Khi Chuẩn tướng Dalvi, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 7 quân Ấn bên ngoài thung lũng nhìn qua ống nhòm và biết được hơn 800 sĩ quan, binh lính quân Ấn tiến vào thung lũng đều đã bị tiêu diệt toàn bộ, ông ta hoàn toàn tuyệt vọng! Ông ta ra lệnh cho đám tàn binh bại tướng già yếu bên cạnh phải tự tìm đường thoát thân. Những người này ngoài một bộ phận ở lại tại chỗ chờ đầu hàng quân đội Trung Quốc ra, số còn lại đều chui vào những ngọn núi lạnh lẽo, hoang vu không người ở Bhutan. Đám sĩ quan, binh lính quân Ấn này ngay cả quần áo mùa đông cũng không có, ngoại trừ một số ít binh lính trải qua bao gian khổ mới đến được Bhutan, phần lớn đều chết cóng hoặc chết đói trong những dãy núi cao hiểm trở trùng điệp. Ngay cả số ít binh lính quân Ấn trốn thoát được đến Bhutan đó, sau chiến tranh cũng bị chính phủ Bhutan gửi đến Tawang bàn giao cho quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.
Lữ đoàn trưởng, Chuẩn tướng Dalvi dẫn theo hơn 100 tàn binh bại tướng, xoay xở suốt nửa ngày một đêm trong rừng sâu núi thẳm. Đến sáng sớm ngày 19 tháng 4, không chịu nổi sự đói khát và giá rét, Dalvi dẫn theo hơn 100 thuộc hạ chui ra khỏi núi, đến đèo Dora, đầu hàng Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 154 thuộc Quân khu, đơn vị chịu trách nhiệm quét sạch tàn quân khu vực sông Khắc Tiết Lãng.
Lực lượng phản kích mặt trận phía Đông của quân ta sau khi tiêu diệt toàn bộ Lữ đoàn 7 quân Ấn, khí thế không hề giảm, tiếp tục tiến sâu vào Nam Tây Tạng, tấn công về phía Tawang! Sư đoàn 4 không bắn một phát súng, lén lút vượt sông Tawang tháo chạy, quân ta thuận lợi thu hồi Tawang, trọng trấn Nam Tây Tạng đã bị Ấn Độ chiếm đóng từ năm 1950.
Tuy nhiên, lực lượng mặt trận phía Đông của quân ta không hề dừng bước, họ sẽ tiến quân đến Tezpur của Ấn Độ! Họ sẽ hội quân với Sư đoàn không quân số 1 của quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã không vận xuống hành lang Siliguri của Ấn Độ! Hoàn thành việc chia cắt Ấn Độ và khu biên giới đặc biệt Đông Bắc Ấn Độ. ”
Sáng sớm ngày 19, tại sân bay Damxung cách thành phố Lhasa 90 km về phía Đông, 15 chiếc máy bay vận tải hạng nặng "Air Train" đang dàn trận trên đường băng phụ, chuẩn bị bay đến hành lang Siliguri - kênh kết nối khu vực sâu trong nội địa Ấn Độ với khu biên giới đặc biệt Đông Bắc Ấn Độ, thả "thiên binh thiên tướng" xuống không phận của tuyến đường bộ này.
Hành lang Siliguri là một dải lãnh thổ hẹp của Ấn Độ nằm kẹp giữa Sikkim và Đông Pakistan, rộng chỉ khoảng 20 km, là nút giao thông kết nối hai phần lãnh thổ của Ấn Độ. Nếu cắt đứt hành lang hẹp dài này, sẽ chia cắt hoàn toàn 400.000 km vuông đất đai phía Bắc với bản thổ Ấn Độ.
10 giờ 30 phút, 1.300 lính dù thuộc Trung đoàn Mãnh Hổ, Sư đoàn không quân số 1 quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, dưới sự dẫn dắt của Phó sư đoàn trưởng Cảnh Trực, hùng dũng, hiên ngang bước lên 15 chiếc máy bay vận tải hạng nặng "Air Train" đang đậu trên đường băng phụ của sân bay, chờ lệnh xuất chinh.
Cảnh Trực, nguyên là Đại đội phó Đại đội Cảnh vệ căn cứ, là một trong những cán bộ cơ sở thăng tiến nhanh nhất trong căn cứ, điều này hoàn toàn là kết quả của việc anh từng làm lính dù ba năm sau khi tốt nghiệp trường quân sự ở hậu thế.
Năm 1950, Trung ương Quân ủy điện chỉ thị các quân khu, các dã chiến quân, yêu cầu rút một số anh hùng chiến đấu, hoặc cán bộ tiểu đội, trung đội kiểu mẫu từ các đơn vị lục quân để thành lập lực lượng lính dù không quân. Không lâu sau lại quy định, số lượng không đủ có thể bổ sung từ những người lập chiến công hạng nhất, hạng nhì. Rất nhanh, 4.763 chỉ huy và chiến sĩ dày dạn kinh nghiệm chiến đấu, chiến công lẫy lừng từ khắp các đơn vị trên cả nước đã tập hợp tại cổ thành Khai Phong Phủ. Người thì đã có, nhưng người thực sự hiểu lính dù là gì lại chỉ đếm trên đầu ngón tay. Vì thế Lưu Á Lâu tìm đến Đặng Phong yêu cầu tìm cho mấy người hiểu biết, Đặng Phong liền giới thiệu Cảnh Trực, người đã đến làm giảng viên tại trường đặc công, cho Lưu Á Lâu. Lưu Á Lâu lại điều Cảnh Trực vừa mới chuyển đến trường đặc công không lâu sang Sư đoàn không quân số 1. Cứ như vậy, anh trở thành Phó sư đoàn trưởng Sư đoàn không quân số 1, đơn vị dự bị chiến lược trực thuộc Trung ương Quân ủy, trong quân đội vốn có danh xưng là "Quân Thiên Tuế".
Tuy nhiên, vị trí sư đoàn trưởng này của anh cũng không phải ngồi không, anh thực sự đã tốn không ít tâm huyết để rèn luyện đơn vị này thành một lữ đoàn không quân vừa có khả năng tác chiến dẫn đường, mở đường chiến trường sau lưng địch, vừa có khả năng đánh thẳng vào tim địch, là lực lượng vừa uy hiếp vừa thực chiến. Từ biên soạn giáo trình, đích thân giảng bài, hướng dẫn huấn luyện, đến việc trang bị vũ khí, sản xuất dù cho bộ đội, không việc gì là anh không nhúng tay vào. Không còn cách nào khác, người tài thì làm nhiều, ai bảo anh hiểu rõ kinh nghiệm và bài học của 60 năm sau hơn người khác chứ.
Sau hơn 5 năm học tập và huấn luyện, lính dù Trung Quốc đã có sự khác biệt về bản chất so với lính dù của các nước trong thời kỳ này. Lính dù các nước thường là mô hình "bộ binh cộng nhảy dù", còn Sư đoàn không quân số 1 của Trung Quốc là một lực lượng đặc nhiệm hiện đại hóa có đặc điểm của hậu thế, bao gồm nhiều binh chủng như trinh sát, tác chiến đặc biệt, pháo binh, tên lửa... Thực sự có thể làm được đội quân cơ động chiến lược "có thể bay bất cứ lúc nào, nhảy xuống bất cứ đâu, nhảy là chiến, chiến là thắng".
Đối với việc sử dụng lực lượng cơ động chiến lược này lần này, Đặng Phong không quá tán đồng, ông cho rằng không cần thiết. Ông cho rằng việc sử dụng lính dù hiện nay chỉ là một phương thức quan trọng để thể hiện ý chí quốc gia, thông qua việc sử dụng lính dù có thể nhìn ra quyết tâm và ý chí của một quốc gia, ý nghĩa biểu tượng lớn hơn ý nghĩa thực tế. Cuối cùng Cảnh Trực đặc biệt đến tìm Đặng Phong để làm công tác tư tưởng: "Lính dù trong chiến tranh hiện đại rốt cuộc có được không? Có hữu dụng không? Những điều này còn phải thông qua thực chiến để kiểm chứng. Ngay cả Trung Quốc ở hậu thế cũng chưa từng chứng minh điều này qua thực chiến." Đặng Phong cảm thấy Cảnh Trực nói cũng có lý, để làm phong phú thêm lý luận và thực tiễn xây dựng quân đội của lính dù quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, nên đã miễn cưỡng đồng ý.
8 giờ 40 phút, trong ánh mắt mong chờ của các đồng đội, Phó sư đoàn trưởng Sư đoàn không quân số 1, Vương Vĩ lái tiêm kích J-10, dẫn đầu 20 tiêm kích J-1 "Chim Ưng" hộ tống cho chiến dịch lần này, dẫn đầu cất cánh. Ngay sau đó là 8 máy bay ném bom "Kẻ Hủy Diệt" mở đường bãi nhảy cho hành động không vận lần này cũng nối đuôi nhau cất cánh. Cuối cùng, 15 máy bay vận tải hạng nặng "Air Train" lần lượt bay lên không trung.
"Air Train" vừa rời mặt đất, trong khoang máy bay đã vang lên tiếng hát hào hùng của lính dù: "Bài ca chiến đấu như sấm dậy, động cơ gầm vang, lính dù anh dũng bay về phía sau địch, đao thép lóe ánh lạnh, đầy lòng căm thù, vì tổ quốc vì nhân dân anh dũng giết giặc chiến đấu, cắm vào tim địch, chém đầu quỷ dữ, tiêu diệt kẻ xâm lược, không chừa một tên..."
9 giờ, chỉ huy thả dù của các máy bay gần như cùng lúc giơ ngón trỏ phải làm thành hình móc câu, các chỉ huy và chiến sĩ của Trung đoàn Mãnh Hổ trong khoang máy bay dứt khoát móc móc khóa dây dù vào dây thép trượt.
"Air Train" bay qua dãy núi Himalaya hơi chút rung lắc. Nhưng cơ trưởng máy bay KL1101 Lý Minh Đào thần sắc nghiêm nghị, hai tay nắm chặt cần điều khiển, sẵn sẵn sàng giải trừ (hủy) trạng thái tự động của "Air Train". Phía sau chở gần trăm chỉ huy và chiến sĩ lính dù, đây dù sao cũng là trách nhiệm trọng đại, sơ sẩy một chút thì hậu quả khó mà lường trước được. Lý Minh Đào là phi công kỳ cựu. Cuối thời kỳ chống Nhật từng bay trên "tuyến đường Gùi Lạc Đà" 8 tháng. Lần này ông cùng ba phi công nguyên Quốc Dân Đảng từng bay tuyến Gùi Lạc Đà đã đích thân tìm Tư lệnh Đặng Phong chủ động xin nhiệm vụ, yêu cầu thực hiện phi vụ này.
Đặng Phong cũng không cân nhắc vấn đề họ đã từng bay tuyến Gùi Lạc Đà hay chưa, bởi vì máy bay khi đó và máy bay không quân Trung Quốc bây giờ không thể cùng nhắc đến, chủ yếu là cân nhắc kỹ thuật của họ quả thực không tệ, đều có 2000 giờ bay thực tiễn, cũng cho họ cơ hội thể hiện, vì vậy đã phê chuẩn yêu cầu của họ.
9 giờ 33 phút, Phó sư đoàn trưởng Sư đoàn không quân số 1 Cảnh Trực ra lệnh chuẩn bị nhảy dù, cơ trưởng các máy bay nhấn nút, âm thanh "tút, tút, tút" vang lên, đèn chỉ thị cũng chuyển từ màu đỏ sang màu vàng, liên lạc trong khoang truyền đến thông báo của máy bay chỉ huy biên đội: "Tiến gần bãi không vận". "Chuẩn bị cấp một! Chuẩn bị cấp một!" Các đồng đội đồng loạt đứng dậy, xách ghế, khom lưng, nhét dây đai ngồi vào nách, tạo tư thế rời máy bay. Mũ sắt đụng vào đồng đội phía trước, như từng chú mãnh hổ đang chờ thời. Khi đèn chỉ thị màu vàng chuyển sang màu xanh, 3 cửa trước sau của máy bay đồng loạt mở ra. Các lính dù "xẹt, xẹt, xẹt" chia làm 3 đường không chút do dự lao ra khỏi máy bay, như đại bàng lao về phía không trung mịt mù.
Từng chiếc máy bay vận tải hạng nặng "Air Train" che rợp trời bay đến bầu trời Siliguri. Tiếp đó, khung cảnh hùng tráng "thiên nữ tán hoa" xuất hiện: Lính dù Trung Quốc như những vì sao rải khắp bầu trời, kỳ diệu đáp xuống từ trên không.
Bãi nhảy dù lần này của Tiểu đoàn Mãnh Hổ thuộc Sư đoàn không quân số 1 là khu vực hình tam giác bao gồm: Làng Durga cách quận Siliguri 2 km về phía Tây Bắc, thị trấn Saktigarh cách 2 km về phía Tây Nam, và bờ Đông sông Teesta phía Tây quận Siliguri.
Làng Durga nằm ở bờ Đông sông Teesta, tại đây có một con đường duy nhất từ bản thổ Ấn Độ thông qua khu vực Đông Bắc Ấn Độ - Quốc lộ 31. Trên sông Teesta có một cây cầu đường bộ Hilkar. Đây là kênh liên lạc quan trọng giữa Nam Ấn và Bắc Ấn.
Cách phía Nam thị trấn Saktigarh chưa đầy hai km là tuyến đường sắt khổ mét New Jalpaiguri, tuyến đường duy nhất thông từ Ấn Độ đến khu biên giới đặc biệt Đông Bắc.
Kiểm soát hai tuyến đường bộ và đường sắt này chính là cắt đứt liên lạc giữa miền Nam và miền Bắc Ấn Độ, khiến quân Ấn không thể hỗ trợ lẫn nhau, gây ra sự hoảng loạn tâm lý cho Quân đoàn 33 thuộc Quân khu miền Bắc của quân Ấn, làm tan rã ý chí chiến đấu của họ, để đạt được mục đích "không đánh mà khuất phục được binh sĩ địch".
Mục tiêu chiến dịch lần này của Sư đoàn không quân số 1 là chiếm lấy cầu đường bộ Hilkar và cầu đường sắt New Jalpaiguri, kiểm soát được nó là kiểm soát được kênh thông đạo Siliguri, cũng chính là kiểm soát được cục diện Bắc Ấn, hay nói cách khác là khu biên giới đặc biệt Đông Bắc Ấn Độ.
Cảnh Trực đáp xuống một khu rừng cách cầu đường bộ Hilkar 500 mét về phía Bắc, điểm nhảy dù này không tốt lắm, nhưng anh không bị thương, anh nhanh chóng tháo dù, nhảy xuống từ một chạc cây. Anh nắm chặt súng trường tự động kiểu 51, liên tục di chuyển nhanh từ cây này sang sau cây khác, tiến hành tìm kiếm và cảnh giới tại điểm nhảy dù. Trong đơn vị lính dù, binh lính và sĩ quan bình đẳng nhất, mọi người đều phải đối mặt với cái chết, đều cùng nhảy dù xuống phía sau kẻ địch để chiến đấu. Không có chuyện binh lính xông pha phía trước, sĩ quan ngồi lại phía sau. Cho nên sĩ quan đơn vị lính dù có thể nhận được sự tôn trọng và ủng hộ phổ biến của binh lính, đó là vì họ đồng cam cộng khổ, hoạn nạn có nhau, cùng tiến cùng lui, sống chết có nhau với binh lính bình thường.