Tế bái Kiều Huyền

Tào Tháo - Thánh Nhân Đê Tiện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 363 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi Thứ 84
Viên Thiệu Qua Đời, Tào Tháo Bớt Một Mối Họa Lớn Vẫn Canh Cánh Trong Lòng

❊ ❊ ❊

Cách huyện Tuy Dương năm dặm về phía bắc, phong cảnh tươi đẹp, rừng cây rậm rạp, tùng bách xum xuê. Gần ngay đó là con sông Tuy Thủy nước chảy lững lờ, tiếng sóng rì rào, tiếng chim ríu rít, ai đến nơi này rồi cũng thấy lòng mình thư thái hẳn. Giữa vùng tùng xanh bách biếc ấy, một tòa lăng mộ được dựng cao, ấy là nơi an giấc ngàn thu của tiền triều Thái úy Kiều Huyền. Với Tào Tháo, Kiều Huyền không chỉ là người thầy đầu tiên dẫn bước ông trên con đường sĩ hoạn mà còn là một người bạn vong niên. Những hậu đãi và ân đức trước đây của Kiều Huyền suốt đời Tào Tháo không bao giờ quên. Vì vậy trên đường lên phía bắc đến Duyện Châu, Tào Tháo đã chủ ý đi vòng qua lối Tuy Dương để đến bái tế Kiều Huyền.

Quan lại ở địa phương đã quét dọn lăng mộ sạch sẽ chu đáo, bày biện sẵn hương án, đỉnh đồng, đồ tế phẩm theo lễ thái lao[1]. Tào Tháo đích thân dâng hương, làm chủ tế. Lâu Khuê, Hứa Du bưng rượu tế, lại có con trai Kiều Huyền là Kiều Vũ cùng đứng hầu bên cạnh làm bồi tế. Những duyện thuộc trong mạc phủ và những bộ tướng trong quân cũng dập đầu bái lạy theo. Tào Tháo đã soạn sẵn một bài điếu văn, sai người mới nhận chức ký thất[2] là Lưu Trinh đọc to trước lăng mộ:

Cố Thái úy Kiều công, sinh ra đã sẵn có đức sáng, rộng lòng bao dung yêu thương mọi người. Quốc gia vẫn nhớ cầu minh huấn, kẻ sĩ còn ghi khắc lời răn. Đã từ lâu hồn về cõi u linh, thân chôn vùi cát bụi. Ta từ ấu thơ đã được gần gũi nơi điện đường, mang theo cái tư chất ngu độn, mà được bậc đại quân tử dung nạp. Ta được tăng thêm vinh dự vẻ vang, là nhờ sự giúp đỡ của ngài. Có khác chi Trọng Ni tự nói rằng không được bằng Nhan Hồi, Lý Sinh khen ngợi cho Giả Phục vậy. Câu “Kẻ sĩ chết vì người tri kỷ”, ta vẫn thường ghi nhớ không quên. Ngài lại từng thung dung mà hẹn với ta rằng: “Sau khi chết rồi, nếu có tiện đường qua trước mộ, mà không đem đấu rượu con gà tế bái cho ta, thì xe đi ba bước bị đau bụng chớ trách.” Tuy khi ấy chỉ là câu đùa bỡn, nhưng nếu chẳng phải là chỗ chí thân chí cốt, làm sao nói ra câu như vậy được? Hôm nay tế bái cho ngài, chẳng phải là sợ ngài giận mà khiến ta sinh tật, mà chính là nhớ đến giao tình của ngài khi xưa, trong lòng vô cùng sầu thảm. Tháo phụng mệnh đông chinh, đóng quân ở quê hương bên cạnh, nhìn lên phía bắc thấy quê cũ của ngài, trong lòng chợt nhớ đến phần mộ của ngài. Đem chút lễ bạc đến đây tế tự, xin ngài thượng hưởng.

Điếu văn sang sảng đọc xong, Tào Tháo cầm một chung rượu rưới xuống trước lăng mộ:

— Phục duy thượng hưởng[3], muôn đời nhớ ơn... Vãn bối còn phải hành quân, không dám quấy rầy thêm giấc ngủ của lão ngài nữa, xin được từ biệt. - Rồi lại cung kính vái dài một vái, đoạn dẫn mọi người ra khỏi rừng.

Lâu Khuê vuốt râu than thở nói:

— Lão nhân gia trọn đời danh giá được khen ngợi khắp trong triều ngoài nội, rốt cuộc cũng chỉ làm bạn với khoảnh núi rừng này. Đã có lúc ta từng nghĩ, người ta phấn đấu cả đời rốt cuộc là được cái gì...

— Đừng nghĩ nữa. - Tào Tháo vừa đi vừa nói. - Thiên hạ còn chưa bình yên, há có thể không ốm mà rên như vậy? Hãy nên nghĩ xem làm thế nào để kế thừa được di nguyện của lão nhân gia, làm thế nào để phục hưng Hán thất, yên định lê dân.

Hứa Du đi bên cạnh nói chen vào:

— Mạnh Đức, Tử Bá các ngài nói xem, trong chúng ta ai giống lão nhân gia nhất đây?

— Cái ấy còn phải hỏi, tất nhiên là Mạnh Đức rồi. - Lâu Khuê thuận miệng đáp.

— Cũng chưa phải. - Hứa Du cười ha hả, - Nếu nói đến tài đối địch với người Khương, cầm quân đánh trận, tất nhiên Mạnh Đức là hơn cả. Nhưng nếu luận về khí khái phi phàm, Tử Bá huynh cũng rất được chân truyền vậy!

Lâu Khuê cũng cười theo:

— Nếu nói như vậy, tính khôi hài hóm hỉnh của lão nhân gia có thể nói là đã truyền thụ được cho Hứa Tử Viễn huynh rồi, ba người chúng ta mỗi người được một điểm vậy.

— Các ngài còn quên mất một người, - Tào Tháo quay lại nói, - Nếu nói đến chuyện coi thường danh lợi thì ai giống lão nhân gia hơn Vương Tử Văn đây?

Ông vừa nhắc đến Vương Tuấn thì Lâu Khuê, Hứa Du đều lặng im không nói. Nếu nói đến việc hiếu kính với Kiều Huyền, thực ra bọn họ đều không thể so được với Vương Tuấn, tòa lăng mộ này chính do Vương Tuấn cùng với Kiều gia xây dựng nên. Chỉ vì Vương Tuấn cam lòng sống đến già ở chốn lâm tuyền tu thân vô vi, làm một bậc ẩn sĩ bế môn ở quận Vũ Lăng, Kinh Châu. Bách tính cảm vì sự hiền đức của Vương Tuấn mà có tới hơn trăm hộ tự nguyện đi theo. Vương Tuấn chẳng những không nhận chức quan Lưu Biểu trao cho, mà ngay cả Tào Tháo đem mệnh lệnh của thiên tử trưng vời ra làm chức Thượng thư, Vương Tuấn cũng không đến. Buổi tế bái Kiều Huyền hôm nay chỉ thiếu có Vương Tử Văn, không thể không nói là một sự đáng tiếc vô cùng.

Kiều Vũ - con của Kiều Huyền đi cuối cùng, thấy bọn họ đều có ý buồn rầu, bèn tiến lên nói:

— Tào công bất tất phải đau lòng, Lưu Biểu không có tài xưng bá một phương. Sẽ có ngày thu phục được đất Kinh Tương, ngài với Tử Văn vẫn còn có ngày tái ngộ vậy.

— Chỉ mong được như lời huynh trưởng nói. - Tào Tháo ngửa mặt mà than.

Kiều Vũ lại cung kính nói:

— Tào công và liệt vị đại nhân đến đây bái tế gia phụ, tại hạ vô cùng vinh hạnh. Nhưng lễ thái lao là dành cho triều đình tế tự tiên vương. Hôm nay Tào công đem dùng tế lễ cho gia phụ, tại hạ thực sự xấu hổ vô cùng. - Kiều Vũ tuổi đã quá ngũ tuần, là một người trung hậu biết giữ bổn phận, nên cảm thấy việc tế lễ hôm nay đã hơi tiếm vượt.

Tào Tháo lại không hề bận tâm:

— Ha ha ha! Lão nhân gia khi còn sống có nói đùa với ta rằng sau khi ngài tạ thế, nếu ta có tiện đường đi ngang qua mộ ngài mà không đem gà béo rượu ngon cúng tế một phen, thì xe đi qua ba bước sẽ làm cho ta bị đau bụng! Bây giờ Tào mỗ ta đã hiển đạt rồi, lão nhân gia muốn gà béo rượu ngon, nhưng ta phải tặng cho ngài đại lễ thái lao. “Không trái không hại, ít người không theo. Người cho trái đào, tạ người trái mận.” Đó cũng là tấm tình cảm kích của tiểu đệ, Kiều huynh không cần bận tâm. - Tào Tháo không cho việc tiếm vượt lễ chế có gì là quan trọng cả, người khác tất nhiên không dám truy cứu, Kiều Vũ vội vàng gật đầu.

Trong lúc nói chuyện, mọi người đã ra khỏi rừng, đại đội binh mã sắp hàng chờ sẵn bên đường cái quan, Tào Phi dắt ngựa lại cho phụ thân. Lâu Khuê, Hứa Du cùng chắp tay thi lễ:

— Mời chúa công lên ngựa. - Ở vị trí là bằng hữu cũ trước đây, chỗ riêng tư thì gọi nhau bằng tên tự, nhưng trước mặt mọi người đều xưng hô là chúa công, hai người bọn họ phải giữ cho đúng khoảng cách.

Tào Tháo vẫy tay ra hiệu cho bọn họ lui xuống, quay sang Tào Phi gật gật đầu:

— Tên Lưu Trinh mà con tiến cử bừa đó cũng có thể coi là một nhân tài đấy. Văn chương phóng khoáng không kém gì Lộ Túy, Phồn Khâm. Hôm nay đọc văn tế cũng rất ra dáng. Có thể giao lưu với những bằng hữu như vậy, coi như con cũng có tiến bộ rồi.

Tào Phi chẳng mấy khi được Tào Tháo khen ngợi, sung sướng ra mặt, đỡ phụ thân lên lưng ngựa, trong lòng đã có dự định: “Phụ thân vốn thích văn chương thơ phú, từ nay về sau ta sẽ phải dày công rèn luyện!”

— Hạ quan kính tiễn Tào công! - Kiều Vũ cùng các quan viên huyện Tuy Dương cùng bái biệt Tào Tháo.

— Đứng dậy đi! - Tào Tháo lại quay sang nhìn Kiều Vũ, - Ta bận rộn nhiều việc cũng không nhớ rõ, Kiều huynh hiện đang làm chức quan gì vậy?

— Tại hạ hiện làm chức Tòng sự Dự Châu. - Kiều Vũ tuy trung hậu từng trải, nhưng tài năng không có gì xuất chúng.

Tào Tháo nghĩ ngợi hồi lâu, rồi mỉm cười nói:

— Từ sau khi Lưu Bị làm phản, Nhậm Thành tướng My Phương cũng đi theo hắn, hiện chức ấy vẫn còn để trống. Ta sẽ sai Tuân lệnh quân thảo chiếu mệnh cho Kiều huynh bổ khuyết vào chức này.

Từ một chân thuộc lại ở Dự Châu nhảy luôn lên chức quận thú lương hai ngàn thạch, không biết đã vượt qua bao nhiêu cấp trung gian, Kiều Vũ vội vàng từ chối:

— Tại hạ có tài đức gì mà nhận được đề bạt như vậy, xin minh công hãy thu lại mệnh lệnh...

— Kiều huynh không cần phải từ chối, huynh từng trải đã nhiều, rất xứng đáng với vị trí ấy. Huống chi khi xưa Kiều công còn tại thế từng đem chuyện thê tử phó thác cho ta, đó cũng là chút tấm lòng của ta. Gia cảnh nhà huynh trưởng vẫn tốt chứ?

Kiều Vũ chắp tay nói:

— Nhờ phúc của Kiều Công, mọi việc vẫn được như ý, chỉ có hai tiểu muội là chưa được trở về.

Kiều Huyền cuối đời sinh hạ được hai người con gái song sinh, đều đẹp như hoa, người trong vùng yêu mến gọi là Đại Kiều và Tiểu Kiều. Năm xưa hai người theo cha về ẩn cư ở Giang Hoài, gặp khi binh đao loạn lạc, bị quân Giang Đông bắt đi. Tôn Sách thấy hai người thì rất ưng ý, lấy Đại Kiều làm vợ chính thất, lại đem Tiểu Kiều gả cho ái tướng là Chu Du. Tôn lang, Chu lang đều là nhân tài tuấn kiệt, chị em Kiều gia lưu lạc ở đất Giang Đông, không ngờ trong rủi có may lại lấy được người chồng rất xứng tâm. Chỉ có điều Tôn Sách bị hành thích qua đời, Đại Kiều tuổi còn trẻ đã phải ở góa, lại thêm nam bắc cách trở, thời cuộc gian nan, không có cách nào quay về phía bắc để đoàn tụ với huynh trưởng, đành cùng con là Tôn Thiệu sống cô đơn qua ngày.

Tào Tháo cười nhạt nói:

— Họ Tôn ở Giang Đông đã không còn uy phong như trước, đợi ta bình định đất Hà Bắc xong, sẽ có ngày dong quân xuống cho ngựa uống nước Trường Giang, thay huynh trưởng đón lệnh muội về... - Trong đầu Tào Tháo bỗng nhớ lại, hai vị muội muội này từ nhỏ đã vô cùng xinh đẹp, không biết bây giờ dung mạo ra sao?

Tào Tháo đang nghĩ ngợi miên man, chợt phía sau vang lên những tiếng cười giòn giã, quay lại nhìn, hóa ra là các công tử Tào Phi, Tào Chân, Tào Thực cùng đám đông các bộ tướng đang vây lấy Trung quân Hiệu úy Vương Trung chỉ chỉ trỏ trỏ, ai nấy đều vui cười nghiêng ngả. Trong quân điều lệ rất nghiêm, quân sĩ không được tùy tiện cười đùa, Tào Tháo đang định hỏi xem có chuyện gì, chợt thấy trên ngựa của Vương Trung buộc một cái đầu lâu, cũng bật cười khanh khách.

Vương Trung vốn là nhân sĩ đất Kinh Triệu, tuổi mới hơn ba mươi nhưng đi theo Tào Tháo từ rất sớm. Ông ta vốn xuất thân là đình trưởng ở Quan Trung, lúc thiên hạ đại loạn, bèn dẫn theo một đội quân nửa lính nửa phỉ chạy xuống Vũ Quan ở phía nam hành nghề cướp bóc, vào năm mất mùa đói kém không cướp được lương ăn, chúng còn tàn sát ăn thịt cả lưu dân. Sau Vương Trung ra Vũ Quan gặp đúng lúc Lâu Khuê thay Lưu Biểu đến chiêu tập sĩ nhân lánh nạn, ông ta chẳng những không theo, còn tập kích Lâu Khuê cướp đi rất nhiều tài vật, sau đó mới chạy lên phía bắc theo về Hứa Đô. Khắp trong Tào doanh mọi người đều biết ông ta từng ăn thịt người, nên khi nãy không biết kẻ nào nghĩ ra trò trêu chọc này, nhân lúc bái tế Kiều Huyền lấy trộm túi lương khô treo bên yên ngựa của Vương Trung, lại lấy một cái đầu lâu buộc vào đó. Chúng binh tướng nhìn thấy sao mà không buồn cười cho được?

Vương Trung xấu hổ đỏ bừng mặt, mắt trợn tròn như muốn lộn ra ngoài, giậm chân mắng:

— Kẻ nào dám làm vậy? Có giỏi đứng ra đây cho ông xem!

Tào Tháo vội nín cười, lấy lại vẻ nghiêm nghị nói:

— Giữa chốn ba quân, kẻ nào vô lễ như thế, còn không mau nhận lỗi với Vương tướng quân? Bằng không chịu bước ra lão phu sẽ nghiêm trị. - Vừa nói Tào Tháo vừa nhìn đám con của mình - đám tiểu tử này cười khoái trá nhất, chắc tám phần là do bọn chúng làm rồi.

Quả nhiên Tào Chương, Tào Thực cười ha hả đẩy một tên bộc đồng gầy còm ra. Kẻ ấy quỳ thụp xuống đất:

— Xin chúa công thứ tội, là chư vị công tử sai tiểu nhân trêu đùa Vương tướng quân đấy ạ.

— Hừ! Trêu đùa cũng phải có chừng mực... Đầu lâu kia lấy ở đâu ra?

Tên bộc đồng cố nhịn cười đáp:

— Người có giàu nghèo, ngói có âm dương. Ngài bái tế Kiều công có lăng tẩm tôn nghiêm, nhưng bên đường đầy rẫy mồ hoang không người coi sóc, xương trắng phơi cả ra. Tiện tay nhặt một cái đầu lâu có khó gì ạ?

Tên tiểu tử này nói năng rắn rỏi, không hề có ý kính sợ với Tào Tháo. Phàm là kẻ dưới đâu có chuyện đáp lời chủ như vậy, còn có quy củ gì nữa không? Tào Tháo nghe xong rất giận, định sai người nọc ra đánh cho một trận thật đau, nào hay nhìn kỹ, thấy tên tiểu tử này dường như chưa tới hai mươi, vóc dáng gầy gò quắt queo, mũi hin má hóp, tuy mặc trang phục của kẻ dưới nhưng căn bản không phải là người trong phủ. Ông càng nổi giận hơn:

— Ngươi là ai? Sao ta chưa trông thấy bao giờ?

Kẻ ấy hàm hồ đáp lại:

— Tiểu nhân là người hầu của công tử.

— Nói láo! Người trong phủ lão phu há lại không biết? Nếu không nói thật ta sẽ ghép ngươi vào tội gián điệp mà xử phạt!

Tên tiểu tử ấy đúng là miệng lưỡi gang thép:

— Tiểu nhân không phải là gián điệp, mà là người hầu trong phủ của ngài!

— Vẫn còn ngoan cố? - Tào Tháo đã giận đến nỗi râu ria dựng ngược.

— Có lẽ là ngài không nhớ ra chăng? - Hắn vẫn dám nói thêm.

Các công tử trái lại biết rất rõ về hắn, thấy chuyện này bại lộ thì tính mạng hắn khó toàn, vội nhất loạt quỳ xuống:

— Xin phụ thân khai ân, vị huynh đệ này chính là bằng hữu cũ của chúng con ở quê nhà, tên là Chu Thước.

— Chu Thước? - Tào Tháo đảo mắt, chợt nhớ đến chuyện Tào Phi xin xỏ lần trước, chắc hẳn là bọn chúng không được đồng ý nhưng vẫn đem theo tên tiểu tử này trà trộn vào đám bộc đồng dẫn theo từ huyện Tiều đến đây. Quay đầu lại nhìn Tào Phi, thấy cậu ta đã sợ hãi đến tái mặt. Tào Tháo vẫn không tha, - Ngươi to gan thật! Dám làm chuyện dối trá này trước mắt ta, ta đã có gia pháp để trừng trị ngươi!

Tào Phi còn chưa kịp nói gì, Chu Thước đã đứng dậy, vung cánh tay gầy gò, vỗ lên cái ngực gầy giơ xương kêu to:

— Minh công bất tất làm khó công tử, là do tiểu nhân không biết xấu hổ tự bám theo đến đây. Nếu ngài thấy tiểu nhân không thuận mắt, xin cho một đao phanh thây tiểu nhân đi là xong, công tử cũng không làm gì nên tội, chuyện này không liên quan đến công tử. Ngài muốn đánh muốn mắng, tiểu nhân xin chịu hết!

Tào Tháo từ khi đắc chí đến nay, chưa từng có kẻ nào dám đối đáp với mình như vậy, bèn giận dữ lớn tiếng mắng:

— Hừ! Tên nhãi ranh ngươi mà cũng dám nói lý với ta? Ta dạy dỗ con ta trước, rồi phanh thây ngươi cũng chưa muộn!

Chúng tướng thấy Tào Tháo muốn trách phạt con, lý nào lại dám đứng nhìn, lũ lượt đứng ra xin xỏ giúp. Ngay cả Vương Trung cũng nói:

— Xin chúa công bớt giận. Công tử chẳng phải cũng là quý mến hương lý, thay mặt ngài mà làm việc tốt ư? Trẻ con ở thôn quê còn chưa hiểu chuyện, khó tránh khỏi nói mấy câu không phải, ngài đại nhân đại lượng, sao có thể chấp bọn chúng được? Xin chúa công khai ân tha cho!

Nể mặt mọi người, Tào Tháo thất vọng trừng mắt nhìn Tào Phi:

— Vừa nãy ta đã khen nhầm ngươi mấy câu, rốt cuộc ngươi vẫn là đồ bỏ đi! Chuyện này ta tạm cho qua, về sau ngươi hãy liệu đấy! - Tào Tháo nói một hồi khiến Tào Phi lủi mãi ra tận đằng xa. - Tên tiểu tử họ Chu kia, ngươi hãy cút về cho ta! Trong phủ lão phu không có chỗ cho những kẻ vô lễ ngông cuồng như ngươi.

Trong các tướng, Vương Trung là người ít tuổi nhất, mấy hôm nay vẫn luôn đi cùng bọn Tào Phi, Tào Chân, cũng có ý muốn xu phụ, bèn giả bộ làm người tốt đến cùng:

— Thôi thôi! Tên tiểu tử này đã đi theo xa thế này, xin chúa công chớ đuổi nó đi. Nó cũng là đồng hương với chúa công, đuổi nó về há chẳng phải làm mất mặt ngài ư?

Tào Tháo liếc nhìn Vương Trung:

— Tên tiểu tử này ương bướng vô cùng, khi nãy chẳng phải nó đã đùa bỡn ngươi ư?

— Chuyện ấy có gì đâu? - Vương Trung vỗ vỗ lên cái đầu lâu trên ngựa, cười cợt nói, - Mạt tướng trước đây đã từng ăn thịt người, cũng chẳng trách mọi người trêu đùa. Lát nữa hành quân, mạt tướng vừa đi vừa gặm cái đầu lâu này cũng đỡ buồn! - Thấy Vương Trung làm bộ lợn chết không sợ nước sôi, ai nấy đều ôm bụng cười ngặt nghẽo.

Tào Tháo cũng cười nói:

— Trong phủ lão phu không cần một tên nô tài vô lễ như hắn.

— Mạt tướng cần, mạt tướng cần! - Vương Trung túm luôn lấy Chu Thước. - Mạt tướng lại thích tên khốn kiếp này! Cho hắn vào làm lính trong doanh của mạt tướng rất phù hợp. Đến chúa công mà hắn cũng không sợ, thì có sợ gì quân địch?

Mọi người lại cười ầm cả lên, nhưng không ai nhận ra ý a dua với Tào Phi của hắn.

— Có một tướng quân như ngươi mới có một tên lính như hắn, tùy ngươi vậy. - Tào Tháo cũng không so đo nữa, giật cương ngựa lại dặn dò, - Cũng không còn sớm nữa, mau lên đường thôi.

Quân lệnh lần lượt được truyền đi, không lâu sau, tiền đội đã sẵn sàng cất quân, Tào Tháo dẫn đầu tướng sĩ trung quân, xe ngựa của các phu nhân và công tử đi sát ngay sau. Vương Trung lựa lúc rảnh rỗi từ hậu quân chen lên trước, ghé sát đến bên Tào Phi:

— Công tử đừng lo lắng. Minh công xưa nay thẳng tính nóng nảy, mắng xong rồi cũng không để bụng đâu.

— Khi nãy may nhờ tướng quân giúp cho. - Tào Phi vội cảm tạ.

— Mạt tướng có thể dốc sức vì công tử, thật vô cùng vinh hạnh, - Vương Trung cười nịnh, - Tiểu huynh đệ họ Chu đi theo công tử cũng rất khá, mạt tướng há lại để cho hắn làm một tên lính tầm thường? Hãy tạm để làm một chân quân lại trong doanh mạt tướng, sau này sẽ tìm cơ hội cho hắn lập công. Mạt tướng đảm bảo không đến ba năm nhất định sẽ cho hắn làm một chân tư mã, sắp đặt như vậy, công tử thấy có được không?

— Đa tạ, đa tạ... - Tào Phi chắp tay mãi, trong lòng thầm tính toán, nếu như có được vài bằng hữu trong quân, thật không còn gì bằng.

Nghiệp Thành đại tang

Tào Tháo không hề biết rằng trong khi ông rời Tuy Dương lên Duyện Châu thì Viên Thiệu - vị bằng hữu cũ và cũng là đối thủ của mình đã đi đến những giây phút cuối của cuộc đời.

Thực ra từ sau chiến bại ở Thương Đình, sức khỏe của Viên Thiệu đã ngày một giảm sút, tuy một năm nay ông cố gắng gượng điều binh khiển tướng, nhưng đó chẳng qua chỉ là được chống đỡ bởi tính cố chấp và lòng kiêu ngạo nên mới không bị gục ngã. Đến khi Tào Tháo lui về Hà Nam rồi, Viên Thiệu cuối cùng đã đổ bệnh không thể dậy được nữa, tất cả thuốc thang đều vô tác dụng, dần dần bệnh đã vào đến cao hoang...

Một ngày tháng Năm, năm Kiến An thứ bảy (năm 202 sau Công Nguyên), sau một thời gian nằm bệnh lâu ngày, Viên Thiệu bỗng cảm thấy tinh thần đỡ hơn một chút, toàn thân nhẹ nhõm, nỗi buồn bực chất chứa trong lòng bấy lâu cũng đã vơi đi rất nhiều. Đám thê thiếp và bộc tòng thấy Viên Thiệu ăn thêm được nửa bát cháo nhỏ so với bình thường đều nhao nhao chúc mừng, Viên Thiệu cũng nở một nụ cười vốn vắng bóng lâu nay với họ.

Cười thì cười vậy, nhưng vốn là người biết nhiều hiểu rộng, trong lòng Viên Thiệu rất rõ, đây có lẽ cũng giống khoảnh khắc sáng bừng trước khi tắt của ngọn nến. Lưu thị - vợ của Viên Thiệu - đã âm thầm sai người chuẩn bị sẵn quan quách và đi tìm đất đặt mộ. Ba con trai cũng kín đáo dặn dò người ở may áo tang, để tránh khi việc đến chân lại bối rối. Đừng tưởng Viên Thiệu nằm im trên giường không biết gì, những chuyện ấy ông đều biết cả. Mảnh đất Hà Bắc này Viên Thiệu đã phải vất vả phấn đấu mới có được, tất cả mọi người, mọi việc trên đất này Viên Thiệu đều hiểu rất rõ, rõ như chính cơ thể mình vậy.

Chính vì Viên Thiệu có thể dự cảm được rằng sau khi mình chết sẽ xảy ra chuyện gì, nên ông thấy cần phải dặn dò kỹ lưỡng mọi việc trước khi nhắm mắt xuôi tay. Nhân hôm nay tinh thần thoải mái, Viên Thiệu liền sai cả ba con trai đi gọi những quan viên chủ chốt trong quân đội và châu phủ đến, còn chú ý dặn dò các con nói năng phải khách khí, lễ nghi phải chu đáo với họ. Đợi các con đi rồi, Viên Thiệu lại bảo người hầu tắm gội, thay y phục cho mình, cố gắng lấy lại thần thái như trước đây, thậm chí còn sai người mở các cửa sổ cho bay hết mùi thuốc trong phòng, tuyệt nhiên không để những vị huynh đệ từng cùng ông giành lấy thiên hạ ngửi thấy.

Bọn Bàng Kỷ, Thẩm Phối, Quách Đồ, Tân Bình, Tuân Thầm, Thôi Diễm, Trần Lâm ai nấy đều đang bận rộn, nhận được lời mời của ba vị thiếu chủ bèn vội vàng bỏ hết mọi công việc chạy đến. Trong lòng mọi người đều hiểu rõ, đây có lẽ sẽ là lần gặp mặt cuối cùng. Không đầy nửa canh giờ, mọi người đã tề tựu đông đủ trên đại đường mạc phủ, rồi cúi đầu đi theo ba vị công tử, xuyên qua những dãy hành lang, đến thẳng bên giường bệnh của Viên Thiệu.

— Tham kiến Đại tướng quân! - Mọi người đều quỳ hết cả xuống, mắt chỉ dám cúi nhìn khe gạch dưới gối mình, không một ai đành lòng ngẩng đầu lên nhìn vị chủ nhân đang gần đất xa trời của mình. Khi xưa Viên Thiệu mới uy nghiêm làm sao, anh võ làm sao, phong độ làm sao, nhưng bây giờ lại thê thảm thế này đây?

— Các ngươi ngẩng đầu cả lên... - Giọng Viên Thiệu bình tĩnh, nhẹ nhàng.

Mọi người run run ngẩng đầu lên nhìn: Sự thật khiến tất cả không ngờ, Viên Thiệu nghiêng người ngồi tựa trên giường, sắc diện xám ngắt, hai mắt trũng sâu, sau mấy tháng trời bị bệnh tật dày vò, thân hình ông đã gầy xọp hẳn đi, hai cánh tay vốn to béo giờ teo tóp hẳn lại, run run đưa ra trước mọi người. Phu nhân Lưu thị mặt mũi sầu não đang ngồi kế bên, tự mình bưng một bát nước, nhè nhẹ thổi cho bớt nóng. Nhưng lúc này đây, mái tóc Viên Thiệu vẫn được chải mượt gọn gàng, dường như còn được thoa một chút dầu, mình mặc một bộ áo lụa trắng tinh. Nụ cười nghiêm trang, vẻ mặt tự phụ và ánh mắt nghiêm nghị ấy không khác gì trước đây - Viên Thiệu rốt cuộc vẫn là Viên Thiệu, dù sắp chết cũng phải giữ cho được uy nghiêm.

— Chúa công... - Bàng Kỷ sống mũi cay xè, một nỗi đau thương cuộn lên trong lòng nhưng không dám bật khóc, cố nén nước mắt thành những tiếng nấc nghẹn sụt sùi. Bọn Thẩm Phối, Tân Bình cũng không cầm lòng được, cất tiếng sụt sịt theo.

Viên Thiệu chăm chú nhìn bọn họ hồi lâu, hơi lắc đầu nói:

— Các ngươi làm sao phải khóc... Thiên hạ có tiệc vui nào mà không tan, con người ta rốt cuộc ai cũng phải chết...

Vừa nghe Viên Thiệu nói một từ “chết”, Lưu thị nghẹn ngào nói:

— Phu quân, xin chớ...

Viên Thiệu trừng mắt nhìn vợ vẻ không bằng lòng, nếu không phải là sức khỏe không cho phép, nhất định ông ta sẽ mắng Lưu thị một câu: “Đàn ông nói chuyện, không đến lượt bà nói chen vào!” Nhưng giờ đây Viên Thiệu không còn đủ sức làm vậy nữa rồi, chỉ còn biết xua xua tay một cách yếu ớt, ra hiệu cho bà ta không được nói nhiều, rồi từ từ lấy hơi nói tiếp:

— Ta đã là kẻ gần đất xa trời, nhưng đại nghiệp quét sạch loạn lạc, thống nhất thiên hạ vẫn phải được tiếp tục, những chuyện sau khi ta đi rồi...

Nghe Viên Thiệu nói vậy, ai nấy đều bật khóc, rồi ngước lên chăm chú nhìn ông. Giờ phút ấy nỗi bi thương hẳn nhiên ai cũng có, nhưng điều mọi người quan tâm hơn cả là ai sẽ là người kế thừa vị trí của ông, điều ấy không những liên quan đến đại nghiệp sau này, mà còn liên quan đến chính lợi ích của bản thân và gia đình họ nữa!

Viên Thiệu dường như cố ý thăm dò bọn họ, nói đến đó bỗng nhiên đổi giọng, trở nên cảm khái:

— Gia tộc họ Viên ta, từ thời cao tổ phụ Viên An đã chịu nhiều hoàng ân, cho nên có được sự tôn quý bốn đời tam công... Cứu vớt lê dân, khôi phục triều cương chính là trách nhiệm mà Viên gia ta phải tận lực. Nhớ lại thời Hoàn đế, Linh đế xưa, sủng ái hoạn quan, cấm cố hiền sĩ... Mở ra Hồng Đô Môn Học, khiến bọn hèn mạt được vào nơi miếu đường, dựng ra Tây Viên treo bảng bán quan, dung túng cho bọn gian tà tiểu nhân được ở ngôi cao. Luân lý bại hoại, cương thường tan nát, thói đời không còn như xưa, thiên hạ này há lại chẳng loạn ư? Ta từ khi tráng niên đã có chí trừ gian diệt ác, nhưng nào hay trời chẳng chiều người. Đổng Trác vào kinh, tiểu nhân làm loạn, để rồi đến nỗi không thể dẹp được nữa... - Nói đến đó, Viên Thiệu ra hiệu cho Lưu thị cho mình một ngụm nước, gắng sức nuốt xuống, thở dài rồi lại tiếp lời, - Bản tướng quân dựng nghiệp ở Hà Bắc gần mười năm nay, diệt Công Tôn, đánh bại Hắc Sơn, lung lạc các bộ tướng cũ ở U Châu, vốn định rằng một trận có thể lấy lại được Trung Nguyên. Nào hay gian tặc Tào Tháo... - Nhắc đến đối thủ cũ, hai má Viên Thiệu hơi giật giật, nhưng lại lập tức lại trở lại bình thường, - Tào Tháo quỷ kế đa đoan, chiêu dụ bọn phản tướng của ta, thiêu hủy lương thảo của ta, khiến ta bị thảm bại ở Quan Độ. Ôi chao... Đó cũng là số trời mờ mịt, việc không làm sao được vậy...

Mọi người đều cúi mắt nhìn xuống - thế nào gọi là số trời mờ mịt, việc không làm sao được? Rõ ràng là do nóng vội lập công, hám lợi trước mắt, không chịu nghe lời trung ngôn. Lúc dụng binh lại hành động chậm chạp, phòng bị lơ là mới có kết cục như vậy. Đến hôm nay, Viên Thiệu vẫn cứ vì chút thể diện của mình, không chịu thừa nhận thất bại, thậm chí còn vì mấy câu sàm ngôn mà giết luôn Điền Phong một dạ trung thành, thể diện thực sự quan trọng đến thế sao? Nhưng cho đến hôm nay, cuộc đời vô thường, dầu cạn đèn khô, ai đúng ai sai không còn quan trọng nữa rồi.

Viên Thiệu trầm ngâm hồi lâu, đột nhiên vẫy vẫy tay:

— Hiển Tư[4], con lại đây...

Viên Đàm thấy phụ thân gọi trong thời khắc quan trọng này, liệu rằng mình sẽ là người kế thừa gia nghiệp, mừng như mở cờ trong bụng nhưng lại ra vẻ nghẹn ngào, quỳ lết lên mấy bước đến bên giường, nắm lấy tay Viên Thiệu nói:

— Phụ thân, phụ thân có chuyện gì dặn dò hài nhi?

Viên Thiệu đổi hẳn giọng dạy dỗ thường ngày, vỗ vỗ đầu Viên Đàm, nhẹ nhàng nói:

— Họ Viên ta là vọng tộc ở Nhữ Nam, vốn vô cùng hiếu đễ... Nhưng từ khi Viên Công Lộ thúc phụ con hưng binh ở Nam Dương, công nhiên đối địch với cha, sau đó lại tiếm nghịch tự lập làm vua, đã làm mất mặt Viên gia chúng ta... Con chim sắp chết cất tiếng bi thương, con người sắp chết cần nói lời phải. Con hãy nhớ kỹ lời ta, phải lấy việc của Viên Thuật mà làm gương cho mình, đoàn kết với huynh đệ, hậu đãi với người trong gia tộc, họ Viên ta mới có hy vọng phục hưng...

Những người có mặt đa số là hào tộc ở Hà Bắc, thường ngày đều không hòa thuận với Viên Đàm vốn là kẻ kiêu ngạo, tự phụ, lúc này thấy cha con Viên Thiệu ôn tồn như vậy, đều toát mồ hôi lạnh, nhưng không một ai nhận ra ý tứ ẩn sau lời nói của Viên Thiệu. Phu nhân Lưu thị cũng ngồi không vững, tay bưng bát nước run lên bần bật. Bà vốn là vợ tục huyền của Viên Thiệu, còn Viên Đàm, Viên Hy là con của người vợ trước, nếu Viên Thiệu không lập Viên Thượng - người con của bà sinh ra - làm người nối dõi thì những ngày tháng sau này, mẹ con bà khó bề yên ổn được!

Viên Đàm liệu rằng việc này đã chắc như đinh đóng cột, cố nén nỗi vui mừng, phủ phục lên đùi cha khóc rống lên:

— Hài nhi nhất định ghi nhớ lời của phụ thân... Hu hu hu...

— Đàm nhi chớ khóc, cha vẫn còn chưa nói xong mà... - Viên Thiệu cất cao giọng khiến mọi người phải sững sờ, - Gia tộc họ Viên ta vốn chi phái đông đúc, nhưng giận thay lão tặc Đổng Trác khi nắm giữ triều chính đã sát hại cả nhà thúc tổ Viên Ngỗi và thúc thúc Viên Cơ của con. Mỗi khi nhớ tới chuyện ấy cha đây đều vô cùng đau đớn... Nghe nói khi đối địch ở Quan Độ, tên khốc lại Mãn Sủng ở Nhữ Nam đã ra tay sát hại không ít con cháu các chi phái của gia tộc ta, khiến Viên gia ta suy bại hoàn toàn. Cho nên hôm nay, cha sẽ cho con sang làm thừa tự bên chi Viên Cơ, để nối tiếp hương hỏa đời sau cho chi phái bên ấy.

— Hả! - Viên Đàm nghe thấy câu ấy tựa như sét đánh ngang tai, - Phụ thân không cần hài nhi nữa ư?!

Viên Thiệu xoa đầu y, chậm rãi nói:

— Con nói bậy gì thế?... Khi nãy những điều cha nói con không nghe thấy ư? Phải lấy thúc phụ Viên Công Lộ của con ra làm gương, đoàn kết huynh đệ, hậu đãi họ tộc. Sang bên ấy thừa tự, con vẫn là con cháu của Viên gia ta, có khác gì đâu?

Có khác gì đâu? Hùng tâm tráng chí kế thừa ngôi vị Đại tướng quân, thống lĩnh binh mã bốn châu, cùng tranh thiên hạ, quyền lực địa vị với Tào Tháo... tất cả đều đã tan biến! Viên Đàm không thể nào hiểu nổi, vì sao phụ thân chỉ xem trọng Viên Thượng mà không coi mình ra gì. Năm xưa khi Viên Đàm nhận mệnh thống lĩnh Thanh Châu, địa bàn của Viên Gia ở đó chỉ có một huyện, nhờ có y xung phong hãm trận, công thành cướp đất, đuổi Điền Khải, đánh bại Khổng Dung, tiễu trừ Khăn Vàng, lăn lộn vất vả vì phụ thân giành được cả một châu! Trận chiến ở Quan Độ lại không rời phụ thân nửa bước, chỉ huy quân đội bao phen vất vả trên lưng ngựa, nhưng rốt cuộc phụ thân chẳng những không truyền ngôi vị cho y, ngược lại còn đưa đi làm thừa tự kẻ khác. Viên Đàm thực sự không thể chấp nhận được, y phải đem lý ra tranh cãi lại:

— Phụ thân, sao người lại...

— Đừng gọi ta là phụ thân nữa. - Viên Thiệu hiểu rõ tính khí Viên Đàm, hôm nay nếu không khống chế được y thì sau này khó tránh được hậu họa, bèn cố lấy tinh thần trừng mắt nhìn y, ánh mắt nghiêm khắc ấy tựa như hai mũi dao nhọn, - Từ giờ trở đi, con đã là người đi thừa tự, phải gọi ta là thúc phụ... thúc phụ...

Viên Đàm vẫn muốn hỏi thêm nhưng chỉ thấy ánh mắt Viên Thiệu lạnh như băng, hai tầng uy nghiêm của phụ thân kiêm chúa công ấy đã đè bẹp những ấm ức trong lòng. Viên Đàm không thể chống lại, mà cũng không dám chống lại, chỉ muốn khóc thật to, nhưng lại không biết nên khóc gọi phụ thân hay là gọi thúc phụ, bèn gỡ tay Viên Thiệu phủ phục xuống đất nghẹn ngào.

Giữa cha với con há có thể thực sự vô tình? Viên Thiệu nhìn mà lòng đau như cắt, nhưng vẫn cắn răng nói:

— Đừng khóc nữa, còn rất nhiều việc phải trông chờ vào các con đấy... Bây giờ con hãy đi lên nhà trên chuẩn bị linh đường, việc đón tiếp khách khứa đến phúng điếu con cũng phải lo liệu. Sau khi xong việc tang cũng không cần phải vội về Thanh Châu, hãy lưu lại Nghiệp Thành bày mưu tính kế giúp em con... đi đi, đi đi... - Nói xong, Viên Thiệu nhắm mắt quay đi, không nhìn lại Viên Đàm nữa. Viên Đàm như bị dội gáo nước lạnh, không đứng lên nổi, phu nhân Lưu thị lập tức gọi mấy kẻ bộc đồng, đỡ Viên Đàm dậy đưa luồn ra ngoài.

Đợi đến khi tiếng khóc tấm tức của Viên Đàm đã xa dần, Viên Thiệu mới chậm rãi mở mắt ra, chuyện đau lòng này xử trí quá tổn thương, khiến ông cảm thấy lòng như lửa đốt, thân thể nặng trĩu, bất kể nhìn ai cũng thấy chập chờn như thành hai bóng, Viên Thiệu biết rõ số trời sắp tận, không thể chậm chạp hơn nữa, vội gọi con trai thứ hai.

Viên Hy mới hơn hai mươi tuổi, tướng mạo vô cùng thanh tú nhưng là người trầm mặc ít nói, hơi có vẻ nhu nhược. Hôm nay thấy cảnh sinh ly tử biệt đã khóc cạn cả nước mắt, run rẩy quỳ xuống bên giường nhưng không thốt lên được câu nào. Viên Thiệu thở dài, nét mặt ôn tồn nói:

— Trong ba anh em, con là khiến ta yên lòng nhất... sau này phải tiếp tục thuận theo đạo hiếu đễ, đối xử tốt với huynh trưởng và tiểu đệ. Phải ghi nhớ để phòng tai họa, nhất thiết không để bọn tiểu nhân gian tà ly gián quan hệ giữa huynh đệ các con. - Câu này của Viên Thiệu ngoài mặt là nói với Viên Hy, nhưng ánh mắt lại nhìn chằm chằm vào Viên Thượng.

— Vâng... - Viên Hy đã khóc không thành tiếng từ nãy giờ.

Việc đã đến đây, không còn gì phải suy nghĩ nữa, người kế thừa đại nghiệp của Viên Thiệu chính là con thứ ba - Viên Thượng. Đám sĩ nhân Hà Bắc đứng đầu là Thẩm Phối thở phào nhẹ nhõm. Bọn Bàng Kỷ, Tuân Thầm thì không phải nói làm gì, phu nhân Lưu thị cũng yên lòng hẳn. Chỉ có Quách Đồ và Tân Bình mặt lạnh như băng - Quách Đồ là sĩ nhân ở Dĩnh Xuyên, xưa nay vốn bất hòa với bọn Thẩm Phối, nhiều năm nay đã ngầm qua lại giúp đỡ Viên Đàm; Tân Bình cũng là người Dĩnh Xuyên như Quách Đồ, quan hệ với những thổ hào bản địa cũng không tốt.

Viên Thiệu không thể đợi thêm được nữa, vội vàng gọi:

— Thượng nhi, con lại đây...

Viên Thượng quỳ giữa Thẩm Phối và Bàng Kỷ, nghe thấy gọi mình thì gạt nước mắt, bò đến trước mặt cha. Y mới vừa hai mươi tuổi, là người có vẻ ngoài giống Viên Thiệu nhất trong số ba người con trai, thường ngày đối xử với mọi người cũng ôn tồn nho nhã, rất có khí chất của con cháu nhà quý tộc. Viên Thiệu chăm chú nhìn Viên Thượng hồi lâu, bỗng nhiên trở nên nghiêm túc, vỗ vai Viên Thượng nói:

— Thi lễ với liệt vị đại nhân đi!

Viên Thượng ban đầu ngớ ra, nhưng lập tức hiểu ý của phụ thân, vội quay lại bái chào tất cả mọi người trên sảnh đường, khiến bọn họ giật mình, Thẩm Phối, Bàng Kỷ vội bước lên đỡ Viên Thượng dậy:

— Chúa công, chúng tôi sao có thể nhận lễ của công tử được!

— Nên nhận chứ. - Viên Thiệu gật gật đầu nói, - Ta quyết định... quyết định... - Ông muốn nói rằng “quyết định giao gia nghiệp và chức vị truyền cho đứa con này, xin chư vị hãy gạt bỏ niềm riêng, dốc sức phụ tá”, nhưng không tài nào nói ra được, cổ họng như bị ai đó bóp nghẹt.

Thẩm Phối, Bàng Kỷ thấy tình cảnh ấy nước mắt lã chã tuôn rơi, quỳ trước mặt Viên Thiệu cất tiếng thề lớn:

— Hoàng thiên hậu thổ thần người cùng chứng giám. Chúng tôi nguyện phụ tá thiếu chủ kế thừa đại nghiệp, nhất định một dạ trung thành quyết không hai lòng!

Những người khác thấy bọn họ đã làm vậy, bất luận là thực lòng hay giả dối chỉ còn cách lũ lượt dập đầu phụ họa theo.

Dù đã nghe rõ thái độ của họ, Viên Thiệu vẫn không thể yên lòng. Không phải ông hoài nghi lòng trung thành của Thẩm Phối, Bàng Kỷ, mà là việc phế trưởng lập ấu vốn trái với lễ pháp, mối quan hệ tế nhị giữa ba đứa con này thực sự khiến ông không thể an tâm! Nhưng Viên Thiệu chỉ có thể quyết định như vậy, lựa chọn Viên Thượng tuyệt nhiên không phải vì thiên vị, mà là ông đã suy nghĩ rất kỹ lưỡng.

Công bằng mà nói Viên Đàm vừa là con trưởng, lại lập được nhiều chiến công, không thể gạt sang một bên được. Nhưng Viên Đàm vốn là người cay nghiệt, vô tình, lại thiếu mưu lược, quan hệ không tốt với nhiều hào tộc ở Hà Bắc, như vậy sẽ gặp trở ngại rất lớn cho con đường sau này. Nguyên tắc thống trị Hà Bắc của Viên Thiệu là trọng dụng hào tộc, hạn chế bách tính, cùng hào tộc cai trị thiên hạ, ra sức xây dựng một trật tự đẳng cấp nghiêm ngặt. Nếu như trận Quan Độ chiến thắng, có địa bàn mới thì lập Viên Đàm lên kế vị cũng được. Nhưng trận đánh ấy Viên Thiệu lại thua, không những tổn thất xương máu mà mâu thuẫn nội bộ cũng bắt đầu nảy sinh. Nhiệm vụ quan trọng nhất từ nay về sau là giữ vững đất đai, khôi phục thực lực, như thế có thể sẽ phải nỗ lực ít nhất ba đến năm năm, hơn nữa cần dựa vào sự hậu thuẫn của các vọng tộc ở đất Hà Bắc này. Viên Đàm vốn có quan hệ không tốt với Thẩm Phối, lòng người không thuận sao có thể chống chọi được với Tào Tháo chứ? Còn con thứ hai Viên Hy, tuy tính tình trung hậu nhưng không có tài cán gì, chọn Viên Hy làm chúa e là sẽ khiến cho đám vọng tộc ở Hà Bắc liều lĩnh lớn mạnh lên, vật cực tất phản, sau này khó bề khống chế. Chọn đi chọn lại, người có thể đảm đương ngôi vị này chỉ còn lại con thứ ba Viên Thượng. Viên Thượng từ nhỏ đã thông minh hơn người, lại biết kính trọng kẻ hiền sĩ, đám hào cường ấy nhân khi Viên Thượng còn ít tuổi có làm chuyện móc nối kiểu như thôn tính đất đai cũng không gây hại gì lắm, với thiên tư của mình lại thêm được rèn luyện, ngày sau Viên Thượng nhất định có thể xử lý được. Chỉ có lập Viên Thượng mới có thể chu toàn cả trong lẫn ngoài, trói chặt cánh hào tộc Hà Bắc vào cỗ xe ngựa của Viên gia.

Nhưng chọn Viên Thượng kế vị có nghĩa là phế trưởng lập ấu, Viên Hy thì không có gì đáng nói, nhưng con trưởng Viên Đàm ở Thanh Châu đã lâu, chẳng những có binh mã lại được Quách Đồ phụ tá, nhất định sẽ không chịu để yên. Huống chi lại còn một đứa cháu là Cao Cán, từ sau khi nắm được Tịnh Châu ngày càng khó chế ngự, nghiễm nhiên lập ra một cõi riêng, bởi vậy tuyệt nhiên không thể gây ra chuyện huynh đệ tương tranh được. Cho nên Viên Thiệu phải cho Viên Đàm ra thừa tự bên ngoài, chặt đứt ưu thế trong quan hệ huyết thống của y, đồng thời cấm chỉ y không được rời khỏi Nghiệp Thành đi nắm quân đội, có như vậy mới tránh được họa từ trong tường vách. Dù mọi đường đi nước bước đã được tính toán chu toàn như vậy, nhưng Viên Thiệu vẫn vô cùng lo lắng, trước mắt thì không vấn đề gì, nhưng ngày sau thế nào ai có thể đoán biết được? Chỉ có thể lo hết việc người, chứ sao biết được mệnh trời, người trí giả lo ngàn việc cũng có một việc hỏng cơ mà...

Nhưng không thể trách ai được, chỉ có thể trách mình hám lợi trước mắt mà bị thua Tào Tháo, đánh mất đi cơ hội hiếm có. Viên Thiệu nghĩ đến đó càng thấy như trời đất quay cuồng, trong ngực như có thứ gì đó chẹn lại, hơi thở đứt quãng. Hé mắt ra nhìn, lại thấy Quách Đồ đang quỳ ở đằng xa, mặt như chàm đổ, muốn gọi lại nhắc nhở mấy câu lại không thốt nên lời, chỉ có thể đưa tay run rẩy chỉ vào ông ta.

Bàng Kỷ vô cùng nhanh nhạy, vội ghé sát tai vào miệng Viên Thiệu, vừa gật đầu vừa vâng dạ, giả vờ như nghe được điều gì, sau rồi quay mặt lại nói lớn:

— Quách Công Tắc, chúa công có lệnh: Thiếu chủ kế vị, thế cục bất ổn, tạm bãi chức Đô đốc của ông, binh mã ở Hà Bắc từ nay giao cho quân sư Thẩm Phổi thống lĩnh!

Quách Đồ thấy hắn ta giả truyền hiệu lệnh, lập tức nổi giận, nhưng quay đầu lại nhìn - không biết từ khi nào, người của Viên Thượng là Lý Phu đã dẫn theo mười mấy tên vệ sĩ mặc giáp trụ canh giữ ở cửa, tên nào tên nấy đao thương lăm lăm, sát khí đằng đằng, nếu có ý chống cự, tính mệnh lập tức sẽ gặp nguy. Quách Đồ giận dữ nhưng không dám nói gì, chỉ còn cách nghiến răng chắp tay nói:

— Thuộc hạ tuân mệnh...

Thẩm Phối đưa tay ra không hề khách sáo:

— Công Tắc, ông giao binh phù ra đây.

Quách Đồ nén giận, lưỡng lự móc tấm hổ phù trong người ra, để vào tay Thẩm Phối. Thẩm Phối cầm lấy đưa lại trước mặt Viên Thiệu, Viên Thiệu đến gật đầu cũng không còn sức nữa, chỉ còn biết chớp chớp mắt - coi như cũng đã yên lòng! Tay ông ta lần sờ đến bên mép giường, nhặt lấy một cái lược nhỏ, cố hết sức đưa đến trước ngực để chải chải chòm râu.

Lưu thị biết tính chồng, dù có chết cũng phải chết cho đàng hoàng, định cầm lấy làm giúp cho ông, nhưng Viên Thiệu nhất định nắm chặt không buông, muốn tự mình làm lấy. Mọi người thấy Viên Thiệu còn gắng gượng như vậy ai nấy lại rơi nước mắt. Viên Thiệu lập cập chải được mấy cái, bỗng nhiên môi run run, khó nhọc nói:

— Đi cả, cả... ra...

Bọn Thẩm Phối nặng nề dập đầu, nhìn chúa công lần cuối rồi nghẹn ngào lui ra. Quách Đồ một bụng phẫn uất, nhưng chuyện Viên Thượng kế vị đã được định đoạt, bây giờ ngay đến binh quyền cũng bị người ta tước mất rồi, chỉ còn biết tức giận giậm chân mà đi ra. Tân Bình cũng là người phản đối việc lập Viên Thượng, một là sau này nhất định ông ta sẽ bị chèn ép, hai là luôn cảm thấy việc phế trưởng lập ấu là hậu họa vô cùng, nhưng việc đã đến nước này dù có muôn vạn lời thì Viên Thiệu cũng không thể nghe theo được. Huống chi, họ Tân vốn có quan hệ thân thích với Tuân Du - quân sư của Tào Tháo, chỉ cần nói lỡ một câu khó mà tránh khỏi bị quy là nội gián, ông ta đành thở dài theo Quách Đồ đi ra. Viên Hy không phải do Lưu thị sinh ra, lại thấy Viên Thượng được kế thừa gia nghiệp, tự biết rằng còn đứng mãi ở đây chỉ thêm vướng víu người khác, đến dũng khí nhìn mặt phụ thân lần cuối cũng không có, run rẩy quỳ lết ra ngoài cửa.

Bên giường Viên Thiệu chỉ còn lại Lưu thị và Viên Thượng, ánh mắt Viên Thiệu nhìn họ vẻ mơ hồ, lại lẩm bẩm nói:

— Đi... ra... - Viên Thượng vẫn còn muốn nói thêm điều gì, nhưng Lưu thị đã nắm chặt lấy con - bà quá hiểu chồng mình, Viên Đại tướng quân vốn tự cao hơn trời, tuyệt nhiên không cho phép bất kỳ ai trông thấy mình qua đời như thế nào, dù là vợ con cũng không được!

Hai mẹ con bỏ những gối tựa sau lưng Viên Thiệu ra, đỡ ông nằm xuống ngay ngắn, rồi vừa khóc lóc vừa lui ra ngoài. Chân còn chưa bước qua ngưỡng cửa, chợt nghe thấy Viên Thiệu lấy hết sức kêu lên một câu cuối cùng:

— Dù gì... cũng không được làm khó Đàm nhi!...

— Dạ! - hai mẹ con Lưu thị nuốt lệ đáp lời, rồi mới lui ra bên ngoài quỳ xuống.

Viên Thiệu lấy hết sức kêu xong, nghe thấy bọn họ đáp lời, cuối cùng chậm rãi nhắm hai mắt lại. Những gì có thể làm được, ông đã làm hết rồi, chuyện sau khi chết thế nào có muốn quản cũng không thể quản nổi, con cháu tự có phúc của con cháu, cứ mặc cho chúng tự bước đi mà thôi!

Con người ta ai cũng cô đơn mà đến, khi đi cũng không ai có thể tiễn được, những giờ khắc cuối cùng vẫn phải dành riêng cho mình. Trong lúc sắp rời xa cõi đời, Viên Thiệu hồi tưởng lại cuộc đời mình, có thể nói là sóng gió trập trùng, một đời anh hùng khí khái nhưng lại kết cục thê lương, ngoại trừ trận chiến bại ở Quan Độ, còn lại không có gì đáng phải hối hận cả. Nói kỹ ra thì sự nghiệp trong đời ông còn vượt qua cả lão tổ tông Viên An - người khai mở gia nghiệp dòng họ, so với lớp cha chú như Viên Thành, Viên Phùng, Viên Ngỗi cũng chẳng thua kém gì. Được rồi, vậy là đã xứng đáng với tổ tông, với dòng họ Viên này rồi.

Viên Thiệu không còn suy nghĩ gì nữa, tình bạn thời niên thiếu, niềm phấn khích kiến công lập nghiệp, tình quân thần phụ tử, tình phu thê... tất cả chưa từng hiện diện trong tâm trí ông một cách chân chính. Trong linh hồn ông chỉ có lòng tự tôn ngoan cố. Viên Thiệu cũng không nhọc sức hít thở nữa, chỉ nằm bất động ở đó, mặc cho nỗi đau đớn của giờ phút cuối cùng giày vò, nhưng ông nằm tựa như một pho tượng thần, cố sức giữ gìn sự cẩn trọng, uy nghiêm của mình. Lòng tự tôn ấy đã có từ khi mới sinh ra, là lòng tự tôn của hậu duệ con nhà quyền quý bốn đời tam công, nó sẽ mãi mãi ở lại cùng Viên Thiệu. Tào Tháo có thể đánh bại Viên Thiệu trên chiến trường, nhưng vĩnh viễn không thể đánh bại lòng cao ngạo của ông. Vĩnh viễn không thể...

Chuẩn bị chiến đấu ở Duyện Châu

Kể từ khi Tào Tháo và Tôn Quyền ngầm đạt được thỏa thuận với nhau, Trương Hoành được triều đình phong chức Cối Kế Đông bộ Đô úy, trở về Giang Đông mang theo sứ mệnh khuyên nhủ Tôn thị quy hàng. Cùng lúc đó, Tôn Quyền cũng nới lỏng những hạn chế, cho phép nhân sĩ lánh nạn ở Giang Đông được trở về quê hương ở phía bắc. Trong số những người ấy, tiếng tăm nhất là Vương Lãng và Hoa Hâm.

Vương Lãng tự Cảnh Hưng, người huyện Diệm, Đông Hải, là môn sinh đắc ý của tiên triều Thái úy Dương Tứ, nổi tiếng là người thông hiểu kinh thư. Trước khi xảy ra loạn lạc, ông ta phụng mệnh Đào Khiêm đến Tây Kinh triều bái thiên tử, được phong làm Thái thú Cối Kê. Lúc Tôn Sách công chiếm Giang Đông ông ta cố thủ chống cự, nhưng rốt cuộc không địch nổi, trên đường trốn chạy đến Giao Châu thì bị Tôn Sách bắt được, tuy không bị xử tử nhưng cả nhà bị giam ở Khúc A, sau đó lại mấy phen lăn lộn, chịu không ít khốn khổ.

Hoa Hâm tự Tử Ngư, người Cao Đường, Bình Nguyên, hai mươi năm trước đã là một nhân vật tên tuổi lẫy lừng. Gia tộc họ Hoa cũng từng sánh ngang với họ Trần ở Dĩnh Xuyên. Thời chiến loạn, ông từng đảm nhiệm chức Thái thú Dự Chương, sau này thế lực Tôn Sách dần lớn mạnh, ông bị bức bách không còn cách nào khác phải dâng thành đầu hàng, từ đó về sau bị anh em họ Tôn lưu giữ dưới trướng, ngoài mặt thì rất được coi trọng, nhưng kỳ thực cũng chỉ là giam lỏng một cách lịch sự.

Hai người này tuổi đều đã ngoài bốn mươi, thoát khỏi Giang Đông đến được Hứa Đô chẳng khác gì được thay da đổi thịt, sống lại một phen vậy. Một số danh sĩ ở kinh thành như Khổng Dung, Hy Lự, Tuân Duyệt đều lũ lượt tới chúc mừng. Tuân lệnh quân lập tức thảo tấu biểu, xin phong cho Vương Lãng làm Gián nghị đại phu, còn Hoa Hâm thì sung chức Nghị lang, hai người phút chốc trở thành những quan viên trọng yếu của triều đình. Nhưng chủ tể thực sự của triều đình là Tào Tháo thì không ở Hứa Đô. Theo đúng lễ nghi hai người còn phải vất vả thêm một chuyến nữa, đến tận huyện Tuấn Nghi, Duyện Châu bái kiến Tào Tháo.

Mạc phủ Trưởng sử Lưu Đại đã sắp xếp mọi việc đâu vào đấy, bố trí hai cỗ xe ngựa đẹp đẽ đưa hai người đến nơi bình an. Dọc đường ăn uống đã có người hầu kẻ hạ, xuống xe ngựa đặt chân lên sân lát đá xanh của huyện nha, trên giày đến một hạt bụi cũng không có. Ở đó lại có Tư không chủ bạ Vương Tất phụ trách tiếp đãi, sai bộc đồng hầu hạ từ tắm rửa đến thay y phục, đồ ăn thức uống thượng hạng bưng đến trước mặt, chỉ còn thiếu nước mớm cho từng miếng mà thôi. Việc sắp đặt chu đáo như vậy khiến hai người cảm thấy có chút không quen, nhưng Tào Tháo thì vẫn chưa thấy bóng dáng đâu cả. Đợi đến tận chiều ngày thứ ba, Vương Tất mới báo cho họ đến gặp Tào Tháo và chuẩn bị hai con ngựa tốt dẫn họ ra khỏi huyện thành.

Ước đi được năm sáu dặm, đại doanh của quân Tào đã hiện ra trước mắt. Nhưng người dẫn đường là Vương Tất vẫn chưa dừng lại, tiếp tục đi vòng qua doanh trại độ ba bốn dặm nữa, đến bên bờ Hồng Câu[5] mới gò cương ngựa. Từ huyện Tuấn Nghi về phía đông là nơi phân nhánh của Hồng Câu, dòng chính thuận thế chảy xuống phía nam, mà nhánh chảy xuống phía đông nam chính là sông Tuy Thủy. Lúc này ở đây vô cùng náo nhiệt, vô số binh lính cởi trần vung xẻng làm việc bên cửa sông, có vẻ đang định đào một con kênh. Vương Tất nhìn hai người Vương, Hoa đang đứng ngây ra, vẫy vẫy tay:

— Hai vị đại nhân, xin mời đi lối này. - Đoạn dẫn theo bọn họ lên một gò đất cây cối um tùm.

Hai người đưa mắt quan sát, xung quanh gò đều có quân sĩ canh phòng, phía trên dựng một căn chòi đơn sơ. Trong chòi có hai người, một người dường như là quan nhỏ, đang cúi mình nâng một tấm da dê chỉ chỉ trỏ trỏ nói gì đó; còn người kia mình mặc áo gấm, nhìn vào tấm da chăm chú lắng nghe - không phải Tào Tháo thì còn ai vào đây nữa? Vương Tất đưa hai người đến gần rồi lễ phép lùi ra. Hai người thấy Tào Tháo đang nghe thuộc hạ bẩm báo, còn do dự không biết có nên quấy rầy hay không, đã thấy Tào Tháo vừa nhìn cuộn da, vừa cất lời:

— Hai vị đại nhân, xin qua đây cùng ngồi.

Hoa Hâm và Vương Lãng đưa mắt nhìn nhau, nếu không hành lễ mà đã vào ngồi e rằng thiếu tôn ti trên dưới, nhưng lại thấy trước mặt Tào Tháo đã bày sẵn hai chiếc ghế, biết là Tào Tháo đã đợi từ lâu, bèn ung dung vào chỗ.

Vị quan đang bẩm báo tuổi còn trẻ, nước da đen bóng, thấy hai nhân vật quan trọng đã đến thì vội vàng ngưng lời xin cáo lui, Tào Tháo bèn nói:

— Ngươi cứ nói hết đi đã.

— Dạ. - Người ấy nói tiếp, - Nếu đào theo sơ đồ này thì con kênh khi hoàn thành có thể thông với Biện Thủy, Tuy Thủy, trăm họ trong vùng đều được hưởng lợi.

Tào Tháo vuốt râu:

— Tính toán của ngươi tuy hay, nhưng con kênh dài như thế, đâu phải ngày một ngày hai có thể làm xong, lão phu còn chưa biết khi nào sẽ phải đi đây. - Tào Tháo đến Duyện Châu mục đích chính là để thu thập lương thảo và nghe ngóng tình hình ở Hà Bắc, nếu có bất kỳ động tĩnh gì, sẽ lập tức đưa quân lên phía bắc.

— Chuyện này cũng không đáng ngại lắm, có thể chiêu mộ bách tính cùng ra công, trên đến huyện Tuấn Nghi, dưới đến huyện Tuy Dương đều phải đi đào, dân chúng các vùng hai bên sông đều huy động hết, chắc chắn không khó để hoàn thành.

— Ờ. - Tào Tháo gật gật đầu, - Ngươi là người thạo việc, tất cả cứ theo như ngươi nói mà làm. Chỉ có điều không được để bách tính vất vả quá. Ta đến để ban ân huệ, chứ không phải để kết oán với họ, thừa chẳng bõ thiếu.

— Dạ. - Người ấy cuộn tấm da dê lại, - Vậy hạ quan xin cáo từ.

— Hãy khoan! Hai vị danh sĩ đương triều đang ở đây, hậu sinh ngươi há có thể không gặp ư? - Tào Tháo cười ha hả, - Để lão phu đích thân giới thiệu cho ngươi. Vị ngồi bên trái kia là Vương Cảnh Hưng đại nhân, là người tài cao hiểu rộng được ca ngợi khắp Giang Đông; còn vị ngồi bên phải này là Hoa Tử Ngư đại nhân, là người thanh cao đức hạnh nổi tiếng ở Dĩnh Xuyên.

Vương Lãng, Hoa Hâm giật mình kinh ngạc - bình sinh hai người chưa từng gặp Tào Tháo, Vương Tất cũng không đến tận nơi giới thiệu, sao Tào Tháo lại biết ai là ai chứ? Hai người ngạc nhiên đến nỗi khi viên quan kia vòng tay thi lễ, hai người họ mải nhìn nhau quên cả nói mấy câu khách sáo.

Tào Tháo biết hai người này không phải tầm thường, nếu chẳng thể hiện chút bản lĩnh tất khó khiến cho họ phục mình. Kỳ thực ngoài mặt thì ông đang xem văn thư, nhưng vẫn luôn đưa mắt quan sát bọn họ. Hoa Hâm là người dâng thành đầu hàng, ở dưới trướng Tôn Sách cũng rất được hậu đãi, không phải lo cơm ăn áo mặc, do vậy mà da dẻ mịn màng, tóc râu bóng mượt, mặt mũi cũng khá béo tốt. Còn Vương Lãng khi thành bị phá chỉ thoát được thân mình, lưu lạc ở Giang Đông phải chịu nhiều hoạn nạn, tuy mấy ngày nay đã được nghỉ ngơi chăm sóc nhưng chân mày khóe mắt vẫn hiện rõ vẻ mệt mỏi, khó nhọc, râu tóc cũng xơ xác đi nhiều. Hai người tuy đều ngoài bốn mươi tuổi, ăn mặc tương tự nhau, nhưng một người từng là thượng khách, một người từng phải lưu lạc, sao lại không phân biệt được chứ!

Vương Lãng không nén nổi tò mò cất tiếng hỏi:

— Dám hỏi Tào công, làm sao ngài có thể biết rõ được hai chúng tôi ai là ai?

Tào Tháo phẩy tay, mỉm cười không đáp - đó là một lớp rèm thưa, chỉ cần chọc nhẹ một cái là rách toạc ngay, nhưng cái ông cần là vẻ cao thâm khó lường. Tào Tháo kéo viên quan trẻ lại nói:

— Hai vị đại nhân, vị này là Hà Đê Yết giả Viên Mẫn, tinh thông thủy lợi, quả là hậu sinh khả úy đấy!

— Ồ, từ lâu đã ngưỡng mộ, ngưỡng mộ! - Hai người Vương, Hoa không hề biết, nhưng cũng phải nói mấy câu khách sáo.

Viên Mẫn vái dài một vái, cười nói:

— Tại hạ còn phải tạ ơn hai vị đại nhân, nhờ phúc của nhị vị, tam ca của tại hạ đang lánh nạn ở Giao Châu đã có thể gửi thư từ đến Hứa Đô được rồi. - Viên Mẫn là em của Viên Hoán. “Viên gia tứ kiệt” là bốn anh em Hoán, Bá, Huy, Mẫn, hiện nay chỉ có lão tam Viên Huy còn ở Giao Châu chưa được đoàn viên. Tào Tháo và Tôn Quyền sau khi thỏa hiệp được với nhau, không những kẻ sĩ lưu lạc ở Giang Đông có thể về bắc, mà thư từ cũng có thể gửi tới được Giao Châu.

Hoa Hâm mỉm cười nho nhã:

— Viên đại nhân quá khen rồi, đó là nhờ sức của Tào công vậy. Chẳng những chúng tôi được về phương bắc, mà ngay cả những bộ hạ cũ của Lưu Tử Đài ở Lư Giang như Lưu Hoa, Tưởng Tế, Thương Từ cũng được thả hết. Phu nhân Vương thị của Lưu Tử Đài cũng được trở về rồi. - Con người Lưu Huân lòng tham vô đáy, nhưng lại có diễm phúc lấy được người vợ tên là Vương Tống, không những là một mỹ nhân nổi tiếng vùng Giang Hoài, mà còn là người hiền thục, đức hạnh, rất được lòng người trong gia tộc.

— Ngươi hãy đi làm việc của mình đi. - Tào Tháo nhắc Viên Mẫn, lại quay ra khách sáo nói, - Hai vị lặn lội đường xa trở về, rồi lại đi đến Tuấn Nghi này, chắc vất vả lắm phải không?

Hoa Hâm khẽ gật đầu:

— Đội ơn Tào công và liệt khanh triều đình quan tâm, dọc đường đi được ăn no mặc ấm, cũng không có gì phải khó nhọc.

Sự thực không được tốt đẹp như những gì ông ta nói. Hoa Hâm dẫu sao cũng được Tôn gia coi là thượng khách, khi ông lên đường còn có các quan lại thân sĩ Giang Đông hơn ngàn người đến tiễn, xe ngựa đầy tớ nườm nượp, tất nhiên không phải khổ sở gì. Nhưng Vương Lãng thì thê thảm hơn nhiều, khi ở Khúc A hay tin, cả nhà lớn bé lúc khởi hành ngay cả ngựa cũng phải đi thuê, con trai ông là Vương Túc chưa đến mười tuổi cũng phải giúp người lớn mang vác hành lý, suốt dọc đường phải chịu không ít vất vả. Nhưng Hoa Hâm đã nói như vậy, Vương Lãng cũng chỉ còn cách gật đầu theo.

Thực ra Tào Tháo cũng biết có sự khác nhau trong đó, bèn vỗ nhẹ lên tay Vương Lãng:

— Hai vị đại nhân hãy an lòng, Hứa Đô tuy nhỏ nhưng cũng có thể bố trí được chỗ ở cho các ngài... - Lại khách khí hồi lâu, Tào Tháo mới nói vào việc chính, - Hai vị đại nhân may mắn trở về đây, nhưng không biết Giang Đông còn nhân vật nào chưa trở về được?

Vương Lãng biết Tào Tháo thế nào cũng hỏi câu ấy, nên đã chuẩn bị trước:

— Huynh đệ Hứa Thiệu, Hứa Tĩnh ở Nhữ Nam vốn cùng tị nạn ở chỗ tôi. Sau đó Hứa Thiệu bị bệnh mà chết, hôm Tôn Sách phá thành, tôi chạy trốn bị bắt lại, còn Hứa Tĩnh thoát được đến Giao Châu, Tào công nên cho mời ông ta trở về triều.

Nhắc đến hai huynh đệ này, Tào Tháo không khỏi muốn bật cười. Năm xưa ông bày mưu bức Hứa Thiệu đến nỗi phải đặt câu phong dao bình phẩm về mình rằng “Tôi giỏi trong đời thịnh, gian hùng trong đời loạn”, khiến cái tên Tào Tháo nổi lên trong đám kẻ sĩ. Hứa Thiệu tuy đã chết, nhưng Hứa Tĩnh há lại không phong thanh nghe được từ chính miệng huynh đệ mình nói rằng Tào Tháo là nhân vật như thế nào? E rằng người này sẽ không quay về đâu. Tào Tháo trong lòng nghĩ như vậy, nhưng ngoài miệng vẫn nói:

— Vậy xin phiền Cảnh Hưng viết giúp một phong thư khuyên ông ấy trở về.

Hoa Hâm nhất cử nhất động đều rất lịch duyệt, vuốt chòm râu dài nói:

— Thực ra còn có hai người rất đáng dùng. Một là Tôn Thiệu, tự Trường Tự, là nhân sĩ ở Bắc Hải. Khi Khổng Văn Cử nhận chức Bắc Hải tướng, ông ta từng làm công tào ở đó. Còn người kia là Thịnh Hiến, tự Hiếu Chương, trước đây từng nhận chức Thái thú Ngô Quận, ông ta tuy là nhân sĩ Cối Kê nhưng lại bất hòa với anh em họ Tôn, cũng là chỗ bằng hữu chí thân với Khổng Văn Cử.

— Ồ, có thể sẽ phải suy xét. - Tào Tháo đã nghe rõ ràng, hai người kia dường như còn có quan hệ thân thiết với Khổng Dung hơn cả Hoa Hâm, Vương Lãng. Tào Tháo thường chỉ coi Khổng Dung là một chiêu bài của mình nhằm chiêu hiền nạp sĩ, chứ không hy vọng ông ta có thể thực sự làm được việc.

Vương Lãng không hiểu nội tình, lại nói tiếp:

— Tôi ở Hứa Đô được mấy ngày nhưng thấy cảm xúc rất sâu sắc, bạn cũ gặp lại, cùng bàn thế sự thật là thích thú. Văn Cử huynh có nói với chúng tôi, triều đình đang lúc cần dùng người, hy vọng chúng tôi có thể cùng tham gia triều chính, sửa sang phong hóa. Chúng tôi tuy không có tài cầm quân, nhưng cũng có thể nắm giữ việc phong hóa chứ?

— Đúng vậy. - Hoa Hâm hồ hởi gật đầu, mặt lộ vẻ đắc ý.

Tào Tháo cười nhạt, đột nhiên quay lại chỉ tay ra phía sau gò đất nói:

— Xin hai vị nhìn xem, trong đám cỏ cây um tùm kia có ba ngôi mộ.

Hai người Vương, Hoa nhìn theo hướng tay Tào Tháo chỉ, quả nhiên có ba ngôi mộ nhỏ, trên mộ cỏ mọc um tùm, phía trước chỉ có tấm bia đá thấp, nét chữ đã mòn khó nhận ra được, trong đó một tấm bia đã bị vỡ. Vương Lãng thấy vô cùng khó hiểu:

— Tào công bảo chúng tôi xem nấm mồ hoang ấy để làm gì? Lẽ nào ngài biết ai chôn ở đó ư?

— Tất nhiên là biết. - Tào Tháo nói nhỏ, - Ngôi mộ bia gãy nằm ở giữa chính là mộ của Biên Nhượng, tự Văn Lễ - nhân vật tiếng tăm lừng lẫy ở huyện Tuấn Nghi này. Hai bên trái phải là mộ của Viên Trung, tự Trọng Phủ và Hoàn Thiệu, tự Văn Lâm.

Hai người Vương, Hoa nghe thấy vậy đều sợ toát mồ hôi lạnh, toàn thân như mềm nhũn ra. Năm xưa Tào Tháo làm Thứ sử Duyện Châu, đã giết hại ba vị danh sĩ là Biên Nhượng, Viên Trung, Hoàn Thiệu, lại tàn sát cả nhà họ, chuyện này được lan truyền ầm ĩ, thiên hạ không ai không biết, chẳng ai không hay. Nào ngờ bao nhiêu năm đã trôi qua, vậy mà ông ta vẫn không hề có chút hối hận nào, lại còn ngồi ngay bên cạnh chỗ cô hồn oan khuất mà trò chuyện như không. Hai người thoáng chốc hiểu ra ngay, Tào Tháo rõ ràng có dụng ý rằng chỉ cần có nửa lời chống đối và phỉ báng ông ta thì kết cục cũng chẳng khác gì bọn Biên Nhượng. Dưới tình thế như vậy, còn nói gì đến chuyện tham gia triều chính, sửa sang phong hóa đây?

Tào Tháo thấy hai người lộ rõ vẻ sợ hãi thì vô cùng đắc ý: “Đại sự triều đình đều ở tay ta mà ra, những người khác chỉ nên ai lo phận nấy, ca tụng tán dương là đủ, không cần phải bàn bạc đúng sai, bình luận đầu cuối”. Những nhân sĩ như Hoa Hâm, Vương Lãng đều có cái tật là hay châm biếm, đả kích chính trị đương thời, điều ấy rất bất lợi cho chính sách cai trị của Tào Tháo. Có một Khổng Dung đã đủ lắm rồi, không thể có thêm kẻ thứ hai nữa.

Hoa Hâm nín lặng hồi lâu rồi lập tức lấy lại vẻ bình thường, vẻ mặt hòa nhã nói:

Kinh Thi có câu: “Chiến chiến căng căng, như lâm thâm uyên, như lý bạc băng”,[6] kẻ quân tử nếu có thể cẩn thận đến từng việc nhỏ, sao đến nỗi phải nước mất nhà tan? Do đó mà xem, ba người bọn Biên, Viên, Hoàn cũng chẳng phải là mười phần quân tử vậy.

Vương Lãng liếc nhìn Hoa Hâm, trịnh trọng nói:

— Lý trong thiên hạ nhiều chỗ biến thông. Quân tử thận trọng hành vi thực sự không sai. Nhưng câu: “Quân tử thảng đương đương, tiểu nhân thường thích thích”,[7] lại là nói cho ai nghe đây? Xin Tào công thứ cho tại hạ bạo miệng nói một câu, ba người này tuy tự chuốc lấy cái chết, nhưng tình cũng đáng thương.

Tào Tháo mỉm cười, trong lòng đã rõ. Hoa Hâm đúng là kẻ giảo hoạt, rất khéo đưa đẩy, gió chiều nào che chiều nấy, thực ra từ việc ông ta đầu hàng Tôn Sách mà nhận được nhiều hậu đãi là có thể thấy rõ. Còn Vương Lãng rốt cuộc đã từng đấu với Tôn Sách một trận, phong thái cứng cỏi hơn, học vấn cũng không kém. Nghĩ đến đó, Tào Tháo lại bảo:

— Cảnh Hưng nói cũng phải, ba người này cũng có chút tài hoa, ta không hề quên điều ấy. Biên Nhượng có một môn sinh tên gọi Dương Tuấn, là nhân sĩ quận Hà Nội, lão phu vẫn cho mời vào phủ làm duyện thuộc. Lại còn mấy ngày trước, tộc đệ của ta là Tào Hồng cũng muốn mời một người ở vùng này tên gọi Nguyễn Vũ ra làm thư tá, bị người ấy thẳng thừng cự tuyệt, ta cũng không hề giận. Ông ta nếu không muốn dốc sức cho đám võ phu thì ta sẽ cho mời đến phủ của ta, ở đó cũng có thể coi như được trổ hết tài của mình. Ta vẫn nhớ khi Hiếu Linh Đế còn ở ngôi, dân gian có truyền câu ca rằng: “Bạch cái tiểu xa hà diên diên, Hà Gian lai hòa hiệp”,[8] Quang lộc đại phu Lưu Thúc tiến cử Hiếu Linh Đế kế vị, Đậu Vũ và hoạn quan Hầu Lãm nghe theo. Sau đó Hầu Lãm giết hại Lưu Thúc, bá quan trong triều chẳng ai không phẫn nộ, vì thế lại mời em của Lưu Thúc là Lưu Cáp vào kinh nhận chức quan cao, dư luận trên dưới từ đó đều hài hòa, an thỏa.

“Hoạn quan khi xưa dùng việc giết chóc để trừ khử những người không theo mình, đem lời mời mọc mua chuộc lòng người, lẽ nào triều đình hiện nay cũng đi theo con đường ấy?” Trong khi hai người đang suy nghĩ, chợt thấy có tiếng vấn an, Thứ sử Duyện Châu Tiết Đễ dẫn theo một viên tòng sự đã đến dưới gò.

Đầu óc Tào Tháo thay đổi rất nhanh, đang bàn những chuyện huyền cơ với bậc túc nho, vừa trông thấy Tiết Đễ đã nghĩ ngay tới công việc:

— Hiếu Uy đấy hả, việc điều động quân lương làm đến đâu rồi?

Tiết Đễ nói với vẻ đắc ý:

— Số lương thực cuối cùng từ huyện Đông Bình cũng đã chuyển đến rồi. Lương thực cho các bộ ở Duyện Châu đều đã đầy đủ.

— Ồ! Nhanh quá nhỉ! - Tào Tháo rất vừa ý, - Nhậm Tuấn mấy hôm nay sức khỏe không tốt, đã khiến ngươi phải vất vả rồi. - Điển nông Trung lang tướng Nhậm Tuấn là muội phu của Tào Tháo, chuyên lo việc đôn đốc lương thảo, lần này ông ta bị ốm khiến công việc gặp không ít phiền hà.

Tiết Đễ kéo viên tòng sự đứng bên cạnh nói:

— Không dám giấu minh công, việc điều động quân lương lần này là nhờ công sức của người này đấy ạ.

Tào Tháo nhìn kỹ, người đó mới độ hơn hai mươi tuổi, mày rậm mắt to, thân hình cao lớn, dáng vẻ tuấn tú, không ngăn được niềm yêu mến, liền cười hỏi:

— Tiểu tử ngươi tên gì? Làm chức quan nào?

Người ấy quỳ xuống bẩm:

— Tại hạ là Đổng Tự ở Trần Lưu, được triều đình tin dùng, nhờ ân điển của Tào công và đề bạt của Tiết châu tướng, tại hạ hiện làm Tòng sự Duyện Châu.

Tào Tháo thấy y không những khôi ngô, giỏi việc mà lại khéo ăn nói thì vô cùng hài lòng:

— Chớ có dốc sức làm cho Tiết Đễ nữa, ta phong cho ngươi làm Điển nông Đô úy.

— Đa tạ Tào công. - Đổng Tự đúng là không khách sáo.

— Chớ có tự kiêu. - Tào Tháo nhắc nhở, - Trước đây Táo Chi có công trong việc đồn điền ở Duyện Châu, tiếc rằng trời không cho thọ. Sau này công việc ở đây ngươi phải kế tục ông ấy mà làm cho tốt. Nhậm Tuấn đang bị ốm, không được quấy rầy ông ấy tĩnh dưỡng. Lần này xuất binh lão phu lệnh cho Lý Điển, Trình Dục giám sát áp tải quân lương, ngươi hãy trực tiếp làm việc với họ.

Tiết Đễ nói chen vào:

— Lý Điển vẫn chưa về.

Tào Tháo đến Duyện Châu lần này cũng phải an ủi bách tính, điếu tế những người đã mất, nên đã sai sứ giả đến huyện Bình Dương tế tự Bào Tín, đến huyện Kỷ Ngô tế tự Điển Vi, đều dùng lễ thiêu lao. Con của Vệ Tư là Vệ Trân làm thuộc lại dưới trướng Hạ Hầu Đôn, cũng cho về Tương Ấp tế cha. Lý Điển cũng về quê tế tự bọn Lý Càn, Lý Chỉnh, nhà ông ta ở quận Sơn Dương, xa hơn tất cả những người khác.

— Nếu vậy hãy đợi ông ta về rồi tính. - Tào Tháo ra hiệu cho bọn họ lui ra, nhưng chợt nhớ ra điều gì, - Hãy khoan!

— Tào công còn có việc gì dặn dò? - Tiết Đễ quay trở lại.

— Bào Tín một đời trung dũng, chết thực là đáng tiếc. Ngươi hãy viết một bản tấu chương đưa đến Hứa Đô để Lệnh quân phong tước hầu cho con trai ông ấy, phải từ cấp Đình hầu trở lên. Ngoài ra Điển Vi cũng có một con trai, mới đi học chưa lâu, tên là... là...

— Điển Mân. - Tiết Đễ nhắc, - Đứa bé này vẫn còn nhỏ tuổi.

— Không cần biết bao nhiêu tuổi, cũng nhắc Lệnh quân quan tâm một chút. Cho vào Thái học làm đồng tử lang, sau này dần chỉ bảo thêm. - Tào Tháo nói xong quay sang nhìn Vương Lãng, Hoa Hâm đầy dụng ý - Phụ thân của chúng lúc sinh tiền đều ra sức vì lão phu, tất nhiên ta không thể để chúng thiệt thòi được.

Hai người Vương, Hoa trông thấy nãy giờ coi như đã hiểu rõ. Cục thế của triều đình hoàn toàn không đơn giản như Khổng Dung tưởng, hiện giờ Tào Tháo không phải chịu bất cứ sự ràng buộc nào. Một tên Tòng sự nhỏ mọn chỉ cần được Tào Tháo yêu mến là có thể thăng lên chức Đô úy, tước hầu khắp thiên hạ của nhà Hán đều do ông ta phong, kể cả trường Thái học cũng có thể tùy ý nhét người vào. Nói ngắn gọn một câu: Ai tốt với họ Tào kẻ đó có thể thăng quan phát tài, còn ngược lại giống như bọn Biên Nhượng kia, có tài nhưng không để cho Tào Tháo sử dụng, chỉ có giết bỏ chứ chẳng để cho ai dùng cả.

Tất cả đều đã rõ ràng, còn gì để nói nữa đây? Hoa Hâm dè dặt mỉm cười không nói, Vương Lãng hai mắt trống rỗng không thốt nên lời. Tào Tháo thấy bọn họ đã chịu phục rồi, liền thu lại câu nói của mình:

— Hai vị cũng không cần phải lo lắng quá, triều đình trăm công ngàn việc, những việc cần làm rất nhiều. Hôm trước Tuân Lệnh quân trong thư có nói, phép tô thuế ở địa phương chưa ổn, đó chính là việc lớn trong tài chính. Lại còn Chung Do cũng đang nghĩ cách để an định Quan Trung, đó cũng là việc liên quan đến đại cục. Hai vị đại nhân sau khi trở về xin hãy tham mưu giúp họ, lão phu đánh trận ở ngoài, chuyện trong triều xin trông mong cả vào chư vị.

— Đội ơn Tào công tin tưởng. - Hoa Hâm bị Tôn Sách khống chế nhiều năm nên cũng có kinh nghiệm, đứng dậy vái tạ nói, - Sách Trung Dung có câu: “Quân tử tố kỳ vị nhi hành, bất nguyện hô kỳ ngoại.”[9] Chúng tôi sẽ dốc sức vì triều đình, còn những chuyện khác không hỏi tới thì thôi.

— Hoa đại nhân không hổ là bậc quân tử khiêm cung, tốt lắm. - Tào Tháo gật đầu đắc ý.

Vương Lãng cũng đứng dậy cáo từ:

— Tào công còn bận việc quân, chúng tôi không tiện quấy rầy thêm, xin được mau chóng trở về giúp lo việc chính sự, bày mưu tính kế cho Tuân Lệnh quân.

— Tốt lắm. Việc đào kênh trị thủy ở đây đang gấp rút, thứ lỗi cho lão phu không tiễn xa được.

— Không dám, không dám... - Hoa Hâm và Vương Lãng dắt tay nhau, chao đảo như đi trên mây xuống dưới chân gò.

Tào Tháo nhìn theo bóng bọn họ, trong lòng cười thầm - cung kính nhún nhường, có lợi cũng có hại, dùng được thì có thể khiến thiên hạ quy tâm, còn dùng không được cũng sẽ có lời chê bai phỉ báng. Qua lần nhắc nhở này, bọn họ chắc hẳn sẽ không dám a dua theo chân Khổng Dung nữa.

Tào Tháo còn đang lơ đãng, chợt thấy Quách Gia và Tuân Diễn hớt hải chạy lại. Quách Gia còn tuổi trẻ, chạy trước vui mừng nhảy cẫng lên, còn Tuân Diễn tuổi đã cao, chỉ hổn hển phía sau, chạy không kịp thở - không biết chuyện gì mà khiến cho lão già vốn xưa nay trầm tĩnh lại vội vàng như thế? Tào Tháo chợt có một dự cảm kỳ lạ, vội đứng vụt dậy:

— Viên Thiệu có chuyện rồi hả?

— Chúc mừng Tào công! Chúc mừng Tào công! - Quách Gia vui mừng hớn hở nhảy lên gò, - Vừa mới nhận được tin, Viên Thiệu đã chết rồi!

— Vậy ư... - Tào Tháo đột nhiên thư thái trong lòng, nhưng không hiểu vì sao ngay sau sự thư thái đó lại là một nỗi buồn thảm, hụt hẫng mơ hồ.

Quách Gia cười tươi như hoa:

— Đích xác rồi! Hơn nữa quân Liêu ở Hà Bắc lại phế trưởng lập ấu, đưa con thứ ba của Viên Thiệu là Viên Thượng lên kế thừa ngôi vị Đại tướng quân. Tên nhãi ranh chưa từng trải qua đại sự ấy há lại là đối thủ của Tào công? Ha ha ha!...

Tào Tháo thảng thốt nhìn mãi ra xa, không còn nghe thêm được câu nào nữa; nét mặt, giọng nói và nụ cười của Viên Thiệu thời trẻ dường như hiện rõ trên mặt sông đang cuồn cuộn. Tuân Diễn mãi lâu sau mới hổn hển chạy tới nơi:

— Viên... Viên Thiệu... chết...

Quách Gia vỗ vai ông ta nói:

— Tại hạ đã nói cả rồi, ngài cứ nghỉ ngơi đi đã.

Tuân Diễn vừa ngồi xuống, lừ mắt nhìn Quách Gia:

— Tiểu tử ngươi... - Tuân gia có một chút quan hệ ở Hà Bắc, tin này là do ông ta biết được, nhưng lại để cho Quách Gia nghe được rồi giành trước mất.

Tào Tháo bóp bóp chân mày định thần lại, tựa như không thấy hứng thú gì, lạnh lùng nói:

— Trước khi xuất binh, còn một việc cần phải làm.

— Tại hạ biết! - Quách Gia buột miệng nói luôn, - Phải giải quyết Thái thú Quảng Lăng Trần Đăng! - Quách Gia như đi guốc trong bụng Tào Tháo vậy.

Tuân Diễn lại nói:

— Trần Nguyên Long cai trị Quảng Lăng nào có lỗi lầm gì đâu?

Tào Tháo không biết phải trả lời ra sao, Trần Đăng đúng là không có lỗi lầm gì, nhưng ông ta khiến người khác không yên tâm. Trước đây Trần Đăng từng phản bội Lã Bố, lại rất thân thiết với Lưu Bị, hơn nữa còn được bách tính Quảng Lăng ủng hộ, quan trọng hơn cả là ông ta nắm trong tay một lượng lớn binh mã. Kẻ có dã tâm, có mưu trí, có danh vọng, có binh mã như vậy há có thể không đề phòng ư? Bây giờ nếu dẫn đại quân bắc phạt, vạn nhất Trần Đăng làm phản sau lưng thì không hay.

Quách Gia biết Tào Tháo ngại nói ra, bèn thay ông giải thích với Tuân Diễn:

— Sau nhà chất đống rơm khô, tuy chưa chắc đã cháy nhưng vẫn phải đề phòng chứ.

Đều là những người sáng suốt, chỉ cần chút gợi ý là hiểu rõ sự tình. Tuân Diễn gật đầu, nét mặt vẫn lộ vẻ lo lắng:

— Nhưng Trần Đăng không dễ đụng vào đâu, trước đây Lệnh quân muốn điều ông ta vào kinh, mà bách tính ở Quảng Lăng chút nữa đã dâng biểu toàn dân!

Tào Tháo đã có chủ ý:

— Đổi một dải huyện Đông Thành thành quận Đông Thành, chuyển Trần Đăng đi làm Thái thú Đông Thành, điều ông ta rời khỏi Quảng Lăng. Ngoài ra, Trần Kiều, Từ Tuyên là hai cánh tay đắc lực của ông ta, hãy cho Mao Giới biết sự tình, trưng vời hai người này vào làm duyện thuộc trong mạc phủ, cắt bỏ hai cánh tay của ông ta đi.

Quách Gia nhắc nhở:

— Thứ sử Nghiêm Tượng trước đây đã chết, nếu lại điều Trần Đăng đi nơi khác, vẫn phải chọn một người để đề phòng họ Tôn, mà chức Thứ sử Dương Châu cũng vẫn còn khuyết...

Nhắc đến Thứ sử Dương Châu Nghiêm Tượng trước đây, Tào Tháo rất không vừa ý với người này. Từ khi ông ta nhận chức ở Dương Châu đến nay, dường như đã bắt cá hai tay, một đằng thì ca tụng công đức của triều đình, một đằng khác lại khom lưng uốn gối trước họ Tôn, thực sự không xứng đáng với chức vị được giao. Cuối cùng ông ta chết dưới tay Lý Thuật ở Lư Giang, Tào Tháo vẫn cho rằng ông ta tội đáng bị như vậy, nhưng nể mặt ông ta là người được Tuân Úc tiến cử nên không tiện nói ra. Bây giờ chọn người thay thế tiếp quản, phải lựa chọn kỹ mới được. Tào Tháo nhắm mắt trầm tư, điểm lại trong đầu những người đã từng làm duyện thuộc trong mạc phủ, hồi lâu mới nói:

— Lưu Phức từng lánh nạn ở Dương Châu, khuyên được bộ bạ của Viên Thuật đi theo ta, người này rất mực trung thành với triều đình, hơn nữa lại là người huyện Tương, Bái Quốc, có chút đồng hương với lão phu. Hãy cho ông ta tiếp nhận chức Thứ sử Dương Châu vậy... Hữu Nhược huynh, bây giờ huynh hãy viết một lá thư cho Lệnh quân để ông ấy làm mấy việc này.

— Dạ. - Tuân Diễn vừa thở được lại bình thường, lại vâng mệnh xuống núi.

— Hỏa tốc gửi thư đến Từ Châu, sai Tang Bá, Tôn Quan, Doãn Lễ tiếp tục đánh Thanh Châu, khống chế binh lực của kẻ địch. Lại lệnh cho Chung Do theo dõi nghiêm ngặt động tĩnh của Cao Cán ở Tịnh Châu, có gì bất thường phải báo ngay đến trung quân. - Trong đầu Tào Tháo đã tính toán từ lâu, khi thời cơ đến là quân lệnh được ban ra liên tục không ngừng, - Hiểu dụ cho ba quân, trừ những ai đang đào kênh trị thủy ra, nhất loạt chuẩn bị hành lý, sáng sớm ngày mai giờ Mão điểm danh, giờ Thìn đại quân xuất phát. Bộ quân của Hạ Hầu Đôn quay về Hứa Đô canh phòng, các đội quân xa gần khác không cần phải đến đây tập kết, tất cả nhanh chóng đến tập hợp ở Quan Độ. Lệnh cho Trình Dục áp tải lương thảo đến Quan Độ trước, Lý Điển sau khi trở về, hỏa tốc đuổi theo.

Tào Tháo nói một câu, Quách Gia lại gập một đầu ngón tay, rồi nhẩm lại một lượt, cuối cùng chắp tay nói:

— Xin chúa công an lòng, thuộc hạ lập tức sắp đặt năm đạo quân lệnh này!

— Ngươi nhớ tài lắm, mau đi đi! - Tào Tháo đưa tay vẫy Hứa Chử ở dưới gò, - Trọng Khang sắp xếp hành lý giúp ta, sai một số thân binh hộ tống gia quyến về Hứa Đô, đánh trận không dùng đến bọn họ được.

Hứa Chử định dặn dò mấy bộc đồng đi làm, Tào Tháo bèn nói:

— Ngươi cũng lui đi, lão phu muốn yên tĩnh một mình.

Mọi người đều đi cả rồi, chỉ còn một mình Tào Tháo đứng lặng trên gò cao. Bao nhiêu ân oán giữa ông với Viên Thiệu giờ đã tan như mây khói, giờ đây chỉ còn lại nỗi hoài niệm về người bằng hữu cũ. Ông lờ mờ cảm thấy, kỳ thực mình hoàn toàn chưa đánh bại được Viên Thiệu, tính cách cao ngạo của Viên Thiệu dường như vĩnh viễn không thể đánh bại. Nếu luận về thực lực hai quân giao chiến trên sa trường, Tào Tháo tuyệt đối không thua Viên Thiệu, nhưng nếu luận về kết giao phong nhã, lôi kéo danh sĩ trong thiên hạ, thì dù Tào Tháo có lôi lên một vị thiên tử bù nhìn cũng chỉ có thể ngang tài ngang sức với Viên Bản Sơ mà thôi. Cho đến hôm nay, Tào Tháo vẫn rất để ý đến chuyện mình là “giống xấu xa của hoạn quan để lại”, còn Viên Thiệu dù nằm dưới ba tấc đất thì vẫn mang theo vòng hào quang đẹp đẽ “bốn đời tam công”. Người trong thế gian đều có một cái đầu, hai con mắt, mà sao dấu ấn thân phận, địa vị lại sâu sắc đến như vậy?

Tào Tháo hồi tưởng những chuyện đã qua, đến tận khi ánh chiều tà đã buông xuống mà lòng vẫn mãi không nguôi...

❀ ❀ ❀

[1] Trích lời dịch thơ của dịch giả Châu Hải Đường trong bài Thiện tai hành của Tào Tháo, xin xem thêm Tào Tháo: Thánh nhân đê tiện, tập 3.

[2] Câu này trích trong sách Nghi lễ - Tang phục - Tử Hạ truyện có nghĩa là: Người phụ nữ khi chưa lấy chồng thì theo cha, đã xuất giá thì theo chồng, còn chồng chết thì theo con.

[3] Chỉ chế độ cha truyền con nối, đế vương coi đất nước là tài sản của gia đình mình để truyền nối từ đời này sang đời khác, nên mới có chuyện một nhà độc bá thiên hạ.

[4] Chỉ việc ba nhà Hàn, Triệu, Ngụy cuối thời Xuân Thu, thường được gọi chung là Tam Tấn, vốn là quan đại phu nhưng thế lực đã vượt qua vua Tấn. Trên thực tế, ba nhà đã nắm quyền tự quyết, không còn nghe theo mệnh lệnh hay cần tới danh nghĩa của vua Tấn. Năm 403 trước Công nguyên, Chu Uy Liệt Vương chính thức công nhận ba nhà Hàn, Triệu, Ngụy làm chư hầu.

[5] Năm 386 trước Công nguyên, họ Điền được thiên tử nhà Chu thừa nhận là chư hầu, gọi là Điền Tề để phân biệt với dòng Khương Tề. Tề Khang Công bị Điền Hòa đày ra gần bờ biển phía đông, mất toàn bộ đất đai nước Tề. Họ Điền chính thức thay họ Khương làm vua nước Tề, Khương Tề chính thức bị diệt. Theo Trúc thư kỷ niên, chuyện xảy ra vào khoảng năm 356 - 350 trước Công nguyên, Dịch Thành Quân là hậu duệ của Tống Đài công, bề tôi của Tống Hoàn Công, vốn được nhận mệnh làm Tư thành nước Tống, nhưng về sau do Tống Hoàn Công hoang dâm vô độ, nên ông đã cướp ngôi, tự xưng làm vua, tức Tống Dịch Thành Quân. Tam Hoàn chỉ họ Mạnh Tôn (con cháu Cơ Khánh Phủ ở đất Thành), Thúc Tôn (con cháu Cơ Thúc Nha ở đất Hậu) và Quý Tôn (con cháu Cơ Quý Hữu ở đất Phí), do ba họ đều là hậu duệ của Lỗ Hoàn Công, nên được gọi là “tam Hoàn”. Từ thời Lỗ Hy Công, chính trị nước Lỗ bị chia sẻ bởi ba thế lực này. Dương Hổ hay còn gọi là Dương Hóa, vốn mang họ Cơ, người nước Lỗ, là gia thần của Quý Tôn thị, cuối thời Xuân Thu. Dương Hổ lấn át Quý Tôn thị, dần dần nắm quyền chính nước Lỗ, mở đầu hiện tượng bồi thần chấp chính. Ông ta câu kết với gia thần của nhà Thúc Tôn thị, định làm một cuộc chính biến áp chế tam Hoàn, song bị thất bại, phải lưu lạc bên ngoài nước Lỗ.

[6] Thôi ân lệnh là một trong những pháp lệnh quan trọng nhằm giảm bớt đất phong của chư hầu, làm suy yếu phạm vi thế lực của chư hầu. Nội dung chủ yếu là nếu như trước đây vua chư hầu chỉ có thể đem đất phong và tước vị truyền lại cho con trưởng, thì nay cho phép vua chư hầu chia đất phong thành nhiều phần để truyền lại cho những người con khác, hình thành các nước chư hầu và vương quốc nhỏ trực thuộc chính quyền trung ương, từ đó đạt được hiệu quả làm phân hóa và suy yếu thế lực của các nước chư hầu.

[7] Toán mân là một loại thuế thu nhập mà Hán Vũ đế dùng để chưng thu của thương nhân, đem những tài vật mà các chủ thương nghiệp và những người cho vay nặng lãi vơ vét của nông dần thu về triều đình, đây được coi là hoạt động kiềm chế thương nhân có quy mô lớn trong lịch sử. Vừa tăng thu nhập cho quốc gia, vừa đả kích tàn dư của chế độ nô lệ, lại dễ dàng thôn tính đất đai, có lợi trong việc củng cố cơ sở của nền kinh tế phong kiến, nhưng đồng thời cũng trì hoãn sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa.

[8] Sùng Chu phục cổ: tôn sùng điển chế của nhà Chu, khôi phục văn minh cổ xưa.

[9] Vương điền tư thuộc chỉ những cải cách về ruộng đất và nô tỳ dưới thời Tân Mãng. Vào năm niên hiệu Thủy Kiến Quốc thứ nhất (năm 9 sau Công nguyên), Vương Mãng ban sắc lệnh tuyên bố ruộng đất trong thiên hạ thuộc quyền sở hữu của triều đình, gọi là vương điền, và coi nô tỳ là tư thuộc, đều không được phép mua bán.

g Hộc, đều là những nét bút mà những kẻ đọc sách tranh nhau sưu tầm, học theo, những người bình thường tốn công nhọc kế cũng không xin được, hôm nay Chung Do lại chủ động đề tặng. Nhưng Đinh Nghi không những không vui, trái lại mặt mày thất
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Vương Hiểu Lỗi

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.