Những Truyện Ngắn Hay Nhất Năm 1917 Và Niên Giám Truyện Ngắn Mỹ

Lượt đọc: 145 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Onnie[3]

❊ ❊ ❊

By THOMAS BEER

From The Century Magazine

Bà Rawling ra lệnh cho Sanford đi tắm, và với sự minh mẫn sắc bén của một cậu bé bảy tuổi, Sanford nhận ra rằng chẳng có một địa điểm cụ thể nào được gợi ý cho việc này cả. Thế nên, cậu lui ra cái bồn chứa nước mưa ấm ngăm ngăm nắng sau dãy chuồng ngựa, ngồi thoải mái ngập đến nách trong làn nước, vừa quay tít một chiếc đuôi rắn kêu lách cách mà một đứa trẻ trong gia tộc Varian — mấy người con trai của đốc công nhà bố cậu — mới tặng cho. Vừa ngâm mình sung sướng, Sanford vừa ngắm nghía khu vườn của mẹ, trải dài theo sườn dốc hướng về phía rừng tuyết tùng rậm rạp, và nghĩ đến những trái dâu dại trên núi đang độ chín mọng trong cái tháng Sáu nóng nực ở Pennsylvania này. Cậu em trai Peter của nó đang gào khóc inh ỏi trong ngôi nhà đá xám lớn, còn chiếc máy xẻ gỗ khổng lồ thì gầm rú cách đó nửa dặm, trong lúc cậu kiên nhẫn chờ đợi làn nước không xà phòng tẩy sạch hết mấy vết nhựa mã đề bám trên đôi chân nâu — nguyên nhân chính của buổi ngâm mình này.

Một bóng đen chợt chắn ngang giữa cậu và ánh mặt trời, và Sanford buông chiếc đuôi rắn rách ra để ngắm nhìn một sinh vật cái khổng lồ, lạ hoắc, da trắng bệch, đang bước đi bằng những bước chân uy nghi tiến vào chốn riêng tư của cậu. Cậuụt sâu hơn xuống bồn, nhưng ả dường như chẳng hề bối rối, cứ thế đứng chống một tay đỏ hỏn lên hông, miệng cười toét rộng đến tận mang tai.

"Bà chủ bảo cậu từ nay hãy đến gặp bà chủ đi, nếu đúng cậu là Cậu chủ San," ả cất lời.[Pg 21]

Sanford trù trừ suy tính. Cậu thừa biết mọi thứ trên đời này đều có chức năng riêng của nó, và cậu cố định vị sinh vật cao lớn kỳ quái này trong khi ả vẫn đang nhe răng cười rạng rỡ với mình.

"Tôi là San. Cô là đầu bếp mới à?" cậu hỏi.

"Chính tôi đây," ả thừa nhận.

"Cô nấu ăn có ngon không?" cậu hỏi tiếp. "Aggie nấu dở lắm. Cô ta hay uống rượu."

"Trái đất này quỷ thần thiên địa ơi! Mà sao bà chủ lại có thể nhận một đứa đầu bếp hay nốc rượu về cái xó xỉnh này cơ chứ?"

"Tôi không biết. Aggie lấy chồng. Đầu bếp nào chẳng thế," Sanford nói, cảm thấy vô cùng thú vị với con người này. Giọng ả trầm trầm mà dịu dàng, phát ra từ cái miệng rộng nhất và đỏ nhất mà cậu từng thấy. Kích cỡ đôi bàn chân của ả khiến cậu phải hoài nghi không biết ả có phải là con người thật không. "Dù sao đi nữa," cậu tiếp tục, "hãy nói với mẹ là tôi chưa sạch đâu. Tên cô là gì?"

"Onnie," nữ đầu bếp mới đáp. "Và đây có phải là khu vườn không?"

"Đồ ngốc, chứ cô tưởng gì?"

"Tôi là kẻ chân ướt chân ráo đến chốn này, Cậu chủ San ạ, và tôi chẳng biết đâu là đâu, cũng chẳng biết mai sau thế nào cả."

Bộ óc của Sanford hoàn toàn từ chối tiếp thu câu nói ấy, cậu chớp mắt mấy cái.

"Chắc cô là người Ai-len rồi," cậu trầm ngâm đoán.

"Đúng vậy. Bây giờ cậu có chịu bước ra khỏi cái bồn không nào, rồi Onnie sẽ lau khô cho cậu," ả đề nghị.

"Tôi không thể," cậu đáp kiên quyết; "cô là phụ nữ."

"Phụ nữ á? Đức Mẹ đồng trinh cứu rỗi chúng con khỏi tội lỗi! Phụ nữ? Tôi ư? Tôi nào phải loại người ấy ở cái cõi đời này; tôi chỉ là Onnie Killelia thôi."

Ả ra chiều vô cùng hoảng hốt, khiến Sanford ngạc nhiên tột độ. Dù cao lớn và bàn chân thô kệch đến thế, ả xem chừng vẫn là một người phụ nữ.

"Cô chắc chứ?" cậu hỏi.

"Như tôi là một tín đạo Cơ Đốc vậy," Onnie đáp. "Tôi chưa bao giờ là một quý bà, và cũng chẳng bao giờ có thể làm nổi một người như thế."

"Thôi được," Sanford bảo, "tôi không rõ lắm, nhưng chắc cô lau khô người cho tôi được chứ."

Cậu trèo khỏi bồn tắm, và sinh vật mới mẻ này ân cần tuân theo[Pg 22] mọi chỉ dẫn của cậu. Cậu bắt đầu thấy mến ả, nhất là vì mái tóc của ả có một màu đen óng ả kỳ lạ, gợi liên tưởng đến những quả dâu tằm đen, sờ vào vô cùng thích tay. Cậu để mặc cho ả thơm má và cõng mình, khi đã mặc quần áo hẳn hoi, trở về nhà trên đôi vai rắn chắc như thân cây tuyết tùng nhưng lại được khoác lớp vải xanh đấm chấm tím.

"Và bà chủ đang ở trong phòng sách uống trà," chiếc xe ngựa sống của cậu vừa nói vừa thả cậu xuống hiên nhà. "Và cái thứ cậu đang cầm trên tay kia là gì thế?"

"Chỉ là đuôi rắn rách thôi."

Ả săm soi chiếc chuỗi đuôi rắn sáu tầng có màu xám khói với ánh nhìn đầy vẻ kính cẩn trong đôi mắt đen đờ đẫn của mình rồi làm dấu thánh giá.

"Đúng là một xứ sở kỳ quái, nơi người ta bắt cả loài rắn phải đeo chuông! Tôi từng nghe mấy chuyện tương tự ở trường học của chính phủ trước khi vượt biển tây sang đây, nhưng mà tôi chẳng tin. Đường lối của Chúa thật khôn lường, như các cha xứ hay giảng."

“Cô cứ cầm lấy đi,” Sanford nói rồi chạy biến đi để hỏi mẹ sự khác biệt giữa phụ nữ và quý bà là gì.

Rawling thong thả cưỡi ngựa đi lên lối vào từ con đường độc đạo của ngôi làng, và bắt gặp cô gái khổng lồ đang ngồi trên bậc thềm, mải mê nghịch món đồ chơi rùng rợn ấy đến nỗi giật nảy mình kêu lên một tiếng nhỏ khi anh xuống ngựa.

"Em có gì đấy?" anh hỏi, nở nụ cười quyến rũ nhất của mình.

"Thưa Đại nhân, đây là chuông rắn mà Cậu chủ San tặng cho tôi. Thật là quý hóa biết bao, vì tôi đã làm rơi mất chiếc huy hiệu thánh khi lâm trọng bệnh lúc vượt biển tây trên con tàu hơi nước."

"Nhưng... em có thể dùng đuôi rắn thay cho huy hiệu thánh được sao?" Rawling nói.

"Món quà từ trẻ thơ chính là phước lành từ chính Mẹ Maria," Onnie cả quyết. Ả ngồi xổm xuống bãi sỏi, lục tìm một chiếc kẹp tóc lớn vừa bị bung ra do cú giật mình ban nãy, rồi dùng nó để đâm thủng lớp vỏ trên cùng.[Pg 23] Rawling dựa người vào yên ngựa, ngắm nhìn đôi bàn tay to lớn ấy, còn Pat Sheehan, người đánh xe già, vừa tiến lại đón con ngựa mệt mỏi vừa cười khúc khích.

"Chắc cô ở Miền Tây tới, nơi người ta xâu chuỗi cả vỏ sò biển," ông nói.

"Đúng vậy, còn ông chắc là người Dublin, nghe giọng là biết. Cha tôi cũng thế, giờ đã chết chìm dưới đáy biển vĩnh viễn cùng chiếc chân gỗ của ông rồi," ả nói thêm với giọng buồn bã, trong lúc mò mẫm tìm một sợi dây trong cái túi áo sâu hoắm, nơi nó vướng vào một chuỗi hạt mân côi và một nhúm lưỡi câu cá nhỏ. Ả nhét chiếc bùa hộ mệnh kỳ quặc ấy vào khe ngực áo rồi mỉm cười với Rawling. "Mấy người dưới bếp đang bảo tôi rằng ngài là chủ nhân của cả vùng đất này và sáu mươi dặm đất đai, toàn là cây cối với đồi núi. Vậy thì ngài chẳng kém gì con trai Tổng thống đâu thưa Đại nhân."

Pat vội vã dắt con ngựa đi, còn Rawling giải thích rằng gia thế của anh không có gì thú vị đến thế. Cô gái đã đến đây từ tối hôm qua, do một cơ quan môi giới ở Oil City phái tới, và bà Rawling đã đón nhận nàng lực điền này như món quà từ trời rơi xuống. Thung lũng khai thác gỗ nằm cách một ga tàu hỏa nhỏ tới mười dặm, và người hầu luôn phải được dụ dỗ bằng mức lương gấp ba, thế nhưng họ cũng chỉ làm chớp nhoáng rồi kết hôn với một nhân viên nào đó chưa đầy một tháng sau. Người dân trong thung lũng coi Rawling là ân nhân, là người thừa kế của cha anh, và để đáp lại sự hỗ trợ tạm thời, họ dâng hiến thứ dịch vụ phong kiến bất cứ khi nào được yêu cầu; thế nhưng trong sáu tháng gia đình anh cư ngụ tại đây mỗi năm, những người hầu trong nhà bắt buộc phải được giữ lại bằng mọi giá. Anh nói về lãnh địa của mình, và cô gái người Ai-len gật đầu, tiếng chuông rắn rung lên theo từng nhịp thở, bị bóp nghẹt trong lồng ngực như thể có một con bò sát đang trườn đi đâu đó gần đây.

"Khi cha tôi đến đây," anh nói, "chẳng có tuyến đường sắt nào cả, và trong rừng vẫn còn người da đỏ."

"Người da đỏ á? Giờ họ chết hết rồi chứ? Em trai sinh đôi Hyacinth của tôi phát điên lên vì đọc truyện về người da đỏ đấy. Nó là em sinh đôi với tôi."

"Thế nhà em có mấy anh chị em?"

"Mười hai người, thưa Đại nhân," Onnie đáp, "và tôi là đứa đầu tiên dứt áo ra đi, bởi tôi chẳng đẹp đẽ gì để mà có ai thèm[Pg 24] cưới vào ngày mai hay ngày mốt. Và nếu bà chủ đã hài lòng, thì tôi hoàn toàn mãn nguyện."

"Cô là một đầu bếp giỏi," Rawling thành thật nhận xét. "Cô bao nhiêu tuổi rồi?"

Anh đã phải thắc mắc điều này từ nãy; ả xấu một cách kỳ lạ khiến việc đoán tuổi trở nên vô cùng khó khăn. Nhưng câu trả lời của ả khiến anh giật mình.

"Mùa Phục sinh tới tôi tròn mười sáu tuổi, thưa Đại nhân."

"Còn quá trẻ để rời xa gia đình," anh tỏ ý cảm thông.

"Ai mà thèm làm tổn thương một kẻ như tôi chứ? Tôi sẽ giẫm nát nhừ mặt kẻ đó ra ấy chứ," ả cười phá lên.

“Tôi nghĩ cô thừa sức làm thế. Giờ thì cô nghĩ sao về cậu con trai lớn của tôi?”

Onnie ngạc nhiên thốt lên những âm thanh lí nhí như trẻ con, hai tay đan vào nhau.

"Chính Đức Mẹ Maria cũng từng sinh ra một đứa trẻ y hệt giữa chốn người Do Thái, và từ ngày đó tới nay chẳng ai làm được thế nữa, muôn đời cũng không. Giờ tôi phải đi nấu nướng thôi, kẻo Cậu chủ San không có bữa tối tử tế để ăn mất."

Rawling nhìn theo chiếc váy flannel màu hồng của ả, vô cùng cảm động và hài lòng trước lời ca tụng đó. Bà Rawling từ trong sảnh đi ra và bật cười trước câu chuyện vừa rồi.

"Trông con bé thật kinh khủng, và nó làm mấy đứa hầu gái khác hoảng sợ, nhưng nó sạch sẽ và dễ dạy bảo. Nếu nó quý San, có khi nó sẽ không thèm lấy mấy gã công nhân đâu — ít ra là trong một thời gian."

"Gã nào dám liều thì cứ thử. Nó to xác bằng cả Jim Varian ấy chứ. Nếu chúng ta thiếu nhân công, tôi sẽ cử nó lên bãi đốn gỗ. San đâu rồi em?"

"Ở trong bếp. Nó thích con bé. Chúa ơi, ước gì con bé chịu ở lại, Bob!"

Onnie đã ở lại, và bà Rawling vô cùng mãn nguyện trước sự vâng lời nhún nhường cùng tài nấu nướng tuyệt vời của ả. Sanford cũng hài lòng với cách xưng hô hoàn toàn xa lạ đối với cậu. Cậu vốn là "của chung" của đám thợ rừng dưới quyền cha cậu, và vợ của họ gọi cậu đủ thứ, từ "cục cưng" cho đến "bắp cải nhỏ", tùy theo gốc gác của họ; nhưng chưa ai từng gọi cậu là "Cậu chủ San". Cả thung lũng[Pg 25] chỉ gọi cậu là San, đứa con đầu lòng của người chủ nhân từng xây trường học và tổ chức những buổi chiếu phim lập thể tại nhà nguyện giáo đoàn cho con em họ, y như cha anh từng làm trước kia. Cậu đi đến bất cứ đâu mình thích, an toàn trước mọi hiểm họa ngoại trừ thiên nhiên mù quáng và những lưỡi cưa xoáy vòng đầy cạm bẫy. Đàn ông thường vớt cậu lên từ dòng sông đắp đập, nơi những khúc gỗ trôi lững lờ chờ được xẻ thành ván thương phẩm, và mấy đứa con trai nhà Varian — những thiếu niên to lớn, da ngăm rám nắng — chính là đội cận vệ của cậu. Điều này khiến Onnie Killelia vô cùng bối rối trong những ngày đầu tiên đặt chân đến Rawling's Hope.

"Mấy đứa con trai của ông quản lý đang huýt sáo gọi Cậu chủ San kìa," ả báo cáo với bà Rawling. "Tôi có nên đi tìm thằng bé không?"

"Con trai của ông quản lý á? Ý cô là mấy cậu con trai nhà Varian phải không?"

"Đúng chúng nó đấy. Chẳng phải Jim Varian là quản lý của đại nhân nhà ta hay sao? Chẳng phải lão đang trả lương cho tá tịch và chỉ định chỗ nào cần đốn cây đấy sao? Tôi vừa cấm tiệt chúng bén mảng vào trong này, vì cô Margot — một cái tên nghe kỳ cục thật! — và Cậu chủ Pete đang ngủ say như chết."

"Jim Varian đến đây cùng cha của đại nhân, và đã dạy đại nhân cách bắn súng lẫn bơi lội, cả cậu Peter em trai ngài nữa, ở New York, nơi chúng ta sống vào mùa đông. Đúng vậy, chắc cô gọi Jim Varian là quản lý của đại nhân rồi. Mấy đứa nhỏ chăm sóc Cậu chủ San khéo chẳng kém gì cô đâu."

Onnie hừ mũi, chuyển trọng lượng cơ thể từ gót chân này sang gót chân kia.

"Chăm sóc khéo thế không biết! Lại còn để mặc cái thằng Bill Varian dẫn nó đi lang thang sát bụi cây tầm ma độc hại, thứ mà Chúa lại để mọc đầy đất này như cỏ dại trong vườn nhà quả phụ. Thế mà đại nhân nhà ta, người ta đồn thế, lại còn cho thằng Bill đi học ở một ngôi trường danh tiếng, rồi sẽ cho mấy đứa khác theo sau, vào cả đại học như ở Dublin nữa chứ. Vậy mà chúng dám gọi chính ngài ấy là San cứ như thể anh em ruột với nhau ấy!"

Trong vai trò bảo mẫu tự nguyện, Onnie tỏ ra kỳ diệu đối với bà chủ của mình. Dường như ả có thể đánh hơi để tìm ra Sanford, bởi đôi bàn chân trần của thằng bé chẳng để lại dấu vết nào trên thảm cỏ hoang, và nó di chuyển rất nhanh, xuất hiện ở nhà đúng vào thời điểm cái bụng của nó lên tiếng. Nơi duy nhất cậu bị cấm bén mảng là những phiến đá phiến nằm tít qua khu vực bãi chứa gỗ, nơi rắn chuông[Pg 26] ra sưởi nắng, và những vùng xa xôi không có đường mòn trong thung lũng — những nơi vốn gây bối rối cho một đứa trẻ với những con suối đan xen, những thân cây tuyết tùng ngổn ngang hay những rặng thông vàng đầy giá trị. Onnie, miệng la hét cầu cứu các thánh thần, từng lôi cổ cậu ra khỏi cái hố bàn quay của tuyến đường sắt chở gỗ khổ hẹp, rồi đuổi theo mái tóc vàng rực của cậu lên mấy mỏm đá xanh ngay sau nhà, đôi chân khổng lồ của ả tạo ra những trận lở đất nhỏ ngay giữa các luống hoa. ả lôi cổ cậu về với những lời la mắng khi cậu đang mải mê chơi đùa cùng đám trẻ con người Ba Lan đầy rận ghẻ, và nhảy múa cuồng loạn trên bờ hồ rộng bằng cả thung lũng, ngập tràn những khúc gỗ trôi, mỗi khi đám nhà Varian kéo cậu đi bơi. ả bồng bế cậu lên giường ngủ, trừng mắt liếc xéo người vú em thực sự. ả chuẩn bị nước tắm, cắt móng chân móng tay cho cậu. ả hát ru cậu chìm vào giấc ngủ bằng khúc ca "Drolien" cùng khúc ai điếu xé lòng về Gerald. ả cầu nguyện thâu đêm suốt sáng bên ngoài cửa phòng cậu khi cậu bị một cơn sốt nhẹ ghé thăm. Cứ mỗi khi điềm gở sắp xảy ra, ả lại bảo rằng "tiếng chuông rắn" đang báo mộng cho mình, rồi lớn tiếng lẩm bẩm; và những sự cố nhỏ nhặt cứ thế củng cố niềm tin của ả đến mức, sau khi phát hiện phòng ngủ của cậu chủ nhỏ bén lửa từ một điếu thuốc của Rawling, họ chẳng buồn tranh cãi nữa, mà dần dà chia sẻ một nửa thứ mê tín của ả.

Phụ nữ ở thung lũng rất hiếm hoi, trong khi những gã đàn ông được ăn no mặc ấm và trả lương cao lại rất cần vợ; và theo thời gian, Honora Killelia được dạm hỏi bởi những gã đàn ông người Scotland và Thụy Điển cao lớn, những kẻ cứ ngồi thừ ra đầy vẻ đam mê ở chiếc hiên sau, nơi ả đang ngồi vá áo cho Sanford. Ngay cả Jim Varian với chiếc mũi diều hâu, lúc ấy đã xấp xỉ sáu mươi, cũng đánh tiếng dạm hỏi một cách thận trọng thông qua sứ giả là Bill, khi Sanford lên chín.

"Chúa xin cứu rỗi chúng con khỏi luyện ngục!" ả thét lên. "Bắt tôi phải vá víu quần áo cho cả cái đám tám người các ông á? Ngay cả trong cái ngôi nhà sang trọng mà đại nhân ban cho ông quản lý, tôi cũng chẳng thể nào chịu nổi cái sự ồn ào ở đấy đâu. Với lại ai sẽ là người vá áo cho Cậu chủ San đây? Cút ngay khỏi cái nhà bếp này đi, Bill Varian!"

Rawling, cười đến nghẹt thở, lảo đảo bước ra từ phòng đựng thức ăn và chạy trốn đến bên người vợ xinh đẹp của mình.

"Con bé coi San như con đẻ của nó vậy!" anh thở hổn hển.[Pg 27]

"Nó đúng là vô giá. Em ước gì nó cũng cẩn thận với Margot và Pete[Pg 27] như thế. Em ước gì chúng ta có thể dụ được nó về New York. Nó đáng giá bằng cả chục đứa hầu thành phố ấy chứ."

"Lý thuyết của con bé là nếu nó ở lại đây thì ít ra phải có ai đó giám sát để Pat Sheehan không lơ là — con bé gọi con ngựa của San là gì nhỉ?" Rawling hỏi.

"Con ngựa nhỏ. Ừ, nó bảo với tôi là nó sẽ giẫm nát mặt Pat nếu con Shelty có bề gì. Nó dọn dẹp nhà cửa sạch bóng như gương ấy; và thật thiên đường làm sao khi đến đây là thấy rèm cửa đã được treo sẵn. Chúa ơi! Nghe kìa!"

Họ đang ở trong phòng ngủ của Rawling, và Onnie đang bước lên chiếc cầu thang uốn cong. Ngay cả khi đi đôi dép lê trong nhà, ả vẫn di chuyển nặng nề như một con voi, và vì Sanford vừa gọi ả nên tốc độ tiến lại của ả làm rung chuyển cả hành lang vuông trên lầu, khiến cánh cửa bật mở hé ra một chút bởi sức nặng từ những bước chân của ả.

"Onnie, tôi chưa buồn ngủ đâu. Hát bài Gerald đi," cậu ra lệnh.

"Tôi xin vâng lời ngay nếu cậu chịu nằm im trên giường đấy, Cậu chủ San nhé. Nào, đây là khúc ca mà Conia từng hát khi tìm thấy đứa con trai thân yêu đã chết vùi vĩnh viễn trong cát ở vùng biển tây."

Nghe tiếng động, có lẽ Onnie đang ngồi sát mép giường, cất giọng trầm đều đặn, chất giọng contralto dịu ngọt vang vọng khắp hai tầng của ngôi nhà hạnh phúc. Rawling bước qua hành lang để ngắm nhìn và đứng lặng ở cửa phòng thằng bé. Anh yêu Sanford theo cách mà những người đàn ông giàu trí tưởng tượng nhưng hãy còn trẻ trung có thể cảm nhận, và sự cuồng tín của cô gái xấu xí kia bỗng trở nên thật tự nhiên. Dẫu vậy, khung cảnh này thật đáng yêu làm sao: căn phòng giản dị, đứa trẻ gầy gò, ngái ngủ đang cuộn mình trong tấm ga trải giường, được bao bọc trong những lời ca.

"Cảm ơn cô, Onnie," Sanford nói. "Chắc hẳn người phụ nữ ấy yêu đứa con nhiều lắm. Đó là một bài hát hay. Chúc cô ngủ ngon."

Khi Onnie bước lướt qua người chủ nhân, anh thấy đôi mắt ngây ngô ấy đẫm lệ.

"Sao ngài ấy lại đi cảm ơn tôi cơ chứ," ả lẩm bẩm — "tôi, kẻ sẵn sàng chết đi và ở lì trong địa vì hắn vĩnh viễn? Giờ tôi phải đi vá cái túi đựng cá mà vợ của anh trai đại nhân vừa gửi cho ngài ấy, thứ mà chẳng có con cá đàng hoàng nào thèm chết ở trong đó nổi."[Pg 28]

"Cô không định lấy Jim Varian thật à?" Rawling hỏi.

"Đến ngài Roosyvelt đang làm Tổng thống, có ngôi nhà xây toàn bằng vàng tôi còn chẳng thèm lấy nữa là! Ai sẽ là người lo cho ngài ấy những bữa ăn đây, trong cái xứ sở đau khổ này chẳng có lấy một đứa đầy tớ nào đáng giá bằng một lời nguyền rủa của kẻ dị giáo cả? Chẳng có ông quản lý nào hết, dẫu cho có năm mươi lão đi nữa," Onnie tuyên bố rồi sải bước bỏ đi.

Sanford chưa bao giờ tỏ ra coi thường người nô bộc của mình hay đối xử với ả như một kẻ hầu người hạ. Cậu rất tự hào về Onnie. ả không hề làm cậu bối rối bằng những sự quan tâm bao trùm khắp nơi, dẫu cho cậu đã phần nào cai bớt cho ả những thói quen ấy khi lớn lên thành một thiếu niên chuyên lân la rừng rậm, ít nói, ham học hỏi và có phần rụt rè khi bước ra khỏi thung lũng mang tính phong kiến này. Mấy đứa con trai nhà Varian đều được gửi đến Lawrenceville khi vừa tròn mười tuổi, và chúng thể hiện lòng biết ơn đối với người bảo trợ bằng những con đường học vấn chăm chỉ. Chúng là những người bạn đồng hành của Sanford vào mùa hạ, thỉnh thoảng có thêm chuyến ghé thăm của người anh họ Denis — người có người mẹ vốn chẳng ưa gì thung lũng này lẫn Onnie.

"Em thực sự không hiểu nổi sao Sanford lại có thể để cho sinh vật tội nghiệp đó âu yếm nó cơ chứ," bà ta nói. "Denny kể với em là con bé đó cứ khóc lóc thảm thiết bên ngoài cửa phòng San mỗi khi con bé về nhà trong tình trạng ướt sũng hoặc bị trầy xước. Thật là nực cười hết sức, khi mà San đã mười bốn tuổi rồi. Nó còn viết thư cho San tận Saint Andrew's cơ đấy."

“Anh từng bảo với cô ấy là Saint Andrew's nằm không xa Boston lắm, thế là cô ấy ngỏ ý nhờ người họ hàng Dermot — đang làm nhân phục vụ thang máy ở khách sạn Touraine — đến làm quản gia riêng cho nó. Thử tưởng tượng cảnh San có quản gia ở Saint Andrew's xem!” Rawling bật cười.

"Nhưng San không hề bị hư hỏng," Peter nhận xét, "và nó là thần tượng của cả thung lũng, Bob ạ, thậm chí còn hơn cả anh nữa. Nhà Varian, McComas, Jansen — cả hội và đám con cái của họ. Bọn họ sẵn sàng tẻo méo bất cứ kẻ nào dám đụng đến San."

"Em không hiểu sao anh lại chịu nổi cái xứ này," vợ Peter nói. "Ngay cả khi đám đàn ông tỏ ra kính trọng đi nữa, họ cũng quá ư suồng sã. Với lại chuyện gì ở đây cũng có thể xảy ra được. Denny kể với em là anh có cả người Ba Lan lẫn Nga — đủ mọi thành phần kinh khủng trên đời."[Pg 29]

Sự kinh hoàng của bà ta ngân lên lanh lảnh trong căn phòng khách kiểu Trung Hoa, nhưng Rawling chỉ biết thở dài.

"Chúng ta không thể tìm đâu ra loại người cũ nữa — người Scotland, Thụy Điển, hay những người Ai-len tử tế. Giờ thì vớ được cái thể loại nham nhở nào là dùng thể loại đó. Varian chửi thề như lính trúng đạn, nhưng hắn phải tống cổ bọn chúng đi không thương tiếc suốt cả mùa hè. Chúng ta có vài trăm con người gắn bó lâu dài ở đây, một số sinh ra ngay tại đây; nhưng Chúa phù hộ cho San khi nó tiếp quản cơ ngơi này!"

Sanford học chèo thuyền ở Saint Andrew's, và trở về nhà vào tháng Sáu với những thớ cơ bắp dẹt phẳng mới săn chắc ở ngực. Onnie lại trầm trồ chiêm ngưỡng với những tiếng cảm thán đặc chất Celt vang dội, rồi giục cậu bé Pete mau lớn nhanh như Cậu chủ San. Rồi Sanford cao thêm được hai inch trước khi về nhà cho kỳ nghỉ hè tiếp theo, quay trở lại với thói quen đi chân trần, mặc quần nhung tăm và áo sơ mi len như mọi khi. Onnie ngẩn người nhìn cậu khi cậu sải bước vào bếp để lấy bánh sandwich chuẩn bị cho một buổi chiều đi câu.

"Ôi Cậu chủ San, cậu lớn bổng lên đột ngột thế này!"

"Chỉ cao năm thước tám inch thôi, Onnie ạ. Ling Varian cao năm thước chín; anh họ Den cũng thế."

"Nhưng cậu đừng có lai vãng tới mấy trại đốn gỗ tít trên thung lũng đấy nhé. Cậu còn quá trẻ để nghe cái kiểu ăn nói khủng khiếp của đám thợ mới tới đó. Nghe chúng nguyền rủa với chửi thề là mang tội đấy."

"Bà cô này nói phải đấy," thợ rèn Cameron lên tiếng trong lúc đang tán tỉnh ả và sửa chiếc bếp lò trong bếp. "Bọn thợ mới đúng là dơ dáy như mấy mụ bán cá ở Edinburgh. Đừng có bén mảng đi đâu mà không có một đứa nhà Varian, hai đứa, hoặc một trong mấy đứa con trai của tôi đi cùng."

"Lạy Chúa! Tôi có phải là trẻ con nữa đâu, Ian!"

"Cậu chẳng phải đàn ông, mà cũng chẳng phải trẻ con. Và cậu là con trưởng của chủ nhân," Cameron lạnh lùng tuyên bố.

Rawling gật đầu khi Sanford thuật lại lời này cho anh nghe.

"Jim luôn giắt súng lục tự động trong thắt lưng, và chúng ta từng chứng kiến những vụ đâm chém rồi đấy. Hãy giữ lấy cái đầu lạnh nếu bọn chúng giở thói hỗn hào. Chúng ta liên tục gặp rắc rối đây, San ạ. Hãy rà soát quanh các lối mòn xem có chỗ nào cất giấu rượu lậu không. Mấy gã phu khuân vác khốn kiếp trôi dạt đến đây cứ hay quấy rối bọn con gái và bắt nạt lũ trẻ. Con[Pg 30] đã mười lăm tuổi rồi, và cha trông cậy vào con trong việc giúp duy trì sự đàng hoàng cho lãnh địa này. Mấy đứa nhà Varian sẽ chỉ cho con những thứ chúng nghe được. Hãy tận dụng nhà Varian; Ling và Reuben rất lanh lợi. Cha trả lương cao ngất ngưởng không phải để nuôi lũ vô lại này. Cha sẵn sàng trả bất cứ giá nào cho những tay thợ giỏi; thế mà cuối cùng toàn vớ phải đồ cặn bã!"

Sanford vô cùng thích thú với vai trò thám tử và khiến đám nhà Varian bận rộn suốt. Bill, trong vai trò trợ lý bác sĩ cho năm trăm công nhân, đưa ra cho cậu những lời khuyên về các triệu chứng của việc dùng cocaine và đôi mắt thâm quầng do rượu chè. Onnie gào lên thảm thiết khi một tối nọ cậu trotting về nhà với Ling và Reuben theo sau, quần áo nồng nặc mùi rượu lậu tồi tệ mà chúng vừa trút ra từ mấy cái thùng gỗ giấu trong một hang động gần cửa thung lũng.

"Cậu sẽ bị mấy con thú vật người Ba Lan kia giết chết tươi mất thôi! Ôi Cậu chủ San ạ, cậu có phải cảnh sát đâu cơ chứ. Việc này không xứng với cậu đâu thưa Đại nhân. Sẽ có một tên khốn người Ai-len nào đó bắn chết cậu, hoặc một tên người Bohemia khốn khổ nào đó."

"Nhưng đây là tài sản của gia đình mà, Onnie," cậu thiếu niên ngập ngừng thanh minh. "Cha và Chú Jim đã phải vất vả làm việc đến kiệt sức rồi. Con phải làm gì đó chứ. Bọn chúng bán rượu dở tệ ở cửa hàng kìa, cô cứ ngửi thử người con xem."

Nhưng Onnie vẫn khóc lóc thảm thiết, và Rawling, vì thương xót thực sự, đành phải bảo ả lui ra khỏi phòng ăn.

"Cô ấy... cô ấy làm con sợ!" Sanford nói. "Chẳng bình thường chút nào phải không bố, bố nghĩ sao?"

Cậu đang ngồi trên giường, vừa tắm xong và trầm ngâm kiểm điểm lại các sự việc trong ngày.

"Sao lại không? Cô ấy chỉ có một mình ở đây, và con là thứ duy nhất cô ấy yêu quý. Đừng kể cho cô ấy nghe mấy chuyện đó nữa, kẻo cô ấy ngã bệnh vì lo lắng mất."

"Cô ấy cũng quý Margot và Pete mà, nhưng riêng với con thì cứ như bị điên ấy. Cô ấy làm con sợ thật đấy!"

Rawling nhìn con trai mình và tự hỏi liệu thằng bé có biết đôi mắt xanh thẳm cùng gương mặt mộc mạc, nghiêm nghị của nó thu hút đến thế nào không. Mấy đứa em của nó rất xinh đẹp; nhưng Sanford, lớn lên nhiều hơn trong rừng thẳm, lại mang cái chiều sâu của rừng rậm trong ánh nhìn và sự uyển chuyển của loài thú trong thân hình trẻ trung săn chắc.[Pg 31]

"Cô ấy cứ như một con chó vậy," Sanford ngẫm nghĩ. "Chỉ có điều cô ấy là phụ nữ. Thật là giống kiểu..."

"Đáng thương hại chứ gì?"

"Chắc là từ đó rồi. Nhưng con thực sự quý bà già tội nghiệp ấy. Những bức thư của cô ấy phong phú lắm. Cô ấy kể cho con nghe về tất cả những đứa trẻ mới sinh, ai đang tán tỉnh ai và tình hình lũ ngựa ra sao. Đúng là đáng thương thật."

Cậu nghĩ đến Onnie rất nhiều trong suốt mùa đông năm đó, đặc biệt là khi ả viết một bức thư tạ ơn sướt mướt sau khi gia đình trở về Rawling's Hope vào tháng Tư, nói rằng mọi chuyện sẽ tốt đẹp và rắc rối sẽ chấm dứt. Nhưng cha cậu lại viết thư với giọng điệu khác:

"Con biết đấy, có một cuộc đình công ở các mỏ than West Virginia, và nó đã đẩy một đám côn đồ tràn ra tìm việc làm. Chúng ta cần tất cả nhân công có thể, nhưng bọn chúng đúng là một lũ phiền toái. Cha đang mở một trại đốn gỗ ở Bear Run, và đơn đặt hàng của chúng ta đã ngập ngụa rồi, nhưng cha rất ghét việc rải lũ lợn này đầy thung lũng. Bọn chúng hỗn xược và bẩn thỉu chẳng kém gì người Thổ Nhĩ Kỳ. Pete bảo rằng ngôi làng bốc mùi, và đã cao chạy xa bay vào rừng. Onnie thì bảo đám người Ai-len mới tới là thứ cặn bã đen đủi của Limerick, còn ngôn từ của Jim Varian thì không sao in lên giấy nổi. Mấy ông già đang phàn nàn, và tóm lại là cha cảm thấy mình giống như Louis XVI vào năm 1789. Hầu như ngày nào cha cũng phải cho gọi cảnh sát trưởng để bắt giữ vài tên du côn. Một tên lưu manh từ Oil City vừa mở một quán rượu ngay bên ngoài lãnh địa, trên con đường ra ga, và Cameron bảo với cha rằng đủ loại ma túy đang được bày bán ở các dãy nhà trọ. Chúng ta có cả những kẻ hít cocaine, hút thuốc phiện, và đủ mọi thói hư tật xấu khác."

Sau trận bộc phát này, Sanford không hề ngạc nhiên khi nghe Onnie báo tin rằng cha cậu giờ đây đã phải giắt súng lục bên mình, và các đốc công ở xưởng cưa cũng làm điều tương tự.

Vào ngày mùng một tháng Sáu, Rawling cho dán các biển báo ởì rìa thung lũng và các nhà ga xe lửa gần nhất, thông báo rằng anh không cần thêm lao động nữa. Làn sóng người xin việc chấm dứt, nhưng bà Rawling vẫn thấy bồn chồn lo lắng. Pete tuyên bố ý định bỏ nhà ra đi, và khi cưỡi ngựa về nhà vào[Pg 32] chiều muộn, Margot bị chặn lại bởi một tên say rượu đang lảm nhảm, hắn chộp lấy dây cương con ngựa của cô bé với những lời lẽ khó hiểu. Cô bé quất ngựa phi thẳng về nhà, nhưng ngày hôm sau Rawling đã phải đưa vợ con ra bờ biển nghỉ mát còn bản thân thì ở lại chờ Sanford về để vực dậy ngôi nhà hoang vắng, khẩu súng lục lạnh ngắt áp sát vùng xương chậu.

Sanford về nhà sớm hơn một ngày so với dự định, ngồi trên chiếc xe thuê phóng từ ga về, nổi giận đùng đùng khi thấy một ngôi nhà tranh cũ đang bốc cháy trong đêm mưa tầm tã, ngay phía dưới những cột mốc trắng đánh dấu lãnh địa của gia đình, và mấy mụ đàn bà eo sèo cất tiếng gọi giật thòi lòi theo tiếng vó ngựa. Cậu cảm thấy thung lũng của mình đã bị vấy bẩn, và gương mặt hốc hác của cha khiến cậu thêm phần bực bội khi hai cha con gặp mặt.

"Cha suýt mong con đừng về, con trai ạ. Tình hình mùa hè năm nay tồi tệ lắm rồi. Lên giường đi con, ngủ một giấc cho ấm người."

"Có súng lục cho con không?"

"Con á? Ai thèm động đến con chứ? Kẻ nào dám sẽ bị tẻo ngay. Cha cho phép Bill giữ một khẩu, và vài người đáng tin cậy khác. Con phải giữ cái đầu lạnh đấy. Con vẫn luôn làm được mà. Ling Varian vừa có một trận chiến tuyệt vời với một tên khốn dám gọi Chú Jim bằng cái biệt danh quen thuộc. Ling đã cho hắn một trận nhừ tử. A, Onnie đây rồi. Onnie, đây là..."

Nữ đầu bếp lao sầm sập xuống cầu thang, khoác chiếc áo ngủ kỳ dị và nổi bật trùm lên cả váy ngủ, chuông rắn kêu lách cách inh ỏi.

"Chúa nhân từ với chúng ta quá. Nhìn bộ ngực vạm vỡ của cậu ấy kìa! Cậu chủ San! Cậu chủ San!"

"Lạy Chúa, Onnie. Con có chết quái đâu cơ chứ! Đừng có ôm ghì lấy người ta thế!"

Lần đầu tiên cái ôm của ả mang lại sự bối rối; đôi môi ả áp lên má khiến mặt cậu đỏ bừng. Người phụ nữ ngốc nghếch tội nghiệp này yêu thương cậu tha thiết biết bao, trong khi cậu chỉ có thể quý mến ả, dành cho ả một thứ tình cảm bao dung chịu đựng. Sự thành thực làm mặt cậu đỏ lựng.

"Lại đây kiếm cho con một quả trứng luộc chín kỹ đi, có được kh—"[Pg 33]

"Trứng luộc chín kỹ á? Nghe ngài ấy nói kìa Đại nhân! Lại còn gần nửa đêm rồi chứ lị! Không, tôi không đi tìm trứng luộc kỹ cho cậu đâu — ôi, cậu ấy đang cười vào mặt tôi kìa! Nào, cậu vào phòng ăn đi, tôi hâm sữa nóng cho, người cậu ướt sũng như con mèo con chết đuối thế kia. Con ngựa vẫn khỏe chán, tôi cũng phủi bụi sạch sẽ hết đám gậy câu cá rồi, cái bồn tắm mới của cậu cũng đã lắp xong trong phòng tắm rồi đấy, mặc dù cái thằng khốn người Anh Percival lắp đặt nó phải chịu xui xẻo vì nó dám dùng gót chân để đào khoét sàn! Cậu có muốn ăn bánh sandwich thịt bò quay không?"

"Nó sắp phát điên lên rồi đấy," Rawling nói khi cánh cửa phòng đựng thức ăn sập lại. "Con phải cẩn thận đấy San, đừng có gây gổ gì nha. Con bé sẽ lên cơn mất thôi. Gì thế này?"

"Con phải làm gì khi mình không... quan tâm đến một người nhiều như họ quan tâm đến mình ạ?"

"Hãy kiên nhẫn chịu đựng thôi." Rawling nhún vai. "Còn cách nào khác đâu con?"

"Con mười sáu tuổi rồi. Cô ấy cứ đối xử với con như thể con mới sáu tuổi ấy. G-giả sử cô ấy yêu con thì sao? Cô ấy đâu có già — già lắm đâu."

"Đó là một thứ tình cảm khác, con trai ạ. Đừng lo lắng làm gì," Rawling nghiêm túc nói, rồi lái sang chuyện khác kẻo thằng bé thêm bận lòng.

Chiều muộn hôm sau, Sanford cưỡi ngựa thong thả đi xuống từ lối mòn trong khu rừng rậm, ngả người thoải mái trên yên, vừa dùng chiếc roi dắt chó dài quật nhẹ mấy bụi cây sang một bên. Trời đang sắp chuyển mưa, không khí oi bức chẳng lay động nổi một chiếc lá. Một chú thỏ lười biếng và xấc láo nhảy qua con đường mòn của cậu rồi tót lên lối rẽ dẫn về phía căn nhà gỗ của nhà Varian. Sanford kìm con ngựa lại và huýt sáo. Cha cậu đang cần được vực lại tinh thần, và Ling Varian, nếu rảnh rỗi, sẽ là người thứ ba hoàn hảo cho bữa tối. Người bạn thân thiết lao vút qua đường hầm cây tần bì trên núi thẳng tới chỗ cậu và nhận lời ngay.

"Nhưng đợi tao quay lại bảo thằng Reuben cái đã. Tuần này tao nấu ăn. Ước gì Onnie chịu lấy bố tao nhỉ. Mày xúi cô ấy đi, được không? Này Reu! Tao ăn cơm ở nhà lớn. Thịt bò đang nấu rồi, và bố tao muốn ăn hành tây chiên. Sao cô ấy nhất quyết không chịu lấy bố tao cơ chứ? Mày lớn cả rồi còn gì."

Cậu ta sóng vai phi ngựa cạnh con ngựa cái một cách êm ru, vừa nhai một nhánh cây bu-lô vừa gác tay lên đầu gối bạn mình.[Pg 34]

"Cô ấy bảo không lấy chồng đâu. Chắc cô ấy sẽ ở lại đây suốt đời mất thôi."

"Tao đoán thế, nhưng tao vẫn ước cô ấy lấy bố tao cơ," Ling nói. "Mấy chuyện rắc rối này đang vắt kiệt sức bố tao rồi, và dẫu có thể kiếm được thì ông ấy cũng chẳng thèm thuê thêm đứa hầu nào nữa đâu. Rắc rối ngập đầu rồi đấy San ạ. Ngày nào bố tao cũng phải giải quyết mỏi miệng. Hôm qua vừa có một trận chiến ra trò với thằng Percival xong."

Sanford chợt nhớ ra: "Percival này là ai thế? Tối qua Onnie cứ chửi rủa hắn suốt."

"Hắn là một thằng lợn to xác đang kéo gỗ ở đường trượt. Trước kia từng là thợ ống nước ở Australia. Chửi thề như thủy thủ ấy. Hắn là cái loại — chúng mày gọi là gì nhỉ? Mấy thằng cặn bã London ấy?"

"Cockney à?"

"Ừ, đúng rồi đấy. Hắn là kẻ lắp cái bồn tắm mới cho mày, và Onnie đã mắng tơi bời vì cái tội cứ đi vòng quanh nhà ngó nghiêng mọi thứ. Bố tao đang chuẩn bị tống cổ hắn đi rồi. Hắn là tên thợ tồi tệ nhất ở cái xứ này. Lát tao chỉ mặt hắn cho mày xem."

Tiếng còi xưởng cưa hú lên khi đường mòn nối vào con đường lớn, và họ đi ngang qua những người thợ với những chiếc áo sơ mi đẫm mồ hôi, họ gật đầu hoặc vẫy tay chào hai cậu thiếu niên khi tản về nhà và khu vực bơi lội bên cầu sông.

Một đám đông thường tụ tập mỗi ngày sau khu vực động cơ để chơi ném móng ngựa, và Sanford kìm con ngựa đi chậm lại ở rìa của nửa vòng tròn đó khi những người quen cũ cất tiếng chào cậu cùng những đứa trẻ nhút nhát có mái tóc đã phai vàng vì nắng đang len lỏi qua đám đông để bắt tay cậu — những đứa trẻ nhà Cameron, Jansen, Nattier, Keenan, con cháu của những người trung thành. Bill Varian thong thả đi tới, kẹp chiếc cặp y tế dưới nách.

"Tao ăn cơm cùng tụi bay nhé. Sếp mời tao rồi đấy. Ổng khỏe hơn nhiều rồi. Vào đây chào bố tao đi. Ổng đang buồn vì không thấy mày ghé qua, trong khi mày lại tạt vào thăm Ian ở lò rèn. Này Bố!" cậu ta gọi với qua mấy chiếc mũ nỉ của vòng tròn người, "San đến rồi này."

"Đưa nó vào đây xem nào," người đốc công lớn tiếng gọi.

Bill và Ling dẫn con ngựa đang bồn chồn đi xuyên qua đám đông những thợ rừng đang phì phèo tẩu thuốc và vô cùng thân thiện, và Varian ôm chầm lấy đứa con trai nuôi của mình.[Pg 35]

"Đứng lại xem một lát đi," lão thì thầm. "Bọn họ thích nhìn thấy mày lắm đấy San ạ. Onnie cứ đi kể với mấy người phụ nữ là mày đã cao lên cả thước rồi kìa."

Sanford tĩnh tâm trước sự đơn điệu của trò chơi kéo dài vô tận, chào hỏi những gương mặt ng quen thuộc rám nắng và đáp lại những tiếng hò reo thích thú từ đám trẻ con đang ngồi xổm dựa lưng vào hàng rào cao phía sau cọc mốc.

"Đó là Percival," Ling nói khi một gã đàn ông nghênh ngang bước ra vạch ném.

"Cao sáu thước ba," Bill nói, "và khỏe như trâu. Uống rượu suốt ngày. Tao nghi hắn chơi cả thuốc lắc nữa."

Sanford nhìn gã đàn ông với sự ác cảm trào phúng trước gương mặt đờ đẫn, nặng nề cùng mái tóc vàng hoe dính mỡ. Hai tay trần của gã xăm hình táo bạo với nhiều màu sắc, cơ bắp cuồn cuộn dị dạng. Gã có vẻ hơi say, và những đám mây xanh hắt ánh sắc đồng vào đôi mắt không lông mi.

"Ném dở tệ," Ling bình luận khi chiếc móng ngựa đầu tiên văng đi quá xa. Khi chiếc thứ hai rơi bịch ngay bên cạnh, cả đám đông bật cười.

"Nào," Ian Cameron lên tiếng, "giờ thì hắn sẽ nổi điên lên vì cái sự kiêu ngạo hão huyền của mình cho mà xem. Đích thị là một tên dở hơi ương ngạnh lại còn lắm điều."

"Hô! Cười đi chứ tụi bây!" tên khổng lồ quát lên. "'Sao mà một thằng đàn ông có thể ném nổi cái thứ chết tiệt này vào cái cọc chết tiệt chứ hả?"

Mấy tay cự phách cười khúc khích, còn gã ta nghênh ngang đi quanh vòng tròn, đầy vẻ hung hăng, chế giễu, dừng lại trước mặt Varian với một cái liếc nhìn sang Sanford.

"Đưa tao thứ gì có trọng lượng cân đối xem nào. Tao biểu diễn cho tụi mày xem. Nhìn đây này!"

"Tao đang nhìn đây," người đốc công điềm nhiên đáp; "và tao cũng điếc đâu mà phải hét."

"Đây mới là thứ tụi mày đéo thể nào ném nổi này. Học được ở Auckland đấy, nơi có những gã đàn ông đích thực." Gã lúi húi thọc tay vào vách áo, và con ngựa hí lên khi lưỡi dao dài tám inch phóng vụt ra khỏi cán, bay sượt qua mũi nó. "Thấy chưa? Quý cô là đây chứ đâu! Giờ thì nhìn kỹ nhé! Có một cái lỗ mắt cáo trên hàng rào kìa."

Cả đám đông dán chặt mắt vào tấm chắn bằng gỗ xanh đặc kín,[Pg 36] và con lưỡi dao bay vút đi khoảng hai mươi thước, nhưng lại trượt khỏi cái lỗ mắt cáo rồi lạch cạch rơi xuống đất. Tiếng cười vang lên chế giễu rõ mồn một, và Percival dậm mạnh gót giày xuống thảm cỏ.

"Cười đi chứ! Có ai muốn thử sức không?"

"Ôi, câm cái mồm đi!" một tiếng hét vọng lên từ phía bên kia vòng tròn. "Bọn tao đang chơi ném móng ngựa cơ mà."

Percival lê la bước đi để nhặt con dao, và hàng rào mấy đứa trẻ tản ra tứ phía, ngoại trừ một cậu bé nhà Cameron có mái tóc màu lanh đang ân cần ôm ấp một con mèo hoang, ngồi khoanh chân dựa lưng vào tấm ván gỗ xanh.

"Đấy là Robert Sanford Cameron," thợ rèn giới thiệu. "Thằng bé thuộc nửa phần kinh thánh rồi đấy."

"Đứa trẻ ngoan," Sanford nhận xét. "Tao chưa bao giờ học nổi..."

Percival đã lủi thủi quay lại và đứng cách đó chừng một thước, trừng trừng nhìn Bill như thể đối tượng to con nhất ở gần đó.

"Mày nghĩ tao không làm được à, hả?"

"Tôi không có hứng thú, và anh đang làm hỏng trò chơi đấy," Bill nói, kẻ chẳng sợ bất cứ sinh vật sống nào ngoại trừ vi trùng, và dư sức phớt lờ phần lớn những kẻ thế này. Mấy ngón tay Sanford siết chặt lấy chiếc roi da.

"Hô!" gã Cockney húng hắng ho. "Nhìn đây! Mày — thằng kia!"

Robert Cameron ngước lên theo tiếng thét. Lưỡi dao phóng vụt qua giữa đầu đứa trẻ và con mèo, vo ve nhẹ nhàng rồi ngập sâu vào ván gỗ.

"Tao suýt thì cắt cổ nó rồi đấy," Percival thản nhiên nói đến mức Sanford sôi máu.

"Mày làm nó sợ chết khiếp rồi đấy," cậu nghẹn ngào thét lên. "Đồ lợn! Đừng có mà..."

"Ơ hay, công tử bột nào đây nhỉ?"

"Cẩn thận đấy," một giọng nói vang lên. "Đó là San, con..."

"Hô! Cái thằng được con mụ người Ai-len đút lót để lau đít cho mỗi tối ấy hả? Nó là ai chứ? Còn mụ kia thì..."

Ngay khoảnh khắc tiếp theo, Sanford biết rằng mình đã quất thẳng một roi lên mặt gã đàn ông, cắt đứt ngang câu chửi thề. Con ngựa lồng lên và cả đám đông xúm lại vây quanh tên Cockney đang truên rống lên đau đớn, trong khi Bill kéo Cameron lùi lại và gã Jansen vạm vỡ đặt một bàn tay lên ngực Rawling.[Pg 37]

"Không phải lo," gã điềm nhiên bảo. "Yim và chúng tôi, Sếp ạ, việc này để chúng tôi lo."

Varian đã chen cái mũi diều hâu của mình sát vào mặt tên Cockney, lúc này đã tím bầm vì giận dữ, và Rawling đứng chờ.

"Đến văn phòng nhận lương đi. Nghe rõ chưa? Rồi xéo ngay lập tức. Nếu trong vòng một tiếng nữa mà mày chưa cút khỏi đất này thì mày chết chắc. Nghe rõ chưa?"

"Hắn nên thế," Ling lẩm bẩm khi dắt con ngựa đi. "Bố chưa từng gào to thế kể từ cái vụ thằng người Hà Lan thả rơi đứa trẻ xuống... ơ kìa, trời mưa rồi!"

"Về nhà thôi con trai," Rawling nói, "và kể cho chúng ta nghe mọi chuyện đi. Bố không nhìn thấy lúc bắt đầu."

Nhưng Sanford vẫn còn đang hừng hực lửa giận, và người chủ nhân đành phải nhờ cậy đến con đỡ đầu của mình. Ling kể lại câu chuyện một cách không đầu không đuôi khi họ leo dốc về phía ngôi nhà.

"Onnie thế nào cũng biết chuyện này cho xem," Rawling thở dài. "Kìa, cô ấy đang đứng ở nhà bếp kìa, còn đấy là Jennie Cameron đang hớt hải chạy băng qua các thửa đất. Không sao đâu San. Con đã làm hết sức có thể rồi; đừng bận tâm nữa. Lũ lợn thì mãi là lũ lợn thôi."

Cơn mưa đang làm dịu đi cái đầu nóng của Sanford, và cậu cười ngượng nghịu.

"Con xin lỗi vì đã không giữ được bình tĩnh."

"Bố không trách đâu. Jennie đang mách Onnie kìa. Nghe thấy gì chưa?"

Cô con gái chân dài của bác thợ rèn đang khua tay múa chân lia lịa ở giàn leo nhà bếp, và đôi chân của Onnie bắt đầu nhảy một điệu nhảy chiến binh nào đó trên thảm cỏ ướt khi Rawling đến gần.

"Đại nhân có thể cho tôi biết cái tên súc vật khốn nạn này đang ở đâu không? Chúa nhân từ ở trên cao! Lại dám đem cái tên của tôi ra nhai trong cái mõm đen đúa xấu xí của hắn ta! Tôi biết thế nào cũng có chuyện mà; chuông rắn cứ kêu suốt từ lúc trời chuyển mưa cơ. Lại còn to gấp ba lần Cậu chủ San nữa chứ! Giờ hắn trốn đi đâu rồi?"

“Jim cho hắn một tiếng để cút khỏi lãnh địa này rồi, Onnie ạ.”

"Trời phật phù hộ là lúc đó hắn không cầm dao trong tay đấy, mặc dù có mấy người ở đấy và Cậu chủ San đang cưỡi ngựa. Lạy Đức Mẹ! Tôi sẽ ra đường để chờ nói chuyện phải quấy với cái tên người Anh này mới được."[Pg 38]

"Cô đi nấu bữa tối đi, Onnie Killelia," Rawling lệnh. "Cậu chủ San mệt rồi, Bill và Ling cũng sắp đến — và nhìn kìa!"

Những người trung thành đang tống cổ Percival đi dọc con đường ra cửa thung lũng trong màn chiều xám xịt đẫm nước. Gã lê bước giữa Jansen và Bill, theo sau là tá tá đàn ông và đi trước là một đám trẻ con đang chạy tung tăng.

"Và Robbie không bị thương," cô bé Cameron báo cáo, "và San cũng chẳng sao cả; thế nên cô đừng lo lắng nhé Onnie. Mọi chuyện ổn cả rồi."

Onnie bật cười.

"Tôi rất ước gì được tận mắt chứng kiến cái roi quất vút đi đấy, thưa Đại nhân. Cánh tay của cậu ấy kìa! Tối nay cậu ấy có muốn ăn bánh quế không nhỉ? Ồ kìa! Lại rắc rối nữa rồi!" Tiếng chuông rắn lại vang lên, và ả lắc đầu. "Chắc sắp có cháy rừng rồi quá? Hoặc lại có đứa trẻ sinh ra bị chết yểu chăng?"

"Bố bảo cô ấy bị quỷ ám rồi đấy," Jennie nhận xét khi người phụ nữ to lớn lê bước bỏ đi.

"Ý cháu là cô ấy có giác quan thứ sáu ấy hả? Có lẽ vậy. Đây, cầm lấy một đô la cho Robbie, và bảo Ian là hắn gặp may đấy."

Bill phóng xe tới khi trời bắt đầu mưa nặng hạt trong khung cảnh xám xịt không gió lúc sáu giờ chiều. Cậu báo cáo rằng tên Cockney đã biến mất và đám đông đang hết lời ca ngợi Sanford; thế nên bữa tối diễn ra khá vui vẻ, dẫu cho Sanford vẫn cảm thấy rũ rượi sau cơn thịnh nộ giết chóc đầu tiên trong đời. Cái tên Onnie được thốt ra từ cái mõm của con thú vật đó đã làm cậu phát điên, và phản ứng sau đó khiến cậu vô cùng buồn ngủ; nhưng những câu chuyện của Ling ở Lawrenceville và Bill ở New York vẫn cần phải được lắng nghe. Rawling để ba cậu thanh niên ngồi ở lò sưởi ngoài sảnh trong khi anh vào thư phòng đọc một cuốn tiểu thuyết mới. Trời mưa mỗi lúc một lớn, tiếng mưa rơi rả rích đều đặn đến mức anh suýt chẳng nghe thấy tiếng chuông điện thoại reo gần ghế ngồi; nhưng giọng nói của già Varian vang lên rõ mồn một qua đầu dây bên kia.

"Bob phải không? Nghe đây. Một trong mấy đứa con gái ở cái quán trọ dưới đường ra ga vừa mới gọi điện cho tao. Nó hoảng sợ lắm. Nó gọi cho tao và cả Cameron nữa. Cái thằng Anh khốn kiếp đó đã chuốc say bí tỉ rồi,[Pg 39] thề thấu trời là sẽ cắt cổ San cho bằng được, đồ chó chết! Nó bỏ đi mang theo cả dao rồi. Mà nó biết rõ bố cục ngôi nhà này, và nó chẳng sợ bố con thằng nào hết — khi nó đã say xỉn. Chắc nó sẽ mò đến đây và tìm cách đột nhập đấy. Cửa nẻo cẩn thận vào..."

"Khóa cửa á? Bằng cái gì cơ chứ?" Rawling hỏi. "Làm gì có cái ổ khóa nào trong nhà này đâu. Cha chưa bao giờ cho lắp, và tao cũng thế."

"Thôi, đừng lo lắng quá. Ian đã cho chừng chục người cầm đèn lồng và súng túc trực rồi, thằng Bill cũng có súng đấy. Cứ để Bill với Ling ngủ ở tầng dưới. Ian bố trí người vây quanh nhà hết rồi đấy. Tên lợn đó mà đến thì thế nào cũng làm ầm lên cho coi."

"Thật tuyệt vời làm sao, Chú Jim ạ, khi có một tên khốn nạn sổng chuồng đến đây để săn lùng San! Tao sẽ giữ mấy đứa nhỏ ở lại. Chúc ngủ ngon," anh vội vã nói khi một cái bóng trên thảm trải sàn trùm lên đôi chân anh. Tiếng chuông rắn lại cất lên sau lưng.

"Có một nỗi u sầu lớn đang đè nặng lên linh hồn tôi đây," Onnie cất lời. "Đại nhân thừa biết chẳng có thứ xác phàm nào lại hóa điên dại cuồng loạn vì một trận đòn roi hơn thế, và con chó đó lại rành rọt đường đi nước bước trong ngôi nhà này. Xin hãy giữ mấy đứa con trai nhà quản lý ở lại đây đêm nay cùng với súng ống sẵn sàng trong tay. Chuông rắn cứ kêu vang suốt không ngừng."

"Lạy Chúa! Onnie, cô lại làm tôi sắp tin vào mấy cái chuông rắn của cô rồi đấy! Nghe đây. Percival đã chuồn khỏi cái ổ quỷ dưới chân dốc, thề thốt sẽ giết San. Hắn đang say xỉn, và Cameron đã cho người đi lùng sục rồi."

"Hèn chi tôi thấy mấy ngọn đèn lồng ở quanh lò rèn. Nhưng trời thì tối đen như ruột tượng luyện ngục ấy thưa Đại nhân, và hắn lại là một con quỷ tàn độc, khỏe mạnh đầy căm phẫn. Chúa tiêu diệt hắn đi! Ước gì hắn dẫm phải một con rắn độc! Chẳng có đêm nào tối tăm bằng lòng dạ hắn đâu."

"Bình tĩnh nào Onnie!"

"Tôi đang nói nhỏ đây chứ bộ. Ngài ấy có nghe thấy gì đâu," ả nói, đôi mắt nheo lại một nửa. ả đu đưa người chậm rãi trên đôi bàn chân kỳ lạ. "Cho tôi xin một khẩu súng đi thưa Đại nhân. Tôi sẽ ra canh giấc trước cửa phòng cậu ấy đêm nay cho coi."[Pg 40]

"Cô đi ngủ và mở hé cửa ra. Nếu nghe thấy động tĩnh gì, hãy thét lên như ở địa ngục ấy. Bảo Bill vào đây. Nói là tôi muốn gặp nó. Thế thôi. Chẳng có nguy hiểm gì đâu Onnie; nhưng tôi cứ cẩn thận cho chắc ăn."

"Chúng ta sẽ cẩn thận hết mức, thưa Đại nhân."

Ả lặng lẽ quay bước đi, và Rawling thấy sống lưng lạnh toát trước sự cuồng nộ lạnh lùng này. Tiếng chuông rắn làm ngứa ngáy cả sống lưng, và đột nhiên thung lũng của anh trông giống như một chốn đọa đày của ác ma. Những chiếc đèn lồng đang di chuyển vòng quanh thảm cỏ trông thật mong manh như mấy con đom đóm vô tích sự, và anh tựa người vào khung cửa kính, sốt ruột lắng nghe tiếng mưa rơi.

"Được rồi," Bill nói sau khi nghe xong sự tình. "Gọi cảnh sát trưởng đi. Tên này nguy hiểm đấy ngài ạ. Hôm trước cháu vừa xử lý một vết thương cho hắn, và hắn khoác lác rằng hắn có thể nhìn thấy trong đêm. Chắc chắn làa dóc tổ rồi, nhưng hắn di chuyển nhẹ nhàng như mèo và là một tên ác quỷ thực sự. Cháu từng thấy nhiều thứ cặn bã trong bệnh viện rồi, nhưng hắn còn tệ hơn nhiều."

"Thật đấy Billy, cháu nghe cứ dữ tợn chẳng kém gì Onnie ấy. Con bé vừa đòi xin một khẩu súng kìa."

Chàng thanh niên tuấn tú bặm môi lại, thân hình vạm vỡ run lên.

"Đây là San cơ mà," cậu nói, "và đám thợ sẵn sàng giết bất cứ kẻ nào dám đụng đến ngài, họ cũng sẵn sàng thiêu rụi kẻ nào dám chạm vào San. Cháu xin lỗi nếu ăn nói vô lễ."

"Chúng ta không được phép mất bình tĩnh." Rawling cố trấn an nỗi sợ của chính mình. "Hắn đang say rượu. Hắn chẳng đời nào mò đến được đây đâu, với lại hắn còn phải đi bộ bốn dặm trong cái tiết trời mưa lạnh giá này nữa. Nhưng..."

"Cháu xin phép được ngủ trong phòng San nhé?"

"Thế thì nó sẽ phát hiện ra mất. Bố không muốn thế, mà Ling cũng vậy; chúng là những đứa trẻ giàu trí tưởng tượng. Đây thực sự là một mớ hỗn độn tồi tệ đấy Billy ạ."

"Thôi được! Vậy cháu sẽ ngủ ngay ngoài cửa phòng nó. Cháu quyết định thế đấy thưa ngôn!"

"Được rồi, cậu bạn trẻ. Cảm ơn nhé. Ling có thể ngủ trong phòng Pete. Giờ bố đi gọi điện cho Mackintosh đây."

Nhưng cảnh sát trưởng không bắt máy, còn viên phó của ông ta thì đang ốm. Rawling nhún vai, nhưng khi Varian gọi điện báo rằng[Pg 41] có tới ba mươi người đang lùng sục khắp nơi, anh cảm thấy yên tâm hơn phần nào.

"Bố gọi điện thoại nhiều thế nhỉ," Sanford thò đầu vào hỏi. "Có chuyện gì bất ổn à? Thế tối nay Ling ngủ ở đâu?"

"Trong phòng Pete. Ngủ ngon nhé, con đỡ đầu. Không, chẳng có gì bất ổn cả."

Nhưng Sanford lập tức quay lại, đôi mắt mở tráo trác.

"Này bố, Onnie đang ngủ ngay trước cửa phòng con kìa, con chẳng bước qua được. Con bé bị cái quái gì thế hả bố?"

"Cô ấy đang lo lắng. Mấy cái chuông rắn cứ kêu inh ỏi, và cô ấy tưởng tượng nhà mình sắp cháy đến nơi rồi. Kệ cô ấy đi. Ngủ với bố đi, sưởi ấm chân cho bố nào con trai."

"Vâng ạ," Sanford ngáp dài. "'Night, Billy."

"Thôi được," Bill nói, "thế là giải quyết xong xuôi nhé ngài. Cô ấy sẽ nghe thấy mọi động tĩnh, hoặc cháu sẽ nghe thấy, với lại ngài cũng là người thính ngủ. Hay là chúng ta khóa kỹ cửa nẻo rồi chơi cờ đam chút nhỉ?"

Họ khóa chặt cửa lại, và tầm nửa đêm thì Cameron gõ cửa sổ thư phòng, chiếc áo khoác cao su lấp lánh nước.

"Chẳng có dấu vết nào của tên khốn hoang dã đó cả thưa ngài; nhưng đám trai tráng vẫn sẽ túc trực qua đêm nay. Chúng mang theo rượu whisky với bánh quy và cứ đi lại tuần tra liên tục."

"Tôi sẽ tự ra ngoài," Rawling vừa nói định bước đi thì bác thợ rèn càu nhàu.

"Ngài đừng có mà sớ rớ bước chân ra khỏi cái nhà này, Robert Rawling! Ngài điên rồi à! Nếu ngài chạm mặt với tên sát nhân lêu khêu này thì ai sẽ là chủ nhân đây? San không thể không có cha được. Về cái giường ấm nệm êm của ngài đi!"

"Chúa ơi!" Bill lẩm bẩm khi đóng cửa sổ lại, "lão ta nói thật đấy. Lão quên cả nói tiếng Anh chuẩn luôn rồi kìa. Cháu thấy nhẹ nhõm hơn rồi đấy. Chắc tên lợn đó ngã xuống hố nào rồi lăn quay ra ngủ rồi. Lên lầu thôi."

"Ta đoán nếu nói cho Onnie biết San đang ngủ cùng phòng với ta, chắc cô bé sẽ chuyển đến canh trước cửa phòng ta mất thôi," Rawling ngẫm nghĩ; "nhưng ta cứ thử xem sao. Tội nghiệp con bé, trung thành chẳng khác gì một con chó!"

Họ rón rén bước lên lầu và bắt gặp ả, đang cuộn tròn trong một tấm chăn to sụ, chất đống như ngọn núi nhỏ ngay bên ngoài cánh cửa đang đóng kín của phòng Sanford, đúng vị trí đối diện đỉnh cầu thang. Rawling[Pg 42] cúi người xuống đống chăn bông ấy và cất lời với mái tóc rối bù mang ánh sắc xanh sẫm.

"Onnie Killelia, về phòng đi ngủ đi."

"Xin ngài hãy để tôi yên. Tôi..."

Cơn buồn ngủ cắt ngang lời phàn nàn. Tiếng chuông rắn kêu lên yếu ớt, và Rawling đứng thẳng người dậy.

"Y hệt một con chó," Bill thì thầm rồi lẩn đi mất về phía phòng khách dành cho khách. "Cháu sẽ mở hé cửa phòng cháu." Cậu vỗ nhẹ vào khẩu súng lục trong túi áo rồi nhe răng cười đầy trìu mến. "Chúc ngủ ngon, Sếp."

Rawling chạm tay vào công tắc bên trong phòng mình, và bóng đèn tròn lớn gắn trên trần hành lang chợt tắt ngúm. Họ đã bàn bạc với nhau rằng, giả sử tên Cockney có mò đến được đây, một ngôi nhà tối thui sẽ khiến bước chân hắn trở nên lúng túng, và hắn sẽ phải gây ra nhiều tiếng động hơn. Rawling có thể với tới công tắc này ngay từ giường ngủ, và anh âm thầm cởi quần áo trong bóng tối, đặt khẩu súng tự động lên chiếc tủ đầu giường, được trấn an hoàn toàn bởi vòng vây bảo vệ ngoài kia — Onnie, Bill vạm vỡ, cùng những người trung thành đang dầm mưa ngoài trời. Ở đây Sanford đang say giấc nồng, thở đều đặn và say sưa đến mức chỉ khẽ thở dài khi cha cậu luồn người nằm xuống bên cạnh, và không hề thức giấc khi Rawling trượt cánh tay dưới cơ thể ấm áp ấy để kéo cậu sát vào mình hơn, an toàn trong đêm tối đầy hiểm nguy.

Chiếc giường trong phòng khách kêu cóót két dưới trọng lượng hai trăm cân cơ bắp của Bill, còn Ling thì ngáy o o trong phòng Pete. Những dây thần kinh căng thẳng của Rawling dần chùng xuống trên tấm nệm, và cơn mưa mang tính thôi miên bắt đầu làm anh tê liệt chống lại ý chí của bản thân. Anh hình dung Percival đang ngập ngụa trong một cái mương nào đó, quên bẵng cả con dao trong giấc ngủ say sưa vì rượu mạnh. Chẳng có tiếng thét nào vang lên từ sườn đồi. Tâm trí anh trôi dạt dần vào cõi vô định, rồi giật mình kéo lại khi thằng bé khẽ lầm bầm một tiếng, trước khi anh chìm vào một trạng thái lửng lơ giữa tỉnh và mê, mờ mịt và tĩnh lặng.

Anh bật ngồi dậy, giật tung chăn ra, bởi vì có ai đó đang di chuyển trong nhà, và tiếng mưa nghe rõ hơn hẳn, cứ như thể có một khung cửa sổ nào đó vừa bị mở toang. Anh vung chân bước xuống giường. Có ai đó đang thở hồng hộc ngoài hành lang.[Pg 43] Rawling siết chặt khẩu súng lục trong tay, cái lạnh ngắt của nó làm buốt cả da thịt. Đây có thể là Onnie, hay bất cứ ai khác; nhưng anh đặt ngay ngón tay lên công tắc đèn.

"Thẳng... thẳng hướng cái lối khi nãy tao đi," một giọng nói đặc quánh và bối rối vang lên. "Đấy, chính cái đó! Cái bồn tắm chết tiệt của nó!"

Tiếng chuông rắn reo vang như thể con vật chủ nhân đầu tiên của nó vẫn còn sống. Rawling bấm công tắc.

"Thưa Đại nhân!" Onnie thét lên. "Thưa Đại nhân! Cậu chủ San! Khóa chặt cửa bên trong đi Cậu chủ San! Cút ngay khỏi đây, đồ khốn! Đồ súc sinh!"

Chân Rawling vướng vào khung cửa hành lang sáng rực rỡ và anh lảo đảo ngã nhào, ánh đèn chói lòa chiếu rọi vào thân hình ướt sũng của tên Cockney đang lao sầm sập về phía người phụ nữ khổng lồ đang đứng dang rộng hai tay hình thánh giá để bảo vệ căn phòng trống không. Hai thân hình va vào nhau một cú trời giáng khi Rawling chật vật đứng dậy, và một tiếng nổ đanh gọn vang lên trước khi anh kịp giơ tay lên. Bờ vai trần của Bill lao vào như một quả đại bác đang xung trận, và khẩu súng lục của Bill va vào lạch cạch với khẩu súng của chính anh. Rawling lảo đảo ngã dạt về phía đầu cầu thang, vừa nhắm thẳng hướng tên đó vừa khi Bill chộp lấy cổ áo hắn; nhưng tên Cockney ngả ngửa ra sau, đổ sụp xuống, mặt tím ngắt, nhe cả hàm răng ra.

"Trúng đầu rồi!" Bill nói, rồi cúi người xuống quan sát, gạt những lọn tóc bết bùn ra khỏi vầng trán. Tên ác thú rên rỉ rồi tắt thở; con dao văng ra lách cách trên sàn gỗ.

"Bố ơi," Sanford hét lên, "chuyện quái gì mà..."

"Ở nguyên trong phòng cho bố!" Rawling thở hổn hển, buồn nôn trước sự tàn bạo này, chóng mặt vì mùi thuốc súng và rượu mạnh nồng nặc. Chưa bao giờ cái chết lại trông ghê tởm đến thế. Anh quay đi hướng khác, nhìn về phía người hộ vệ trung thành đang quỳ gối ngay tại vị trí chiến đấu, hai tay đan chặt trước lồng ngực của tấm áo ngủ trắng thô kệch như thể đang cầu nguyện, mái tóc xõa xòa che khuất cả gương mặt.

"Cháu đi lấy tấm chăn đây," Bill đứng dậy nói. "Mấy người kia đến kìa! Ian đấy phỏng?"

Bác thợ rèn cùng một đám đông với những gương mặt tái mét đang hộc tốc chạy ụp lên cầu thang.[Pg 44]

"Chúa xin tha tội cho chúng con! Chúng con để lọt hắn qua hướng... khu vườn thưa ngài. Thằng Alec cứ ngỡ là..."

"Trời ơi Onnie!" Bill thốt lên, "cháu xin lỗi nhé! Cháu đi mặc quần áo vào đã. Này Ian..."

"Onnie," Sanford đứng ở khung cửa cất lời — "Onnie, có chuyện gì thế?"

Như để trả lời cậu, bàn tay đang đan chặt của ả bỗng buông thõng xuống, rời khỏi lồng ngực đã lạnh ngắt, và một dòng máu rỉ ra từ vết thương do dao đâm lan rộng dần, trông hệt như dải băng huân chương của một bậc quyền quý cao sang nào đó.[Pg 45]

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.