Cô chưa tròn bốn tuổi, nhưng vẻ ngoài già nua đến mức dẫu có thêm hai mươi lăm năm nữa cũng chẳng ai thấy cô già đi chút nào. Và đối với người dân Almont, cô vẫn là Abbie Snover, hay "con nhỏ nhà Snover ấy." Tuổi tác ở Almont không tính bằng năm tháng, mà tính bằng chuyện vợ chồng, con cái, rồi cháu chắt.
Hầu như tất cả thanh niên cùng thế hệ với Abbie đều đã bỏ lên Thành phố, chỉ trở về vào những năm sau đó với ý định ở lại một hay hai tuần, rồi lại cuốn gói ra đi chỉ sau một hoặc hai ngày. Thế nên Abbie chẳng bao giờ lấy chồng.
Abbie chưa từng nghĩ đến chuyện rời khỏi Almont chỉ vì tất cả đám thanh niên đã tha phương. Cô sinh ra trong ngôi nhà lớn dưới chân phố Tillson; chưa từng sống ở đâu khác; chưa từng ngủ ở bất cứ đâu ngoài chiếc giường gỗ óc chó màu đen trong căn phòng ngủ phía Nam.
Năm hai mươi lăm tuổi, Abbie thừa kế ngôi nhà lớn, cùng với đó là lão bộc Chris. Lão là một phần trong gia sản cô nhận được. Ký ức về lão, cũng như ký ức về ngôi nhà lớn, xa xôi tận sâu trong tâm trí chẳng kém gì ký ức về chính bản thân cô.
Vào mỗi buổi tối mùa đông, khoảng từ bảy đến tám giờ, Abbie thắp chiếc đèn tay có quai thủy tinh, đặt nó lên chiếc bàn mặt đá bên cửa sổ phòng khách, rồi ngồi xuống bên cạnh. Ánh sáng mờ ảo của ngọn đèn ấy, hắt qua những tán lá thường xuân đè nặng tuyết, là dấu hiệu duy nhất cho thấy ngôi nhà lớn vẫn đứng đó và có người ở. Khi gió thổi từ hướng Tây, cô thỉnh thoảng nghe thấy những tràng cười vọng lại của lũ trẻ trượt tuyết trên đồi Giddings; hay tiếng hát vẩn vơ của người nông dân trẻ nào đó đang lái xe trở về nhà. Cô nghĩ đến mùa xuân, khi tuyết tan đi, hoa kim ngân khoác lên mình sắc thắm, và những con chim rồng rọc sẽ lại dọn vào những chiếc ấm trà cũ treo trong giàn cây ngoài hiên phòng ăn.
Những điều khiến người dân Almont cảm thấy gắn kết và hứng thú với nhau chẳng có chút ý nghĩa gì với Abbie Snover. Khi cô đã qua cái tuổi được bất kỳ ai ngỏ lời cầu hôn, cô liền ngừng đến những buổi khiêu vũ hay những chuyến đi trượt tuyết, và chẳng một ai gặng hỏi lý do. Rồi cô cũng rời khỏi đội hợp xướng.
Ngoại trừ những bận đi chợ, người ta chẳng bao giờ thấy Abbie xuất hiện trên phố.
Suốt mười lăm năm sau khi Amos Snover qua đời, Abbie và lão Chris thui thủi sống một mình trong ngôi nhà lớn. Cứ vào mỗi sáng thứ Bảy, y như mẹ cô trước kia, Abbie lại đi ra cửa hàng tạp hóa, hàng thịt, và tiệm "Newberry's." Cô luôn đi dọc theo phía Đông phố Main, còn lão Chris, tay xách giỏ đi chợ, lững thững theo sau cô chừng ba bước chân. Rồi vào mỗi tối thứ Bảy, lão Chris lại ra thị trấn, ngồi ở căn phòng phía sau cửa hàng của Pot Lippincott và trò chuyện với Owen Frazer – người từ trang trại rộng sáu mươi mẫu của mình lái xe đến khi làm tá đắp ở Ngã tư Mile. Đều đặn mỗi tuần một lần, Abbie làm một mẻ bánh quy, dùng chiếc khuôn thiếc cũ của mẹ để cắt phần bột cán mỏng thành hình những chiếc lá. Cô cất đám bánh quy vào chiếc xô thiếc sáng bóng đặt trên kệ trong tủ âm tường ở phòng ngủ tầng dưới, bởi đó là nơi mẹ cô vẫn thường cất bánh để vừa tầm với mà lại tránh được lũ người làm thuê. Và khi lũ trẻ nhà Jennie Sanders ghé qua cửa nhà cô trên đường đi học về, cô lại cho mỗi đứa hai cái bánh, bởi mẹ cô xưa kia cũng luôn cho cô hai cái.
Cứ ba tháng một lần, "mấy cô nhà Jersey," diện những bộ đồ vải broadcloth màu đen, viền cổ nhún bèo đen, đội những chiếc mũ đính hoa đen che đi phần tóc thưa thớt, rẽ vào lối đi Chase's Lane, đi bộ ba dãy nhà đến tận chân phố Tillson, rồi bấm chuông cửa nhà Abbie Snover.
Khi lão Chris ngày càng già yếu và chậm chạp hơn, Abbie buộc lòng phải đóng cửa căn phòng này rồi đến căn phòng khác; nhưng lão Chris vẫn ở căn phòng phía sau gần kho củi trên lầu, và Abbie vẫn ngủ trong phòng ngủ phía Nam.
Vào một buổi chiều tháng Mười nọ, Jim East, người phụ trách dịch vụ chuyển phát kiêm chủ tiệm tạp hóa của Almont, lái chiếc xe giao hàng có mui đến đỗ ngay trước bậc thềm của ngôi nhà lớn. Lão run lên vì phấn khích khi trèo xuống khỏi ghế ngồi.
"Abbie Snover! Ab—bie!" lão gọi lớn. "Tôi có thứ này cho cô đây! Một kiện hàng gửi tận từ Trung Quốc! Ra mà xem này!"
Jim East nhấc kiện hàng ra khỏi xe giao hàng, bê lên bậc thềm và đặt phịch xuống dưới chân Abbie.
"Nhìn đi Abbie! Cái thùng thưa này làm bằng mấy cây câu cá nhỏ đấy, còn đồ bên trong thì bọc toàn bằng chiếu tàu!"
Lão Chris từ phía sau nhà vòng lên. Jim East chộp lấy tay lão và chỉ vào chiếc thùng tre:
"Gí mũi vào ngửi xem nào, Chris! Có mùi ngoại quốc không cơ chứ?"
Abbie mang kéo ra. Cô cẩn thận gỡ bỏ những tấm nhãn đỏ và vàng.
"Trên đó có cả chữ Mỹ nữa đấy," Jim East vội vàng giải thích, "vì không có thì sao tôi biết nó gửi cho ai, hử?"
Abbie cầm mấy tấm nhãn vào phòng khách và tìm một chỗ an toàn để cất. Cô nhìn thấy cuốn album ảnh liền kẹp chúng vào đó. Rồi cô vội vã quay lại hiên nhà. Lão Chris bèn cạy mở một đầu thùng.
"Đó là một cái cây," Jim East thì thầm; "cây của người Tàu."
"Đó là một cây cam lùn," lão Chris thông báo. "Nhìn kìa, trên cái thẻ ghi rành rành ra đấy."
Abbie bế cây cam nhỏ vào trong phòng khách. Ai lại có thể gửi nó cho cô cơ chứ? Cô có quen ai tận cái xứ Trung Quốc xa xôi ấy đâu!
Cô cảnh báo lão Chris: "Hãy cẩn thận với cái khung tre và mấy lớp bọc nhé. Tôi sẽ tận dụng chúng để làm đồ trang trí."
Abbie đứng đợi cho đến khi Jim East lái chiếc xe giao hàng đi khuất. Sau đó, cô ngồi xuống chiếc bàn trong phòng khách và mở cuốn album. Cô tìm thấy tên mình trên một trong những chiếc nhãn — Abbie Snover, Almont, Michigan, Hoa Kỳ. Cô thấy thật kỳ lạ khi tên tuổi của mình lại bay một quãng đường dài từ tận Trung Quốc về đây. Trên tấm thẻ ghi rằng đây là một cây cam lùn, cô tìm thấy một cái tên — Thomas J. Thorington. Thomas? Tom? Tom Thorington! Chà, lần cuối cùng cô nghe tin tức về Tom đã là từ mười lăm năm về trước. Anh ta đã đi đến miền Tây. Cô từng nhận được bức ảnh anh ta mặc quân phục, vác súng trên vai. Cô láng mang nhớ rằng anh ta từng làm lính canh ở một nhà tù nào đó. Mới đó mà đã lâu lắm rồi! Chắc hẳn anh ta đã trở thành nhà truyền giáo hay gì đó, nên mới lưu lạc sang tận Trung Quốc xa xôi. Và anh ta vẫn còn nhớ đến cô! Cô ngồi thừ người ra một lúc lâu ngắm nhìn những chiếc nhãn. Cô tự hỏi liệu mấy ký tự tiếng Trung kỳ lạ kia có phải đang đánh vần tên Abbie Snover, Almont, Michigan hay không. Cô lật cuốn album ra lần nữa và tìm kiếm cho đến khi thấy bức ảnh Tom Thorington trong bộ đồng phục lính canh. Rồi cô đặt những chiếc nhãn ngay cạnh bức ảnh, khép cuốn album lại và cẩn thận cài khóa gạt cho thật chặt.
Dưới sự chăm sóc tỉ mỉ của Abbie, cây cam nhỏ lớn lên phơi phới. Một quả cam xanh nho nhỏ đã xuất hiện. Ngày qua ngày, cô ngóng trông nó lớn lên, hồi hộp đếm từng ngày đến lúc nó phổng phao và chuyển sang màu vàng óng. Những ngày tháng trôi qua càng lúc càng ngắn và lạnh lẽo hơn, nhưng cô chẳng bận tâm; mỗi tuần trôi qua, quả cam lại to thêm một chút. Sau trận tuyết đầu mùa, cô chuyển chậu cây vào phòng ngủ tầng dưới. Cô đặt nó lên một chiếc kệ nhỏ ở cửa sổ hướng Nam. Tấm chớp bên trong — vốn luôn được cô giữ ở tư thế mà mẹ cô thích nhất: nửa dưới khép kín, nửa trên hé mở một chút để đón ánh nắng ban sớm — giờ đây được cô mở toang để cây có thể hấp thụ trọn vẹn ánh mặt trời. Và cô vẫn nhóm lửa trong chiếc lò sấy bằng sắt tây nhỏ, bởi cô sợ chiếc lò sưởi củi cũ kỹ, lùa gió bốn bề có thể không cung cấp đủ lượng nhiệt ổn định qua ống thông hơi. Khi màn đêm buốt giá trùm xuống, cô lại rón rén bước qua chiếc cầu thang xoắn ốc chật hẹp, băng qua những hành lang lạnh lẽo, trống trải để ném thêm một khúc củi cứng vào lò sưởi. Mỗi buổi sáng, cô đều quét dọn và phủi bụi căn phòng; đống tro tàn và mảnh vụn củi quanh lò sưởi mang lại cho cô thêm chút việc để làm quanh chậu cây cam. Cô tháo tấm khăn trải giường màu đỏ trắng ra, thay vào đó là chiếc chăn chắp vá hoa văn cầu kỳ thêu những chú chim xanh và đóa hoa vàng, cốt để căn phòng trông sáng sủa hơn.
Lão Chris dặn dò lũ trẻ khi chúng đến xin bánh quy: "Abbie Snover nâng niu cây cam ấy hơn bất cứ thứ gì trên đời, các cháu đừng có mà dại dột chạm vào, dù chỉ bằng một ngón tay út."
Quả cam đang lớn kỳ diệu đối với lũ trẻ chẳng kém gì với Abbie. Thay vì cầm lấy bánh quy rồi chuồn thẳng về nhà, chúng đứng sững trước chậu cây, mắt tròn xoe ngây ngất. Và rồi vào một ngày nọ, khi Abbie bước vào tủ âm tường để lấy xô bánh quy, Bruce Sanders đã tiện tay ngắt phăng quả cam trên cây xuống.
Lũ trẻ bỗng trở nên im lặng một cách bất thường khi Abbie bước ra từ tủ quần áo. Chúng không lao tới tranh nhau nhận bánh như mọi khi. Abbie liếc nhanh về phía chậu cây; chiếc xô đựng bánh quy tuột khỏi tay cô rơi uỵch xuống sàn. Cô chộp lấy hai đứa đứng gần nhất và xóc chúng mạnh đến mức đầu va vào nhau. Sau đó, cô lùa tất cả chúng chạy rạp về phía cửa rồi đuổi tuốt ra tận chiếc cổng ngoài, đoạn sập mạnh cánh cổng lại sau lưng chúng.
Vừa ra khỏi cổng, lũ trẻ liền vừa chạy vừa la hét: "Ab-bie Sno-ver, hế—ế—ế! Ab-bie Sno-ver, hế—ế—ế!"
Abbie, tay run rẩy, mắt cay xè, lủi thủi bước vào nhà. Đấy là cái tội khi cứ cho phép chúng hái quả trên cây và giàn leo ngoài sân; là cái tội cứ mỗi lần chúng bấm chuông là lại phát bánh quy cho chúng. Thôi, từ nay sẽ chẳng có bánh trái gì sất, và cô phải dặn lão Chris từ nay cấm tiệt chúng bén mảng vào sân.
Tối hôm đó, khi tiếng kêu lục cục khô khốc của chiếc máy bơm nước ngoài hiên bếp báo hiệu lão Chris đang kéo nước tươi chuẩn bị cho buổi tối, Abbie liền bước ra bếp để chắc chắn rằng lão đã đặt một đầu cây gậy chống vào dưới núm vặn của cửa bếp và đầu kia tì vào chân bàn bếp.
Lão Chris lầm bầm: "Trời này chắc đóng băng trước sáng mất."
Abbie đáp: "Ừ."
Nhưng đêm đó cô đã chẳng thèm dậy để bỏ thêm khúc củi nào vào lò sưởi trong phòng ngủ tầng dưới nữa.
"Ab-bie Sno-ver, hế—ế—ế! Ab-bie Sno-ver, hế—ế—ế!"
Lão Chris dừng tay xúc tuyết, giơ nắm đấm dọa nạt lũ trẻ đang hò hét.
"U, má tụi mày mà thấy chắc đánh cho tơi bời, nếu tụi mày không ngậm cái mồm oang oang ấy lại!"
Và chúng đồng thanh đáp trả: "Ab-bie Sno-ver, và lão Chris! Ab-bie Sno-ver, và lão Chris!"
Ngày nào chúng cũng gào lên hai cái tên ấy mỗi khi đi ngang qua ngôi nhà lớn. Chúng réo gọi trên đường đi học về, và cả trên đường đến đồi Giddings để trượt tuyết. Mấy đứa lớn hơn cũng bắt chước hùa theo, réo gọi ầm ĩ khi thấy Abbie và lão Chris trên phố Main vào những sáng thứ Bảy. Và cuối cùng, chúng còn chế thành một câu vè:
"Ab-bie Sno-ver và lão Chris—
Tụi tao thấy Chris với Abbie hôn nhau khít rịt!"
Thật là quá quắt. Abbie đành lầm lũi đến nhà mẹ của Hugh Perry.
Bà Perry liền bênh vực đứa con quý tử. Bà bảo Abbie: "Thằng bé nhà tôi không đời nào làm thế. Nó không phải là cái loại trẻ con như vậy, và cô cứ nói lại với cái lão Chris rằng tôi bảo thế nhé. Mà tôi thấy chắc là chuyện có thật rồi, bằng chứng là cô cứ lồng lộn lên thế này đấy thôi!"
Bà Perry sập mạnh cửa ngay trước mũi Abbie. Sau đó, bà ta quay sang quất cho con trai một trận tơi bời, đồng thời ôm mối hận thấu xương với Abbie và lão Chris vì họ chính là thủ phạm khiến nó ăn đòn.
Bà Perry kể với bà Rowles: "Con mụ Abbie Snover đấy vừa đến nhà tôi, bảo rằng thằng Hugh nhà tôi đã gán ghép tên nó với lão Chris một cách bẩn thỉu. Và tôi đã bảo thẳng với nó rằng..."
Bà Rowles chen ngang: "Ối giời ơi! Ghê gớm thật đấy!"
Bà Perry chốt hạ: "Và tôi bảo là chắc chắn chuyện đó có thật, mà chắc chắn là thế thật rồi còn gì."
Bà Rowles liền sang lân la nhà vợ Mục sư Lucus.
"Người ta bắt gặp Abbie Snover và lão Chris ôm hôn nhau đấy."
Bà Lucas nói với mục sư: "Thật là đồi phong bại tục. Thị trấn không thể dung thứ cho chuyện này thêm một phút nào nữa. Đấy là cái tội mà Abbie Snover chuốc lấy từ hồi dám bỏ trốn khỏi nhà thờ sau khi mẹ nó chết."
Vào những sáng thứ Bảy, khi Abbie lủi thủi đi ra thị trấn với lão Chris lúp xúp theo sau, đám phụ nữ nhìn cô bằng ánh mắt lạnh băng, còn đàn ông thì cười cợt với những nét mặt đầy vẻ châm chọc, giễu cợt. Abbie không sao tránh khỏi việc nhận ra điều đó; cô cảm thấy bất an. Đã đến hẹn "mấy cô nhà Jersey" tới thăm. Buổi chiều nào Abbie cũng ngồi bên cửa sổ ngóng chờ họ rẽ ở khúc cua Chase's Lane. Cô mang những quả táo bóng bẩy mà cô luôn cất sẵn trong tủ quần áo ra để đãi khách, thế nhưng "mấy cô nhà Jersey" mãi chẳng thấy bóng dáng đâu.
"Chris này, anh có nghe ai bên nhà Jersey bị ốm đau gì không đấy?"
"Hả? Không!"
"Dạo này có thấy Josie hay Em Jersey ở đâu không?"
"Thấy họ ở bưu điện hồi tối hôm kia."
"Hừ!"
Abbie đẩy chiếc ấm ra sát vành trước của lò sưởi trong bếp, khơi lại đống than hồng và nhét thêm mấy thanh củi tươi vào. Khi nước sôi, cô rót vào một chiếc xô sơn mài màu xanh dương viền vàng quanh miệng, bê lên chiếc cầu thang gỗ dốc đứng ở phía sau, rồi lục tìm mấy đôi tất mới.
Một tiếng đồng hồ sau, lão Chris nhìn thấy cô đang leo lên dốc phố Tillson. Lão gãi đầu vẻ đăm chiêu.
Abbie rẽ ở ngã rẽ Chase's Lane. Tuyết quất từng cơn theo gió làm cô hoa cả mắt. Cô suýt đâm sầm vào Viny Freeman.
"Ôi, Viny! Sao cậu lại ra đường vào cái ngày thế này?"
Viny Freeman lướt qua cô mà chẳng thèm đáp lời.
Abbie lầm bầm: "Hình như con bé không thấy mình. Lội ra tận đây trong cái thời tiết này làm gì không biết? Chắc phải có việc gì quan trọng lắm nó mới chịu bước ra khỏi cái ngôi nhà hoang vắng với cái chân thọt của mình chứ. Ấy chà! Suýt nữa thì mình đâm vào cái tay mà lúc nào nó cũng ôm khư khư để kìm cơn đau. Lạ thật!"
Abbie rẽ vào cổng nhà chị em nhà Jersey và leo lên những bậc thềm đóng băng, tay bám chặt lấy thanh vịn bằng cả hai tay. Cô thấy Em Jersey đứng dậy khỏi chiếc ghế trong phòng khách rồi đi khuất vào phòng sinh hoạt phía sau. Abbie kéo tay nắm chuông rồi đứng đợi. Không một tiếng hồi âm. Cô kéo chuông lần nữa. Vẫn bặt vô âm tín. Cô giơ tay đập cửa. Big Mary, người làm thuê nhà Jersey, hé cửa ra một nửa.
"Họ không có nhà."
Abbie kêu lên: "Không có nhà ư? Ơ hay! Chẳng lẽ tôi vừa trông thấy Em Jersey qua cửa sổ phòng khách kia à?"
"Không thưa cô, cô nhìn nhầm rồi. Họ không có nhà."
"Thật là vô lý hết chỗ nói! Trong khi mẹ chúng với mẹ tôi là anh em họ hàng! Họ không bị ốm đau gì chứ? Hừm!"
Tuyết tan chảy; nước chảy lê láng trên đường rồi nhanh chóng đóng băng. Lão Chris chẳng còn bước vào phòng khách vào buổi tối để ngồi nữa, đôi tay đan vào nhau trên chiếc bụng lép kẹp, cái đầu học trọc cúi gằm cho đến khi cằm tì lên phần cổ áo cứng đơ của chiếc sơ mi.
Họ lầm lũi ăn những bữa cơm do một tay Abbie chuẩn bị trong sự im lặng nặng nề: lão Chris ngồi ở một đầu chiếc bàn dài, còn Abbie ở đầu kia.
Họ lủi thủi làm những công việc quen thuộc hằng ngày trong tiếng thở dài vô ngôn.
Abbie, mang trong mình một nỗi mệt mỏi hoàn toàn mới lạ, ngồi thừ trên chiếc ghế bành bên chiếc bàn mặt đá. Ngôi làng đang bàn tán về cô; cô thừa biết điều đó; cô cảm nhận rõ mồn một sự soi mói bủa vây xung quanh mình. Thôi được, cứ để mặc họ xì xào bàn tán đi!
Nhưng rồi vào một ngày nọ, Almont cử một phái đoàn đến gặp cô. Đoàn gồm có một người đàn ông và ba phụ nữ. Abbie nhìn thấy họ khi họ vừa rẽ vào cổng nhà mình — Mục sư Lucus, Lorina Inman, Antha Ewell và Dì Alphie Newberry.
Abbie bước ra giữa phòng khách và đứng chết trân ở đó, hai tay siết chặt, nét mặt đanh lại. Tiếng chuông cửa vang lên; cơ thể cô chao đảo trong khoảnh khắc. Rồi cô bước đến khung cửa sổ lồi và kéo tấm rèm sang một bên. Antha Ewell nhìn thấy cô liền huých tay Mục sư Lucus. Mục sư quay lại và bắt gặp ánh mắt Abbie; ông tưởng rằng cô không nghe thấy tiếng chuông, bèn dùng ngón tay gõ nhẹ lên cánh cửa gỗ và gật đầu ra hiệu với cô đầy niềm nở, như muốn nói rằng:
"Thấy chưa, chúng tôi đang đợi cô ra mở cửa đấy." Nét mặt Abbie chẳng hề dao động. Mục sư Lucus lại gõ cửa thêm lần nữa, lần này có phần ngập ngừng, thế nhưng cô vẫn trân trân nhìn họ bằng đôi mắt vô hồn. Ông gõ cái thứ ba, rồi quay sang nhìn ba người phụ nữ. Dì Alphie Newberry liền giật tay áo ông, và phái đoàn bốn người lủi thủi quay lưng đi thẳng xuống bậc thềm mà chẳng buồn liếc nhìn Abbie lấy một cái.
Vài phút sau, Abbie nghe tiếng cánh cửa ngăn giữa phòng khách và phòng ăn kẽo kẹt mở ra. Lão Chris bước vào. Trong khoảnh khắc, cả hai chẳng ai nói với ai câu nào. Lão Chris lúng túng vò chiếc mũ trên tay.
"Abbie à, tôi đã sống ở đây bốn mươi hai năm rồi. Tôi ở đây từ hồi cô mới lọt lòng. Tôi từng bồng bế cô trên tay khi cô còn bé xíu và làm cho cô cười nắc nẻ."
Abbie vẫn không quay đầu lại khỏi ô cửa sổ.
Lão Chris nói tiếp với giọng nghẹn ngào: "Tôi biết họ đến vì chuyện gì. Mẹ cô... mẹ cô chắc chắn sẽ không bao giờ nghĩ có ngày tôi phải cuốn gói rời khỏi nơi này."
Abbie không sao thốt nên lời để đáp lại lão.
"Tôi cũng chẳng biết ai sẽ là người nhóm lò sưởi khi tôi đi khỏi đây, hay ai sẽ khuân củi vào kho trên lầu nữa."
Vẫn hoàn toàn im lặng.
"Giờ tôi già rồi — tôi sẽ đến trang trại của Owen Frazer — dưới Ngã tư Mile. Chắc ở đó lão ta sẽ có việc gì đó cho tôi làm."
Lão Chris dùng đôi tay run rẩy xoa xoa đôi gò má nhăn nheo, chảy xệ của mình. Abbie vẫn thẫn thờ nhìn ra khung cửa sổ.
Lão Chris quay người đi về phía cửa, cất giọng lầm bầm: "Bây giờ tôi ra bưu điện đây. Cô có cần mua thứ gì không?"
Abbie khẽ lắc đầu; cổ họng cô nghẹn đắng chẳng thốt nên lời. Khi lão Chris bước dọc theo hành lang, cô nghe thấy lão lẩm bẩm: "Không biết rồi cô ấy sẽ xoay sở ra sao khi tôi đi đây."
Đêm đó, Abbie ngồi bên cửa sổ phòng khách lâu hơn thường lệ. Đó là một đêm trắng xóa; tuyết ướt đã rơi nặng hạt suốt cả ngày dài. Đâu đó trong khoảng từ tám đến chín giờ tối, cô đứng dậy khỏi chiếc ghế bành và đi vào căn phòng ăn dài và hẹp. Tiếng lép bép của đôi dép lê trên sàn đã đánh thức lão Chris khỏi giấc ngủ gà ngủ gật trên tờ Farm Herald. Nhận thấy hơi nóng phả lên từ ống thông hơi bên dưới chỗ mình ngồi không còn mạnh nữa, cụ già lững thững xỏ đôi chân đi tất len vào đôi ủng lót nỉ rồi lục đục đi xuống dưới hầm, tay không quên xách theo chiếc đèn bếp. Abbie đi theo lão ra tận cửa bếp. Mùi củi khô ngai ngái xộc lên từ cầu thang khi lão Chris đẩy tung cánh cửa hầm chứa củi khiến cô khẽ hít mũi. Cô nghe thấy những âm thanh khi lão chất đầy củi khúc đã được chẻ tư lên chiếc xe cút kít; tiếng bánh xe cộc cạch nảy lên trên những tấm ván lỏng lẻo khi lão đẩy xe vào phòng lò sưởi. Cô quay trở lại phòng khách và đứng ngay trên miệng ống thông hơi. Những âm thanh rỗng tuếch vọng lên qua đường ống khi lão Chris cào phẳng đống tro tàn trong buồng đốt và ném vào đó những thanh củi mới.
Khi lão Chris từ dưới hầm bước lên và đi ra hiên nhà để kéo nước mới dùng cho ban đêm, Abbie lại lủi thủi quay ra bếp.
Lão Chris bảo: "Ngoài trời tuyết rơi dày lắm đấy."
Abbie đáp: "Ừ."
Cô dẫn đầu quay trở lại phòng ăn. Lão Chris đặt chiếc đèn bếp lên chiếc kệ dưới bức tranh hoa quả rồi đứng chờ. Trong giây lát, họ cùng đứng trong luồng hơi nóng phả lên từ ống thông hơi. Sau đó, Abbie cầm lấy chiếc đèn trong số hai chiếc đèn. Cô đi qua những căn phòng trần cao, trống trải, mở rồi lại đóng sập những cánh cửa nặng nề; tiếp tục bước qua hành lang lạnh lẽo, vắng tanh, leo lên cầu thang để vào phòng ngủ phía Nam. Khi cô đang khép các tấm chớp cửa lại, cô nghe thấy tiếng lão Chris lững thững bước lên cầu thang sau và đi vào căn phòng nhỏ mà lão đã ở từ thuở nào cô còn nhớ.
Đêm sau ngày lão Chris rời đi, Abbie lấy chiếc chuông đồng ăn tối trên kệ chạn bát xuống và đặt nó lên chiếc ghế bên cạnh giường. Cô vắt chiếc áo khoác dày lót lông thỏ của mình lên lưng ghế; nó sẽ rất tiện tay nếu có ai đó đến làm phiền cô. Có một hoặc hai lần khi nghe thấy những tiếng động lạ, cô liền đưa tay ra chạm vào chiếc chuông; nhưng những âm thanh ấy không lặp lại nữa. Đêm hôm sau, cô thử ngủ ở phòng ngủ tầng dưới. Tấm thảm màu xanh lam pha xám, những món đồ trang trí màu xanh trên bàn trang điểm và tủ nhỏ, những đường viền xanh quanh chậu rửa mặt và chiếc bình — tất cả đều đã phai màu và trông thật cũ kỹ — gợi nhắc cô về cha mẹ mình, khiến cô không tài nào chợp mắt được. Trên bức tường trước mặt cô là một bức tranh đóng khung đen vẽ một chiếc thuyền chèo chở đầy người. Bức tranh có tựa đề "Từ Bờ Này Sang Bờ Khác." Cố gắng không nhìn vào nó, ánh mắt cô lại bị thu hút bởi một bức tranh khắc đen trắng trong khung mạ vàng mang tên "Những Bước Đi Đầu Tiên." Cô từng yêu bức tranh ấy biết bao khi còn là một cô bé; mẹ cô đã giải thích cho cô nghe vô số lần — hình ảnh chú chim dạy những đứa con nhỏ tập bay; chú chó to lớn, xù lông đang khích lệ bầy cún con đang lạch bạch tập đi; người mẹ ân cần dỗ dành đứa con nhỏ chập chững bước đi một mình.
Đến nửa đêm, Abbie lồm cồm bò dậy khỏi giường, cầm chiếc chuông ăn tối bằng quai xách và quay trở lại lầu trên để về phòng ngủ phía Nam.
Những bức tường cao, trống trải của ngôi nhà lớn, những chiếc trần nhà cao vời vợi với các hoa văn đắp nổi hình hoa quả và hoa lá, cùng một màu trắng toát lạnh lẽo, như đang bủa vây, giam hãm lấy cô. Chẳng có ai để trò chuyện, cô đành tự lẩm bẩm một mình: "Ngoài trời tuyết rơi dày quá —— ơ kìa! Đó chẳng phải là câu mà lão Chris đã nói vào cái đêm trước khi lão bỏ đi đó sao." Cô bắt đầu bị dằn vặt bởi một cảm giác kỳ lạ, như thể bị tách biệt khỏi thế giới; cô biết rằng mình đã bỏ quên mất thứ gì đó, nhưng chính xác là thứ gì thì cô không tài nào nhớ nổi. Những linh cảm gở ngẩy tràn về, đầy đau buồn và bất an. Sẽ chẳng bao giờ có ai để cô trò chuyện nữa — không bao giờ! Ngôi nhà lớn bỗng trở nên đáng sợ; các căn phòng vang vọng từng tiếng bước chân của cô. Cô sẵn sàng đánh đổi mọi thứ để có được một ngôi nhà nhỏ xinh với hai hay ba gian phòng thấp lè tè nằm sát lề đường trên một con phố mà người xe qua lại tấp nập.
Đã đến một đêm Abbie quên bẵng đi mất chuyện lão Chris đã bỏ đi. Cô đã ngồi ngẩn ngơ trên chiếc ghế bành bên chiếc bàn mặt đá, đẫn đờ nhìn ra màn đêm tĩnh mịch. Gió thổi suốt cả ngày trời; tuyết đắp cao ngập quanh hiên nhà. Tâm trí cô ngược dòng thời gian trở về tuổi thơ. Không hiểu sao mọi ký tự cứ xoay quanh người ông nội — người mà nhiều năm trước cũng từng ngồi chính bên khung cửa sổ này. Cô nhìn thấy ông ngồi trên chiếc ghế bành; nghe thấy giọng nói khàn khàn, lạo xạo của ông: "Ta cưới Jane cách đây sáu mươi mươi rưỡi năm rồi đấy, mà nửa năm trong cuộc đời một con người cũng là khối thứ to tát đấy, ta cá với con thế. Rồi ta chôn cất bà ấy cũng đã ba mươi năm rồi, quãng thời gian ấy dài đằng đẵng. Vợ chồng ta chưa bao giờ cãi cọ hay xé áo xé quần nhau. Jane chỉ muốn sống một cuộc đời bình yên. Bà ấy chỉ muốn có đúng một đứa con, và rất cương quyết về điều đó. Bà ấy chẳng bao giờ muốn đẻ thêm, thế mà rốt cuộc lại sinh ba đứa, và một trong số đó chính là mẹ con đấy. Jane chẳng bao giờ thích bị người ta bắt gặp bồng bế đứa trẻ trên tay. Ta từng bắt bà ấy phải mặc quần áo ấm lấy một hai lần, rồi cიt xe ngựa đưa bà đi dạo bằng chiếc xe mui trần có giá tới hai trăm đô-la của ta.— Rồi sẽ có ngày con lẫn lộn cả trí khôn cho mà xem, Abbie ạ. Ta đã lú lẫn cả người từ mấy năm nay rồi đây này.— Ồ, ta đã phải thay đổi cả cuộc đời mình cho vừa vặn với nếp sống của Jane đấy. Ta cứ nghĩ mình có một người vợ để cùng đi thăm thú hàng xóm láng giềng cơ chứ. Thế quái nào mà vợ chồng ta chẳng bao giờ đặt chân sang bên kia đường — rồi có ngày ta sẽ hiền lành tử tế cho con xem, Abbie ạ. Chết tiệt thật! Giờ ta chỉ còn mỗi cái nết tốt để mà khoe thôi đấy.— Ôi chao, ngày xưa ta là một thằng nhóc lừng lẫy thế nào chứ. Ta và má đã thuần hóa được cặp bò kéo đầu tiên đấy. Khi con có con cái rồi, Abbie ạ, hãy cứ để chúng tự lớn lên. Chúng sẽ tự làm tốt hơn khối việc mà một ông bố hay bà mẹ nghèo khó có thể làm cho chúng. Ta từng có những con chiến mã tuyệt vời nhất và chiếc xe mui trần đẹp nhất trong vùng bán kính cả dặm, thế mà chẳng bao giờ con bắt gặp một cô gái nào ngồi bên cạnh ta cả.— Có những gã đàn ông không thể làm việc một mình được đâu, Abbie ạ. Chúng buộc phải có đàn bà bên cạnh nếu không muốn bỏ cuộc giữa chừng. Con đừng có lấy cái loại đàn ông như thế nhé, Abbie.— Ôi, con ngựa cái Kit già của ta nổi danh lắm đấy. Con chẳng bao giờ tìm thấy điểm dừng của nó đâu. Nó sống thọ hơn ba mươi năm, và đẻ được tới mười bốn con ngựa con. Nó là một con vật nhỏ cực kỳ tốt tính. Ta đổi nó lấy một con ngựa cái đen tuyền nặng tới mười bốn trăm cân, và ta còn bắt họ bù thêm cho ta mười đô-la nữa, và ta lấy luôn cả con ngựa con theo nó đấy —"
Abbie chợt bừng tỉnh nhận ra mình đang run lẩy bẩy; đôi chân cô lạnh buốt; và thời gian đã qua mười một giờ đêm từ lâu. Chắc lão Chris đã ngủ quên trên ghế mất rồi. Cô bước đến cửa phòng ăn và đẩy mở; căn phòng tối thui. Tại sao nhỉ? — ừ thì đúng rồi! Lão Chris đã đi khỏi đây được hơn ba tuần nay rồi còn gì. Cô bấu chặt vào cánh cửa để giữ thăng bằng; đôi tay cô run lẩy bẩy. Sao cô có thể quên mất cơ chứ? Hay cô đang phát điên lên rồi? Sự cô độc rồi sẽ đẩy cô đến nông nỗi này sao?
Abbie lên giường đi ngủ. Cả đêm cô trằn trọc không sao chợp mắt, tâm trí miên man suy nghĩ. Những ý nghĩ cứ tự động tuôn trào trong đầu. Những gì người trong thị trấn bàn tán rốt cuộc chẳng có gì là quan trọng; thị trấn vốn dĩ có thèm để ý gì đến cô suốt bao nhiêu năm nay đâu; và giờ họ cũng có quan tâm quái gì đến cô nữa đâu. Vậy hà cớ gì mà cô cứ phải sống thui thủi một mình chẳng buồn nói năng với ai cơ chứ? "Ta sẽ đi đón lão Chris về, quyết thế đi. Ta không muốn sống ở đây một mình thêm ngày nào nữa." Và với quyết định đó, cô chìm dần vào giấc ngủ.
Vào buổi sáng, khi Abbie vừa mở cửa bếp bước ra hiên nhà, một lớp sương giá dày đặc đã phủ trắng xóa lên chiếc máy bơm nước.
Cô kéo chặt chiếc khăn choàng quanh người, đôi tay đeo găng len nắm chặt lấy tay cầm máy bơm. Sau khi múc đầy nước vào xô, cô quay trở lại bếp. Tiếng gió gào thét bên ngoài khiến cô rùng mình. Để đi bộ một quãng đường dài đến Ngã tư Mile trong thời tiết này đòi hỏi phải có trà xanh tiếp sức, thế nên Abbie uống liền một lúc ba tách. Sau đó, giống như cái ngày cô chuẩn bị sang thăm "mấy cô nhà Jersey," cô lại xách nước nóng lên lầu và lục tìm những đôi tất mới.
Khoảng chín giờ sáng, ba người phụ nữ thuộc giáo hội của Mục sư Lucus, đang đứng trên bậc thềm trước nhà Dì Alphie Newberry, bỗng nhìn thấy Abbie đang chật vật lội qua một đống tuyết dày.
Jennie Chipman thốt lên: "Ơ kìa, chẳng phải là Abbie Snover đó sao."
Judie Wing nói thêm: "Con mụ ấy đang rẽ vào con đường dẫn tới Ngã tư Mile kìa."
Dì Alphie Newberry mở cửa cho ba người phụ nữ bước vào:
"Có chuyện gì mà mấy cô lại đến thăm tôi sớm thế này?"
"Chị chưa nghe thấy tin gì ư?"
"Bọn em đến để báo tin cho chị đây."
Dì Alphie kêu lên: "Ấy chà! Chà chà! Thế rốt cuộc là có chuyện gì xảy ra thế?"
"Lão Chris chết đêm qua rồi—"
"Chỉ vừa mới ốm xọm có một ngày rồi—"
"Và người ta đồn rằng," Judie Wing chen ngang, "là bởi vì Abbie Snover đã đuổi cổ lão đi."
Abbie đi đến cuối đoạn vỉa hè của thị trấn. Cô xắn cao váy, lội bì bõm qua đống tuyết dày để bước vào lối đi lồi lõm hằn những vệt bánh xe trượt tuyết của nông dân. Cứ chốc chốc cô lại phải bước tránh ra khỏi lòng đường, lội vào đống tuyết ngập sâu để nhường chỗ cho những chiếc xe trượt tuyết chở đầy cỏ khô hoặc rơm rạ đang rần rần tiến vào thị trấn. Vài người nông dân nhận ra cô; họ cất lời chào hỏi đầy nhã nhặn, nhưng cô chẳng thốt một lời đáp lại. Việc đi lại vô cùng khó khăn; trang trại của Owen Frazer nằm vắt vẻo qua ngọn đồi kia; trước mắt cô là một con dốc đứng phải leo qua. Hơn nữa, nhà của Owen Frazer vốn chẳng phải là chốn dung thân cho lão Chris. Chẳng ai biết rõ về cái gã Owen Frazer và mụ vợ của hắn ta cả; họ vốn có sinh ra và lớn lên ở Almont đâu. Sao cô lại có thể để lão Chris tha thiết đến cái xó xỉnh ấy cơ chứ?
"Này! Hây! Tốt hơn là trèo lên đây, Abbie, ngồi xe đi nhờ với tôi một đoạn. Thời tiết này mà đi bộ thì có mà toi. Trèo lên ghế ngồi đi. Tôi xuống giúp một tay."
Abbie ngước nhìn người mai táng Hopkins. Nằm trong chiếc thùng xe tang của lão là một cỗ quan tài màu đen được phủ một lớp tuyết mỏng ở bên trên. Abbie lắc đầu, nhưng không nói năng gì.
Người mai táng Hopkins phân trần: "Chắc tôi không nên ngỏ lời thì hơn. Xin lỗi nhé! Cố mà đi cho nhanh lên Abbie ạ. Trời đang lạnh cắt da cắt thịt đấy. Lên đến đỉnh đồi chắc sẽ đỡ lộng gió hơn một chút."
Người mai táng Hopkins thúc xe đi tiếp. Abbie cố gắng nhấc chân bước theo vết bánh xe còn hằn mới. Cuối cùng cô cũng lên tới đỉnh đồi. Căn nhà kho màu đỏ của Owen Frazer sừng sững hiện ra phía trên lớp tuyết. Lão mai táng Hopkins cùng chiếc xe tang đã khuất dạng từ bao giờ.
Abbie lầm bầm: "Chắc hẳn lão ta đã rẽ vào Đường Mill rồi."
Cô đi đến trước chiếc cổng của ngôi nhà trang trại trệt thấp lè tè. Một con chó chăn cừu sủa vang lên khi cô bước vào lối đi nhỏ. Cô giơ tay gõ cửa trước. Một người phụ nữ ló đầu ra từ cửa sổ và chỉ tay về phía hông nhà. Gương mặt Abbie lộ rõ vẻ ngạc nhiên và bực bội. Cô lủi thủi bước lùi xuống bậc thềm và đi vòng ra cửa sau. Người phụ nữ — vợ của Owen Frazer — mở cửa cho cô bước vào bếp.
"Owen ơi! Abbie Snover đến này!"
Owen Frazer từ phòng khách bước ra.
"Chào cô! Không ngờ lại gặp cô ở đây. Ngoài trời lạnh lắm phải không? Ngồi ghế đi chứ."
Abbie mãi cho đến khi cố ngồi xuống mới nhận ra cái lạnh đã tê tái làm cơ thể cô cứng đờ đến nhường nào.
Owen Frazer nói tiếp: "Maggie, lấy cho cô ấy một tách trà nóng đi. Chắc cô ấy bị cóng gần chết rồi, uống ngụm trà cho lại sức. Phải không nào, cô Snover?"
"Tôi muốn nói chuyện với lão Chris."
"Nói chuyện với lão Chris! Cô muốn nói chuyện với lão Chris cơ à?"
Owen Frazer quay sang nhìn vợ. Abbie Snover chẳng hề hay biết gì, thế mà cô lại lội bộ một mạch đến tận Ngã tư Mile trong cái giá lạnh căm căm này. Lão thực sự không thể tài nào hiểu nổi.
"Rốt cuộc thì cô đến đây có việc gì vậy, Abbie Snover?"
Vợ Owen Frazer liền can thiệp: "Này Owen, anh chờ chút đã!" Bà ta quay sang phía Abbie:
"Chắc cô thấy cô đơn lắm phải không, khi thui thủi một mình trong cái căn nhà to đùng như cái chuồng bò ấy?"
Abbie lặp lại: "Tôi muốn nói chuyện với lão Chris."
"Thế ra cô quý mến lão ta lắm cơ à?"
Abbie chẳng thèm đáp lời. Owen Frazer bước ra bồn rửa bát, nhìn qua khung cửa sổ ra đống rác thải đang cháy âm ỉ ngoài bãi rác. Vợ Owen Frazer đẩy mở cánh cửa phòng sinh hoạt, rồi đứng lùi lại và quay sang nhìn Abbie:
"Cô có thể là dòng dõi danh giá cao sang gì đi chăng nữa, Abbie Snover ạ, nhưng chúng tôi còn tử tế hơn thế. Chính cô đã đuổi cổ lão Chris đi, thế mà giờ lại mò đến đây đòi nói chuyện với lão. Được thôi, muốn nói gì thì cứ việc vào mà nói. Lão ta ở trong phòng khách đấy. Đi vào đó đi! Muốn nói chuyện với lão ta thế nào thì cứ tự nhiên — vào đi!"
Sự thù địch trong giọng nói của vợ Owen Frazer giáng một đòn mạnh vào Abbie; cô cảm thấy bất an; lần đầu tiên trong đời sự hoài nghi dấy lên trong lòng cô. Khi cô bước qua phòng sinh hoạt, nỗi sợ hãi khiến bước chân cô chậm dần lại. Nhỡ đâu họ đã xua đuổi lão Chris đi nơi khác và cô sẽ phải lũi thủi quay về một mình, tiếp tục sống thui thủi cô độc trong suốt quãng đời còn lại tại ngôi nhà lớn đó thì sao.[Pg 86]