Sau thắng lợi của cuộc chiến ở Trường Xã, ba cánh quân của Chu Tuấn, Hoàng Phủ Tung, Tào Tháo hợp binh, Vương Doãn cũng thuận thế tiến vào Dương Địch tiếp nhận chức thứ sử Dự Châu. Giặc Khăn Vàng ở Dĩnh Xuyên đại bại, thủ lĩnh Ba Tài chết trong đám loạn quân, thành Lạc Dương thoát khỏi nguy cơ bị tiêu diệt. Hoàng đế Lưu Hoành mừng lắm, tức khắc gia phong cho Hoàng Phủ Tung làm Đô Hương hầu, Chu Tuấn làm Tây Hương hầu. Lại nhân vì có công trong việc khống chế Khăn Vàng nên thưởng cho danh hiệu là Trấn tặc Trung lang tướng, và lệnh cho họ tiếp tục bình định hết số dư đảng của giặc ở Dự Châu. Cùng với thành công của trận chiến ấy, thế đối chọi giữa quân triều đình và quân khởi nghĩa đã hình thành nên một bước nghịch chuyển.
Trương Giác dựa vào Thái Bình đạo mê hoặc dân chúng khởi nghĩa, nhưng tài năng cầm quân đánh trận của hắn thì không có gì đáng để khen ngợi. Hắn tự xưng là “Thiên công tướng quân”, thống lĩnh những tín đồ trung thành nhất của bốn châu ở Hà Bắc, nhưng bản thân chỉ là kẻ chí lớn tài hèn, ngay cả Lư Thực là người có binh lực không bằng một phần mười của mình cũng đánh không nổi. Suy cho cùng hắn ta cũng không có bản lĩnh “rắc đậu thành binh”, tất cả những tà pháp yêu thuật đều không thể chống lại đối thủ. Sau khi liên tục bại trận, chỉ còn cách lui về qua Hoàng Hà, bỏ đất Lê Dương, Nghiệp Thành, đem đại quân co cụm về huyện Quảng Tông, không dám ra khỏi thành một bước.
Thủ lĩnh thua trận, khí thế của quân Khăn Vàng bị đánh tan hơn bao giờ hết. Lại thêm, quân hương dũng do cường hào và quan lại các nơi tự phát tổ chức cũng tỏ rõ tài năng của mình, làn sóng phản công dâng cao, quân Khăn Vàng chỉ còn cách chia nhỏ đội hình nhóm nào nhóm ấy tự đi vào hoạt động du kích, có kẻ thậm chí còn chui vào tận rừng sâu núi thẳm lẩn trốn.
Những toán quân lớn còn lại chỉ có nghĩa quân chủ lực ở Hà Bắc do anh em Trương Giác dẫn đầu, cùng với một bộ phận do “Thần thượng sứ” của Thái bình đạo là Trương Mạn Thành dẫn đầu chiếm cứ các khu vực ba quận Trần Quốc, Nhữ Nam, Nam Dương.
Chu Tuấn, Hoàng Phủ Tung, Tào Tháo cùng với Vương Doãn, mất vài ngày để quét sạch dư đảng Khăn Vàng ra khỏi bốn phía xung quanh Dương Địch, tiếp nhận một số lượng lớn quân khởi nghĩa đầu hàng, có thể nói sơ bộ đã khống chế cục diện. Nhưng bước tiếp theo là, ba quận Trần Quốc, Nhữ Nam, Nam Dương đều có lượng lớn quân phản nghịch, chia ra giữ ba mặt Đông, Tây, Nam của Dĩnh Xuyên, trông chừng được chỗ nọ, thì phải bỏ chỗ kia. Mà Dĩnh Xuyên còn chưa được dẹp yên, lực lượng trông giữ không đủ, mọi người đều vắt óc suy tính bước chiến lược tiếp theo, thì chợt có lính về báo, có sứ giả từ quận Nam Dương đến.
Mọi người đều mừng rỡ, quận Nam Dương từ sau khi thái thú Chử Cống chiến tử, đã không có tin tức gì nữa, chống đỡ với quân Khăn Vàng đều chỉ dựa vào lực lượng vũ trang ở địa phương, mọi người đang rầu lòng vì không rõ tình thế của giặc ra sao, thì vị sứ giả này đến thật là đúng lúc! Chốc lát, người ấy đã đến, hóa ra là một người ăn mặc trang phục dân binh, trông bộ dạng cũng chỉ khoảng mười sáu mười bảy tuổi, vẫn còn khoác trên vai chiếc tay nải bằng vải thô.
— Khải bẩm chư vị tướng quân, quận tướng đại nhân của tại hạ hôm trước đại chiến với giặc ở Uyển Thành, đã đánh tan quân địch, đuổi ra xa mấy chục dặm.
Rõ ràng là tin thắng trận, nhưng mọi người lại quay sang nhìn nhau. Hoàng Phủ Tung cất lời hỏi trước tiên:
— Ngươi nói quận tướng đại nhân của ngươi đã đại phá quân địch. Nhưng thái thú Nam Dương là Chử Cống đã vì nước tận trung, ai cũng đều biết cả. Vậy quận tướng đại nhân ngươi nói là ai?
— Bẩm tướng quân. - Tên tiểu dân binh nói, - Từ sau khi Chử thái thú chiến tử, Bổ đạo Đô úy trong quận là Tần Hiệt Tần lão gia đã thống lĩnh chúng tại hạ kiên trì giữ Uyển Thành, các hào tộc hương lý suy tôn Tần đại nhân tạm giữ vị trí thái thú. Tần đại nhân giỏi lắm ạ! - Hắn nói đến đó mặt lộ rõ vẻ tự hào.
Vương Doãn nghe xong có vẻ tức giận, mới định nổi nóng, liền bị Chu Tuấn ngăn lại, cười nói:
— Tử Sư huynh chớ trách mắng, đó là con kỳ lân ẩn mình nơi thôn dã đấy. Chúng ta vẫn còn đang phát rầu ở đây thì Tần Hiệt đó đã phá được giặc rồi.
— Còn nữa, - Tên dân binh cởi tay nải xuống mở ra, chỉ thấy một cái đầu người máu me bê bết lộ ra.
Chu Tuấn nhìn ngó một hồi hỏi:
— Đó là đầu của ai?
— Đó chính là đầu của Trương Mạn Thành, thủ lĩnh của giặc mà chúng gọi là “Thần thượng sứ” gì đó đấy ạ.
Mọi người nghe xong câu nói ấy của hắn đều đứng cả dậy, ngay cả Hoàng Phủ Tung là người từ lâu ở trong quân ngũ cũng phải trợn mắt lè lưỡi:
— Trương Mạn Thành chính là thủ lĩnh của giặc ở Trung Nguyên, tên này chết đi thì quân giặc tất sẽ tan. Có thực là hắn không?
— Làm gì có chuyện giả ạ? Giữa đêm khuya, Tần đại nhân của chúng tiểu nhân dẫn quân đột nhập vào trận địa của giặc, giết bọn chúng không kịp trở tay, đích thân ngài đã chém Trương Mạn Thành ở dưới ngựa. - Tên tiểu tử ấy càng được thể đắc ý. - Tiểu nhân cũng ở trong đội quân ấy, nhìn thấy rõ ràng ạ.
— Ha ha ha... - Hoàng Phủ Tung vuốt râu cười lớn, - Ta thấy Tần đại nhân của ngươi thật xứng đáng ở vị trí thái thú đấy!
— Tất nhiên là thế ạ! - Tên tiểu dân binh còn ít tuổi nên không hiểu lễ độ. - Chỗ chúng tiểu nhân có nhiều người có tài năng lắm! Có hai vị tài chủ là Tô Đại, Bối Vũ, lại có một đại ca tên là Triệu Từ, đều là những đại tài chủ hào phú ở trong vùng, số nô bộc nông phu trong nhà có tới vài ngàn, phá giặc toàn dựa vào người của bọn họ đấy.
— Tên tiểu tử này, chớ vội khoe khoang, nếu giặc đã bại trận ở Nam Dương, dư đảng của chúng chạy về hướng nào ngươi có biết không? - Tào Tháo nói vẻ hài hước.
Tên ấy cúi đầu nói:
— Đại nhân của chúng tại hạ nói, kẻ địch đều chạy trốn về phía đông, có kẻ chạy về Nhữ Nam, nhưng nhiều hơn cả là chạy đến Trần Quốc.
— Tốt lắm, trước tiên ngươi hãy lui ra nghỉ ngơi đi đã. - Chu Tuấn tiếp lời.
— Dạ. - Tên tiểu binh vái tạ lui ra, được mấy bước lại quay đầu nhìn, - Tiểu nhân... tiểu nhân...
— Ngươi còn có chuyện gì?
— Tiểu nhân có được ăn thịt không ạ? - Tên tiểu binh đỏ mặt hỏi, - Đã ba tháng tiểu nhân chưa được ăn thịt rồi.
— Có có, sẽ cho ngươi ăn no thì thôi. - Tào Tháo cười nói.
Đợi tên tiểu binh sung sướng nhảy chân sáo theo một thân binh dẫn ra, Vương Doãn hồi lâu chưa nói một câu, giờ mới nói:
— Tần Hiệt kia tuy tạm đánh lui được quân Khăn Vàng, nhưng sao có thể tự ý xưng là thái thú chứ?
— Hiện giờ cũng không thể để ý được nhiều việc như thế, - Hoàng Phủ Tung tự tay gói cái đầu của Trương Mạn Thành lại. - Có được cái hay ho này, đưa về kinh sư, còn lo gì ông ta không được làm thái thú thật sự?
— Nhưng dẫu sao hiện tại ông ta vẫn không phải quận tướng được triều đình nhận mệnh. Lại nữa, ngài có nghe tên tiểu tử ấy khi nãy nói chứ, những Tô Đại, Triệu Từ, Bối Vũ gì đó, nói cho dễ nghe thì là tài chủ, nói khó nghe một chút thì - đều là thổ hào ác bá. Những kẻ như vậy, mạo nhận danh nghĩa triều đình, tác oai tác quái, tuyệt nhiên không phải chuyện tốt đẹp gì. - Vương Doãn vẻ rất lo lắng.
— Tử Sư, bây giờ không thể để ý nhiều như thế được. Dù đám người mà Tần Hiệt cầm đầu đều là những kẻ vô lại thất phu, thì bây giờ cũng phải dùng bọn chúng. Uyển Thành bị vây đã hàng trăm ngày, chớ nói đến chuyện phá giặc, ông ta có thể cố gắng giữ được đã là khó rồi. Giờ đây Nam Dương đã tạm ổn, chúng ta không còn phải lo giặc ở cả ba mặt nữa, có thể rảnh tay đối phó với hai nơi Trần quận và Nhữ Nam. Công Vĩ huynh, ý huynh thế nào? - Chu Tuấn vểnh chòm râu thưa cười nói, - Thái thú Nhữ Nam là Triệu Khiêm binh bại đã lâu, chỗ đó rất khó mà đánh vào. Cứ theo ý ta, chúng ta hãy học theo cách của Mạnh Đức, dễ trước khó sau, đem quân phá Trần Quốc, làm nhụt nhuệ khí của chúng đi đã.
— Được. - Tào Tháo không đợi được vội nói, - Mạt tướng xin dẫn ba ngàn quân kỵ đi tiên phong, tiến thẳng tới Trần Quốc.
Ngờ đâu, Chu Tuấn, Hoàng Phủ Tung không hề để ý đến Tào Tháo, hai người bí mật nhìn nhau, không hẹn mà cùng cười phá lên. Tào Tháo vô cùng ngạc nhiên:
— Mạt tướng... có chỗ nào không phải ư?
— Tiểu tử họ Tào, có phải ngươi thấy hai lão già chúng ta được thăng quan, nên đã nóng ruột, cũng muốn được lập đại công tranh lấy tước hầu chăng? - Chu Tuấn đùa nói.
— Vãn sinh không dám. Hai vị đại nhân phải chăng đã có diệu kế gì phá giặc?
Chu Tuấn vê vê ria mép:
— Đúng vậy. Dưới gầm trời này, chỗ nào có kẻ tạo phản đều phải mau chóng cứu viện. Duy có quận Trần Quốc này khác lạ, chúng ta đến càng chậm càng tốt.
— Ồ?
— Ở huyện Trần, Trần Quốc này đang ẩn giấu một viên tướng vô địch, nhưng tính khí ông ta kỳ quặc, quân lại quá ít. Nếu chúng ta không bức ông ta, ông ta tuyệt nhiên không chịu dễ dàng để lộ bản lĩnh của mình. Nhưng chỉ cần ông ta ra tay, thì trong khoảnh khắc bọn phản tặc sẽ phải bó giáo quy hàng.
Tào Tháo không dám tin:
— Thật có chuyện như vậy ư? Ngài không nói đùa chứ?
— Mạnh Đức, trong quân đâu có chuyện nói đùa. - Chu Tuấn cố ý bí mật. - Giờ mão ngày mai, điểm binh xuất phát, trong vòng ba ngày tiến quân vào Trần Quốc, đến khi đó ngươi sẽ biết.
Tào Tháo nghe ông ấy nói ba ngày, lấy làm lạ rằng sao lại có chuyện cứu viện chậm trễ như thế? Quay đầu lại nhìn Hoàng Phủ Tung, thấy ông ta cũng lặng lẽ gật đầu, cười không nói gì.
Từ ngày thứ hai xuất quân, Tào Tháo không để mắt tới việc quân nữa. Tào Tháo bố trí Lâu Dị thống suất ba ngàn quân kỵ thay mình, còn bản thân lúc thì theo sau Hoàng Phủ Tung, lúc lại bám lấy Chu Tuấn. Từng giờ từng khắc quan sát xem họ điều binh khiển tướng thế nào, lựa chọn địa điểm đồn binh đóng trại ra sao. Tào Tháo hiểu rõ, đại cục đã thay đổi, sự thất bại của quân Khăn Vàng có thể tính được từng ngày, trong khoảng thời gian này, cần phải moi bằng được kinh nghiệm dùng quân của Hoàng Phủ Tung và Chu Tuấn càng nhiều càng tốt.
Hoàng Phủ Tung suy nghĩ đơn giản nên không biết, còn Chu Tuấn thì đã nhìn thấu tâm tư của Tào Tháo, nên cứ giữ Tào Tháo lại bên mình để sai khiến, nhân tiện chỉ dạy Tào Tháo rất nhiều về đạo cầm quân. May là hành quân không gấp, do vậy bất luận khi hành quân đóng trại, hay tuần phòng ăn cơm, hai người một già một trẻ, hai vị tướng quân thấp bé ấy đều như hình với bóng không dời nhau nửa bước. Hai ngày sau, quan quân đã đến địa giới huyện Trần, Trần Quốc, một trận chiến đấu mới lại bắt đầu.
Tào Tháo ra lệnh cho quân lính đóng đại doanh lại, nổi lửa nấu cơm, tuần tra sơ qua một vòng rồi chạy đến đại trướng trung quân của Chu Tuấn.
— Tên tiểu tử ngươi cũng thật là, đến bữa cũng chạy đến chỗ ta.
Tào Tháo cười nói:
— Lão tướng quân ngài trị quân có phương pháp, đến cơm ăn cũng thơm ngon hơn chỗ bọn vãn sinh.
Quả nhiên, cơm làm xong, đầu bếp biết Tào Tháo tất sẽ đến chỗ Chu Tuấn, nên đã bưng lên hai phần cơm. Trông thấy ăn uống, Tào Tháo chợt có một nghi vấn, bưng bát lên ngồi lặng đi rồi nói:
— Khi vãn sinh theo Hoàng Phủ lão tướng quân, cảm thấy ngài yêu lính như con, mỗi lần dựng trại đóng quân, ngài luôn đợi các tướng lĩnh sắp đặt xong xuôi chỗ của họ rồi mới dựng đại trướng trung quân của mình. Khi dùng bữa cũng đợi cho mọi người phân phát xong xuôi rồi, mình mới ăn. Nhưng còn đại nhân không hiểu vì sao mà lại là người ăn đầu tiên, uống đầu tiên vậy?
Nói còn chưa xong, Tào Tháo không đừng được bật cười - chỉ thấy Chu Tuấn cúi đầu thật thấp, ào ào và cơm vào miệng, rồi sau đó, dường như thấy đôi đũa cũng thừa, ông giơ tay cầm lấy một chiếc bánh đưa lên miệng nhai, có lẽ là răng của ông ta không được tốt lắm, phải nghiêng cả đầu ra sức kéo - Bộ mặt tôn kính khi ấy, Tào Tháo đã nhìn hai ngày vẫn không sao quen nổi. Hóa ra là Chu Tuấn ăn cơm còn dứt khoát hơn đánh trận, chốc lát đã như gió cuốn mây tan tiêu diệt hết sạch các món ăn. Đón lấy cốc nước của tên thân binh bưng đến, uống một ngụm, thấy Tào Tháo che miệng cười, liền bảo:
— Tiểu tử ngươi cười gì vậy? Trông bộ dạng ta ăn uống buồn cười lắm hả?
— Không dám... không dám... - Tuy nói như vậy, nhưng Tào Tháo thiếu chút nữa thì cười thành tiếng.
— Ôi dào! Tiểu tử ngươi là con cái nhà quan, từ nhỏ đã ăn no mặc ấm, hưởng phúc quen rồi. Nhưng ngươi có biết xuất thân của ta thế nào không? Nhà ta là nhà hàn môn, khi ta còn chưa biết gì thì cha ta đã qua đời, chỉ trông vào một tay lão mẫu dệt vải kiếm ăn. Đừng nói đến chuyện ăn no, có cái ăn đã là tốt lắm rồi. - Chu Tuấn chặc lưỡi, nói tự giễu mình, - Vừa nãy ngươi hỏi, vì sao ta luôn ăn cơm trước tiên. Ngươi thử nghĩ coi, Hoàng Phủ Tung là nhà vọng tộc ở Tây Châu, bá phụ của ông ta là Hoàng Phủ Quy, phụ thân là Hoàng Phủ Tiết đều là đại tướng uy danh hiển hách, từ nhỏ gia cảnh sung túc đã được ăn được thấy cả. Ta chưa có gì, nên háu ăn hơn ông ấy!
— Ngài chớ nên nói đùa, vãn sinh thực lòng muốn biết vì sao. Lão ngài đâu phải là không yêu binh lính, vậy vì sao những cái tốt cũng lại giành lấy trước quân lính, còn Hoàng Phủ tướng quân vì sao luôn nghĩ đến mình sau cùng? Vãn sinh nghĩ trong đó tất có sự áo diệu.
Chu Tuấn nghiêm sắc mặt, vểnh chòm râu lưa thưa lởm chởm nói:
— Tiểu tử ngươi cho rằng đó chỉ là hành động yêu lính thôi ư? Hoàng Phủ Nghĩa Chân trị quân, chính là dùng đạo “chỉ dục tướng”.
— Thế nào là “chỉ dục tướng”? Vãn sinh xin được lắng nghe rõ ràng.
— Trong Lục Thao của Thái công có nói: “Quân sắp đặt xong xuôi rồi, tướng mới vào chỗ của mình. Cơm nước đều chín rồi, tướng mới ăn. Quân chưa đốt đuốc, tướng cũng không đốt, đó gọi là “chỉ dục tướng”. Ngươi chưa từng nghe qua ư?
Tào Tháo từ lần đầu trông thấy Chu Tuấn đã cảm thấy người này thật kỳ quặc, giờ đây nghe ông ấy dẫn kinh cứ điển ra, càng cảm thấy vô cùng kỳ lạ, bèn đặt bát đũa xuống nói:
— Mong tiền bối chỉ cho biết bến mê.
— Chớ có làm bộ làm tịch như thế, cứ ăn đi, ta chỉ cần nói một câu ngươi sẽ hiểu ngay thôi. Cái gọi là ‘chỉ dục tướng’, không phải chỉ cốt dựng lên tiếng tốt trong quân cho mình, mà hơn thế nữa còn phải làm cho hợp với sức khỏe của mình. Hoàng Phủ Nghĩa Chân tuổi tác cũng đã cao, nếu thực sự lại muốn xung phong lên trước, e rằng sẽ không có bản lĩnh như xưa nữa. Cho nên phải nghĩ cách sao cho phù hợp với sức của mình mà làm, tự mình phải thể nghiệm một chút cảm giác đói khát, mệt nhọc, như vậy ông ấy mới có thể lường được kẻ làm lính còn bao nhiêu sức lực.
— Lại có một tầng ý nghĩa như vậy nữa ư?
— Ngươi có cơ hội hãy để ý quan sát kỹ một chút, ông ấy không phải chỉ đứng ở đó làm dáng, mà từng giờ từng khắc quan sát lượng cơm và dáng vẻ của quân lính khi ăn. Hờ hờ! Lão già ấy thật giảo hoạt. - Chu Tuấn cười, - May mà ta không phải bộ hạ của ông ấy, với bộ dạng ăn uống như ta, nhất định ông ta không chấp nhận đâu.
Tào Tháo không ngăn được chặc lưỡi, đến cả việc quan sát quân lính ăn cơm cũng phải kỹ lưỡng như vậy, xem ra bản thân mình còn yếu kém nhiều lắm. Nghĩ đến đó, Tào Tháo lại hỏi:
— Vậy ngài vì sao lại làm ngược lại đạo lý ấy?
— Đó chính là điều bí mật của lão già này.
— Ngài nói đi, vãn sinh sẽ không nói cho ai biết cả.
— Hoàng Phủ Tung mình cao tám thước, tướng mạo đường đường, lại là hậu duệ của danh tướng, mỗi cử chỉ hành vi của ông ấy đều tuân thủ phép tắc, lính tráng cả doanh đều phải ca ngợi. Nhưng, với những kẻ có bộ dạng như ta với ngươi thì không thể áp dụng được.
— Vì sao ạ?
Chu Tuấn đứng lên nói:
— Ngươi nhìn đi! Chu mỗ ta mình cao chưa tới sáu thước, tướng mạo không bằng kẻ tầm trung. Về xuất thân thì chẳng qua chỉ là một tên tiểu lại ở nha môn, vốn chẳng có gì đáng gọi là uy vọng, nếu đem sức lực ra mà thi thố thì lại càng thêm tầm thường nhỏ mọn. Như vậy ai còn kính nể ta nữa? Ai còn sợ ta nữa? Ta làm sao có thể thống lĩnh được ba quân? Hừ! Cho nên ta phải tự mình đề cao địa vị của mình lên, không cần đem sức lực ra thi thố, chỉ sai những người tâm phúc đi tìm hiểu tâm tư của toàn quân trên dưới. Ta chẳng đích thân làm chuyện gì, nhưng chuyện gì cũng đều biết rõ, binh sĩ sẽ đều kính trọng ta, nể sợ ta, cho rằng ta sâu xa không thể lường hết, không dám có mảy may vi phạm nào. - Ông ta vừa nói vừa chỉ tay vào ngực mình. - Ta cầm quân đánh trận là dựa vào điểm này. Nói thẳng ra đó là thuật dùng người. Pháp ngôn của Dương Hùng có nói: “Hạ sách là dùng sức, trung sách là dùng trí, thượng sách là dùng người.”
Tào Tháo đột nhiên thấy như được sáng mắt ra.
— Này Mạnh Đức, Tôn Tử nói “nhân theo sự thay đổi của địch, không hành động trước, động tĩnh theo sau chúng.” Thực ra, ngươi có thể không cần chỗ nào cũng học theo ta, càng không thể dập khuôn theo mẫu. Chỉ cần ngươi biết xem xét thời thế, trận đánh này ngươi muốn đánh thế nào thì cứ đánh như thế, muốn cầm quân thế nào thì cứ làm như vậy. Có thể tùy cơ ứng biến, tùy ý muốn của mình.
Khi đó, Tào Mạnh Đức chợt phát hiện ra hình dung về Chu Tuấn trong mắt mình đã hoàn toàn thay đổi, bộ dạng vốn nhỏ bé xấu xí giờ đây dường bỗng trở nên vô cùng cao lớn, uy vũ. Những cử chỉ có vẻ tùy tiện nhưng cơ hồ đều lộ ra một hàm nghĩa mà người ta không thể nắm bắt được. Thậm chí Tào Tháo còn nghĩ rằng, khi mình tuổi tác cao lên cũng sẽ có tướng mạo giống như Chu Tuấn vậy. Đến khi đó, liệu mình có thể có được sự tinh tường sáng suốt như Chu Tuấn không? Rồi Tào Tháo lại nghĩ đến nguyên nhân của cuộc hành quân chậm chạp lần này:
— Hôm trước ngài nói cứu viện Trần Quốc càng chậm càng tốt, còn muốn bắt một viên tướng vô địch ra xuất chiến, rốt cuộc đó là chuyện gì vậy?
— Sách Quỷ Cốc Tử có nói: “Trí phải đem dùng ở chỗ mọi người không thể biết được, còn năng lực phải đem dùng ở chỗ mọi người không thể thấy được.” Chắc ngươi cũng biết, trí thì ẩn giấu ở chỗ khuất, còn sự việc thì hiển hiện ra bên ngoài. Nếu toàn quân ai ai cũng biết được lợi hại trong đó thì còn gọi gì là bí mật quân cơ nữa. Đến đúng lúc nó sẽ không còn hiệu nghiệm nữa. - Chu Tuấn vẫn không chịu nói, - Ngày mai xuất binh, ngươi sẽ tự hiểu ra.
Đầu óc Tào Tháo như rối mù lên, từ nhỏ y đã đọc kỹ sách của Tôn Vũ Tử, nhưng chỉ trong một bữa cơm đã được nghe Chu Tuấn dẫn ra bao nhiêu kinh điển dụng binh khác, cảm thấy mỗi câu đều có thâm ý, liền cảm khái nói:
— Tôn Tử, Ngô Tử, Tam Lược, Lục Thao, đều là những sách có rất nhiều kiến thức. Vãn sinh nếu có thời gian rảnh rỗi, sẽ đọc lại những sách ấy, chọn những chỗ tinh yếu tự biên soạn lại một cuốn sách, tạm gọi là Binh pháp tiết yếu vậy.
— Ha ha ha... - Chu Tuấn ngửa mặt lên cười to, - Tên tiểu tử họ Tào này chí khí thật không nhỏ! Ta đợi để xem cuốn Binh pháp tiết yếu của ngươi. Bây giờ mau ăn cơm xong đi, rồi về doanh trại của ngươi làm tốt chức trách Kỵ đô úy đi đã. Ngày mai còn có một phen náo nhiệt đấy.
Tào Mạnh Đức về doanh trại, ngủ yên một giấc, đến giờ mão sáng sớm hôm sau thì xuất phát. Vì chỉ có một đoạn đường ngắn mà đi mất hơn hai ngày, nên đại quân Khăn Vàng đã bao vây huyện đứng đầu của Trần Quốc. Hợp quân của binh mã ba đường tiến đến gần, liền chọn khu vực cao ráo bằng phẳng ở phía tây bắc đóng quân. Đối diện với quân giặc đông vô bờ, hai lão tướng bèn hạ lệnh chỉ gõ trống chứ không cho giao chiến.
Giặc Khăn Vàng ở huyện Trần chính là đám bại binh ở hai quận Dĩnh Xuyên, Nam Dương tụ tập lại, tuy không dưới mười vạn quân, nhưng trong đó có không ít là đàn bà, trẻ nhỏ, sức đánh nhau yết ớt, phần lớn chỉ dựa vào mấy đám trai tráng.
Bọn chúng nghe thấy quan quân đánh trống, nhưng không thấy xuất binh, cảm thấy vô cùng nghi hoặc, tuy quân mã còn cách quan quân rất xa nhưng không dám khi dễ giao chiến, chỉ vây chặt huyện Trần đến một giọt nước cũng không lọt.
Nào ngờ quan quân cứ đánh trống mãi, suốt từ giờ mão cho đến giờ tị, quân lính đều đã mỏi cánh tay, mà Hoàng Phủ Tung và Chu Tuấn vẫn không cho hạ sơn chiến đấu. Tào Tháo không hiểu nguyên do, trong lòng sốt ruột, đứng trên gò đất cao, dưới trời nóng như hun, thấy hai bên đều giữ chặt không chủ động, càng không biết làm sao.
Lại qua một hồi lâu, chợt nghe tiếng nổ lớn vang lên, cánh cổng lớn của huyện Trần đột nhiên mở rộng!
Quân Khăn Vàng thấy cửa thành mở to, liền vung dao kiếm, ào ào xông vào trong thành như nước triều. Nào ngờ còn chưa tới bên con sông hộ thành, thì thấy trên vòm cổng thành lao ra hai cây nỏ lớn, cấp tốc bắn vào biển người lao tới. Mũi tên ở hai cây nỏ này đều được làm từ những cành cây lớn, đầu mũi tên vót sắc nhọn vô cùng, bắn ra với lực cực mạnh, quân Khăn Vàng bất ngờ không kịp đề phòng bị bắn xuyên vào nhau, đổ gục xuống cả một toán. Không ngờ hai cây nỏ ấy vừa bắn xong, chúng còn chưa hoàn hồn, thì phía sau lại có sáu cây nỏ khác nhô ra.
Quân Khăn Vàng sợ quá, không biết sao đã lùi lại một tầm tên bắn. Vừa mới lùi, lại thấy từ trong thành huyện Trần đẩy ra tám chiếc xe bắn nỏ, mỗi chiếc xe đều có mười hai tên lính to khỏe như beo như cọp để tay trần điều khiển. Tiếp ngay sau đó, lại xông ra một đội quân bộ, đám quân này ai nấy đều cầm cung cứng trên tay, trên mình mỗi người ít nhất cũng đeo đến bốn túi tên. Trong khoảnh khắc cung nỏ cùng bắn, quân Khăn Vàng lại nối nhau đổ gục hết xuống. Cuối cùng chỉ nghe thấy tiếng trống tiếng nhạc vang trời, phía sau đội cung nỏ lại có một chiếc chiến xa cắm lọng hoa tiến ra!
Chiếc xe ấy được kéo bởi ba con ngựa đỏ, phía trên cắm lọng hoa sắc đỏ có rèm châu, cùng hai lá cờ phướn đỏ có thêu hình chín con rồng. Người đánh xe đội kim khôi, mặc kim giáp, phía sau dựng chiếc khiên lớn sơn đỏ, tấm chắn hai bên tả hữu có vẽ bức tranh hổ đuổi hươu, bánh xe lớn sơn đỏ dát vàng. Nay không phải là thời Xuân Thu Chiến Quốc, chiến xa rất ít khi xuất hiện trên chiến trường, mà hôm nay người đang đứng trên xe lại càng khiến người ta phải chú ý hơn nữa: Người này tuổi tầm trên dưới bốn mươi, cao lớn oai phong, râu rồng xum xuê, không mặc giáp trụ, không đội đâu mâu, mà đội mũ miện trang trí ngọc anh lạc, mình khoác áo rồng sắc đen, dây thao vàng đỏ, treo đôi vòng ngọc cùng ấn tín, trên tay cầm cây cung rất lớn, khiến người ta nhìn thấy đã kinh hãi.
Lúc này Tào Tháo mới nhận ra: Đó chính là tay cung đệ nhất thần tiễn của đại Hán - Trần vương Lưu Sủng!
Trần Quốc là phong quốc đời đời của Lưu Tiện - con trai của Hiếu Minh đế, truyền qua năm đời thì đến Lưu Sủng. Vị vương gia này rất thích thuật bắn cung, có thể bắn bằng cả tay phải và tay trái, mười mũi tên cùng trúng vào một đích, thực sự là phép bắn cung có một không hai trên đời. Số lượng quân lính của các vương chư hầu vốn đã có quy định, do triều đình phái khiển tới. Nhưng riêng với Lưu Sủng, được đương kim hoàng đế xem xét riêng, cho tự tuyển chọn quân lính hộ vệ mà không trách tội gì. Những thân binh mà ông tuyển chọn đều lấy phép bắn cung làm chuẩn, một ngàn bộ hạ đều là những kẻ có cung pháp xuất chúng, thời thái bình thì cùng ông ta cưỡi ngựa săn bắn. Quân Khăn Vàng đều là nông dân, ngày thường trông thấy các quận tướng, thứ sử đã thấy quý phái khác thường, sao có thể từng được thấy những nhân vật như thế này? Những người quy y theo Thái Bình đạo lại rất mê tín, đều cho rằng Lưu Sủng là thiên thần hạ phàm, trận chiến chưa đánh đã sợ hãi trước đến ba phần rồi.
Lưu Sủng cũng rất chuộng hào hoa, ra đánh trận còn cho cả nhạc công theo cùng, người thổi sáo, người đánh trống. Cây cung lớn của ông ta giơ cao lên, lắp tên bắn, một tướng lĩnh của quân Khăn Vàng cách xa hơn một trăm bước liền trúng tên ngã xuống khỏi lưng ngựa. Chúng nhân còn chưa kịp phản ứng gì, lại thấy ông ta giương cung bắn tiếp, lại một tên đầu gục xuống đất. Rất nhanh chóng mũi tên thứ ba kế tiếp ngay, rồi mũi tên thứ tư, lại có hai tướng lĩnh nữa trúng tên. Mấy người đó đều bị mũi tên bắn trúng yết hầu, chết ngay tại chỗ. Trận địa của quân Khăn Vàng lập tức rối loạn, Lưu Sủng buông cây cung lớn, đội cung tên ngàn người kia được lệnh đồng loạt bắn, chớp mắt tên bay như châu chấu, đám quân Khăn Vàng trước mặt trong khoảnh khắc biến cả thành những con nhím!
— Xin thiên thần chớ nổi giận, tiểu dân không dám phạm nghịch nữa!
Không ít những tín đồ thành kính quỳ xuống tại chỗ, cởi chiếc khăn vàng trên đầu vứt xuống đầu hàng. Những người hiểu biết rõ cũng không dám đánh nữa, vứt hết binh khí xuống để chuẩn bị chạy tán loạn khắp nơi. Lúc vây thành chen nhau đứng thật dày, giờ muốn trốn chạy thì lại bị tắc nghẽn khó mà đi được.
Chu Tuấn thấy tình hình ấy lập tức truyền lệnh xuất chiến. Người ngựa ba quân như mãnh hổ lao xuống núi, bao vây kín chặn hết đường rút. Đám lính nông dân muốn chạy trốn ấy không thể xông ra được, quay trở lại thì không tránh khỏi bị bắn chết, cũng nhao nhao quỳ xuống xin hàng. Một người hàng là trăm người hàng theo, chỉ chớp mắt đám phản dân như nghiêng núi dốc biển tất thảy đều kêu xin tha mạng. Thế lực hùng mạnh quân Khăn Vàng ở Trần Quốc, đã nhanh chóng và đơn giản được bình định như vậy, không còn một mảy may tên nào dám phản kháng nữa.
Chu Tuấn truyền mệnh lệnh, bắt trói hết đám đầu đảng giặc, ghi chép lại danh sách nghĩa quân xin hàng. Dặn dò xong xuôi, dẫn Hoàng Phủ Tung, Tào Tháo cùng nhau thúc ngựa chạy đến trước chiến xa, ba người rời yên cương, quỳ xuống:
— Chúng thần tham kiến đại vương!
Lưu Sủng có vẻ không vui:
— Các ngươi thật to gan! Đã đốc binh đến đây, lại chỉ gõ trống suông như vậy không chịu đánh nhau. Ta há lại có thể dung tha? Các ngươi không muốn giữ cái đầu mình nữa ư?
— Thần có tâm tình xin được bẩm bạch. - Chu Tuấn khấu đầu đáp.
— Nói đi! - Lưu Sủng đeo chiếc cung lớn lên lưng.
— Đại vương dang vang thiên hạ, cho nên dân ở Trần Quốc không kẻ nào dám làm chuyện tiếm vượt. Thế mà đám quân giặc kia, đều là bọn trộm cướp bị thua ở quận khác, chẳng biết đến uy đức của đại vương. Chúng vốn đều đáng phải giết sạch để làm rõ quốc pháp, nhưng trời xanh vốn có đức hiếu sinh, cho nên không tự ý gây thêm tai họa cho người. Huống chi trong đám giặc ấy, có nhiều đàn bà con trẻ, nếu giết hết thì có hại cho đạo nhân từ khoan hòa của đại vương. Nếu chúng thần xông vào giết chóc thì số nhân mạng bị giết tất sẽ nhiều. - Chu Tuấn nói đến đó vẫn không quên nói thêm mấy câu cung kính, - May nhờ đại vương có tài năng trời phú, chỉ huy chắc chắn, cung đưa đến đâu đầu sỏ giặc phải chết đến đó, bọn phản dân kính sợ như thần minh. Nếu chẳng phải là ngài ân uy gồm đủ, thì hơn trăm vạn người há có thể bó tay chịu hàng? Thực là uy của đại vương, đã cảm động đến trời đất. Chúng thần may lắm, ba quân may lắm, trăm họ may lắm!
Tào Tháo lần đầu tiên nghe thấy Chu Tuấn nói giọng điệu nịnh nọt như vậy, cảm thấy đúng là không thể nịnh hơn được nữa, tới cả câu “cảm động đến đất trời” cũng nói được ra. Sau đó lại nghe ông ấy cố ý khoa trương, đem mười vạn quân giặc nói thành “trăm vạn”, thì không nhịn được phải cúi đầu cười trộm.
— Ờ. Nghe lời khanh, ta cũng thấy vơi bớt đau buồn. - Lưu Sủng vốn thích nghe lời nói nịnh, - Đứng cả dậy đi... Đám phản dân nhỏ mọn ấy có đáng gì, mà lại dám ngông cuồng đến đây? Đủ thấy lũ đó đều là đám vô dụng, hãy đợi bản vương phải đích thân dẫn binh mã, đánh cho bọn chúng không còn mảnh giáp!
Ba người nghe nói đều giật mình kinh sợ: “Chưa cần nói đến chuyện các vua chư hầu không được nắm giữ quân quyền, ngay cả việc dẫn quân chiến đấu cũng không. Ông ấy đường đường là bậc vương gia thân đáng ngàn vàng, ra chiến trường chẳng may có sơ suất gì, thì biết ăn nói với triều đình ra sao? Cái tội ấy thật không thể gánh vác nổi.” Hoàng Phủ Tung vội vàng khuyên giải:
— Thế giặc rất mạnh, vương gia không thể đem thân mình vào nơi nguy hiểm được, nếu có...
Còn chưa nói dứt câu, Lưu Sủng đã buồn bực nói:
— Hừ! Hoàng Phủ Nghĩa Chân, ngươi muốn nói bản vương bất tài ư?
Hoàng Phủ Tung giật mình sợ hãi:
— Không dám, không dám! Ý của thần là...
— To gan! - Lưu Sủng vừa chạm vào là lửa nóng bùng lên ngay, cứ như không phải con người mình nữa.
Chu Tuấn đảo mắt một vòng, nói:
— Xin đại vương bớt giận, cho thần được nói một câu. Thần cho rằng uy của đại vương không thể đem ra thi thố với bọn tiểu địch được. Hai bên đánh giết lẫn nhau là chuyện hèn mọn, nếu đại vương dẫn quân đốc chiến sẽ thành ra tầm thường. Hiện nay thiên hạ loạn lạc, lòng người chưa yên, nếu đại vương có thể ngồi giữ Đô Đình, thì uy có thể chấn khiếp quan ải, tất khiến cho bọn phản tặc các nơi nghe tiếng mà hàng, thế lớn trong thiên hạ lập tức có thể bình định được! Làm vậy lại chẳng vinh quang hơn vạn lần, mạnh mẽ hơn vạn lần việc dẫn quân đốc chiến ư?
Lưu Sủng vuốt râu, trầm tư một hồi lâu, rồi liên tục gật đầu:
— Ờ, có lý có lý. Ta có thể ở Đô Đình đánh một trận với giặc?
Tào Tháo cúi đầu, dường như không thể nén nổi phải cười, thầm nhủ: “Lại bị Chu Tuấn cho mắc câu rồi, vị vương gia này sao lại hồ đồ như vậy, vào Đô Đình thì coi như ở ngay bên Lạc Dương rồi, còn đánh đấm gì nữa chứ?”
Chu Tuấn làm thinh giẫm nhẹ lên chân Tào Tháo, ra hiệu cho Tào Tháo chớ cười, lại sợ Lưu Sủng sinh nghi, vội vàng nhân đà nói thêm:
— Việc quân quốc đại sự, không thể kéo dài làm lỡ, nếu không điểm quân lên đường, lâu tất sinh biến, mong đại vương nghĩ kỹ.
— Đúng! - Lưu Sủng vỗ đùi. - Bản vương sẽ nhanh chóng về thành, điểm một ngàn binh mã, lập tức đến Lạc Dương hộ giá. - Nói xong vung vung cây cung lớn. - Việc quân khẩn cấp, về thành về thành!
Tào Tháo nhịn cười nãy giờ, đợi đến khi cung kính trông theo ông ta vào thành rồi, mới bật cười thành tiếng:
— Vị vương gia này ngoài thì như vàng như ngọc, nhưng đầu óc thì không linh hoạt chút nào. Các vua chư hầu không được rời khỏi đất phong, ông ấy không có chiếu mệnh mà lại tự ý vào kinh, không biết có phiền phức gì không?
Chu Tuấn cũng cười lên:
— Bây giờ thiên hạ rối loạn, kinh sư đang lo sợ không có quân tướng gì. Vào lúc bất thường không thể tuân thủ theo phép bình thường được. Ông ấy rất có uy danh, lần này đến, hoàng thượng chẳng những không nghi ngờ gì mà còn an tâm hơn. Tóm lại chúng ta dỗ ông ấy chơi, giờ để ông ấy vào kinh dỗ hoàng thượng chơi thôi mà!
Hoàng Phủ Tung cũng nói khôi hài:
— Ông ấy vui vẻ rồi, chỉ sợ đóng quân ở Đô Đình thì ngài quốc cữu đại tướng quân của chúng ta gặp ông ấy sẽ phải bận rộn đấy!
Ba người không nín được cười lớn.
Trong lòng Tào Tháo hiểu rõ: “Trần vương Lưu Sủng tuy là tay thiện xạ, nhưng rốt cuộc kiêu căng khinh địch, lại quá khoe khoang bày đặt. Một ngàn tay thần tiễn, gặp đám quân ô hợp thì được, nhưng nếu gặp phải đại quân trang bị đầy đủ thì chẳng qua chỉ là đem trứng chọi đá. Quân Khăn Vàng tin theo Trương Giác vốn là do ngu muội, lại trông thấy xa giá cao quý khác thường của ông ấy, thì lòng ngu muội lại nổi lên, sợ như trông thấy thần linh, nên chưa đánh đã hàng ngay. Trận thắng này kỳ thực phần nhiều nhờ may mắn. Chẳng qua Chu Tuấn, Hoàng Phủ Tung đã có thể trù tính được kết quả như vậy, nên mới chỉ đánh trống làm ồn để dụ ông ấy ra xuất chiến. Điều đó mới thực sự không hổ là bậc trí tướng!”
Đang nói chuyện thì lại có tướng Trần Quốc là Lạc Tuấn ra ngoài thành nghênh đón. Sau khi Quang Vũ đế trung hưng đến nay, các vương công trong tôn thất tuy ai nấy đều có phong quốc, nhưng không có quyền can thiệp vào chính sự của địa phương. Trừ những tùy tòng thân thiết của mình ra, thì không thể tự ý mộ quân. Còn việc cai trị ở phong quốc, đều do tướng ở phong quốc xử lý, với bổng lộc và chức quyền hoàn toàn giống một quan thái thú. Bốn người hàn huyên xong xuôi, những nghĩa quân xin hàng, đăng ký danh sách, phân chia quê quán lại mất một phen rối loạn lên.
Đợi mọi việc đều xong xuôi cả, ba người quay về đại trướng, Hoàng Phủ Tung, Chu Tuấn đều có vẻ nặng nề. Tào Tháo không hiểu hỏi:
— Nay Trần Quốc đã được bình định, sao hai vị lão tướng quân lại có vẻ buồn bực như vậy?
— Trần Quốc tuy đã yên, nhưng Nhữ Nam chưa bình định. Đám giặc Khăn Vàng đã đặt vào chỗ tất phải chết, trận đánh tiếp theo không dễ gì đánh được. - Hoàng Phủ Tung vẻ mặt trầm tư như hồ nước.
— May mà quân chúng ta ở đây gươm còn chưa dính máu, thực lực chưa phải hao tổn gì. Ta đã viết thư gửi thứ sử Kinh Châu là Từ Cầu, thái thú Nhữ Nam là Triệu Khiêm quay về tụ tập tàn quân, có lẽ không tới một ngày nữa sẽ tới. Ngoài ra, mấy hôm trước, ta từng viết tờ biểu cho Tôn Kiên ở cùng quê đến trợ chiến, chắc hẳn ông ta cũng sắp tới đây. Nếu lấy thêm một số binh lính từ chỗ Lạc Tuấn này thì chúng ta cũng tạm có thể tập hợp được bốn vạn binh mã. - Chu Tuấn nhắm mắt trầm ngâm. - Nhưng số quân địch ở Nhữ Nam không dưới mười vạn, lại là đám quân chủ lực chưa từng bị thua trận nào, nghe nói thủ lĩnh của chúng là Bành Thoát rất có dũng lực. Khúc xương đó khó nhằn đấy!
Tào Tháo cười nói:
— Vãn sinh thấy chuyện này không vội được, chúng ta tính dần từng bước, ổn định chỗ đóng quân rồi sẽ đánh, tất có thể phá được giặc.
Chu Tuấn trợn tròn mắt:
— Tên tiểu tử họ Tào, ai cũng hiểu đạo lý tính dần từng bước. Nhưng đương kim hoàng đế của chúng ta không phải là Hiếu Cảnh đế, e rằng ngài không đợi được chúng ta làm một Chu Á Phu đâu. Ổn định chỗ đóng quân rồi sẽ đánh, nói nghe sao dễ thế?
— Không phải đâu, vãn sinh thấy đương kim hoàng đế rất coi trọng hai vị lão tướng quân!
— Hừ! Ngươi mới vào trong quân, làm sao hiểu được đạo lý trong đó. - Hoàng Phủ Tung lắc đầu, - Ban đầu Dĩnh Xuyên cáo cấp, hoàng thượng tất nhiên chỉ có thể buông lỏng cho chúng ta thời gian, nhưng nay sự nguy cấp ở kinh thành đã giải hết, không còn nguy ngập như lửa cháy trước mắt nữa, hoàng thượng sẽ giục giã chúng ta đánh mau quyết mau. Ta nghĩ, không quá ba ngày, triều đình tất sẽ có...
Còn chưa dứt câu, đã có người vào bẩm báo, tư mã Trương Tử Tịnh về kinh đưa thư đã trở lại. Trương Tử Tịnh vốn là văn sĩ ở Hà Gian, nhờ có tài học và danh vọng đã làm quan đến Bộ binh Hiệu úy, tuy hiện được sung làm chức tư mã ở một bộ phận, nhưng chỉ quản lý những chuyện giấy tờ bút mực.
Hắn ta vội vội vàng vàng bước vào đại trướng, còn chưa đứng yên đã kêu to:
— Chuyện lớn không hay rồi! Lư trung lang đã bị trói dẫn về kinh rồi.
— Chuyện gì? Trương Giác đột phá vòng vây ư? - Ba người đều vô cùng kinh ngạc.
— Trương Giác không phá được vây, mà là tai họa từ trong tường vách. - Trương Tử Tịnh không kịp uống hớp nước. - Lư Thực bao vây Quảng Tông hơn một tháng, đào hào đắp lũy, dựng thang chuẩn bị công thành. Hoàng thượng hiềm rằng ông ấy trì hoãn, sai hoạn quan Tả Phong đi thúc chiến. Tả Phong kia đã nhân cơ hội đòi Lư Thực phải hối lộ, nhưng không được đáp ứng. Ai ngờ tên hoạn chó má ấy về kinh đã đưa lời sàm ngôn, nói Lư Thực không chịu dốc sức, ngồi chơi không đánh. Hoàng thượng nổi giận, sai người đi bắt ông ấy về kinh, chuẩn bị trị tội rồi!
— Lại là bọn hoạn quan, một lũ khốn kiếp đáng ghét! - Hoàng Phủ Tung vốn là nhà danh vọng, cũng không nhịn nổi phải buông lời chửi rủa.
— Vậy quân ở Quảng Tông thì như thế nào? - Chu Tuấn hỏi vẻ bức xúc.
— Đã điều Thái thú Hà Đông là Đổng Trác thay làm thống lĩnh.
— Hầy dà... vào trận mà đổi tướng là đại kỵ của binh gia! - Chu Tuấn chau mày, - Nghĩa Chân huynh, ngài ở Tây Châu lâu ngày, Đổng Trác này có thể cáng đáng được công việc ấy không?
Hoàng Phủ Tung vân vê chòm râu lắc đầu nói:
— Luận về dũng lực tài cán, thì so với Lư Từ Cán là hơn chứ không kém. Nhưng Đổng Trọng Dĩnh này lâu nay thống lĩnh quân lính người Hồ, là kẻ thô thiển lỗ mãng. Mà các tướng lĩnh bắc quân đều xuất thân ở chốn cao môn lệnh tộc, e là với danh thanh của ông ta không át nổi những người ấy. Không được, ta phải dâng sớ bảo lãnh cho Lư Từ Cán.
— Khoan đã! - Chu Tuấn ngăn ông ta lại, - Chúng ta với ông ấy một ở phía nam, một ở phía bắc, làm thế nào mà bảo lãnh được? Bây giờ dâng sớ, không những không cứu được ông ấy, nếu không khéo còn bị hoạn quan chụp cho tội câu kết mưu phản. Ngài quên là Lã Cường đã bị chết như thế nào ư?
Tào Tháo cảm thấy vô cùng phẫn nộ:
— Gia tộc Lư đại nhân vốn ở Hà Bắc, quân Khăn Vàng nghe nói ông ấy làm tướng đã giết hết già trẻ cả nhà ông ấy ở quê hương. Vì nước dẹp loạn đã bỏ cả gia đình, mà lại bị rơi vào tình cảnh thế này, há không khiến người ta phải đau lòng ư?
Hoàng Phủ Tung từ lâu đã đau lòng thành quen, cũng chẳng để ý gì đến câu nói của Tào Tháo, chỉ nói:
— Dâng sớ nói thẳng, tuy gặp nguy hiểm có thể khiến hoàng đế nổi giận, nhưng chúng ta không thể ngồi nhìn mà không giúp? Hơn nữa hiện nay chúng ta đang nắm đại quân, hoàng thượng cũng không thể xử trí hết tất cả bọn ta được.
Chu Tuấn vội xua tay:
— Dù thế nào cũng chớ nghĩ như vậy, bề tôi mà ép vua chẳng phải là chuyện không bình thường sao? Dù có bảo vệ được người ra, sau này hoàng thượng cũng sẽ tìm cách trừ khử... Cứ nghe ta nói, Lư Thực tất nhiên phải cứu, nhưng không thể cứu ngay bây giờ. Chuyện của ông ấy chính là đã nhắc nhở cho chúng ta biết, nếu không nhanh chóng tiêu diệt quân giặc ở Nhữ Nam, thì e là kẻ tiếp theo phải ngồi vào xe tù chính là mấy chúng ta đó. Đợi quân mã đến đủ rồi, chúng ta không thể chậm trễ một ngày, bất kể phải trả bằng giá nào, nhất định phải đánh nhanh quyết nhanh. Đợi cuộc chiến này thắng rồi, chúng ta sẽ cứu Lư Thực.
Tào Tháo khi ấy đột nhiên hiểu ra: dù Chu Tuấn đa mưu, Hoàng Phủ Tung uy vũ, dù chính mình tự nguyện gan óc lầy đất, thì chiến cục của cuộc bình định phản loạn này vẫn có vô vàn biến số. Bởi vì có hai chiến trường, một cái gần ngay trước mắt, và một cái xa xôi mãi Lạc Dương...
Xác chết đầy đồng
Tháng Sáu năm Quang Hòa thứ sáu (184 SCN) ba tướng Chu Tuấn, Hoàng Phủ Tung và Tào Tháo cùng Thái thú Nhữ Nam là Triệu Khiêm, tướng Trần Quốc là Lạc Tuấn, và tá quân tư mã Tôn Kiên dẫn quân hương dũng theo, cùng tập hợp thành liên quân, tiến hành cuộc chiến đẫm máu ở huyện Tây Hoa. Sau khi phải trả một giá đắt với gần nửa số quân bị thương vong, cuối cùng họ đã đánh bại quân Khăn Vàng ở Nhữ Nam, chém chết thủ lĩnh là Bành Thoát. Dư đảng Khăn Vàng lại chạy lên phía bắc qua Dĩnh Xuyên. Quan quân liên tiếp truy kích, nhờ sự phối hợp của thứ sử Dự Châu là Vương Doãn, cuối cùng đã đánh tan toàn diện thế lực Khăn Vàng ở Trung Nguyên bên ngoài thành Dương Địch, bình định hoàn toàn ba quận Dĩnh Xuyên, Trần Quốc, Nhữ Nam.
Nhưng cùng với đó chiến trường Hà Bắc lại bị bẻ gãy. Sau khi Bắc trung lang tướng Lư Thực bị hạ ngục, thái thú Hà Đông là Đổng Trác nhận chức Đông trung lang tướng tiếp nhận chức thống soái. Do đổi tướng trước khi ra trận, nên Đổng Trác không thể khống chế cục diện. Trương Giác nhân cơ hội đã từ Quảng Tông đột phá toàn bộ vòng vây. Quan quân bị thảm bại, tổn thương quá nửa, giặc Khăn Vàng ở Hà Bắc lại lần nữa vượt qua Hoàng Hà, tập kết xuống Đông Quận gây họa.
Sự kiện ấy không những khiến cho chiến trường mạn bắc trở nên xấu đi, mà còn khiến chiến trường mạn nam ở Kinh Châu lại phát sinh biến cố mới.
Thái thú Nam Dương là Tần Hiệt vốn dựa vào binh mã của cường hào để nổi lên, nhưng sau khi đánh bại Trương Mạn Thành đã thả sức giết hại những hàng binh Khăn Vàng. Sự tàn bạo của cường hào địa phương khiến dân chúng bất bình, lại thêm sự khích lệ từ việc Trương Giác đã đột phá vòng vây tiến xuống phía nam, quân Khăn Vàng ở Nam Dương lại tạo phản lần nữa, lập Hàn Trung, Triệu Hoằng, Tôn Hạ làm thủ lĩnh, đánh phá Uyển Thành, tụ tập phản dân đến hơn mười vạn.
Bị bức bách bởi tình thế nguy cấp, triều đình hạ lệnh cho quân chủ lực của Chu Tuấn và Hoàng Phủ Tung chia làm hai đường: một do Hoàng Phủ Tung thống lĩnh đi lên phía bắc thảo phạt quân Khăn Vàng ở Hà Bắc, nửa còn lại do Chu Tuấn thống lĩnh xuống phía nam bình định bạo loạn ở Nam Dương.
Sau khi Hoàng Phủ Tung nhận mệnh đã đánh bại nghĩa quân vượt sông ở Thương Đình, bắt sống thủ lĩnh là Bốc Tị.
Đúng lúc ấy, thủ lĩnh tối cao của Thái Bình đạo và khởi nghĩa Khăn Vàng là Trương Giác bị bệnh chết, quân Khăn Vàng ở Hà Bắc lập tức rơi vào tình trạng rối loạn. Hoàng Phủ Tung nhân cơ hội, chỉnh đốn lại số quan quân chiến bại lần trước, lại lần nữa tiến vào vây bức Quảng Tông, dùng chiến thuật lấy quân nhàn nhã chờ quân mệt mỏi lại chiến thắng quân giặc. Chiến dịch này đã chém ngay tại trận “Nhân công tướng quân” Trương Lương, giết và bắt làm tù binh hơn tám vạn quân Khăn Vàng. Sau khi giành được Quảng Tông, quan quân cho quật quan tài Trương Giác lên, chặt lấy đầu đưa về kinh sư. Tháng mười một cùng năm, Hoàng Phủ Tung tiếp tục tiến lên phía bắc, bao vây Hạ Khúc Dương, đó là cứ điểm cuối cùng của quân Khăn Vàng ở Hà Bắc, thắng lợi đã ở ngay trước mắt.
Trong lúc Hoàng Phủ Tung liên tục đánh liên tục thắng, thì chiến cục ở Nam Dương lại rơi vào tình thế giằng co. Chu Tuấn đi xuống phía nam, sau khi hợp binh với thứ sử Kinh Châu là Từ Cầu, thái thú Nam Dương là Tần Hiệt, đánh chém được thủ lĩnh quân Khăn Vàng là Triệu Hoằng. Nhưng từ sau khi bao vây Uyển Thành thì quân Khăn Vàng kiên trì giữ vững không ra, từ tháng Sáu đến tháng Mười một, quan quân đã tổ chức rất nhiều lần đánh chiếm, mà trước sau vẫn chưa hạ được Uyển Thành.
Hoàng đế Lưu Hoành rất không bằng lòng về việc đó, liên tục sai sứ giả đến thúc đánh mà không được, liền triệu tập triều hội thương nghị, lấy tội biếng nhác chiến trận bắt Chu Tuấn hạ ngục. Trương Ôn - vừa mới được thăng lên nhận chức Tư không tâu:
— Xưa Tần dùng Bạch Khởi, Yên sai Nhạc Nghị, đều là những kẻ tuổi tác đã cao, mà vẫn có thể đánh giặc. Tuấn thảo phạt Dĩnh Xuyên, cũng có công, dẫn quân xuống phía nam, sách lược đã định rõ đâu đấy. Lâm trận mà đổi tướng, là điều kiêng kỵ của binh gia, xin hãy cho thêm thời gian, chắc chắn sẽ có thành công.
Lưu Hoành nhân câu nói ấy mới tạm tha cho Chu Tuấn. Nhưng bởi có tấm gương của Lư Thực năm ngoái, Chu Tuấn lo lắng vô cùng. Khi ấy Tào Tháo cũng ở trong quân của Chu Tuấn.
— Trong triều lại đưa văn thư giục đánh đến đấy! - Lúc này Chu Tuấn không còn được phong độ của bậc trí tướng một đời nữa, chắp tay sau lưng đi đi lại lại trong trướng trung quân, tựa như một con sói đói bị nhốt trong cũi. - Nếu không có câu nói tốt của Trương Ôn giúp cho thì bây giờ ta đã đang trên đường áp giải về Lạc Dương rồi. Tập hợp tất cả binh lính của chúng ta lại mới có một vạn tám ngàn người, trong khi số phản tặc ở Uyển Thành có tới hơn mười vạn. Chớ nói đến chuyện đánh hạ, ngay chuyện duy trì tình trạng vây thành thế này cũng khó khăn lắm rồi.
Tào Tháo buộc chặt tấm áo cừu - từ buổi đầu xuân rời khỏi kinh thành, đến nay đã là giữa đông. Ánh mắt Tào Tháo có vẻ thẫn thờ, râu tóc rối tung như cỏ dại. Cuộc chiến ở Tây Hoa thương vong quá lớn, ba ngàn quân kỵ mà Tào Tháo đưa đi đến nay chỉ còn chưa đến một nửa. Trương Tử Tịnh, Tần Hiệt, Triệu Từ, Tô Đại, Bối Vũ cùng ngồi quanh đó vẻ mặt cũng đều buồn bã.
Chu Tuấn dừng bước chân, tay bám vào bàn chủ soái:
— Với số quân mã của chúng ta hiện nay, nếu muốn đánh thắng chỉ có cách bao vây không đánh, đợi đến khi chúng cạn hết lương thảo. Nhưng hoàng thượng không cho chúng ta thời gian, ông ấy muốn bức chúng ta vào chỗ chết đây...
— Cứ theo ý vãn sinh, chúng ta chỉ có thể duy trì hiện trạng. - Tào Tháo nói vẻ cam chịu. - Nếu hoàng thượng không cho, vãn sinh sẽ viết một bức thư cho gia phụ, nhờ ông suy nghĩ xem có cách nào nữa không, để kéo dài một chút.
— Vô ích thôi, có một không thể có hai. Hơn nữa thập thường thị rất sợ có người lập công đoạt mất sự sủng ái, không biết đã ton hót bao nhiêu lời sàm ngôn vào tai hoàng thượng rồi. Chuyện này nếu lại dính thêm vào, thì ngay cả cha ngươi cùng với Trương Ôn đều sẽ phải mang hận. Ta có vào đại lao cũng thôi, chứ không thể để nhiều người phải liên lụy chịu rủi theo ta được. - Chu Tuấn vê vê chòm râu tua tủa, quay sang nhìn đám Tần Hiệt, lại nói, - Mấy người thử nghĩ kỹ xem, có con đường tắt nào tấn công vào Uyển Thành không? Mấy người đều là người Kinh Châu, lẽ nào lại không nghe nói Uyển Thành có con đường bí mật gì đó chăng?
Tần Hiệt lắc lắc đầu, cảm thấy câu này của Chu Tuấn thật vô lý. Đám Triệu Từ, Tô Đại, Bối Vũ mà ông ta dẫn đầu đều là những thổ hào ở Kinh Châu, sinh ra và lớn lên ở đây, nếu có con đường bí mật nào thì đã nói từ lâu rồi, làm sao để đến nỗi phải kéo dài mấy tháng như thế.
Trương Tử Tịnh nói:
— Theo ý của mạt tướng, giặc Khăn Vàng ngoài Uyển Thành ra đều đã được bình định hết. Chi bằng ta cho người vào thành khuyên hàng, một là có thể nhanh chóng bình định quận Nam Dương cho quân về báo tiệp, hai là tránh việc sinh linh phải chịu lầm than khi phá thành.
— Ta thấy như thế được. - Tào Tháo lập tức đồng ý, giờ đây y đã thấy hơi chán ngán chuyện chiến trường rồi.
— Như thế không được! Tuyệt nhiên không được! - Triệu Từ liên tục xua tay. - Đám giặc này vốn không có tín nghĩa, lần trước chém chết Trương Mạn Thành, chúng đã đầu hàng. Giờ chẳng phải lại sinh biến làm phản đó ư? Lần này không thể dung tha cho chúng đầu hàng được nữa.
Bối Vũ cũng nói theo:
— Đúng vậy, mấy kẻ này ngu si ngoan cố, tất phải nhổ cỏ tận gốc!
— Hừ! - Tào Tháo không nén nổi lửa giận. - Mấy người vẫn còn nói nhổ cỏ tận gốc mà không biết ngượng ư! Nếu không phải mấy người giết hại bách tính, kích động sự phẫn nộ của dân, thì làm gì đến nỗi lại bức họ phải làm phản?
— Đó không phải là bách tính, đó là bọn giặc hàng. - Bối Vũ biện bạch.
— Trước khi họ làm giặc, chẳng phải họ cũng là dân chúng ư? Bức cho họ phải làm phản còn không đủ, lại còn muốn chém hết giết sạch, mấy người còn chút lương tâm nào không? - Tào Tháo tức giận mãi không thôi.
Triệu Từ đứng vụt dậy:
— Tào Mạnh Đức, ông bớt ngồi đây cuồng ngôn nữa đi. Kinh Châu chính là nhà của bọn ta! Gia tộc điền sản của bọn ta đều ở đây. Nếu cẩu thả nhận hàng cho bọn phản tặc, đến khi ông phủi tay quay về phục mệnh, nếu như chúng lại làm phản thì bọn ta lại phải liếm gót cho ông ư! Ông chỉ muốn được thăng quan phát tài, tham sống sợ chết, ông có nghĩ đến tính mạng của gia đình và bản thân bọn ta không?
— Lòng dạ ông cũng thật đen tối đấy. - Tào Tháo vỗ vỗ vào ngực mình. - Ta liều mạng mình, dẫn ba ngàn người đột nhập tấn công Trường Xã, vì một trận Tây Hoa mà mất đi quá nửa huynh đệ. Thế mà ông nói ta tham sống sợ chết? Thân phụ ta là đại hồng lô đương triều, ở thành Lạc Dương có ai dám nói ta là một kẻ không có tên tuổi gì? Nếu ta tham sống sợ chết, sẽ chẳng chui ra mà lội vào vũng lầy này!
— Mọi người hãy nói ít thôi, tất cả đều là vì giang sơn xã tắc... - Trương Tử Tịnh định khuyên giải mấy câu, nhưng ông ta là một văn nhân, trong quân doanh chẳng ai coi trọng cả.
Triệu Từ liếc nhìn Trương Tử Tịnh:
— Giang sơn xã tắc thì ta chẳng dám nghĩ đến, nhưng Kinh Châu là một mẫu ba phân đất của bọn ta, sản nghiệp của chính bọn ta thì phải giữ cho bằng được.
— To gan! Một mẫu ba phân đất của các ngươi ư, trong mắt các ngươi có còn triều đình nữa không hả? - Tào Tháo nói lý.
Triệu Từ là kẻ thô kệch, không câu gì là không dám nói:
— Triều đình gì chứ? Triều đình hiện giờ đang dùng quân của ta! Ta lại chẳng ăn lương bổng của triều đình, chớ có nói những đạo lý to tát ấy với ta!
— Ngươi nói thế, có phải cũng muốn làm phản chăng?
— Có làm phản cũng là bởi những tên tham quan như ngươi bức bách mà ra thôi!
Hai người càng nói càng giận dữ, xắn tay vén áo định đánh nhau, Tần Hiệt và Tô Đại vội vàng người ôm, người kéo can ngăn. Bối Vũ thì chẳng những không khuyên can, lại ngồi cười nhạt bảo:
— Hừ! Ta đã nhìn thấy rất rõ, thiên hạ này sắp đi đời rồi. Giúp cho quan quân thì là nhân tình, không giúp thì là bổn phận. Cùng lắm chúng ta dẫn huynh đệ về nhà, đóng kín cửa lại, trời xanh trời vàng gì gì, ta cũng mặc xác!
— Câm miệng tất cả cho ta! - Chu Tuấn đập ầm ầm lên bàn chủ soái. - Bây giờ là lúc nào mà các ngươi còn ở đó gà nhà đá nhau! Đúng là rảnh rỗi quá không có gì làm! Đi hết ra trận tiền cùng đốc chiến với Từ Cầu đi! Quân triều đình cũng được, quân riêng cũng được. Không hạ được Uyển Thành thì chẳng ai có kết quả tốt đẹp gì đâu! Ngồi hết cả xuống cho ta!
Dẫu sao ông ta cũng là thống soái, một cơn giận như vậy khiến tất cả mọi người đều không dám nói gì nữa, lặng im ngồi xuống, cùng nhau thở dài. Đúng lúc ấy rèm đại trướng được vén lên, Tôn Kiên tập tễnh bước vào:
— Các ngài cãi cọ nhau gì vậy? Một khi triều đình đã có mệnh lệnh, thì chúng ta cứ đi đánh là đúng rồi.
Tôn Kiên tự Văn Đài, người Phú Xuân, Ngô Quận, cùng tuổi với Tào Tháo, nhưng thân cao tám thước, tướng mạo đường đường, chẳng biết oai vệ hơn Tào Tháo bao nhiêu lần. Nghe đâu y là hậu duệ của Tôn Vũ Tử, nhưng không có vẻ nghiêm cẩn của một bậc trí tướng như tổ tiên xưa, mà ngược lại, lại có khí khái dũng mãnh hơn, lúc đánh trận luôn xông xáo lên trước, không cần biết sống chết. Tôn Kiên từng giữ chức vụ Bổ đạo Đô úy tham gia cuộc chiến bình định phản loạn của Hứa Thiều, và cũng chính thời gian ấy đã quen biết Chu Tuấn. Lần này Chu Tuấn làm tướng, việc đầu tiên chính là mời người đồng hương nhỏ tuổi ấy đem đội ngũ đến trợ chiến. Tôn Kiên không phụ sự ủy thác đó, đưa đến hơn một ngàn hương dũng, trong cuộc chiến ở Tây Hoa đã thể hiện rõ thần uy của mình, đuổi chém được tướng giặc là Bành Thoát. Nhưng Tôn Kiến cũng bị đám loạn quân làm bị thương, ngã vào trong bụi cây bất động, may là con ngựa Thanh Thông mà Tôn Kiên cưỡi rất hiểu tính người, một mình chạy về đại doanh hí vang không ngớt, sĩ tốt mới biết là có việc lạ, liền đi theo ngựa mới tìm thấy Tôn Kiên, cứu sống được.
Chu Tuấn nghiêm nghị nhìn Tôn Kiên:
— Nếu không tính tổn thất toàn lực tấn công, ngươi thấy chúng ta nắm được mấy phần khả năng hạ Uyển Thành?
— Hoàng thượng đã thúc giục như vậy, có hay không có khả năng gì cũng phải đánh thôi! - Tôn Kiên tìm một chiếc ghế ngồi xuống. - Theo ý mạt tướng, chúng ta công thành một lần nữa, dốc hết toàn lực đánh một trận. Hơn nữa, không hạ được Uyển Thành thì cũng chẳng thể vui vẻ được, chẳng thà đem hết tính mạng liều với chúng một phen.
— Không biết sẽ có bao nhiêu sinh linh phải lầm than. - Chu Tuấn thở dài, - Nhưng việc đến nước này, cũng chỉ có cách ấy thôi.
— Tướng quân, mạt tướng xin được đi tiên phong. - Tôn Kiên chủ động xin lệnh.
— Vết thương ở đùi huynh vẫn chưa lành, hãy để ta đi cho. - Tào Tháo khuyên can.
— Thôi nào, số lính huynh đưa từ Lạc Dương đến đều là những kẻ có danh phận, đến nay đã chết hơn một nửa, lại liều mạng lần này nữa, đến khi trở về biết ăn nói thế nào với nhà người ta. - Tôn Kiên buộc chặt vết thương trên đùi. - Ta chẳng có gì cũng được, chỉ cần sức lực hai cánh tay thôi, vết thương trên đùi nhỏ xíu này chẳng đáng để tâm. Ta không tin Uyển Thành nhỏ như viên sỏi này có thể lật được trời.
— Nếu không trừ diệt đám giặc ấy, có muốn làm một tài chủ đóng cửa cũng không được với chúng. - Tô Đại buồn bực nói, - Văn Đài, ngày mai tại hạ với ngài cùng công thành.
Tần Hiệt nghe câu ấy cảm thấy được khích lệ:
— Nếu đã như vậy, ta cũng đi!
— Thế ta cũng đi! Lão này liều với chúng một phen. - Triệu Từ kêu lên.
— Đúng! - Bối Vũ cũng cất lời nói, - Nhất định chúng ta đều lên cả tuyến đầu đốc chiến. Hơn nữa, trận này chính là trận quyết định, dốc toàn lực ra đánh thôi.
— Vậy thì quyết như vậy đi. Trước tiên chúng ta hãy gọi Từ Cầu rút về nghỉ ngơi đã. Giờ mão ngày mai sẽ lại xuất binh, phát động toàn bộ quân mã công thành, đến đầu bếp cũng cầm dao thái rau đánh giặc cho ta! - Chủ ý của Chu Tuấn đã định, giơ tay không nói thêm gì nữa.
Sáng sớm hôm sau, liên quân giữa quân triều đình và quân của cường hào địa phương tổng cộng có một vạn tám ngàn người, tất cả đều ra trận. Trước lúc công thành, ngay cả trướng Trung quân của mình, Chu Tuấn cũng đều châm lửa đốt hết, nói rõ nếu không hạ được Uyển Thành thì thề không lui về. Quân Khăn Vàng đã đến bước đường nồi vỡ thuyền chìm.
Vì việc vây đánh thành đã dài ngày, nên những con hào bảo vệ xung quanh bốn phía Uyển Thành đã bị quân triều đình san bằng từ lâu, cửa thành đã có những chỗ bị phá hỏng, phải tu bổ lại bằng những đồ dùng trong nhà dân. Trên tường thành không có gì che chắn cả, lầu trên cổng thành và tường nhỏ đều bị dỡ xuống để lấy gỗ đá ném xuống, sau rồi tất cả mọi thứ đều ném không còn gì cả, chỉ có thể lấy người chết ném xuống để cố thủ. Dưới tường thành người chết đã chất đống lên như núi, có thi thể của quân Khăn Vàng, cũng có cả thi thể của quân triều đình, hay quân riêng của thổ hào. Dù không dựng thang, nhưng trèo lên đống xác chết ấy cũng có thể leo được lên trên thành.
Quân triều đình vây chặt bốn mặt Uyển Thành, bắt đầu công thành. Chu Tuấn và Trương Tử Tịnh, Từ Cầu, Tào Tháo trèo lên gò đất đắp cao, từ trên cao nhìn xuống tường thành quan sát, Uyển Thành giờ đây đã trở nên trơ trụi, chỉ còn dựa vào sức người để phòng thủ, thậm chí có thể trông thấy thủ lĩnh của bọn chúng là Hàn Trung, Tôn Hạ đang vung đại đao chỉ huy bên trái bên phải. Quân triều đình, kẻ thì đứng trên thang đâm lên thành, kẻ thì leo lên đống xác chết đánh lên trên. Nhưng quân Khăn Vàng dường đã bị hóa điên, tay cầm tất cả những gì có thể làm vũ khí ra sức chống lại.
Trận đánh kéo dài từ giờ mão đến giờ tị, quân triều đình tổn thất hơn hai ngàn người, quân Khăn Vàng vũ khí thô sơ, số bị chết không biết bao nhiêu mà tính. Quân triều đình không có cách nào lên được tường thành, mà quân Khăn Vàng tay chân hoảng loạn cũng chỉ còn cách buộc phải chống trả, cố sức liều mạng như vậy cũng không biết đến khi nào mới có thể kết thúc được.
Bỗng nhiên, quân Khăn Vàng yêu cầu bãi chiến, dựng cờ hàng biểu thị đồng ý quy thuận.
Từ Cầu thở dài nói:
— Cuối cùng cũng đã hàng rồi, chúng ta lùi bước lại một chút, dung cho bọn chúng mở cửa thôi.
— Không được! - Chu Tuấn lắc đầu. - Đã đánh đến bước này, coi như bát nước đổ đi không thể hớt lên được. Bọn chúng có hơn mười vạn người, chúng ta đàn áp không nổi, thì hàng rồi chúng cũng sẽ lại phản.
— Tướng quân, trước tiên hãy để quân sĩ trở về nghỉ đã, không thể tiếp tục liều mạng thế được. - Trương Tử Tịnh chực rơi nước mắt, - Khi xưa, đức Cao tổ ta, cũng nhờ bởi có thể chiêu hàng nạp phản nên mới có giang sơn đại Hán chúng ta. Những kẻ nanh vuốt ngoan cố còn có thể được phong hầu, xin ngài hãy cho phép chúng được đầu hàng đi.
Lúc này hai mắt Chu Tuấn cũng nóng lên, ông đã cầm quân nửa đời người rồi, mà chưa từng gặp tình huống nào như hôm nay, làm gì có lòng dạ nào mà lôi sách vở ra tranh biện với kẻ văn nhân như Trương Tử Tịnh, bèn quay lại quát lên:
— Ngu ngốc! Xưa kia, sau thời Tần Hạng, thiên hạ vô chủ, mới thưởng kẻ phụ theo, nhận kẻ quy hàng để lấy lòng người. Ngày nay trong nước quy về một mối, chỉ có mấy tên dư đảng Khăn Vàng này làm loạn, hôm nay cho phép chúng hàng, ngày mai không được như ý, chúng lại phản. Phản rồi hàng, hàng rồi phản, như thế bao giờ mới thôi? Truyền lệnh xuống, không cho đầu hàng, tiếp tục đánh cho ta!
Lệnh vừa truyền xuống, trống trận lại dồn dập, quân triều đình ai nấy phấn chấn trở lại, nhưng quân Khăn Vàng cũng càng liều mạng chống đỡ. Hai bên đều đánh chém nhau như phát cuồng, vô số người chết từ trên tường thành rơi xuống đất. Lại đánh tiếp từ giờ tị cho đến chính ngọ, mà vẫn giữ lẫn nhau không hạ được.
Chu Tuấn mồ hôi đầm đìa, chòm râu nhỏ vểnh cao lên, liên tục giậm chân bực bội, Tào Tháo, Trương Tử Tịnh và Từ Cầu đều không dám nói thêm lời nào. Chu Tuấn nhắm mắt lại suy nghĩ hồi lâu, rồi lẩm bẩm nói:
— Ta hiểu rồi, hiểu rồi... Không được! Không thể đánh như thế được nữa, có đánh như vậy đến đêm cũng không có kết quả gì. Bọn chúng không được đầu hàng, cũng không có cách nào đột phá vòng vây nên mới liều mạng tử thủ như vậy. Vạn nhân nhất tâm còn không thể chống lại, huống chi bọn chúng có tới mười vạn người! Ta thực là nóng vội hóa ra hồ đồ rồi. Mạnh Đức, ngươi mau chóng xuống núi truyền tướng lệnh của ta, cho người của chúng ta giả vờ lui quân, để cho chúng trốn chạy, chúng ta sẽ đón giữa đường mà giết!
— Dạ! - Tào Tháo vội dẫn theo Lâu Dị, Tần Nghi Lộc xuống núi, chia nhau đi quanh thành truyền lệnh. Không lâu sau quân triều đình cùng với quân mã của cường hào đều lui cả, giả như rút quân.
Quả nhiên, quân Khăn Vàng thấy có một mảy may đường sống, khi đó cũng chẳng quan tâm là mở cửa thành nào nữa, Hàn Trung đích thân dẫn theo quân của chúng từ mặt bắc đạp lên đống xác chết xuống thành phá vây. Khoảnh khắc, trên dưới Uyển Thành đen kịt những người trốn chạy, núi xác chết đã bị đạp bằng rồi, mà còn có những kẻ không biết sợ chết cứ nhảy xuống.
Sau đó, cổng thành cũng mở toang, đám quân Khăn Vàng vung đao thương giáo mác, cho tới cuốc thuổng gậy gộc, nhất thời mở ra một đường thoát ở phòng tuyến mặt bắc của quân triều đình.
— Truy kích! - Chu Tuấn quát to một tiếng, dẫn theo thân binh của mình xông tới đánh giết, tất cả người ngựa đều lao lên phía bắc.
Quân Khăn Vàng chạy phía trước, quân triều đình đuổi phía sau, ai nấy đều lấy hết sức bình sinh mà chạy. Quân triều đình chém giết dọc đường, người nào người nấy đều nhuộm đỏ máu. Đuổi theo suốt hơn mười dặm đường, thì toán nghĩa quân không thể chạy nổi nữa, chỉ có thể quỳ xuống xin đầu hàng, thủ lĩnh của chúng là Hàn Trung chạy đầu tiên, thấy thế cục đã thua, cũng ném đao huơ tay xin hàng. Chính lúc ấy, Tần Hiệt cưỡi ngựa phi nhanh đã xông tới!
Ông ta vốn đã từng chém chết Trương Mạn Thành, dẹp loạn ở Nam Dương, chỉ vì Hàn Trung kéo người làm phản mới lại gây ra chiến sự. Lúc này Tần Hiệt chẳng cần biết kẻ địch có đầu hàng hay không, vung cây đại đao trong tay, chém xuống. Ông ta dùng lực quá mạnh, khiến Hàn Trung bị chém vào ngang eo đứt lìa thành hai đoạn.
— Ôi thôi! - Tào Tháo chạy phía sau thiếu chút nữa thì chửi to lên. - Khốn kiếp... Không được giết!
Hàn Trung bị chém chết, khiến đám quân Khăn Vàng quỳ xuống xin hàng sợ hãi quá, đã đầu hàng rồi mà vẫn không toàn tính mạng, lại tiếp tục chạy! Chạy lên phía bắc không được, lại quay đầu chạy trở lại. Đoàn người đen đặc quay ngược lại chạy, quân triều đình vội vã đổi hậu đội thành tiền đội, quay ngựa ngược trở lại tiếp tục đuổi giết.
Rốt cuộc quân giặc đông đến hơn mười vạn, đại bộ phận vẫn chưa ra được khỏi thành. Số đã chạy ra, tuy có kẻ bị giết, có kẻ may mắn trốn thoát được, nhưng không ít người vẫn chen nhau chạy ngược trở về. Số trốn chạy trở lại trước cũng không thèm quan tâm đến số chạy sau nữa, lập tức đóng chặt cửa thành lại tiếp tục cố thủ. Đám không vào được thật xấu số, tất cả đều bị quan quân giết sạch, tính sơ sơ cũng có đến hàng vạn người.
Nhưng thắng lợi ngay trong tầm tay lại đã trở về điểm xuất phát, trận chiến công thành lại làm lại từ đầu.
Khi ấy Tôn Kiên từ trong đám loạn quân chợt bước ra kêu to:
— Việc hôm nay là phải hạ được Uyển Thành, những ai không sợ chết thì tiến lên cùng ta! - Nói xong, hắn bỏ ngựa, vung đại đao bước lên thang đầu tiên. Khi đó những kẻ liều chết quên sống cũng thấy vững chân hơn, có người trèo lên theo, có người đẩy xe thang lại sát chân thành. Còn cách tường thành tới gần một trượng, đã thấy Tôn Kiên như một mũi tên phóng mình nhảy lên như một con chim ưng đáp xuống tường thành, đại đao vừa vung lên, đã có hai người đổ gục xuống.
Hành động ấy trong khoảnh khắc đã thay đổi cục diện, Tôn Kiên múa đại đao chém bừa bên phải bên trái, để bảo vệ bằng được chỗ ấy. Những người lính phía sau cũng đã theo lên được mặt thành, đoản binh của hai bên chạm trán nhau, thì quân Khăn Vàng không phải là đối thủ. Xe thang phát huy tác dụng trên một đoạn thành, rất nhanh sau đó, bảy tám chiếc xe thang đều áp sát tường thành thành công, quân triều đình tràn lên như thủy triều, Tô Đại, Triệu Từ, Bối Vũ cũng đã múa binh khí như điên cuồng, xông lên mặt thành.
Nghĩa quân mới đầu còn liều mạng chiến đấu trên thành, sau đó thấy quan quân kéo lên thành ngày càng nhiều, liền bỏ tường thành, chạy trốn vào trong thành. Quan quân lại từ trên thành xông vào trong thành, có kẻ mở một đường máu mở được cửa Đông, trong khoảnh khắc, tất cả rối loạn lên.
Cửa đông mở rồi, quan quân và đội kỵ binh cũng có chỗ dụng võ. Tào Tháo, Tần Hiệt đi đầu dẫn theo quân của mình xông vào. Chỉ thấy trong Uyển Thành giết chóc khắp nơi, chỗ thì quân Khăn Vàng dỡ cánh cửa nhà dân làm lá chắn yểm hộ để chống đỡ, chỗ thì chúng đứng trên nóc nhà ném gạch ngói. Quân triều đình không thèm để tâm vẫn xông lên phía trước, không ít người bị ngã xuống đất, bị đánh tơi bời đến chết. Thi thể của cả hai bên tắc nghẽn đầy đường phố, đội kỵ binh đi sau phải giẫm đạp lên xác chết mà đi. Trên đường phố chật chội lại đánh nhau gần nửa canh giờ nữa, không biết ai đó hô to:
— Tôn Hạ dẫn người ra khỏi cửa Tây rồi!
Xem tình thế hiện thời, nếu không trừ được Tôn Hạ, thì cuộc chiến này mãi mãi không thể kết thúc. Quân quan lại không tiếc bất cứ giá nào, đánh ra cửa Tây. Tô Đại, Bối Vũ, Triệu Từ đều bị trọng thương, những quân riêng mang theo cũng đã chết gần hết. Quân mã do Từ Cầu, Trương Tử Tịnh cầm đầu đóng lại giữ Uyển Thành, chỉ còn lại Chu Tuấn dẫn theo Tào Tháo, Tần Hiệt, Tôn Kiên tiếp tục đem quân truy quét bại binh giặc.
Thấy toán quân cuối cùng của Tôn Hạ đã chạy được hơn mười dặm, quân triều đình ra sức đuổi theo không tha. Kẻ cố sức muốn trốn thoát, người nóng ruột muốn tiêu diệt, hai toán quân đuổi theo nhau trên bình nguyên rộng lớn ở Nam Dương, ai nấy đều mồ hôi nhễ nhại như điên cuồng, tựa hồ quên mất rằng hiện giờ đang là mùa đông lạnh giá. Tuy quan quân có không ít kỵ binh, nhưng quân Khăn Vàng hiểu rằng nếu chậm lại sẽ chết ngay, hơn nữa họ lại quần áo mỏng manh giản tiện nên cũng không có gánh nặng gì lớn, nên hai toán quân trước sau vẫn duy trì khoảng cách trên dưới năm dặm.
Tào Tháo ghì chặt dây cương, toàn thân chao đảo, không biết đã đuổi theo bao lâu rồi, chỉ thấy mặt trời đã ngả về tây, cổ họng khát khô đến bỏng rát, cảm giác mệt mỏi và đói khát đã làm y không ngồi thẳng được lưng dậy nữa, chỉ còn một ý chí chiến đấu gắng gượng nâng đỡ y lên. Trong một khoảnh khắc mơ hồ, Tào Tháo cảm thấy toán giặc đông đặc phía trước như đứng im bất động.
Chỗ này là chân núi Tinh Sơn của huyện Tây Ngạc, lịch sử đã định nghĩa quân Khăn Vàng bị tiêu diệt hoàn toàn ở nơi này. Những người nông dân đói khát mệt nhọc không thể chạy được nữa, nửa đời họ đã phải lao động khổ sở, sức lực của họ không thể so được với quân triều đình. Đối mặt với dãy núi Tinh Sơn phía trước, họ không còn sức lực để có thể trèo non vượt núi, tiếp tục trốn chạy được nữa. Nhìn thấy quan quân đã đuổi đến nơi, Tôn Hạ từ trong đám đông chen ra đứng trước, dang rộng hai tay quay về phía quân triều đình hô to:
— Chúng ta đầu hàng! Chúng ta đầu hàng! Không cần phải...
Ông ta vẫn còn chưa kêu xong thì Tôn Kiên đã thúc ngựa xông tới, chém một đao khiến ông ta bay đầu. Thân thể không còn đầu của ông ta vẫn chưa đổ xuống, cứ đứng sừng sững phun lên trời dòng máu tươi đầy phẫn nộ!
— Quỳ xuống xin tha cũng phải chết! Chúng ta liều thôi!
Những người nông dân đang quỳ xuống đất thở hổn hển lại lần nữa nhảy vọt dậy, múa tít tất cả những gì có thể cầm được trong tay, xông vào đội quân mã của triều đình. Trong khoảnh khắc, tất cả mọi người đều máu me nhuộm đỏ, chỉ có chiếc khăn vàng hay mũ sắt là tiêu chí có thể giúp cho người ta nhận ra đó là ai. Ngựa chiến hí vang xông xáo qua lại, giữa ngày đông tiếng đao thương và nông cụ va chạm vào nhau, thỉnh thoảng lại tóe lên những ánh lửa. Những cái đầu chém rụng xuống bị người dẫm ngựa đá lăn qua lăn lại. Những cỗ ngựa bị đâm ngã không còn sức đứng lên, bị giẫm đạp cho đến khi chỉ còn một đống thịt bầy nhầy. Trông tít tận đằng xa, máu đỏ chảy tràn lan, dường trở thành một cái đầm máu, rồi nó dần dần đông đặc lại, đỏ tím lên, rồi biến thành màu đen. Lần này còn thảm khốc hơn cả trận chiến ở Tây Hoa.
Không biết liều mạng bao lâu, cuối cùng quân Khăn Vàng đã hoàn toàn mất đi ý chí chiến đấu cuối cùng. Ngay cả sức lực để chạy trốn khắp nơi cũng không còn nữa, lũ lượt kéo nhau ngồi thụp xuống đất, ánh mắt đờ đẫn chờ đợi cái chết sắp tới. Quân triều đình giống như một chiếc dùi sắt tức tối, chọc vỡ ra từng biển máu. Đó đã không còn là cuộc chiến tranh nữa, mà là sự giết chóc!
Tào Tháo dừng ngựa, nhìn thấy quân lính chém giết bốn phía xung quanh, khắp nơi đều là máu đỏ, đâu đâu cũng là tay đứt chân lìa, chỗ chỗ là những tiếng kêu khóc đến nhói tim thắt ruột. Tào Tháo thấy dường như mình đang đứng giữa một biển máu nơi địa ngục, bèn cất tiếng hét to:
— Đủ rồi, đủ rồi! Không được giết nữa!
Nhưng làm gì có ai nghe lời Tào Tháo, đám quân lính vẫn trút những cơn phẫn hận của mình ra như một lũ ma quỷ. Tào Tháo trông thấy cách đó không xa, Lâu Dị đang vung cây thương của mình đâm tới tấp, Tào Tháo vội vàng chạy lại giữ chặt lấy cán thương:
— Không giết nữa! Đủ rồi!
Lâu Dị đã giết đến đỏ sọng hai mắt, đoạt lại cây thương vẫn muốn đâm tiếp. Tào Tháo xông tới nơi, cho hắn một bạt tai:
— Không giết nữa! Khốn kiếp, ngươi có nghe thấy không hả?
— Tiểu nhân nghe thấy rồi! - Sau rồi Lâu Dị lại hét lên một tiếng với chủ nhân của mình, rồi nước mắt tuôn trào ra như suối, - Vì sao không giết? Huynh đệ của chúng ta đều mất cả rồi... hu hu... Ngài mở mắt ra mà nhìn! Ba ngàn quân kỵ của chúng ta còn lại được mấy người chứ... - Hắn ném cây thương dài xuống đất, gục vào lưng ngựa đau đớn khóc mãi không thôi. - Vì sao phải đánh nhau? Vì sao phải đánh trận chiến quỷ quái đáng chết này chứ!
Phải, vì sao phải đánh nhau chứ? Tào Tháo ngẩng đầu nhìn khắp chiến trường nhuộm máu: Quân triều đình cũng đã dừng tay không giết nữa, đứng thẳng im lìm bất động trên mặt đất tựa hồ như vừa đánh mất thứ gì đó. Những người nông dân còn sót lại giống như những xác chết di động, ôm lấy vết thương trên người dật dờ tản ra khắp bốn phía xung quanh... Đủ rồi, tất cả mọi người đều đã chán ngấy cuộc chiến hoang đường này rồi...
Chu Tuấn đôn đốc toán thân binh không còn lại mấy người chạy đến, sắc mặt ông xám xịt, thần thái tiều tụy, dường như chỉ trong một ngày mà đã già đi đến mười tuổi:
— Kết thúc rồi, cuối cùng cũng kết thúc rồi!
— Ta sai rồi... suốt đời này ta sẽ không bao giờ còn muốn ra chiến trường nữa. - Tào Tháo cắn răng đau đớn bật khóc.
Ánh chiều tà đỏ rực như máu phản chiếu lên mặt đất nhuộm máu đỏ, xác chết đầy đồng, im lìm không một âm thanh...
Tháng Mười một năm Trung Bình nguyên niên (184 SCN), Chu Tuấn đã tiêu diệt quân Khăn Vàng ở Nam Dương.
Cùng lúc đó, Hoàng Phủ Tung ở Hà Bắc công phá Hạ Khúc Dương, chém đầu “Địa công tướng quân” Trương Bảo, bắt làm tù binh mười vạn quân Khăn Vàng. Để đề phòng việc phản loạn lại xảy ra một lần nữa, ông ta giết hết toàn bộ mười vạn người, đem thi thể trộn cùng đất cát đắp lên thành kinh quán (gò) để thị uy cho dân chúng biết.
Cho đến lúc này, đại khởi nghĩa Khăn Vàng (Hoàng Cân) với khí thế mạnh mẽ đã hoàn toàn thất bại, số còn sót lại chuyển sang hoạt động lén lút, trốn trong rừng xanh núi thẳm tiếp tục chống đỡ. Triều đình tấn phong Hoàng Phủ Tung làm Tả xa kỵ tướng quân, Chu Tuấn làm Hữu xa kỵ tướng quân. Được hai người ra sức bảo vệ, Lư Thực cũng được xá miễn, vô tội. Tần Hiệt chính thức được nhận chức thái thú Nam Dương, Tôn Kiên được thăng nhậm làm tư mã một biệt bộ. Ngoài ra, mấy người Tô Đại, Bối Vũ, Triệu Từ đều được phong làm quan huyện lệnh, huyện trưởng, những cường hào địa phương nhân quân công được đảm nhiệm quan chức như bọn họ thiên hạ nhiều vô số. Đó cũng trở thành một mầm mống ẩn họa cho nạn cường hào cát cứ sau này.
Tào Tháo do chiến đấu cố gắng, có công, được chuyển nhậm làm tướng ở Tế Nam, Duyện Châu, trở thành quan lại ở vùng đất phong. Nhưng ba ngàn quân kỵ mà Tào Tháo dẫn đi từ Lạc Dương, chỉ còn lại chưa đến hai trăm người ca khúc khải hoàn về triều. Tào Tháo đã hiểu rõ một điều rằng, uy danh của bất kỳ một vị tướng quân nào cũng đều được hun đúc lên từ máu tanh và giết chóc...