới với chính mình: "Hồi còn nhỏ, đầu nó tròn và bóng mượt trông hệt như một trái táo nhỏ tròn xắn. Ta nhớ, trước khi nó chào đời, ta đã tự tay mua cho nó chiếc mũ ngoài Rockville, có đính một cái nơ xanh. Nó trông bảnh bao và xinh xắn làm sao khi đội chiếc mũ đó."
Đôi khi vào ban đêm, Luke ngủ không ngon giấc và miên man suy nghĩ, nằm trằn trọc lắng nghe những âm thanh có thể phát ra từ phòng của u. Biết đâu ban đêm u lại khóc. Giá mà u khóc được—điều đó sẽ giúp làm dịu bớt sự căng thẳng cho tất cả bọn họ. Nhưng cậu chẳng bao giờ nghe thấy gì ngoài tiếng mưa—đều đặn, não nề trút xuống những tấm ván lợp sũng nước ở phía trên.
Bây giờ chỉ có một mình Luke là người ngóng trông hòm thư. Một buổi sáng, chuyến đi đến đó của cậu đã đơm hoa kết trái. Không còn nỗi đau đớn nào nữa; chẳng còn sự sợ hãi nào trong bức thư dày cộp gửi từ nước ngoài mà cậu đang cầm trên tay.
"Chắc chắn nó sẽ kể cho u nghe tất cả mọi chuyện!" cậu hào hứng nói.
U có vẻ chẳng mấy bận tâm. Chính Luke là người đã tự tay bóc niêm phong và đọc lớn bức thư lên.
Nó được viết từ Trụ sở Đội Xe cứu thương ở Paris—được viết bởi một người có sự thấu cảm hiếm hoi, với trực giác tinh tế và nhạy bén. Tất cả những gì gia đình Nat có thể muốn tìm hiểu đều được ông tận tình kể lại. Chính ông đã tự mình tìm hiểu câu chuyện về Nat và ông kể lại một cách đầy đủ, cởi mở. Ông dành những lời ca ngợi Nat; về mối quan hệ thân thiện của Nat với những anh em trong Đội Xe cứu thương; về bản tính tốt bụng và tinh thần vui vẻ của anh; sự mến mộ mà mọi người dành cho anh cùng sự sẵn sàng phục vụ một cách nhiệt tình. Người ta có cảm giác rằng mọi người ở bên đó đã yêu quý Nat biết bao.
Ông viết về những nhiệm vụ ban đầu ở Paris, công tác chuẩn bị—về chuyến đi cuối cùng của Nat để gia nhập một trong ba phân đội đang hoạt động quanh vùng Verdun. Đó không phải là một công việc dễ dàng đang chờ đón Nat ở nơi đó. Đó là một thử thách cam go khi phải điều khiển chiếc xe cứu thương nhỏ bé vượt qua những con đường chi chít vết đạn pháo, với sự khéo léo và chuẩn xác, để tiến đến những trạm quân y ở tận đằng xa nơi các binh sĩ bị thương đang mòn mỏi chờ đợi anh. Đó là một bức tranh khiến Luke vô cùng xúc động và làm rộn rã tâm can cậu—sự tối tăm của những đêm đen; tiếng pháo và quân đội di chuyển rền vang; ánh chớp từ những quả pháo sáng; tiếng súng trường nổ lách tách ở đằng xa; tiếng sấm rền liên hồi của đại bác.
Và cả đạn pháo nữa! Chúng sượt qua người ta mới sát làm sao, rít lên, gào thét ngay trên đầu; rơi xuống và khoét những hố sâu hoắm trên mặt đất. Chừng đó cũng đủ để làm suy sụp hoàn toàn tinh thần của bất kỳ ai; thế nhưng những người lái xe ở đó đều là những kẻ có thần kinh thép. Đó chỉ là một phần công việc hằng ngày đối với họ! Và Nat cũng là một con người như vậy. Nat chẳng biết sợ là gì—anh nuốt trọn nỗi sợ ấy vào trong. Bản chất ưa mạo hiểm trong con người anh đã hân hoan lao ra để đón lấy nó.
Nat mới chỉ đi đến chuyến thứ ba thì bi kịch đã giáng xuống đời anh. Anh và một người đồng đội đang tìm kiếm một trạm quân y nằm dưới tầng hầm của một ngôi nhà nhỏ bị tàn phá ở một ngôi làng heo hút của nước Pháp, thì một quả pháo bất ngờ phát nổ ngay dưới chân họ, có thể nói là như vậy. Chỉ có thế thôi. Đơn giản vậy thôi. Nat tử thương ngay tức khắc và người bạn đồng hành của anh—ồ, Nat mới thực sự là kẻ may mắn....
Luke phải dừng lại một lúc lâu. Người ta không thể đọc tiếp ngay lập tức trước một sự việc như thế.... Khi cậu tiếp tục đọc, đó là lúc rời xa bóng tối, những ngôi nhà tan hoang vì đạn pháo, mảnh đất bầm dập, những sinh mạng quằn quại và tàn phế.... Đọc tiếp đoạn sau, cảm giác giống như bước ra từ chốn Âm phủ để đến với một Vùng Bình Yên bao la.
"Tôi ước gì có thể truyền đạt đến bà, thưa bà Haynes kính mến, đôi nét ấn tượng về buổi lễ tiễn đưa vô cùng cảm động và tốt đẹp dành cho con trai bà vào buổi sáng ngày chín tháng Thượng tuần tại ngôi làng nhỏ Aucourt. Hãy tưởng tượng một ngày cuối hạ ấm áp, ngập tràn nắng vàng, và một con đường làng thoai thoải dốc lên sườn đồi, chật kín những người lính trong bộ quân phục màu xanh phai màu, đầy bụi bặm, cùng các tài xế xe cứu thương người Mỹ mặc trang phục Kaki.
Cỗ quan tài được đặt ngay cửa mở của một ngôi nhà, có mặt tiền được phủ kín bằng lá quốc kỳ tam tài của nước Pháp, và được bao phủ bởi những bông hoa cùng vòng hoa do các phân đội Mỹ khác nhau gửi đến. Ở phía đầu quan tài có đặt một lá quốc kỳ Mỹ nhỏ, trên đó đính tấm Huân chương Chiến công—một ngôi sao vàng trên dải ruy-băng màu đỏ và xanh lá cây—là lời tri ân từ vị tướng quân đội gửi đến người thanh niên đã hiến dâng cuộc đời mình cho nước Pháp.
Một vị linh mục, đi cùng sáu chiến sĩ hộ vệ, dẫn đầu đoàn rước đi ra từ sân trong. Sáu người lính khác khiêng cỗ quan tài, theo sau là những người Mỹ và đại diện của các quân binh chủng mang theo vòng hoa. Sau họ là vị Tư lệnh Quân đoàn cùng một nhóm sĩ quan, và một phân đội binh lính với những khẩu súng chúc ngược nòng. Ở chân đồi, một phân đội thứ hai hòa vào và nhập chung với họ....
Khung cảnh đó thực sự khó quên, vô cùng tốt đẹp và trang nghiêm. Trong ngôi nhà thờ nhỏ, một dàn hợp xướng gồm các binh sĩ cùng cất tiếng hát và một linh mục-chiến sĩ chơi đàn phong cầm, trong khi Tuyên úy của Sư đoàn Quân đoàn cử hành nghi lễ an táng. Tôi đã xin bản thảo bài giảng của vị tuyên úy để sao chép lại và gửi cho bà, cùng với những di vật khác của con trai bà....
Vị tuyên úy đã có bài phát biểu vô cùng tuyệt vời và dài, kể lại một cách đầy thương cảm về ý nghĩa đối với người dân Pháp khi một người Mỹ hy sinh thân mình để giúp đỡ họ trong giờ phút ngặt nghèo nhất. Vị tuyên úy này tên là Henri Deligny, Tuyên úy Quân đội, Đội Xe cứu thương 16-27, Khu vực 112; và ông đã được hỗ trợ bởi cha sở quản nhiệm nhà thờ nhỏ ấy, Cha xứ Blondelle, người muốn tôi đảm bảo với bà rằng ngài sẽ hết lòng trân trọng canh giữ ngôi mộ của con trai bà, và sẽ có mặt ở đó để đón tiếp bà khi nào đến ngày bà muốn ghé thăm nó.
Sau khi rời khỏi nhà thờ, đoàn người diễu hành đến nghĩa trang quân đội, nơi thi hài của con trai bà được an táng bên cạnh hàng trăm người khác đã hy sinh vì nước Pháp. Cả viên trung úy và vị tướng quân ở đây đều gửi gắm những lời tri ân sâu sắc, tôi sẽ cho gửi những lời đó đến cho bà. Vị tướng quân, các sĩ quan khác nhau của quân đội và đội xe cứu thương đã cùng chung tay cử hành những nghi thức cuối cùng....
Tôi đã mang về và sẽ gửi lại cho bà Huân chương Chiến công...."
Ối chà, nhưng bạn chẳng thể đọc tiếp được nữa—vì nghẹn đắng một cục tự hào vướng ở cổ họng, vì màn sương nước mắt dày đặc che mờ đôi mắt. Một tiếng nấc nghẹn ngào bật ra từ cậu bé. Cậu nhìn sang u và chứng kiến một điều kỳ diệu. Cuối cùng thì u cũng đã tỉnh giấc và đang khóc—một người u vừa chớm vây quanh bởi sức sống mới đã trỗi dậy từ chiếc kén nâu cằn cỗi của những nỗi buồn.
"Ôi, u ơi!... Nat nhà chúng ta!... Tất cả những thứ đó—cả cái—đám tang ấy!... Thật là một đám tang lớn, u ạ!" Cậu bé nghẹn ngào.
"Con Nat của ta!" U đang thốt lên. "Được an táng như một vị vua!... Tựa như một Vị Vua nước Pháp!" Bà siết chặt hai bàn tay lại với nhau.
Mọi chuyện tựa như một giấc mộng đẹp đẽ. Một người nhà Haynes—kẻ bị thế gian khinh miệt và ruồng bỏ—lại được đưa về nơi chốn an nghỉ cuối cùng với biết bao sự hoành tráng và nghi thức trang trọng đến thế!
"Chưa từng có ai nghe thấy chuyện gì giống như thế ở cái vùng này bao giờ đâu, u ạ.... Giá mà mọi người có thể biết được..."
Bà ngẩng cao đầu như thể đang đón nhận một lời thách thức.
"Sao lại không, họ sẽ biết thôi, Luke ạ—vì u sẽ kể cho họ nghe. Những kẻ từng bàn tán sau lưng Nat—những kẻ từng thương hại chúng ta—khi chúng nhìn thấy cảnh này—tựa như một Vị Vua nước Pháp!" bà khẽ lặp lại. "Hôm nay u sẽ xuống thị trấn, Luke ạ."