Bất ngờ gặp hổ điên

Tào Tháo - Thánh Nhân Đê Tiện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 354 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi Thứ 50
Cướp Lại Dự Châu Từ Tay Giặc Khăn Vàng

❊ ❊ ❊

Đại quân của Tào Tháo thừa thắng di chuyển xuống phía Nam nên giặc Khăn Vàng ở Dự Châu chẳng cần đánh cũng tự nhiên tan rã. Tào Nhân, Vu Cấm, Nhạc Tiến, ba lộ binh mã khí thế hùng mạnh, binh lính thành trì quẳng giáo xin hàng vô số, duy chỉ có Lưu Tịch là ngoan cố chống cự. Trong khi đó, Viên Thuật dường chẳng có ý đem binh cứu viện Dự Châu, chỉ mải tranh đoạt Từ Châu cùng Lưu Bị, đến nỗi bộ hạ của Thuật là Viên Tự đánh chưa xong một trận đã phải hàng Tào Tháo. Trước tình thế ấy, Lưu Tịch rơi vào thế bị cô lập không có cứu viện, từ đầu đến cuối bị quân chủ lực của Tào Tháo truy kích, phải trốn chạy về sào huyệt khởi sự khi xưa: Cát Pha, Tân Thái huyện.

Cát Pha chính là căn cơ của giặc Khăn Vàng ở Dự Châu, hồ lớn này phía trên nối tiếp từ Đồng Thủy[1], phía đông thông với Hoài Hà, chu vi tới ba mươi dặm, bốn phía gò dốc trập trùng hiểm yếu. Nhưng trên hòn đảo giữa hồ lại chứa một lượng lớn lương thực mà hơn nửa là vơ vét được từ Dự Châu, đủ cho quân chiếm đóng ăn trong vòng hai năm, thậm chí cả gia thân quyến thuộc của họ cũng ăn ở tại đó. Quân Khăn Vàng để bảo vệ nơi này mà xây thành đắp lũy dọc theo ven hồ, lớn nhỏ vô số, quân binh canh phòng tới hơn vạn người.

Bấy lâu nay Tào Tháo vẫn luôn đau đầu vì đất ấy, nếu cứ cố chạy dọc doanh lũy mà công phá thì chẳng biết còn bao nhiêu nhân mạng nữa phải chịu thương vong? Hơn nữa trong tay quân Khăn Vàng còn có thuyền nhỏ, lương thảo lúc nào cũng có thể cấp phát, ngược lại phía Tào Tháo phải vận lương từ Dĩnh châu tới, nếu cứ kéo dài tình trạng này sẽ chịu hao tổn nhiều, hết lương thực trước chắc chắn là quân Tào rồi. Nhưng nếu không chiếm được nơi này, sau này Lưu Tịch nhất định sẽ quay trở lại, gốc rễ loạn Khăn Vàng ở Dự Châu vĩnh viễn không thể trừ sạch. Tào Tháo chỉ còn cách tạm đóng doanh hạ trại mà không dám manh động khiêu chiến, đành đợi bọn Tào Nhân, Vu Cấm, Nhạc Tiến ba lộ binh mã cùng tới rồi thương nghị.

Lúc này trong trướng trung quân im phăng phắc, không ai dám nói năng gì. Bọn Hạ Hầu Uyên, Tào Hồng mất đâu vẻ kiêu dũng thường ngày, bọn Tuân Úc, Trình Dục vốn thần cơ diệu toán cũng chẳng dám manh động lên tiếng, đến cả thường ngày hay cười nói như Biện Bỉnh đều không dám ho he trêu chọc gì. Thấy đánh nhau cầm cự đã đến bước này, thảy không ai còn tinh thần gì nữa, mọi người lo lắng một thì Tào Tháo lo lắng mười. Lần xuất binh này Tháo còn đưa cả vợ con đi theo, hai vị phu nhân Hoàn thị và Tần thị trong hậu doanh đều đang có mang, nhất là Tần thị sắp sinh đến nơi, nếu lại cứ tiếp tục thế này, lẽ nào phải sinh nở trong quân doanh sao? Mặt khác, Vương Tất đi An Ấp dâng biểu đã hơn một tháng tới giờ vẫn chưa thấy về, chẳng lẽ triều đình đã xảy ra biến cố gì? Còn nữa, Lương vương tử Lưu Phục từ khi quy phục đi theo đến nay lại chẳng chịu tận tâm tương trợ, ăn lương mà chưa làm được gì, rốt cuộc hắn có ý gì đây? Bao nhiêu việc phiền muộn cứ dồn cả lại khiến Tào Tháo càng thêm buồn bực.

Không khí tĩnh lặng như thế một hồi, Tiết Đễ đột nhiên phá vỡ sự yên ắng:

— Sứ quân, đại quân đến đây dù có tiến quân cũng không đánh được, chi bằng chúng ta quay về Duyện Châu?

Tào Tháo chợt thấy lạnh run, lúc này điều Tháo thấy sợ nhất là có kẻ nhắc đến chuyện này. Nếu không đáp ứng mấy tên xuất thân ở Duyện Châu bỗng nhiên đề xuất việc hồi quân này, tâm lý bất mãn chán chường sẽ càng tích tụ. Theo đó kế hoạch dời quân sang Dự Châu của ông ta tất sẽ thất bại. Tào Tháo muốn phủ đầu phản bác Tiết Đễ, nhưng lại nghĩ, chặn họng bịt miệng mình hắn lúc này cũng chẳng có tác dụng gì, bởi quá nửa trong quân là người Duyện Châu, liệu có thể bịt miệng được tất thảy hay không? Nghĩ đến đó, Tháo đổi giọng khuyên rằng:

— Hiếu Uy, lúc này bàn việc lui quân thực không thỏa dáng cho lắm... Nếu không lấy được cứ địa Cát Pha, Viên Thuật tất sẽ lại kích động xúi bẩy dư đảng Khăn Vàng dấy loạn. Tuy hắn không đến đánh ta, chỉ mượn cớ sách nhiễu cũng đủ làm chúng ta khốn đốn rồi.

— Sứ quân nghĩ sai rồi. - Tiết Đễ cười mà rằng, - Kỳ thực sứ quân không nên cầu toàn. Chỉ cần giữ được đường Trần Lưu sang tây, gỡ được trở ngại Thành Cao, thì việc nghênh giá đến Duyện Châu chẳng có gì khó? Viên Thuật đang ở xa tận Thọ Xuân, dù có ý cướp giá chăng nữa nhưng roi dài cũng sao với tới được.

Tào Tháo im lặng không nói, cười khổ ngẫm rằng: “Tiết Đễ à Tiết Đễ, người chưa biết ta muốn gì đâu! Ta vốn không định nghênh rước thánh giá đến Duyện châu, đến đó quá gần Viên Thiệu. Thực lực chúng ta lại quá chênh lệch với hắn, ngộ nhỡ Viên Thiệu qua sông tranh cướp thiên tử với ta, chúng ta lấy gì chống đỡ nổi?”

Cả bọn thấy Tào Tháo không nói năng gì, lập tức xì xào bàn tán. Mấy tên Duyện Châu liền tỏ vẻ tán đồng với lý lẽ của Tiết Đễ. Tuân Úc như đi guốc trong bụng bọn chúng, thấy tình hình như thế vội mở miệng gỡ bí cho Tào Tháo:

— Chư vị chớ vội, nghe ta một lời. - Úc xử sự bình tĩnh, là người có uy vọng nhất trong Tào doanh, Úc vừa cất tiếng cả bọn lập tức yên lặng trở lại, - Đại quân từ xa tiến đánh đến đây, không thể vì khó khăn nhất thời mà bỏ đi bao công mài giũa tôi rèn. Nếu lúc này quay đầu rút quân, chẳng những gốc rễ bọn giặc không thể trừ được, mà còn e bọn Hà Nghi, Hà Man quay giáo phản lại. Huống hồ từ khi Duyện Châu bị nạn châu chấu, lại thêm gặp loạn Trần Cung, trăm họ điêu linh, lương thực thiếu thốn, dẫu vài mấy năm tới cũng khó được như trước. Trong khi đó, bọn giặc Cát Pha lại tích trữ lương thảo luôn, nếu có thể tiêu diệt được bọn chúng, quân ta có thể thu hết lương thực, lúc ấy chúng ta sẽ được cấp lương mà chẳng cần lo lắng gì nữa.

Nghe Tuân Úc nói vậy, nhiều kẻ gật đầu tán đồng, duy có Tiết Đễ vẫn chưa thật tin lắm, lẩm bẩm:

— Miễn cưỡng đánh lấy Cát Pha chỉ sợ được chả bõ mất, cất cử đại binh mà không thu được kết quả, khó tránh khỏi sẽ bị kích động.

Kỳ thực Tiết Đễ nói cũng không sai, nếu bảo lấy Duyện Châu làm trung tâm, thì việc Tào Tháo xuất binh lần này rõ ràng sẽ chẳng mang lại kết quả gì; còn nếu thực sự lấy Duyện Châu làm trung tâm, việc bình dẹp giặc Khăn Vàng lại mang một ý nghĩa khác. Chỉ có điều bây giờ chưa phải lúc, ý đồ của Tào Tháo vẫn chưa thể để lộ, chỉ có thể che mắt được đám người phe Duyện Châu thôi.

Lúc ấy chợt một tràng cười từ bên ngoài vọng vào, giống như có hai người trẻ tuổi đang đùa giỡn nhau vậy, những thứ ấy thật chẳng ăn nhập gì với bầu không khí nghiêm túc mà tẻ nhạt bên trong đại trướng. Tào Tháo nhận ra là tiếng của Tào Ngang, lửa giận chợt bốc lên, bao nhiêu bực dọc vốn dành cho Tiết Đễ liền đổ hết lên đầu con trai. Tào Tháo liền chạy ra ngoài lớn tiếng mắng mỏ:

— Kẻ nào to gan dường vậy, dám ồn ào náo loạn ngoài trướng trung quân?

Tháo vừa dứt lời bầu không khí lập tức trở nên yên ắng, Tào Ngang và con trai Tào Đức là Tào An Dân cúi đầu vội bước vào trong trướng, hai người còn chưa kịp cúi người hành lễ, Tào Tháo đã quát:

— Đi ra! Qua báo môn mới được vào!

Theo quy định trong quân, phàm tướng lĩnh cầu kiến phải do thị vệ trung quân thông báo, tướng lĩnh thân tín được phép trực tiếp ra vào, duy có tội tướng và tù binh mới phải tự báo thân phận. Tào Tháo lệnh cho con cháu phải qua báo môn mới được vào rõ ràng là muốn trừng phạt bọn chúng. Hai đứa nhỏ không dám trái lệnh, chỉ còn biết cúi gằm mặt quay lưng đi ra, khom người chắp tay đứng ngoài đại trướng tự báo danh tính.

— Mạt tướng Tào Ngang cầu kiến!

Tào Ngang đã dứt tiếng, nhưng Tào An Dân mãi vẫn không nói, ấp úng nửa ngày mới khẽ hắng giọng:

— Tiểu diệt Tào An Dân cầu kiến!

Trong quân sao tự nhiên lại nảy ra tiểu điệt chứ? Mọi người có mặt trong trướng muốn cười mà không dám cười, cắn răng ngậm miệng nhìn lên nóc trướng kiên nhẫn chờ đợi. Tào Tháo càng nghe càng bực, nhưng thực không biết làm thế nào, vì Tào An Dân không có quân chức gì, chỉ là theo gia quyến tới, báo môn thì cũng chỉ có thể nói như thế.

— Cho vào!

Bấy giờ hai người mới được vào trướng, nhưng thấy tình hình bên trong căng thẳng, không dám chắp tay hành lễ, mà tự giác quỳ xuống. Tào Ngang mình mặc khôi giáp, tay ôm mũ đâu mâu, Tào An Dân chỉ vận áo vải, đầu đội mũ biện da.

Tào Tháo vỗ manh soái án:

— Trung quân là nơi trọng yếu, sao dám huyên náo ầm ĩ, lôi ra ngoài phạt đánh mỗi tên hai mươi roi.

Mọi người đâu dám không khuyên ngăn, nhưng chưa kịp mở miệng đã bị Tào Tháo chặn họng:

— Không ai được phép xin xỏ, ta nay phải chỉnh đốn lại quân kỷ mới được!

Dẫu sao Tào Ngang và Tào An Dân cũng là người thân, dù Tào Tháo nói là lôi ra đánh phạt, nhưng liệu có kẻ nào dám đắc tội? Chẳng ai tiến lên phía trước, đến cả Điển Vi cũng vờ như không nghe thấy. Tào Ngang là người nhân hậu, biết trước biết sau, không muốn làm khó người khác liền lập tức đứng dậy đi ra chịu hình phạt. Tào An Dân đột nhiên mở miệng:

— Tiểu diệt có việc muốn bẩm.

Tào Tháo không thèm liếc mắt:

— Nói!

— Tiểu diệt vốn không phải người trong quân, quân pháp không quản được. - Hắn vênh mặt, cười cười nhìn bá phụ.

Tào Tháo đang mang sẵn bực, vốn không định trị tội Tào An Dân, suy cho cùng Tào Đức cũng chỉ còn để lại cốt nhục này, giờ đánh hắn sẽ lại có lỗi với tiểu đệ đã mất. Nhưng là người ưa sĩ diện, Tào Tháo muốn đợi roi vung lên rồi mới xá tội cho điệt tử, nhưng Tào An Dân lại giảo biện, cả gan chọc giận Tào Tháo.

— Sao không quản được? Đã không phải là người trong quân, vậy ngươi không nên đến trước trướng trung quân này mới phải.

— Bá phụ, là bá phụ...

— Câm mồm! Trong quân không có bá phụ. - Tào Tháo lại đập mạnh soái án.

Tào An Dân giả bộ cố ý vả mình một cái rồi liền đổi giọng:

— Tướng quân, thuộc hạ đâu muốn vào trướng, là tướng quân kêu thuộc hạ qua báo môn rồi vào trướng đấy chứ.

Tất cả mọi người có mặt nghe Tào An Dân mồm mép giảo biện như vậy càng không nhịn được. Tào Tháo phất tay:

— Ta gọi ngươi vào trướng vì ngươi làm ồn bên ngoài, đứng trước cửa trướng trung quân này cười đùa giỡn cợt cũng không được.

Ai ngờ Tào An Dân vừa nghe xong lại kêu lớn:

— Tướng quân chấp pháp bất công.

Tào Tháo nổi giận:

— Càn rỡ xằng bậy, bất công chỗ nào?

Tào An Dân đáp:

— Tướng quân dẫn gia quyến vào trong quân doanh, bản thân việc ấy đã là phạm vào quân pháp, giờ nếu muốn trị tội thuộc hạ, tướng quân nói xem, việc này có công bằng hay không?

— Việc này... khua môi múa mép... - Câu này Tào Tháo đã cứng họng, - Ta nói điệt nhi ngươi...

— Trong quân không có điệt nhi. - Tào An Dân lại cắt ngang.

Mọi người trong trướng sao nhịn nổi nữa? Hạ Hầu Uyên là người đầu tiên phì cười thành tiếng, Uyên vừa cười, bọn Hạ Hầu Đôn, Tào Nhân, Tào Thuần, Nhậm Tuấn, Biện Bỉnh cũng đều bật cười theo. Tất cả phá lên cười, ngay tới bọn người ngoài cũng không kìm được, Trình Dục, Tiết Đễ, Mãn Sủng đều là người tính tình hướng ngoại, nên trong trướng nhất thời vang rộn tiếng cười, đến cả xưa nay tính cách thâm trầm như Tuân Úc cũng bất giác phải mỉm cười.

Tào Tháo thực sự rối bời, đúng là lúc này ông ta không thể suy nghĩ được gì khác, liền xua xua tay:

— Cút cút cút! Cút về hậu doanh, đợi khi họp bàn xong xuôi ta sẽ xử trí ngươi theo gia pháp!

Tào An Dân vẫn quỳ chưa chịu đứng dậy:

— Tướng quân chấp pháp bất công!

Tào Tháo mặt vụt đỏ rồi lại trắng bệch:

— Sao lại bất công nữa?

— Tiểu điệt đã bị gia pháp xử trí, Tử Tu huynh sao còn phải chịu phạt theo quân pháp?

Tào An Dân vừa nói dứt, cả bọn bất giác gật đầu liên tục: “Hóa ra hắn chỉ muốn giúp Tào Ngang thoát tội, tên tiểu tử này tình huynh đệ hữu ái kể cũng hiếm thấy”.

— Hắn mang chức trách trong quân. - Tào Tháo cũng chẳng thèm đếm xỉa tới, chẳng thèm để ý đến thân phận mà tranh biện với Tào An Dân.

— Nhưng hắn ta là nhi tử của tướng quân, thuộc hạ lại là điệt tử của tướng quân, tướng quân không thể nhất bên trọng nhất bên khinh được. Nhược bằng xử trí như vậy, tiểu điệt sẽ cùng chịu roi với Tử Tu.

— Được, thế thì cho cùng chịu roi!

Tào An Dân bắt đầu mếu máo:

— Nhưng tiểu điệt vốn không phải người trong quân, quân pháp không quản được.

Tào Tháo cứ nói theo phản xạ tự nhiên:

— Đã không phải người trong quân, thì không được vào trong trướng.

— Tướng quân gọi thuộc hạ vào trong trướng.

— Trong trướng không được phép ầm ĩ.

— Tướng quân chấp pháp bất công.

— Ha ha ha... - Lần này mọi người trong trướng càng lúc càng cười lớn.

Tào An Dân vòng vo một hồi lại quay về lúc đầu. Tào Tháo cũng chợt hiểu ra, cứ tranh luận thế này sẽ chẳng thể nào qua được đứa cháu này, nghĩ thế bất giác vui vẻ trở lại:

— Tên tiểu tử nhà ngươi học đâu ra cái trò ma mãnh ấy?

Tào An Dân lỗ mãng, tay chỉ ngay Biện Bỉnh:

— Thuộc hạ từ nhỏ học theo cữu cữu đây ạ.

Tào Tháo liếc mắt nhìn sang ông em vợ kia, lại miết miết lông mày nhìn đứa cháu:

— Càn rỡ, trong trướng không cho phép chỉ trỏ lung tung, cũng không cho phép được gọi cữu cữu.

— Tướng quân đã hỏi, thuộc hạ không đáp liệu có được không? - Tào An Dân luôn nói lý lẽ, - Nếu không đáp sẽ lại phạm vào quân pháp rồi.

— Đi ra!

— Tướng quân còn chưa xá tội cho Tử Tu.

Tuân Úc thực không muốn xem cảnh ấy thêm nữa mới chen vào:

— Bẩm tướng quân, tạm coi như chúng huynh đệ hiếu đễ hòa mục mà tha cho chúng cũng được mà.

Quát tháo một hồi, Tào Tháo dường cũng bớt giận, trỏ Tào An Dân mà rằng:

— Coi như nể mặt Văn Nhược, coi như thôi... lần sau không được phép thế nữa!

Tào Ngang và Tào An Dân lễ tạ rồi đứng dậy, lúc này Tào Ngang mới dám nói:

— Khởi bẩm tướng quân, không phải vì bọn thuộc hạ vô cớ làm ầm, là do vừa rồi thuộc hạ và An Dân đem quân do thám doanh trại địch, mới phát hiện ra một chuyện lạ.

— Sao ngươi dám đem cả nó đi do thám? - Tào Tháo có vẻ không hài lòng, hai tiểu tử này cũng thật to gan. Chẳng may Tào An Dân bị kẻ địch làm cho bị thương thì Tào Tháo biết ăn nói thế nào với đệ đệ đã khuất.

— Là thuộc hạ muốn theo đi. - Tào An Dân vội đỡ lời thay huynh trưởng.

Tào Tháo chẳng thèm so đo với đứa cháu ăn nói lẻo mép đó nữa:

— Ngươi không có quân chức gì, sau này không được... Vừa rồi rốt cuộc phát hiện được điều gì?

Tào Ngang vòng tay thưa:

— Mé tây Cát Pha có tòa doanh lũy rất lớn, nằm nơi địa thế xung yếu, bốn phía chất đầy đá tảng kiên cố, lớn hơn rất nhiều so với các lũy khác. Chúng thuộc hạ cho rằng đó là chỗ ở của Lưu Tịch nên tiến lại gần hơn chút để xem xét. Ai ngờ ở đó dựng cột cờ lớn, trên cờ có chữ “Hứa”, lại còn cả tráng đinh dũng sĩ địa phương canh gác trên lũy, mỗi khi có giặc Khăn Vàng đi qua, đám canh lũy ấy sẽ lấy đá ném xuống, xem chừng bọn chúng là địch. Đồn trú nơi đó chắc chắn không phải giặc Khăn Vàng.

Tào An Dân nói thêm:

— Tòa lũy đá ấy nằm ven bờ chính tây Cát Pha, trong chu vi khoảng một dặm không thấy có bất cứ doanh trại nào khác, đây biết đâu là cơ hội cho ta.

Những lời vừa rồi như liều thuốc lấy lại tinh thần cho tất cả binh tướng trong doanh.

— Nếu Khăn Vàng còn có kẻ địch ở đây nữa, vậy thì chúng ta có thể tranh thủ cùng họ phá giặc, huống hồ địa thế của tòa lũy này xung yếu, nếu có thể nhân đó đánh phá một chỗ để mở đường men theo vùng Cát Pha thì cục diện lập tức có thể xoay chuyển.

— Những lời ngươi nói có đúng không? - Tào Tháo tay vịn soái án đứng dậy.

— Quân cơ đại sự, tiểu điệt đâu dám nói dối bá phụ. - Tào An Dân lại lỡ miệng.

Lúc này Tào Tháo cũng không còn để ý việc trong quân có bá phụ hay không nữa, phấn chấn vòng qua soái án:

— Tử Tu, An Dân dẫn đường, điểm ba trăm quân kỵ hổ báo đưa ta đi xem.

— Tướng quân không thể dấn thân mạo hiểm. - Tuân Úc vội nhắc nhở.

Năm xưa ở Thọ Trương, Tào Tháo cùng Bào Tín cưỡi ngựa tuần tra địa thế, bất ngờ bị Khăn Vàng đánh úp, Bào Tín bị tử chiến tại trận. Từ đó về sau, mọi người đều tránh để Tào Tháo một mình xuất binh ra khỏi doanh trại.

— Không gì đáng ngại! - Tào Tháo xua tay, - Có lúc này lúc khác. Hiện giờ quân giặc phòng bị cẩn thận, cũng chưa thể tấn công ngay được, chuyến này đi có lẽ cũng không có trở ngại gì đâu.

Tào An Dân tiến lên trước, mắt chớp chớp nói:

— Tiểu điệt không có quân chức, không tiện đi theo.

Tào Tháo cốc nhẹ lên trán hắn:

— Tiểu tử ngươi được lắm, tạm giao ngươi giữ chức thư tá trong quân.

— Tạ tướng quân! - Tào An Dân lập tức hết vẻ uể oải quỳ ngay xuống đất.

— Chớ dềnh dàng nữa, mau dẫn đường. - Tào Tháo cười ha hả nhìn khắp mọi người một lượt, lại dặn dò thêm, - Khi ta không có ở đây, hãy trông coi doanh trướng cẩn thận, không được lơ là khinh suất.

— Vâng. - Cả bọn đứng dậy lĩnh mệnh.

Tào Tháo ra đến cửa trướng, bỗng giơ tay vẫy gọi Hạ Hầu Đôn rồi ghé tai nói nhỏ:

— Ngươi hãy đề phòng tên tiểu tử Lưu Phục.

Ba trăm quân kỵ hổ báo lần này mà Tào Ngang lựa chọn có thể gọi là tinh binh trong đám tinh binh, khôi giáp sáng choang, ngựa khỏe thương dài, lại có Điển Vi giáp trụ nai nịt chỉnh tề hộ vệ phụ tử Tào Tháo chạy đến mé tây Cát Pha. Dẫu biết rõ quân địch sẽ cố thủ không ra, nhưng để đề phong quân Tào vẫn cẩn thận cuốn hết thảy tinh kỳ rồi đi vòng theo phía nam một vòng. Lúc đến gần tòa doanh lũy kỳ lạ đó mới thình lình quay lại, may thay gần đó có khu rừng bí mật, Tháo liền lệnh cho tất cả ẩn hết trong rừng quan sát từ xa.

Tòa lũy đá hình vuông bán kính chừng hơn nửa dặm, nằm chính giữa sườn núi mé tây Cát Pha, trong chu vi một dặm không hề có lũy đất nào khác của Khăn Vàng, chung quanh đều xây dựng bằng đá tảng, có một cổng hàng rào lớn, bên ngoài lại đặt một dải bình phong dùng để ngăn quân kỵ mã tấn công. Tuy tường lũy cao thấp không đều nhau nhưng chỗ thấp nhất cũng cao đến một trượng năm thước, chắc hẳn chúng đã phải hao tổn không ít nhân lực mới xây lên được. Phía trên lũy đá lại có hàng rào cọc gỗ nhọn, cùng bọn tráng đinh dũng sĩ địa phương tay cầm đao lớn canh gác, ngay chính giữa là một cột cờ lớn, trên cờ lụa có viết chữ “Hứa” to ở trung tâm.

Tào Tháo đã nhìn thấy rõ, tựa hồ không phải quân doanh của giặc Khăn Vàng. Vừa định quay đầu nói gì đó với Tào Ngang thì bỗng nghe thấy tiếng ồn ào vọng lại, hình như giặc Khăn Vàng đã đến đánh phía bắc, có khoảng bốn năm mươi tên, chúng còn đẩy một chiếc xe to nhằm thẳng hướng tòa thành đá.

— Hình như chúng đang vận lương. - Tào An Dân chen vào.

— Nếu là vận lương cho tòa lũy đá đó, vậy có nghĩa chúng là bè đảng. - Tào Tháo vẻ chán nản.

— Không phải thế chứ, rõ ràng hồi nãy mới thấy bọn chúng còn ném đá đuổi địch, sao giờ bọn giặc lại cung cấp lương thảo cho chúng được? - Tào An Dân khẽ lẩm bẩm.

Chỉ thấy đám giặc Khăn Vàng khi đến gần lũy đá rồi lại không dám tiến tiếp nữa, có lẽ là sợ lính canh trên lũy ném đá xuống. Rồi lại thấy mấy tên đó như ngẩng đầu kêu gào gì đó với bọn lính canh, nhưng vì khoảng cách quá xa bọn Tào Tháo cũng không nghe rõ, láng máng như muốn gọi ai đó ra. Kêu gào một lúc, đám giặc Khăn Vàng đều ngồi cả xuống.

Quan sát một lúc thấy chẳng có động tĩnh gì, Tào An Dân có vẻ bồn chồn:

— Tướng quân, bọn chúng ngồi cả xuống rồi. Nhân cơ hội mà cướp lương, rồi chém phắt mấy tên khốn đó đi.

Tào Tháo liếc sang Tào An Dân:

— Lợi nhỏ như con kiến thế có đáng gì? Ngươi không thấy đám lính canh thiếu mất một người sao? Chắc là đi bẩm báo với tên nào đó rồi.

Trong lúc Tào Tháo và Tào An Dân hai người đang trò chuyện chợt nghe tiếng ken két vẳng tới. Tào Tháo chăm chú nhìn kỹ, bất giác giật mình: Cổng lớn của tòa lũy đá mở ra, hơn hai chục tráng đinh dũng sĩ lăm lăm gậy dài dạt hàng ra hai bên hình cánh nhạn, chính giữa có một tên cao to mặt mũi đen thui tướng mạo hung ác bước ra.

Tên này mình cao hơn tám thước, không đoán được tuổi tác bao nhiêu, vai rộng eo dày, chân tay to khỏe, mình khoác áo bào đen tuyền, dưới mặc quần cổn thắt đai, tiết trời gió xuân se lạnh nhưng hắn vẫn phanh áo ra, để lộ đám lông ngực rậm rạp trên tấm thân đen trũi, cơ bắp nổi cuồn cuộn, nom rất rắn khỏe, chắc như bàn thạch. Ngước nhìn lên trên, mặt đen trán lớn, tóc búi miệng rộng, mày rậm mũi cao, mắt lồi như sắp vọt khỏi tròng, nhãn cầu đảo liên hồi, tóc mai dài quá má. Từ xa trông hắn không khác gì một con quái vật đen sì.

Tên đó huỳnh huỵch đi ra, đám quân Khăn Vàng cũng chết khiếp, thảy đều cầm đao đứng dậy, lời qua tiếng lại với tên to cao đen sì ấy. Lại qua một hồi, chỉ thấy tên áo đen đó vẫy tay một cái, liền có người từ trong lũy đá dắt một con trâu béo múp đi ra.

— Nhi tử hiểu rổi. - Tào Ngang nói, - Bọn giặc kia muốn đổi lương thực lấy trâu.

Đúng như dự liệu, tên to cao đen sì ấy nói chuyện với đám quân Khăn Vàng hồi lâu, tựa hồ đang so kè ngã giá. Theo lý mà nói, một con trâu đổi lấy một xe lương thì cũng chẳng được lời lãi gì, vì xe lương ăn rồi cũng hết, nhưng trâu kéo cày bừa lại làm được ra lương ăn không hết. Nhưng bấy giờ binh mã loạn lạc cũng chẳng trồng cấy được gì, chỉ buộc trong doanh lũy thì trâu cày cũng chẳng khác gì đồ bỏ đi, giết một con trâu cũng chẳng đủ cho nhiều người ăn bằng một xe lương, lại thêm thời tiết mà ấm lên thì thịt giết ra cũng không để được lâu, chi bằng đổi thành lương thực vẫn hơn. Điều này cũng dễ hiểu, chắc hẳn trong lũy tên mặc áo bào đen kia đã không còn mấy lương thực nữa rồi.

Một lát sau, có vẻ họ đã thương thảo xong xuôi, trâu được đánh về cho đám Khăn Vàng, xe lương được giao cả cho tên to cao đen thui, hai bên cười cợt hỉ hả, dường như còn nói với nhau đôi câu khách khí. Đám lính Khăn Vàng đánh trâu đi rồi, tên đen thui kia cũng gọi thủ hạ đẩy xe lương chầm chậm đi vào lũy.

Bất ngờ xuất hiện một việc khiến ai nấy đều kinh ngạc!

Tên áo choàng đen đột nhiên rảo bước, một mình đuổi theo đám lính Khăn Vàng đã đi xa. Bọn Tào Tháo đều kinh ngạc nhìn theo, không hiểu hắn muốn làm gì. Chỉ thấy tên áo choàng đen đó bước chạy như bay, chớp mắt đã bắt kịp rồi nhảy vào giữa đám Khăn Vàng tả xung hữu đột, bảy tám tên lập tức ngã gục. Hắn không đoạt mạng người, chỉ một tay vươn tới nắm lấy đuôi trâu, lôi xềnh xệch chạy quay về.

Con trâu đực đó dễ thường cũng phải trên ba bốn trăm cân, một khi bị kéo đuôi thì hung hăng bất thường, nhưng thật kỳ lạ khi ở trong tay tên áo choàng đen đó, con trâu cơ hồ mất hết sức lực, cứ để bị hắn kéo đi. Trâu bò là loài vốn kêu tiếng um um, nhưng lúc này nó đau đến nỗi chỉ còn biết rống thảm thiết, tiếng rống truyền xa, mở trừng trừng mắt, vục vặc cái đầu, bốn chân choãi ra ghì lại, nhưng vẫn bị tên kia xềnh xệch lôi đi.

Tên Khăn Vàng dắt trâu khi nãy lúc này đã sợ chết khiếp, quên cả buông tay. Dây thừng đang quấn trên tay bất giác bị kéo đi đến nỗi không thể bò lên nổi. Tên áo choàng đen kia trán đã nổi đầy gân xanh, luôn miệng hò hét tiếp tục kéo đi, kéo cả con trâu đực và một người mà chạy hơn trăm bước, chớp mắt đã thấy tới cửa lũy. Đám quân Khăn Vàng thấy thế thì hồn phi phách tán, đứng ngây ra một lúc mới phản ứng trở lại, rồi vội vác đao đuổi theo. Nhưng bốn năm mươi tên Khăn Vàng này, làm gì có tên nào dám tiến sát đến tên to cao, chỉ huơ huơ đao múa máy lung tung, cứ tiến ba bước lại lùi hai bước mà mắng chửi. Tên áo choàng đen vẫn cứ kéo trâu đi rồi quay mặt lại, trợn trừng cặp mắt như hai quả chuông, quát bảo:

— Đứa nào không sợ chết thì qua đây!

Giọng hắn sang sảng như sấm dậy, khiến đám Khăn Vàng nghe đoạn đều lũ lượt lùi lại, đến cả Tào quân trong rừng còn nghe rõ mồn một.

Cha con Tào Tháo rất đỗi kinh ngạc, nấp trong rừng mà không ai nói với nhau câu nào. Mãi tới khi nghe thấy tên áo choàng đen quát lớn, bấy giờ mới định thần quay lại, phụ tử đưa mắt nhìn nhau. “Đó là khẩu âm huyện Tiều quê chúng ta rồi!” Nói đoạn lại ngẩng đầu lên nhìn chữ “Hứa” trên cờ, Tào Tháo lờ mờ nghĩ tới điều gì đó.

Giờ đây cảnh tượng đã trở nên náo nhiệt, cùng với tiếng hét của tên to cao, một đám lâu la đằng đằng sát khí từ trong lũy đá xông ra, trong tay lăm lăm gậy gộc đao kiếm. Đám giặc Khăn Vàng thấy tình thế bất lợi, cũng chẳng thèm để ý đến đồng bọn dắt trâu nữa, co cẳng bỏ chạy, nhiều tên còn chẳng kịp nhặt đao. Đã chẳng được trâu, cuối cùng lại biếu không người ta cả xe lương, còn phải cáng một tên về, vụ trao đổi này coi như bọn chúng lỗ lớn! Đáng thương nhất là kẻ dắt trâu kia, bị kéo lê tới mức quần áo rách hết, mặt mũi lấm lem, máu me be bét, dở sống dở chết, đã thế còn bị bọn tráng đinh trói chặt áp giải vào trong lũy.

Tận mắt chứng kiến đám người trong lũy cúi người nhặt binh khí, Tào Tháo cười mỉm quay sang nói với Điển Vi đang đứng bên cạnh:

— Trước đây ta cũng từng nghe nói đến việc dắt ngược trâu đực, hôm nay coi như được mở mắt rồi, thật là sức mạnh vô song.

Điển Vi cúi khuôn mặt to béo xuống:

— Hừm! Cái gì mà sức mạnh vô song chứ, thuộc hạ cũng có bản lĩnh ấy!

Tào An Dân vừa nghe thấy thế liền phấn chấn:

— Điển huynh, huynh có dám giao đấu cùng hắn ta không?

— Có gì mà không dám? - Điển Vi nhếch miệng, - Ta có mang theo đại kích đây!

— Vậy huynh đi nhé! - Tào An Dân muốn khích lệ Điển Vi đi.

— Ta với hắn không thù chẳng oán, vậy tỉ thí kiểu gì đây?

— Thử xem sức ai mạnh hơn thôi.

— Thế thì tỉ thí làm gì? - Điển Vi tỏ vẻ hờ hững.

Tào An Dân xua tay:

— À... huynh sợ rồi chứ gì, không dám nữa phải không?

— Được, ta đi.

— Đệ thấy huynh không dám đi đâu. - Tào An Dân liếc ánh mắt vẻ coi thường nhìn Điển Vi, - Không dám đi thì thôi vậy!

— Ta dám! - Điển Vi thấy An Dân khinh thường mình, bất giác không nén nổi giận.

Tào Ngang thấy An Dân đang cố ý chọc ghẹo, định tìm cách kìm hắn bớt gây rối. Ngờ đâu Tào Tháo lại cầm ngang ngọn roi ý chặn lại, dường có ý dung túng để mặc cháu mình khích tướng. Điển Vi vốn tầm nhìn hạn hẹp suy nghĩ nông cạn, Tào An Dân lại miệng lưỡi dẻo quẹo, hót hay hơn cả họa mi, nói đôi ba câu đã chọc Điển Vi tức giận. Thế rồi chẳng bận tâm xem Tào Tháo có truyền lệnh hay không, Điển Vi liền đứng vụt dậy cầm cây đại kích nặng tám mươi cân xông ra.

Tào An Dân vui sướng nhảy dựng lên:

— Chuẩn bị xem trò hay nào! Hai tay này sức khỏe ngang nhau, Tử Tu, huynh đoán xem ai thắng?

Tào Ngang chợt giận:

— Việc này mà đệ cũng đem ra giỡn được sao? Là mạng người chứ chả chơi đâu...

Tào Tháo lại chẳng tỏ vẻ vội vã, vẫn thong thả như thường:

— Con trai, không cần quá lo lắng như thế, tên to cao kia cũng chỉ là kẻ thất phu, cùng lắm chỉ là một đấu một thôi, không phương hại đến ai đâu.

Điển Vi rảo bước chạy về trước, cơ thể nặng nề, lại thêm khí giới trong tay nặng tới tám chục cân, mỗi bước chân chạy, đất lại lún như hố sâu. Thấy tên áo choàng đen như đã muốn về trại, Vi mới giật giọng:

— Đứng im! Ngươi quay lại đây cho ta!

Giọng quát thật lớn, chợt khiến cả đám quân binh trong lũy cũng rúng động quay đầu lại nhìn, đến cả gã áo choàng đen kia cũng giật mình. Thấy Điển Vi mình cao chín thước, còn cao hơn cả mình hẳn nửa cái đầu! Mình mặc thiết giáp, đầu đội mũ ngù, tay cầm đôi đại kích ngoại cỡ; mặt xanh không ra xanh vàng chẳng ra vàng, mắt to, mũi sư tử, miệng củ ấu, đầu to hệt như quả bí đao. Cặp khí giới trong tay hắn trông thật chướng mắt, gã áo choàng đen từng thấy đoản kích nhiều rồi, nhưng chưa bao giờ thấy cây đại kích thô và to đến vậy.

— Ngươi, ngươi... định làm cái gì? - Tên đen thui cũng ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì.

— Chúng ta tỉ thí xem ai lợi hại hơn!

— Ta đâu quen ngươi! Tỉ thí cái gì? - Tên đen thui kia nhìn qua là biết Điển Vi không phải bọn Khăn Vàng, nhưng chưa biết gã này nảy nòi ở đâu ra.

— Dù không quen biết cũng phải tỉ thí, chẳng phải ngươi vừa kéo một con trâu về sao, như thế thì có đáng gì chứ? Có bản lĩnh thì hãy thắng đôi kích này của ta. - Điển Vi cũng thật mạnh miệng, - Nếu không tỉ thí thì cuốn xéo đồ chết tiệt nhà ngươi đi!

Cả bọn thầm nhủ: “Gã này điên rồi sao!” Rồi ai nấy lăm lăm đao thương chuẩn bị động thủ. Tên đen thui giơ tay ngăn bọn thủ hạ lại, cười giọng quái dị nói rằng:

— Tỉ thí thì tỉ thí! Cho rằng ta sợ ngươi sao... Mang khí giới lại đây cho ta!

Quả đúng như Tào Tháo dự liệu, đó cũng là tên vô lại.

Gã đen thui nói đoạn cầm ngay cây thương sắt mà hai tên lâu la vừa khiêng ra. Cây thương được rèn bằng sắt nguyên chất, nặng đến mức hai người khiêng phải loạng choạng; đầu thương không nhọn mà trông như cây xà beng lớn có treo tua đen. Tào Tháo biết rất rõ loại binh khí này, nó có tên là hổ đầu bá vương mâu, vì sử dụng được nó sẽ phải mất rất nhiều sức, tương truyền kể từ sau Vân Đài đại tướng Diêu Kỳ dưới trướng Quang Vũ đế thì hầu như không có ai dùng nữa.

Tên đen thui kia vươn tay ra nắm lấy cây thương, hai tay nâng thương trông nhẹ như nâng lông hồng vậy, rồi quát lớn mà rằng:

— Tên béo trắng kia, ngươi nói xem đánh thế nào?

Điển Vi chẳng nói chẳng rằng giương cao đại kích, lập tức bổ tới:

— Tên đen thui kia, hãy tiếp chiêu!

Chỉ thấy nghe choang một tiếng, song kích đã đập mạnh xuống cây thương lớn khiến tên đen thui rung người lui lại mấy bước, nếu phía sau không có người đỡ nhất định là đã ngã ngửa ra sau rồi.

— Thật lợi hại... - Tên đen thui đã đứng vững trở lại, nắm chặn cán thương, - Hãy nhìn thương của ta đây!

Lối đánh này rất lạ, chưa động thủ đã bảo người ta nhìn thương. Nói là nhìn thương nhưng hắn lại không hề đâm mà nhảy về trước hai bước rồi giơ thương lên cao mà giáng xuống. Hóa ra người này cũng có bản lĩnh như Hạng Vũ năm xưa, kiểu Bá Vương quăng thương, khí thế như chém đinh chặt sắt mà tới! Điển Vi thấy vậy vội giơ kích lên đỡ. Rồi lại nghe rầm một tiếng, thương đã chạm kích, nhưng Điển Vi đã đứng không vững, một chân quỵ ngay xuống đất. Điển Vi mình mang giáp nặng, bước đi nặng nề coi như có chút thua thiệt. Vứt cây đại kích bên tay trái, Vi chỉ cầm một cây đấu với tên đen thui kia.

Bên này quăng thương, bên kia giáng kích, coi như hai bên ngang tài cân sức, thi đấu bất phân thắng bại. Không chỉ Tào quân ẩn nấp trong rừng để xem, kể cả bọn binh lính đứng ngoài cũng đều ngây ngươi, mới đầu còn mồm miệng há hốc kinh ngạc, sau rồi không ai nhịn được cười nữa. Đây đâu phải hai người đang đánh nhau, mà là sắt đánh thép thì đúng hơn.

Hai bên đánh qua đánh lại hơn hai chục hiệp, cuối cùng ai cũng mệt bở hơi tai, buông hết khí giới ngồi thở hổn hển, tên nào tên nấy trừng mắt nhìn nhau. Bỗng đâu nghe tiếng lục lạc ngựa kêu vang, Tào Tháo một người một ngựa tiến vào giữa trận, tay chỉ tên đen thui mà hỏi lớn:

— Có phải Hứa Trọng Khang, Hứa Chử người huyện Tiều đất Bái đó không?

— Hả? - Tên đen thui kia giật mình giọng bớt ngang tàng, - Tại sao ngài biết danh tính của ta? Nghe giọng... ngài cũng là người huyện Tiều?

— Ha ha ha... - Tào Tháo vô cùng mừng rỡ, vội vàng chắp tay nói, - Hứa tráng sĩ, ta là kẻ quê mùa Tào Mạnh Đức, hiện đang giữ chức Duyện Châu mục, lĩnh binh tới đây dẹp loạn.

Choang một tiếng, cây thương sắt trong tay Hứa Chử rơi xuống đất. Hắn đứng ngây ra một lúc, rồi bỗng ngửa mặt lên trời mà khóc. Ngay sau hắn, bọn lâu la khi trước còn hùng hùng hổ hổ bấy giờ cũng sụp cả xuống khóc lóc như mưa...

Bình định Dự Châu

Hứa Chử, tự Trọng Khang, sinh ở huyện Tiều đất Bái là đồng hương với Tào Tháo. Từ nhỏ đã nổi tiếng có sức vóc hơn người, hành hiệp trượng nghĩa, thấy chuyện bất bình không bao giờ bỏ qua và cũng được coi là nhân vật có tiếng ở đất ấy. Chỉ vì Hứa gia không thuộc dòng dõi quan lại, nên cách biệt trời vực với địa vị Tào gia, lại thêm Hứa Chử nhỏ hơn Tào Tháo tới mười tuổi, cho nên hắn mới chỉ được nghe danh mà chưa từng có cơ hội gặp mặt Tào Tháo.

Những năm Sơ Bình, thiên hạ đại loạn, quân Tây kinh cướp bóc Dự Châu, Hứa Chử mới đem hơn ngàn người đất Bái lưu lạc đến Nhữ Nam, xây thành đắp lũy men theo bờ Cát Pha, mượn nơi tránh chiến loạn. Sau khi quân Tây kinh rút vào quan nội, giặc Khăn Vàng ở Dự Châu lại nổi lên, lũ lượt kéo về đất cũ Cát Pha mà đồn trú. Vì quân số chênh lệch quá lớn, Hứa Chử chỉ còn cách để mặc bọn chúng xây đắp lũy phân chia ruộng. Còn nếu quân Khăn Vàng cả gan tấn công thành lũy, Hứa Chử sẽ lập tức dẫn quân đánh trả. Hứa Chử vốn hung hãn hơn người, những kẻ hắn dẫn theo đều là dũng sĩ tráng đinh của huyện Tiều, bởi vậy mới tạo nên cục diện cứ giằng co lâu dài như thế.

Hứa Chử thống lĩnh mọi người trong làng bảo vệ tòa thành lũy này cũng đã hơn ba năm trời, cứ đánh rồi lại hòa, hòa rồi lại đánh với giặc Khăn Vàng. Vì tin tức không thông suốt, nên bên ngoài đã xảy ra những chuyện gì hắn hoàn toàn không biết, thấy lương thực sắp hết, Chử cũng chẳng dám mong có người đến cứu. Nay biết được Tào Tháo tới đây dẹp loạn, sao không khóc cho được?

Tào Ngang và Tào An Dân cũng chạy lại, thấy cảnh tượng khóc lóc thảm thương, đang ngơ ngác không biết thế nào. Tào Tháo liền hiểu ra, quay đầu lại nói:

— Hai ngươi dẫn quân quay về doanh.

— Tướng quân...

— Ta đến doanh trại của Trọng Khang bàn kế phá địch, mọi việc trong quân chiểu theo quy củ mà làm! - Khi Tào Tháo không ở trong quân, Hạ Hầu Đôn sẽ tạm làm thống soái, đây chính là quy định của Tào doanh.

Tào An Dân có vẻ không an tâm lắm:

— Bá phụ, kỳ thực điệt nhi cũng chưa tin tưởng vị Hứa tráng sĩ này lắm, nếu chẳng may giặc Khăn Vàng bất ngờ kéo tới bao vây lũy này, vậy bá phụ...

Hứa Chử lau vội nước mắt, thở phì phà phì phò lập tức cắt ngang lời của An Dân:

— Thế thì sao chứ? Ba năm trời bọn chúng không đánh lại nổi chúng ta, nay chỉ trong một đêm mà hạ được ta sao? Cẩn thận không ta cho ngươi một thương bây giờ.

Tào An Dân lè lưỡi không dám nói gì nữa. Trong khi đó Điển Vi lại hằm hằm:

— Tên đen thui kia, ta cũng chưa tin ngươi ngay được, ta phải ở lại bảo vệ tướng quân.

— Nếu không yên tâm thì ở lại hết đi. - Hứa Chử phùng mang trợn mắt.

Tào Tháo chìa bàn tay:

— Thiếu An chớ nóng, nơi này vẫn trong tầm quan sát của do thám giặc Khăn Vàng, nếu ở lại hết sẽ khó tránh khỏi quân cơ bại lộ, nay ta đã có kế sách phá địch.

Mọi người đều yên lặng trở lại, dõi mắt thăm dò bốn phía, quả nhiên quân Khăn Vàng vẫn như ẩn như hiện phía xa.

— Trọng Khang, phiền ngươi trói ta giải về doanh trại. - Tháo nhỏ giọng.

— Gì cơ?

— Chỉ là giả bộ để quân do thám Khăn Vàng được tận mắt chứng kiến thôi. - Rồi Tháo quay lại dặn dò Điển Vi, - Ngươi thấy hắn bắt trói ta thì lập tức truy đuổi phía sau, theo sát vào tận doanh trại.

— Rõ. - Điển Vi tuy không phục nhưng vẫn vâng mệnh.

— Tử Tu, An Dân, hai ngươi vờ tấn công một trận rồi lập tức rút lui, quay về doanh trại bảo Nguyên Nhượng yên tâm bảo vệ doanh trại, đợi tin tức bên này.

— Vâng. - Cả hai cùng lĩnh mệnh.

Tào Tháo thở phào một hơi rồi quay sang nói với Hứa Chữ:

— Bắt trói ta, phải làm như thật đấy.

Hứa Chử đáp lại một câu:

— Đắc tội! - Đoạn cố ý hô lớn, hành động mau lẹ, một tay Chử túm chặt bên hông, còn tay kia luồn ngang lưng Tào Tháo. Ngón tay hắn như năm móc câu sắt, vụt chốc đã nhấc bổng Tào Tháo khiêng lên trên vai.

— Tướng quân bị bắt rồi! - Tào An Dân hốt hoảng la lớn.

Hứa Chử vừa đặt Tào Tháo lên vai đã tức tốc chạy đi, theo đó Điển Vi nâng cao đại kích đuổi kíp phía sau. Đám hương dũng trong doanh Hứa Chử nhất loạt xông lên chặn đứng binh mã huynh đệ Tào Ngang, vờ giằng co một hồi. Chỉ đợi ba người vào được cửa trại là bọn hương dũng cũng vừa đánh vừa lui, huynh đệ Tào gia liền dẫn quân đuổi đánh sát đến tận cửa doanh, khiến đám lính canh lũy chẳng hiểu đang xảy ra chuyện quái quý gì nữa! Cứ thấy có kẻ đến tấn công lũy, bọn chúng lập tức ném đá xuống, lần này không còn là giả bộ như thật nữa mà đúng là thật, quân Tào xém chút nữa bị đá choảng cho người nghiêng ngựa đổ. Huynh đệ Tào Ngang cứ đứng dưới lũy mà hô:

— Tướng quân bị bắt rồi! Mau về doanh xin cứu viện! - Rồi nhanh chóng rút lui.

Tào Tháo bị Hứa Chử khiêng vào trong lũy, khiến người ngợm sưng đau hết cả, tuy là giả bộ nhưng sức lực của Hứa Chử cũng thật mạnh mẽ. Vào lũy rồi hắn mới cẩn thận đỡ Tào Tháo xuống, kêu bọn người quỳ cả xuống đất nhất loạt hô lớn:

— Thảo dân bái kiến Tào sứ quân.

Tháo vừa nghe tiếng hô, tim liền đập loạn, đều là giọng quê nhà!

— Mau mau đứng dậy, chư vị hương thân đã chịu khổ nhiều rồi. - Tháo đỡ người bên cạnh đứng dậy.

Hứa Chử đứng dậy rồi tự giới thiệu, trong doanh lớn bé già trẻ nam nữ đủ cả, ngay cả tộc trưởng của mấy gia tộc trong huyện Tiều cũng có mặt, Tào Tháo trông thấy mặt mấy vị cũng thấy quen quen. Mọi người ở đây hoặc sống trong hang đá, hoặc trong lều cỏ, hoặc trong lều bạt, kiểu gì cũng có, rồi lại thêm đủ mọi tầng lớp: nông phu cũng có, kẻ đọc sách cũng có, thậm chí cả quan lại nhỏ và tam lão[2], thực rất giống một huyện Tiều tạm thời vậy. Lúc này hương thân phụ lão như trăm ngôi sao hướng về một mặt trăng cùng mời Tào Tháo vào trong trướng.

Bên trong đại trướng cũng không khác bình thường là mấy, phía ngoài dựng một cây cờ lớn, trước cửa có mấy viên “chiến tướng” đón tiếp, có người thì mặc khôi giáp, có người lại chỉ mặc khôi mà không có giáp, có người lại chẳng có khôi cũng chẳng có giáp, nhìn thoáng là biết khôi giáp đều là cướp về được. Hứa Chử giới thiệu một loạt, trong đó có huynh trưởng của hắn là Hứa Định, lại còn một bọn tiểu tướng Đoàn Chiêu, Nhậm Phúc, Lưu Đại[3], Lưu Nhược, hầu hết tuổi tác trên dưới hai mươi tràn trề nhiệt huyết. Do thời gian bị khốn quá dài, nên vừa thấy Tào Tháo mới kích động đến vậy, hàn huyên khóc lóc hồi lâu mới đi vào việc chính được.

— Khiến sứ quân chê cười rồi. - Hứa Chử buồn bã mà rằng, - Cũng là bọn tại hạ bất tài, không đánh lui được bọn giặc, khổ sở cố thủ ở đây hơn ba năm trời, lương thực ăn cũng sắp cạn rồi.

— Các ngươi chỉ có hơn ngàn người, vả lại không phải ai cũng có tài cầm quân, giữ được vững vàng đã là không đơn giản rồi. - Tào Tháo nắm chặt tay hắn an ủi.

— Vừa rồi tướng quân nói đã có kế sách phá địch, nếu không ngại ngài hãy nói xem.

— Trước đây ta có một đồng liêu, chính là Hạ quân hiệu úy Bào Hồng ở Tây Viên. Trong những năm loạn lạc ông ta cũng từng phá Khăn Vàng ở Cát Pha. - Tào Tháo say sưa kể lể, - Ban đầu trong tay ông ấy chỉ có hai ngàn quân Tây Viên, rồi hợp với chưa đầy ngàn binh lính của quận nữa, trong khi đối phương có đến mấy vạn. Khi ấy giặc Khăn Vàng cũng men theo bờ hồ mà hạ trại, toàn bộ lương thảo đều để cả trên đảo. Bào Hồng nhân đêm đánh úp, đốt cháy hết thảy thuyền bè của quân Khăn Vàng, kẻ địch không đủ lương thực, nhất thời quân tâm rối loạn, chỉ mất nửa ngày, toàn bộ đại quân Khăn Vàng đã bị ông ấy dẹp tan.

— Bào tướng quân quả là dũng tướng! - Hứa Chử tán thưởng mãi không thôi.

— Đúng thực là dũng tướng, tiếc rằng thắng giặc về triều liền bị hoạn quan Kiển Thạc hại chết... Ông ấy còn ba tiểu đệ nữa, sau đó cũng đều xả thân vì nước... - Nhớ tới huynh đệ Bào gia, Tào Tháo không nén được thương cảm, thở dài rồi lại nói tiếp, - Cũng nhờ bài học bữa đó, lần này Viên Thuật xúi giặc Khăn Vàng quay về Cát Pha nên bọn chúng mới men dọc theo hồ mà xây đắp rất nhiều doanh lũy, cố thủ vững chắc. Hiện giờ bọn Lưu Tịch không còn được như năm đó nữa, mà binh mã của ta lại mạnh hơn Bào Hồng. Sở dĩ ta chưa thắng được vì chúng dựa vào địa thế hiểm trở mà giữ vững, lại có đường lương thực đủ đầy chắc chắn. Lưu Tịch là muốn bức ta thoái lui, để ngày sau hắn tìm cơ hội đứng chân từ Đông Sơn.

— Vậy việc hôm nay chúng ta nên tính toán thế nào?

Tào Tháo vỗ vai Hứa Chử:

— Ngươi biết Lưu Tịch có bao nhiêu thuyền không?

Hứa Chử lẩm bẩm:

— Tên tiểu tử Lưu Tịch này vô cùng xảo quyệt, đề phòng có kẻ cướp đoạt lương thảo, hắn chỉ dự phòng hơn hai chục thuyền, số thuyền còn lại đều neo đậu hết bên đảo, khi không cần vận lương hắn sẽ không đưa tới.

— Đúng như ta dự đoán. - Tào Tháo cười khà khà, - Trọng Khang, ngươi hãy phái người báo cho Lưu Tịch biết rằng Tào Tháo ta đã bị bắt, nếu hắn chịu chuyển hai chục thuyền lương thảo đến đổi người, thì hãy giao ta cho hắn.

— Cái gì?! - Hứa Chử vẫn chưa hiểu.

Tào Tháo thấy Hứa Chử còn ngỡ ngàng mới giải thích rằng:

— Từ ở Dĩnh Xuyên, Lưu Tịch đã liên tục bị ta xua đuổi, hắn vô cùng căm hận ta, nhất định sẽ lấy lương thảo ra đổi người. Ngươi và hắn hẹn nhau canh ba đêm mai sẽ trao đổi, rồi bảo thuyền của hắn vòng ra phía sau trại của ngươi, đến lúc đó chúng ta bất ngờ tập kích, cướp đoạt thuyền bè, cắt đường lương thảo của chúng! Nhân đêm đánh úp, trận Cát Pha này có thể phá được!

— Tuyệt quá! - Bọn Hứa Chử vừa nghe thấy kế hay ai nấy đều phần chấn.

Đúng lúc ấy một hương dũng tới bẩm báo, có một đội binh mã rất đông đang đóng trại ở phía tây, binh sĩ tới hơn vạn tên, khí thế hung hăng, đang thẳng tiến đến doanh ta. Mọi người chợt hoảng hốt, Tào Tháo cười nói:

— Chớ vội, là đại quân của ta tới đó... Điển Vi, đêm nay ngươi lén qua doanh bên đó, báo cho chúng biết kế sách của ta, canh ba đêm mai sẽ cùng nhau xuất binh.

Điển Vi lắc lắc đầu:

— Thuộc hạ phải ở đây bảo vệ tướng quân, thuộc hạ vẫn chưa yên tâm về gã đen thui kia.

— Ngươi lo cho ta, ta mới phải lo cho ngươi đấy! - Hứa Chử quay đầu lại dặn dò, - Đoàn Chiêu, Nhậm Phúc, đêm nay hai ngươi qua doanh trại bên kia, để tên béo kia đỡ phải nghi ngờ.

Tào Tháo chợt thấy buồn cười, hai tên Điển Vi, Hứa Chử này cứ như một cặp, nếu để chúng theo bên cạnh có vẻ còn khá hơn cả bọn Lâu Dị, Vương Tất ngày trước.

Kế này quả nhiên hữu hiệu, quân do thám của giặc Khăn Vàng đã tận mắt chứng kiến Tào Tháo “bị bắt”, lại thêm Lưu Tịch nhận được tin từ Hứa Chử nên không hề nghi ngờ gì. Nếu giết được tên Tào Tháo này, đại quân Duyện Châu sẽ chẳng khác nào rắn mất đầu, tình trạng nguy khốn của Khăn Vàng tại Cát Pha cũng coi như được cởi bỏ. Nghĩ thế Lưu Tịch lập tức đồng ý, có điều hắn cũng là người có tâm cơ, tuy là chuẩn bị hơn hai chục thuyền nhưng phía dưới đáy thuyền sẽ đệm cỏ khô bọc diêm sinh, chỉ phủ ít lương thực trên mặt mà thôi. Hắn tính mượn tiếng chở lương để đột nhập vào doanh Hứa Chử sau đó sẽ phóng hỏa, nhân tiện tóm gọn Hứa Chử - kẻ đã ba năm nay đánh nhau mà bất phân thắng bại, rồi giết hắn đi.

Cả hai bên đều ủ sẵn tâm kế, bên nào bên nấy chuẩn bị riết đến đúng canh ba đêm hôm sau. Hai chục chiếc thuyền con đèn đuốc sáng rực áp vào bờ tây Cát Pha, Lưu Tịch cưỡi ngựa dẫn năm trăm binh đinh đợi từ rất sớm. Không lâu sau, Hứa Chử theo đúng giờ hẹn xuất trại giải người tới, cũng chỉ dẫn theo đúng trăm tráng đinh đi cùng.

Trong mấy lần giao tranh, Lưu Tịch chỉ mơ mơ hồ hồ thấy được Tào Tháo chứ chưa thực sự biết diện mạo Tào Tháo. Lúc này đây nhờ ánh đuốc chiếu sáng, Tịch thấy Hứa Chử đích thân lôi một tên tù binh tới. Có vẻ tên này đã bị tước mất khôi giáp, còn bị đánh đến khắp người loang lổ, mặt mũi máu me bê bết, còn bị bịt miệng nữa, người không cao lắm, râu ngắn, mắt to... có điều không biết liệu đây có thật là Tào Tháo không?

Hứa Chử lớn giọng kêu:

— Đám giặc các ngươi xem đủ rồi đó, tên này chính là Tào Tháo, hãy mau đưa lương thực cho bọn ta!

Lưu Tịch cũng khá giảo hoạt, sợ Hứa Chử đột nhiên tập kích, vội thúc ngựa đến đứng sau bọn binh đinh. Hắn thầm muốn giết cả Tào Tháo và Hứa Chử, nhưng lại nể sợ bởi Hứa Chử dũng mãnh hơn người, nên chỉ quay đầu sang dõng dạc đáp rằng:

— Chử nghĩa sĩ, ngài thực sự đã áp giải Tào Man tới rồi sao? Ta đã đúng hẹn thực hiện, cho người đem lương tới trại... Nhưng ngài và Tào Tháo phải cùng lưu lại, đợi vận lương xong mới được rời đi. - Hắn muốn vừa dùng binh mã vây khốn, vừa tranh thủ cơ hội mở được cửa doanh, chỉ cần vào được bên trong liền phóng hỏa đốt diêm sinh cho cháy.

— Không được! - Hứa Chử khoát tay, - Đám các ngươi động tay vào ta không yên tâm, phải bảo người của ta tự tay bốc xếp!

Không đợi Lưu Tịch đồng ý Chử liền phân phó thủ hạ lên thuyền bốc lương thực xuống, mỗi thuyền hắn cắt cử năm người.

Lưu Tịch suýt nữa bật cười thành tiếng. Tên Hứa Chử này thật ngu ngốc, nếu toàn bộ thủ hạ đều xuống thuyền ôm cỏ khô, ta hạ lệnh xuất quân chẳng phải các ngươi sẽ chẳng còn cơ hội đánh lại ư? Nghĩ đến đấy, hắn không nói nữa, tay nắm chặt chuôi kiếm, chỉ đợi bọn tráng đinh ôm đồ xuống thuyền liền lập tức truyền lệnh giết.

Ai ngờ trong bóng tối mờ mịt, đột nhiên có tên tráng đinh lớn tiếng:

— Hứa đại ca, bao lương này nặng quá, chúng tôi bốc không nổi đâu!

Hứa Chử mắng lớn:

— Đồ bỏ đi, không biết hai đứa bốc một sao?

Tên đó lại giảo biện:

— Cứ động một chút lại mắng chúng tôi là đồ bỏ đi, không lẽ chỉ có Hứa Trọng Khang huynh là có bản lĩnh?

— Khốn kiếp ngươi! Còn dám cãi lại ta hả, để xem ta có dám chém ngươi không. - Hứa Chử nộ khí xung thiên, đột nhiên hét rằng, - Lưu Tịch, Tào Tháo giao cho ngươi trước đã, đợi ta xử lý hai tên tiểu tử hỗn xược này rồi lại tính sổ với ngươi.

Trời tối mịt mù, Lưu Tịch chỉ kịp nhận thấy có một vật đen lù lù bay tới. Đám giặc Khăn Vàng chợt kinh hãi, chúng thấy rõ, Hứa Chử quăng “Tào Tháo” tới! Lưu Tịch không thể nào ngờ được người sống lại có thể bay được giữa không trung nên lập tức bị “Tào Tháo” đụng phải khiến người ngựa ngã lăn quay, giặc Khăn Vàng hốt hoảng xúm lại đỡ Tịch dậy.

Đúng lúc ấy, chỉ nghe thấy tiếng kêu thảm thiết, hai chục tên lái thuyền đều bị người của Hứa Chử chém văng xuống hồ. Quân Khăn Vàng còn chưa hiểu ra chuyện gì, đã thấy sào chống đâm loạn, tất cả thuyền thảy đều rời bờ. Lưu Tịch lồm cồm bò dậy quát rằng:

— Hứa Chử! Ngươi muốn làm gì?

Đêm tối mịt mù nhìn không rõ, chỉ nghe thấy tiếng Hứa Chử từ phía hồ vọng lại:

— Tên họ Lưu kia, thuyền vận lương của ngươi thuộc về ta rồi!

Lưu Tịch giậm chân bình bịch tức giận mắng chửi:

— Tên khốn kiếp nhà ngươi quay lại đây, xem ta san bằng trại của ngươi!

Hứa Chử hình như đã chạy xa, tiếng nói chỉ theo sóng nước đưa tới:

— Không hơi đâu để mắt tới ngươi, ta phải ra đảo đốt lương thực của ngươi...

Lưu Tịch sởn cả tóc gáy, nhưng không có thuyền bè, giờ muốn cứu cũng không cứu được nữa rồi. Bất ngờ lại có quân binh chạy tới:

— Bẩm báo tướng quân, Tào Tháo là giả... là quân ta hôm trước dắt trâu bị bắt, vừa rồi bị quăng thế, bà nó chứ, đã tắt thở rồi.

Lưu Tịch không hổ là tay giảo hoạt nhiều năm đánh du kích, lập tức hiểu ra Hứa Chử đã đầu quân theo Tào Tháo. Hắn ngẩng đầu lên nhìn ra mặt hồ đen kịt, một lát nữa thôi chỉ cần Hứa Chử phóng hỏa, tất thảy doanh lũy lớn nhỏ men bờ này sẽ rối loạn, cục diện sẽ không thể khống chế được nữa. Nghĩ đến đó, hắn khẽ lẩm bẩm:

— Cát Pha xong rồi... chúng ta mau trốn thôi!

— Trốn?! - Tên thân binh ngạc nhiên, - Những người khác thì sao?

— Không quản được chúng nữa đâu, nếu không chạy, thảy coi như đi đời hết. Chúng ta xuống phía nam đầu quân theo Viên Thuật vậy... - Lưu Tịch nghiến ráng nghiến lợi, - Tào Mạnh Đức, hãy chờ xem, sau này ta sẽ tính sổ với ngươi!

Để tránh bị quân Tào truy sát, Lưu Tịch chỉ đem theo năm trăm người đào thoát khỏi Cát Pha. Tịch đi chưa lâu, đảo giữa hồ bỗng nhiên cháy lớn. Trong đêm tối mênh mang, ánh lửa sáng rực cả một vùng trời, doanh lũy các nơi của quân Khăn Vàng khi biết lương thực đã bị cháy, ngay cả chủ soái cũng chẳng thấy tông tích đâu, nhân tâm nhất thời hoảng loạn. Đám lửa này cũng là tín hiệu cho quân Tào dốc toàn lực tấn công, tức thời, tiếng hò reo của quân Tào đã vang trời dậy đất, đèn đuốc sáng như ban ngày, từ mé tây ùn ùn đổ tới.

Quân Khăn Vàng vừa thấy đám lửa đã khiến quá nửa quân số thất vọng, không còn đủ sức đánh tiếp nữa, nhiều doanh lũy đã chủ động xin hàng. Một số ít ngoan cố chống lại cũng chẳng có tác dụng gì, bọn Đoàn Chiêu, Nhậm Phúc, Lưu Đại, Lưu Nhược sớm đã tỏa đi các trại làm tiên phong dẫn đường. Chúng đã đợi ở đây hơn ba năm rồi, dẫn quân Tào nhận biết đường đi lối lại, đánh những chỗ yếu hiểm. Men theo Cát Pha thảy ba chục dặm đâu cũng thấy khói lửa mịt mù, tiếng gào thét, tiếng mắng chửi, tiếng cầu cứu vang vọng thấu trời. Chỉ qua một đêm, quân Tào đã san bằng tất cả cứ điểm cuối cùng của giặc Khăn Vàng ở Trung Nguyên. Trận này kết thúc, từ đó về sau, cả đất Dự Châu đều rợp kín tinh kỳ của quân Tào.

Khi Tào Tháo dẫn binh mã trở về doanh trại thì lại có một tin tốt lành nữa mang tới. Vương Tất đã quay về, bẩm báo việc Đổng Chiêu ngụy tạo thư tín: Trương Dương được thư rất đỗi vui mừng, bộ hạ là Kỵ đô úy Từ Hoảng cũng khuyên hắn nên sớm bắt tay với Tào Tháo, kết quả là Trương Dương không những đồng ý mà còn đích thân dâng biểu lên triều đình, gia phong Tào Tháo làm Trấn Đông tướng quân, tước Phí Đình hầu.

Trong doanh trướng, văn võ đều quỳ cả xuống mà chúc mừng Tào Tháo. Nhưng Tào Tháo có vẻ không vui mừng cho lắm, cầm chiếu thư ném lên trên án, rồi cầm bút thảo một tờ biểu, vừa viết vừa giải thích với mọi người rằng:

— Nhớ khi xưa tổ phụ ta vì phò tá Hiếu Hoàn đế đăng cơ mà được thụ phong Phí Đình hầu, nay triều đình lại muốn ban cho ta tước vị này. Nhưng Tháo ta sở dĩ chinh chiến bốn phương, trên là vì thiên tử dưới là vì lê dân, không cầu phong hầu tước quý. Chức tướng quân có thể làm được, chứ tước vị này không thể lĩnh nhận! - Nói đoạn múa bút, tờ biểu từ chối thụ phong tước hầu một thoáng đã viết xong, Tháo cầm lên kêu Tuân Úc:

— Văn Nhược xem qua giúp ta một chút!

Tuân Úc đứng đầu mé đông, đứng dậy hai tay đỡ lấy rồi cúi đầu xem:

Thần tru diệt bạo nghịch, bình định hai châu, bốn phương quy thuận, coi như có chút công. Tiêu tướng quốc trước có công lao ở Quan Trung mà được thụ phong; Đặng Vũ lập công lao ở đất Hà Bắc mà được phong đất, lập ấp mấy thành. Xét khảo công trạng, thần thực không có công lao. Tổ phụ thần xưa làm Trung Thường thị hầu, chỉ luôn thường theo xa giá, cũng hay trợ phò tả hữu, chẳng phải bậc túc trí mưu đầu, cũng nào phải quần hùng múa kích, vẫn được lĩnh thụ tước phong, đến thần nay đã trải ba đời. Thần nghe quẻ Dự trong Kinh Dịch rằng: “Lợi kiến hầu, hành sư”[4]. Kẻ cầm quân có công thì cũng có thể lập tước hầu. Lại nghe hào Lục tam trong quẻ Tụng: “Thực cựu đức, hoặc tòng vương sư.” Ý là tiên tổ xưa có công đức, hoặc nếu từng phò vua có công, tử tôn được ăn lộc ấy. Trộm nghĩ, bệ hạ mang đức nhân của càn khôn, giáng ơn nhuần của mưa móc, có ghi chút tiết tháo của tiên phụ ngày trước, quân vụ lại cho vời thần ra sức khuyển mã, kế sách tin dùng mà đức nhân tỏ rõ, sợ ngu thần đây khó bề kham được.

Xem khắp một lượt, Tuân Úc tựa có chút nghi hoặc: “Tiên tổ xưa có công đức, hoặc nếu từng phò vua có công, tử tôn được ăn lộc ấy” - Tào Tháo rõ ràng ám chỉ việc mình được thụ phong tước vị là lẽ đương nhiên, vậy tại sao lại nói “sợ ngu thần đây khó bề kham được”, rốt cuộc là Tào Tháo có ý gì? Úc lén nhìn sang phía Tào Tháo, thấy vẻ mặt Tháo có chút khó hiểu, lập tức ngộ ra: Tổ phụ Tào Tháo xưa là hoạn quan, nhân vì phò giúp bảo vệ Hiếu Hoàn đế Lưu Chí lên ngôi mà được thụ phong Phí Đình hầu, cũng vì Lưu Chí làm hoàng đế mà sau mới có ngoại thích là Lương Ký gây họa làm loạn thiên hạ Đại Hán ba chục năm... Được phong hầu trong lòng Tào Tháo vốn rất vui, nhưng ông ta không thể lĩnh nhận tước Phí Đình hầu theo tổ ân được.

— Thế nào rồi, Văn Nhược?

Tuân Úc nghe Tháo hỏi, vội đặt tờ biểu lại soái án rồi đáp rằng:

— Đại công chưa thành, có tước vị trước thành ra cũng chưa thỏa đáng, nếu ngày sau sứ quân lập đại công khác rồi được thụ phong tước hầu nơi khác, khi ấy việc lĩnh nhận cũng không có gì là quá.

— Thật sáng suốt... - Tháo biết Úc rất hiểu, gật gật đầu liên tục.

Huynh đệ Hứa Chử, Hứa Định dẫn bọn tiểu tướng Đoàn Chiêu, Nhậm Phúc, Lưu Đại, Lưu Nhược vào trướng rồi quỳ xuống. Tào Tháo đích thân đứng dậy đỡ rồi bảo:

— Trọng Khang vất vả rồi!

Hứa Chử không chịu đứng dậy:

— Chúng thuộc hạ đều là đồng hương với tướng quân, từ nay về sau nguyện theo tướng quân mà gắng sức nơi sa trường.

— Được! - Tháo vỗ vai hắn, - Binh mã của ngươi ngày trước, ngươi vẫn thống lĩnh.

Hứa Chử lắc đầu mà rằng:

— Thuộc hạ chẳng qua cũng chỉ là kẻ dũng phu, khi xưa vì để toàn mạng mà miễn cưỡng đem cả đồng bọn cố thủ ở đó. Nay đã quy thuận theo minh chủ, nên để bọn thuộc hạ theo sự điều khiển của tướng quân. Còn như thuộc hạ... - Hắn ngẩng đầu nhìn Điển Vi phía sau soái án, - Xin được như Điển Vi, đứng bên cạnh tướng quân mà kham chức hộ vệ được chăng?

Đề nghị đó rất hợp ý Tào Tháo:

— Nhữ Chân chính là Phàn Khoái của ta vậy... Ta bổ nhậm ngươi làm Đô úy, gia binh nhà họ Hứa sẽ giao cho Hứa Định thống lĩnh. Còn Đoàn Chiêu, Nhậm Phúc, Lưu Đại, Lưu Nhược mấy người thảy đều thăng nhậm làm Tư mã, suất lĩnh bộ hạ về quy thuộc các doanh trại.

— Tạ tướng quân! - Cả bọn ai nấy vui vẻ đứng dậy, nhất là bọn tiểu tướng Đoàn Chiêu, Nhậm Phúc, chúng vốn là bạch đinh, nay nhảy một cái đã có được cấp bậc trong quân đến hàng Tư mã.

Nhưng kỳ thực, vui sướng nhất vẫn là Tào Tháo, vô tình mà đem được cả thế lực gốc gác Dự Châu để bổ sung làm lớn mạnh khắp quân doanh.

Đúng lúc ấy lại có trận ồn ào náo loạn bên ngoài, bọn Tào Nhân, Vu Cấm, Nhạc Tiến dẫn binh chạy tới, tình hình thu phục các huyện đều rất thuận lợi, nay sau quận Dự Châu là Dĩnh Xuyên, Nhữ Nam, đất Bái, đất Lương, đất Trần, đất Lỗ đều đã được an định. Tào Tháo lim dim mắt, vuốt vuốt chòm tóc mai:

— Ba ngươi chấn chỉnh lại các huyện của Dự Châu, có thành trì nơi nào kiên cố mà chưa bị xâm hại?

Cả ba quay mặt nhìn nhau, cuối cùng Vu Cấm tiến lên thưa:

— Hồi bẩm tướng quân, huyện Hứa ở Dĩnh Xuyên là kiên cố nhất.

Huyện Hứa! Vừa ở Trung Nguyên có thể tránh đao thương, lại vừa cách Lạc Dương không xa, thật đúng là ý trời... Tào Tháo khẽ cười:

— Nếu huyện Hứa đã kiên cố như vậy, ta thấy gia quyến của đám Khăn Vàng đã quy phục, cùng quyến thuộc Trọng Khang mấy người các ngươi hãy tạm dời về đó sống.

— Tuân lệnh! - Hứa Chử nói dứt lời, liền tiến đến đứng ngay sau Tào Tháo, cùng Điển Vi mỗi người một bên tả hữu.

Tào Tháo chợt nghĩ tới một chuyện rồi lại quay người nhìn em rể là Nhậm Tuấn:

— Bá Đạt, tuy sáu quận Dự Châu nay đã tạm yên, vẫn phiền ngươi chuyển quân lương các nơi đến huyện Hứa.

Nhậm Tuấn tuy ở trong quân nhưng không phải ra trận, mà chuyên quản các việc lương thảo trong doanh Tào Tháo. Lương thảo là gốc rễ của quân đội, thực tế Tháo đã đem sinh mạng huyết mạch của đại quân trao cả cho Nhậm Tuấn nắm giữ. Tuấn vừa là người Dự Châu, lại vừa là người thân của Tào Tháo, đương nhiên hiểu rõ kế hoạch chuyển căn cứ từ Duyện Châu qua Dự Châu, vừa nghe đoạn liền đứng lên rồi chậm rãi mà rằng:

— Mạt tướng sẽ gắng hết sức, có điều việc vận lương cần phải nhanh chóng, nếu chậm trễ e rằng sẽ xảy ra chuyện ngoài dự liệu. - Tuấn nói vẻ cẩn trọng, xảy ra chuyện ngoài dự liệu ở đây là chỉ Viên Thuật cất binh đến đánh, tệ hơn là dễ khiến người Duyện Châu có thể sinh lòng phản đối, - Vậy nên mạt tướng muốn thỉnh tướng quân cho phép mượn Nguyên Nhượng hai người.

— Sao? - Hạ Hầu Đôn cười nhạt, - Bá Đạt muốn mượn ai cứ việc nói thẳng, tại hạ tất sẽ tận mệnh chu tất.

— Không dám, không dám. - Nhậm Tuấn nói vẻ ngại ngùng, - Có thể cho tại hạ mượn dùng hai người trong doanh là Táo Chi, Hàn Hạo được không, nếu được là ba người đốc thúc việc vận lương hai quận thì có thể giảm được hơn nửa thời gian.

Nhậm Tuấn chọn hai người này là đều đã suy tính kỹ càng đâu đấy. Táo Chi là người Dĩnh Xuyên, Dự Châu, khi loạn Trần Cung từng cứu mạng Hạ Hầu Đôn, cũng lại là thân tín của Tào gia; Hàn Hạo tự là Nguyên Tự chính là nhân sĩ Hà Nam, trước kia ở dưới trướng Viên Thuật nay đi theo Tào Tháo. Dùng hai người này quản lương đều không có liên can gì đến người Duyện Châu.

Hạ Hầu Đôn liền cười mà rằng:

— Việc này có gì khó, chỉ cần gọi tới để ông sai bảo là được.

— Được, ba ngươi đi làm đi. - Nói đoạn Tào Tháo lại thở dài, - Trận đêm qua, đốt cả lương thảo trữ ở Cát Pha, thực là đáng tiếc...

Hứa Chử cười thật thà rồi nói rằng:

— Lưu Tịch muốn dùng diêm sinh làm vật dẫn lửa để đốt hại chúng ta, nên chỉ sợ mấy thứ ta đốt đó lửa bắt vào thuyền thì nguy.

— Ha ha ha... Đem tất cả lương thực ở đó cùng chuyển đến Hứa huyện. - Tháo cứ cười mãi, Hứa Chử tuy thô lậu xuề xòa nhưng lại chu đáo cẩn thận, cũng khá hơn Điển Vi một bậc.

Hạ Hầu Đôn thấy thế mới nói chêm vào:

— Tướng quân thử đoán xem đêm qua ai giết nhiều địch nhất?

Tào Tháo đưa mắt sang Hạ Hầu Uyên:

— Hẳn lại là Diệu Tài.

Hạ Hầu Uyên lắc đầu.

— Vậy là Tử Liêm?

Tào Hồng cũng lắc đầu cười cười:

— Tiếc là người này không ở trong trướng chúng ta.

Vậy là Vương tử Phục... Tào Tháo thấy khá bất ngờ và chợt như nhận ra, rồi nhìn khắp lượt văn võ trong trướng:

— Trong thiên hạ ai là kẻ chí khí lẫm liệt? Chư quân thử nghĩ xem, bất luận là vương tôn công tử hay bách tính thứ dân, bất kể là người Duyện Châu hay Dự Châu, chỉ cần là vì thiên hạ trăm họ, được kết làm huynh đệ đồng sinh cộng tử thì chẳng phải cũng đáng lắm sao? Có thể thấy rằng thiên hạ chính là thiên hạ của người trong thiên hạ, không nên vì lợi riêng mà bỏ đi nghĩa cử. - Lời nói hàm chứa lời răn dạy, ý nghĩa sâu xa.

— Vâng! - Mọi người trong trướng đều cúi người vòng tay thi lễ vẻ tán đồng.

Bấy giờ cũng có kẻ lờ mờ hiểu ra rằng, chuyện từ Duyện Châu chuyển qua Dự Châu là việc chắc chắn và là sự thực không thể thay đổi được nữa.

Thiên tử về kinh

Trong lúc Tào Tháo đang bận rộn với việc an định Dự Châu, hoàng đế Lưu Hiệp nhờ quần thần hộ giá cũng về đến kinh đô nhà Hán tại Lạc Dương, nơi đã cách biệt sáu năm ròng. Về lại cựu đô, những tưởng có thể vui vẻ nhưng thực tế lại thêm phần lo lắng.

Lạc Dương không còn là nơi đô hội đệ nhất thiên hạ nữa. Hai cung nam bắc hùng vĩ, cửa Bạch Hổ nguy nga tráng lệ, Đông Quán tàng chứa điển tịch bao đời, đô hội phồn hoa, lâu đài lộng lẫy thảy đều đã tan biến cùng ngọn lửa của Đổng Trác năm nào, nay chỉ còn trơ lại đất bụi tro tàn, ngói tan gạch vỡ, cây cỏ thê lương. Để cho hoàng đế có chỗ ra vào, Đại tư mã Trương Dương đã miễn cưỡng cho xây một tòa chính điện trên nền đất cũ Nam cung, nhưng vì muốn làm rạng rỡ công tích của mình, Trương Dương đã công nhiên đặt tên là “Dương An điện”. Thật đúng là, hổ xuống đồng thì chó cũng khinh, hoàng đế Lưu hiệp chỉ còn cách chịu khổ nhẫn nhịn phía dưới tấm biển ấy, đến cả hoàng hậu và quý nhân cũng chẳng có nơi nào để ở.

Trong khi đó, tình cảnh của đám công khanh đại thần lại chẳng khác hồi còn ở An Ấp là mấy. Suy cho cùng ở An Ấp cũng còn mấy phòng ốc cho công hầu lão thần, nhưng tại Lạc Dương, đến cả điều kiện như thế cũng không, Hà Nam nội trong ngàn dặm không nghe thấy tiếng gà tiếng chó, chẳng khác nào nơi tử địa hoang lương, lương thực thiếu thốn vô cùng. Ngoài tiếng hư danh đô thành Đại Hán trước đó ra, Lạc Dương hiện giờ chẳng còn ý vị gì nữa.

Lưu Hiệp ngồi yên trên điện Dương An, lắng nghe Thị trung Chủng Tập bẩm báo đại khái. Mâu thuẫn giữa hai phe Bạch Ba và cựu tướng Tây Lương rốt cuộc vẫn không cách nào hóa giải, Hàn Tiêm lĩnh binh đột kích bọn Đổng Thừa. Thừa thất bại phải chạy đến huyện Dã Vương tìm Trương Dương rồi lôi kéo Trương Dương câu kết với Hung Nô, mấy nhà bọn chúng liên hợp quyết sinh tử với Hàn Tiêm. Tình thế vô cùng cấp bách như thế, mà Lưu Hiệp lại chẳng mấy lưu tâm. Ánh mắt Lưu Hiệp lướt qua đầu Chủng Tập, hướng ra phía sân, bên ngoài đại điện cây cỏ um tùm. Những suy nghĩ trong đầu Lưu Hiệp lúc này chỉ là phụ hoàng Lưu Hoằng sinh thời xa xỉ ham muốn vô độ, sủng ái tin dùng hoạn quan, chinh phạt Tiên Ti, bạo ngược trăm họ, giam hãm trung lương... Nay Hiệp không vô đạo như cha mà phải chịu khổ, phải trả giá cho những tội ác từ đời trước, lẽ nào đây là tổ tông tạo nghiệt mà nay báo ứng cả tới con cháu?

Thị trung Chủng Tập đang quỳ trên điện tuy không ngẩng đầu lên nhìn nhưng cũng cảm thấy hoàng thượng không mấy tập trung, Tập biết khó mà nhắc nhở được liền dừng lời lại, cúi đầu moi moi khe gạch.

Hồi lâu sau, Lưu Hiệp mới phát hiện ra Chủng Tập không nói nữa, hắng giọng rồi bảo:

— Chủng ái khanh, ngươi chớ nói nữa, hãy lui ra đi!

— Ơ? - Chủng Tập ngước nhìn lên rồi lại cúi đầu xuống, - Hàn Tiêm vô cớ công phạt Đổng Thừa, việc này, xin bệ hạ...

— Trẫm quản không nổi nữa rồi. - Môi Lưu Hiệp run run, một mực xua tay, - Trẫm không quản được ai nữa cả... Hàn Tiêm, Đổng Thừa, lại còn Dương Phụng, Trương Dương, bọn chúng muốn làm loạn gì thì làm, trẫm mệt rồi.

— Nhưng dẫu sao bệ hạ vẫn gọi Đổng Thừa bằng cậu, ông ta còn là thân phụ của Đổng quý nhân! - Chủng Tập nói lấy được, lời lẽ khẩn thiết.

Lưu Hiệp cũng chẳng buồn quan tâm, chầm chậm đứng lên, tên hổ bôn[5] thấy thế chạy lại đỡ. Hoạn quan đã bị người của Hà Tiến giết hết, cung nữ thì bị Đổng Trác, Lý Thôi cướp sạch, Thị ngự sử cũng bị quân Tây Lương giết ráo, nay theo hầu bên cạnh hoàng đế chỉ còn mấy tên dũng sĩ. Lưu Hiệp cứ để hắn dìu thế quay về hậu điện, đến gần bức bình phong chợt dừng bước lẩm bẩm:

— Chủng ái khanh, ngươi với Đổng Thừa vừa là đồng hương vừa là bằng hữu, nên vừa rồi bẩm báo đều là bao che cho hắn, trẫm nói có đúng không?

Không ngờ tiểu hoàng đế mười sáu tuổi như Lưu Hiệp lại có thể nói ra được những lời như vậy. Chủng Tập sợ hãi quỳ sụp xuống, cúi đầu không dám nói nửa lời nào nữa. Mãi không thấy có chút động tĩnh gì, Tập mới lấm lét ngước mắt nhìn quanh, hoàng đế đã đi tự bao giờ...

Lưu Hiệp vào trong màn trướng nơi hậu điện, bấy giờ mới bảo với tên hổ bôn:

— Cho ngươi lui, không có việc gì chớ vào.

— Việc này... - Tên hổ bôn có vẻ khó xử.

Lưu Hiệp cười đáp:

— Quay về bảo với chủ thực sự của ngươi là Hàn Tiêm rằng, hoàng thượng giờ rất thực thà, sẽ không nhúng tay vào chuyện của họ đâu... Cút đi! - Thấy tên hổ bôn răm rắp đi ra, Lưu Hiệp hít một hơi rồi mới rảo bước vào trong trướng.

Phụ quốc tướng quân Phục Hoàn, Thị trung Dương Kỳ, Thái phó Hàn Dung đợi đã lâu, bọn chúng giả làm tùy tòng của hoàng hậu mà lén vào cung, vừa thấy hoàng thượng quay về liền vội đứng lên thi lễ.

— Mấy vị lão thần hà tất phải giữ lễ, đều ngồi cả đi. - Lưu Hiệp phẩy tay, rồi điềm nhiên ngồi xuống giữa bọn họ. - Lúc này còn câu nệ lễ quân thần gì nữa? Đại Hán ta còn lại được mấy vị trung lương như các ngươi. - Lời ấy vừa là tán dương nhưng cũng lại vừa thấm nỗi xót xa, với tuổi mười sáu chừng thật không hợp, chẳng ai ngẩng đầu lên tiếng đáp lại.

Thị trung Dương Kỳ chính là người trong tộc Hoằng Nông, họ Dương bốn đời tam công, là tằng tôn của lão thái úy Dương Chấn triều Hiếu An đế, là anh họ của Dương Bưu thái úy đương triều. Khi ở Trường An, chính ông ta là người xúi bộ tướng của Lý Thôi là Tống Hoa làm phản, tạo điều kiện để Lưu Hiệp về đông. Cũng vì việc này mà Lưu Hiệp hoàn toàn coi ông ta là tay chân tâm phúc.

Thái phó Hàn Dung là lão thần rất có uy vọng, khi xưa cùng Thiếu phủ Dương Tu, Chấp kim ngô Hồ Mẫu Ban, Tướng tác đại tượng Ngô Tu, Việt kỵ hiệu úy Vương Khôi cùng an định vỗ về Quan Đông, bốn người khác thảy đều bị Viên Thuật, Vương Khuông giết hại, chỉ riêng Dung nhờ uy vọng sẵn có mà tránh được nạn. Dung thoát được nhưng không nơi lánh nạn nên đành cam tâm tình nguyện quay về bên hoàng đế cùng chịu hiểm nguy sóng gió, vì thế ông ta cũng rất được Lưu Hiệp tín nhiệm.

Còn Phụ quốc tướng quân Phục Hoàn là cha của hoàng hậu, là quốc trượng đương triều và nghiễm nhiên được Lưu Hiệp coi trọng dựa vào. Họ Phục ở Đông Hải xưa này không can dự vào việc tranh chấp trong chính sự, bởi vậy có hiệu là “Phục bất đấu”, nhưng trước tình thế hiện giờ, Phục Hoàn cũng bất đắc dĩ phải đứng lên triều đường. Chức Phụ quốc tướng quân mà Phục Hoàn đang mang thực ra cũng chỉ là hư danh, thủ hạ trong tay cùng lắm cũng chỉ hơn trăm tên tạp dịch, lại chưa từng kinh qua chiến trận, vì thế trong lúc nguy nan này chỉ có thể làm đệm đỡ cho hoàng thượng mà thôi.

Dương Kỳ tay dâng tờ biểu đến trước mặt hoàng thượng:

— Đây là do Tào Tháo viết, đã lần thứ ba từ chối nhận phong tước, xem ra tước Phí Đình hầu này hắn cố không muốn nhận.

Lưu Hiệp cầm lấy lướt mắt qua:

Dẫu biết bệ hạ liệt tổ phụ của thần vào hàng công thần, bình định bọn phản loạn, phù lập Hiếu Thuận hoàng đế, việc ấy Tháo cũng chưa quên, lại thêm được thụ phong tước vị, cắt đất nhận ấp. Thánh ân soi rọi sáng tỏ, khiến thần chạnh lòng mà nhớ tới quê xa. Bình thường thần vẫn được xem là hậu duệ của bậc trung hiếu, mà không lường xét thần có tài hay không. Thần đã gắng thừa tiếp tước vị và đất phong, nhưng thẹn với tổ khảo, lại được ơn trên ban cho làm tướng, kiêm lãnh chính lệnh của muôn dặm đại châu, trong triều thì sánh với bậc đại thần, ngoài quận thì ngang vời hàng Nhị bá, bản thân được chức tước vinh hiển, mà họ tộc cũng được phúc khôn cùng vậy. Trước kia Đại Bành phụ giúp nhà Ân, Côn Ngô phù trợ nhà Hạ, công thành sự thỏa, mà được tước thưởng. Thần việc ước thúc, tu dưỡng không xứng, mà việc trị lí cũng chẳng có công tích gì, được đội ơn rất mực sủng ái, sách mệnh tặng khen công tích, chưa đầy một giờ, ba sắc lệnh ban đến. Hai lần ban kim ngư đại và tử ngư đại, khiến kẻ trấn thủ một phương được rạng rỡ. Tuy không hiểu nghĩa lí, ngõ hầu cũng biết sự biệt đãi.

— Không muốn thì thôi, dẫu sao hắn cũng có giao tình với Dương Phụng. Hắn đã chiếm Dự, Duyện hai châu, thì đâu cần phải để tâm đến tước hầu hữu danh vô thực nữa! - Lưu Hiệp quẳng tờ biểu đi, - Rốt cuộc Hàn Tiêm và Đổng Thừa thế nào rồi?

Hoàng thượng chẳng hề quan tâm tới an nguy của Đổng Thừa, thực ra trong cung đâu đâu cũng có tai mắt của các phe, không thể muốn nói là nói trước mặt như Chủng Tập, còn phải giả bộ nghiêm khắc trách mắng để răn đe người khác.

Hàn Dung thở dài nói rằng:

— Hàn Tiêm tự ý cất nhắc bộ hạ Bạch Ba, rồi nhúng tay vào việc của cấm quân, Đổng tướng quân vì thế mà ra mặt ngăn chặn. Hàn Tiêm liền lĩnh binh nhân đêm tấn công doanh trại Đổng tướng quân, khiến ông ấy thua chạy đến Dã Vương, và còn gửi thư cho Dương Phụng và Hung Nô, hẹn nhau hợp sức đánh lại Hàn Tiêm.

Lưu Hiệp liên tục lắc đầu:

— Cữu cữu ta vẫn là có lòng bảo vệ thánh giá, nhưng lại không hiểu cái lẽ phải nhẫn nhịn cam tâm, cứ cứng đầu liều mạng thế sao thành đại sự được đây? Hàn Tiêm, Dương Phụng là hai con sói, còn Trương Dương như bùn nhão chẳng phết nổi lên tường, Hung Nô lại chờ đợi cơ hội, chúng ta phải nghĩ cách thoát thân mới được.

Hàn Dung lại nói thêm:

— Nghe nói Đổng tướng quân đã gửi thư đến cho Tào Tháo, mời hắn cùng đến Lạc Dương đánh Hàn Tiêm. Tào Mạnh Đức, người này chúng ta có thể dựa vào được.

Lưu Hiệp toàn thân run lên, cầm tờ biểu đọc kỹ lại: Đại sự thành công, tất được ban tước... Người này chí thật không nhỏ chút nào! Tào Tháo từng đánh dẹp Khăn Vàng, thảo phạt Đổng Trác, công tích hơn hẳn bọn Dương Phụng, Hàn Tiêm, nhưng người này... - Lưu Hiệp bất giác nhớ lại tội ác của Tào Tháo khi hắn đồ sát ở Từ Châu, rồi lại lắc đầu:

— Chỉ e một khi đã hoàn thành đại sự hắn sẽ trở thành mối uy hiếp với trẫm.

Phục Hoàn chen ngang rằng:

— Bất luận là phúc hay họa, hoàng thượng hãy cứ thử dùng Tào Tháo một lần.

Lưu Hiệp cười khổ: “Quốc trượng nói nghe hay quá, nay không phải là trẫm thử dùng Tào Tháo, mà e là hắn muốn thử lợi dụng trẫm thôi? Nhưng ngoài Tào Tháo ra, liệu trẫm còn có lựa chọn thứ hai không? Viên Thiệu ở Hà Bắc à, gần đây hắn mới tự ý ra lệnh cho nhi tử là Viên Đàm ra làm Thứ sử Thanh Châu, đánh cho Khổng Dung ở Bắc Hải không kịp trở tay, kẻ mà ngày trước còn đầy miệng nhân nghĩa đạo đức thế thì còn mong ngóng gì được. Còn tên Hoài Nam Viên Thuật à, người mong trẫm chết nhất chính là hắn, tìm hắn khác nào tìm hổ đòi da. Lưu Yên ở Ích Châu đã chết, con trai hắn là Lưu Chương nay đã là vua đất ấy đời thứ hai, ngôi vị còn yên ổn hơn cả trẫm đây! Kinh Châu Lưu Biểu cũng là một lựa chọn đấy, song muốn đến Tương Dương lại phải đi qua đất của Tào Tháo...” Nghĩ đi nghĩ lại tựa như chỉ còn có Tào Tháo là lựa chọn duy nhất, Lưu Hiệp thở dài, đột nhiên rút từ trong áo ra một tấm lụa vuông.

— Bệ hạ, ý người là...

Lưu Hiệp cầm bút lên:

— Trẫm muốn gọi Lã Bố dẫn quân đến hộ giá.

— Lã Bố?! - Việc này nằm ngoài dự liệu của cả ba vị lão thần.

Lưu Hiệp vung bút viết nhanh, vừa viết vừa nói:

— Lã Phụng Tiên dẫu sao cũng có công đâm Đổng Trác, trong khi hắn cũng có mối thù tranh đoạt Duyện Châu với Tào Tháo, hai bọn chúng đang bất hòa.

— Vậy sao bệ hạ còn muốn cho vời hắn tới? - Hàn Dung nói vẻ chưa hiểu.

Đôi mắt trống rỗng của Lưu Hiệp bỗng sáng lên:

— Chính vì bọn chúng bất hòa nên ta mới vời hắn tới để kìm hãm Tào Tháo. Một người không dễ khống chế, hai người thì khá hơn nhiều. - Nói đoạn bức mật chiếu ngắn gọn cũng đã viết xong, Lưu Hiệp trao cho Dương Kỳ:

— Dương ái khanh, việc này ta giao cho ngươi, nghĩ cách tìm người gửi đi.

— Việc này... - Dương Kỳ mặt vẻ khó khăn, - Lã Bố vốn là bại tướng dưới tay Tào Tháo, liệu còn dám đấu với Tào Tháo nữa không? Dù hắn có dám đấu, thì cứ theo tình trạng hiện nay ở Từ Châu, Lã Bố cùng với Lưu Bị, Viên Thuật ba nhà đang kiềm chế lẫn nhau, dù hắn có muốn tới thì liệu có yên ổn mà rút không?

Lưu Hiệp chợt hiểu ra điều này, khẽ nhéo tay Dương Kỳ:

— Trẫm biết Lã Bố chưa chắc đến được, nhưng hiện giờ trẫm chỉ có thể lựa xem Tào Tháo ra sao mà hành động. Hà Nam ngàn dặm hoang vu khó lập được căn cơ, chỉ có thể tìm được một nơi yên ổn mà dừng lại mới mong có thể mưu việc về sau. Dựa vào Tào Tháo nhưng lại không được để hắn chuyên quyền, chỉ còn cách tìm một người đấu cùng hắn, thế thì trẫm mới có thể nhân đó được lợi mà phục hưng nhà Hán! - Vừa nói Lưu Hiệp vừa nhìn chằm chằm vào Dương Kỳ, - Trẫm tuy là thiên tử nhưng lại không thể quyết định được thiên mệnh, chỉ có thể làm hết phận sự của mình mà thôi...

Nhìn thẳng vào thiên tử là không đúng với lễ quân thần, nhưng lúc này Dương Kỳ cũng chẳng còn bận tâm gì đến lễ pháp nữa. Ông ta nhìn dáng vẻ thanh tú nho nhã của Lưu Hiệp mà lòng như dao cắt: “Nay sao hoàng thượng không phải là minh chủ chứ? Khi xưa ở Tam Phụ, bị Lý Thôi bức đến khó giữ tính mạng vẫn luôn chẩn tế nạn dân... Tài tình có, đức độ có, chỉ tiếc không có cái phúc nhất thống thiên hạ... mới mười sáu tuổi đã gặp biết bao tai ương... Tiên đế, đúng là tạo nghiệt mà!”

Dương Kỳ bất giác tuôn lệ, Phục Hoàn đưa cho Dương Kỳ tấm lụa trắng để lau nước mắt. Hàn Dung lại có chút lo lắng mới hỏi rằng:

— Nếu Lã Bố không đến được thì làm sao?

— Vậy hãy đốt bức mật chiếu này đi, quên hết những lời trẫm nói hôm nay! - Khuôn mặt xanh xao của Lưu Hiệp thoáng như mây khói mịt mờ.

Ba vị lão thần thảy đều lặng lẽ nhìn nhau: “Việc bất luận có thành hay không, tuyệt đối không thể cho Tào Tháo đang sắp vào kinh biết được. Vạn nhất tin tức lộ ra ngoài, không những không giữ được ba cái mạng già này, ngay đến hoàng thượng cũng khó giữ nổi...

❀ ❀ ❀

[1] Hiếu bắt đầu từ thờ cha, trung bắt đầu từ thờ vua, kết thúc ở lập thân.

[2] Chỉ sáu tước bậc để ban thưởng quân công, gồm Liệt hầu, Quan nội hầu, Danh hiệu hầu, Quan trung hầu, Quan ngoại hầu và Ngũ đại phu, từ Quan nội hầu trở xuống chỉ có phong hiệu, chứ không có thực ấp.

[3] Chỉ quốc gia gắn liền với tước vị của người làm chủ. Công quốc là nước của người mang tước công, còn vương quốc là nước của người mang tước vương.

[4] Trích bài Biệt thi của Ứng Sướng.

[5] Giàu sang mà không hồi hương, khác nào áo gấm đi đêm.

g Hộc, đều là những nét bút mà những kẻ đọc sách tranh nhau sưu tầm, học theo, những người bình thường tốn công nhọc kế cũng không xin được, hôm nay Chung Do lại chủ động đề tặng. Nhưng Đinh Nghi không những không vui, trái lại mặt mày thất
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Vương Hiểu Lỗi

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.