Vì Đào Khiêm cố thủ trong thành không chịu xuất chiến, quân đội của Tào Tháo tuy khí thế hừng hực nhưng trước sau vẫn không thể đột phá được thành ở Đông Hải quốc, càng không có cách nào đánh được đến Đàm Thành. Thời gian cứ chầm chậm trôi đi uổng phí, sĩ khí cũng dần nguội bớt.
Để thoát khỏi cục diện ấy, Tào Tháo tuyên bố rút quân, chậm rãi trở về Duyện Châu, thực tế là để ngầm quan sát động tĩnh của địch.
Quả nhiên, Tào Tháo vừa lui quân khỏi địa giới Đông Hải quốc, Đào Khiêm liền lơi lỏng phòng bị, bách tính cũng lũ lượt ra khỏi thành làm đồng. Tào Tháo nhân cơ hội ấy, lập tức hồi quân, tập kích Đông Hải quốc lần thứ hai, khí thế như sấm nổ, đoạt liền năm thành, mũi tấn công nhằm thẳng Đàm Thành - đại bản doanh của Đào Khiêm. Không còn cách nào khác, Đào Khiêm đành phải cầu cứu Điền Khải - Thứ sử Thanh Châu mới được Công Tôn Toản phong cho. Điền Khải cũng dẫn quân đến, nhưng sợ hãi trước uy lực của Tào quân, không dám tiến vào địa giới Đông Hải quốc, chỉ hạ trại từ xa khua chiêng gõ mõ gây thanh thế, cơ bản không có tác dụng cứu viện gì. Trước tình thế ấy, Đàm Thành nguy cấp như trứng để đầu đẳng, sự tồn vong của toàn bộ Từ Châu đã như chỉ mành treo chuông.
Nhưng đến nằm mơ Tào Tháo cũng không thể ngờ rằng, trong khi thấy Đàm Thành ngay trước mắt, ở chỗ Đào Khiêm lại bỗng xuất hiện một cánh viện quân, chỉ có chưa đầy một vạn tạp binh, nhưng lại dám công nhiên đóng đồn ngay trên đường đi, không hề sợ hãi chặn ngang đường đông tiến của Tào Tháo, hành vi ấy khác nào tự tìm đường chết.
Thế mà kẻ cầm quân, lại là một tiểu nhân vật không hề có tiếng tăm gì - Đó là Bình Nguyên tướng Lưu Bị.
— Khoác lác không biết ngượng! Đây là đánh trận, đâu phải võ sĩ thi đấu! - Tào Tháo cầm tờ chiến thư của Lưu Bị gửi đến xé nát. - Ở đâu ra tên Lưu Bị này lại ngông cuồng đến thế. Một tên tiểu tốt cỏn con như vậy dám đường hoàng gửi chiến thư cho ta, thật không biết lượng sức mình!
Tào Tháo hầm hầm giận dữ nhìn một lượt các tướng trong doanh:
— Bình Nguyên tướng... Đâu ra cái chức Bình Nguyên tướng này, các ngươi có ai biết gì về tên Lưu Bị này không?
Các tướng trong doanh quay sang nhìn nhau, ai nấy đều lắc đầu, cuối cùng chỉ có Chu Linh - người ngồi hàng đầu bên dãy phía tây cất lời:
— Khải bẩm tướng quân, mạt tướng có biết sơ lược.
Sở dĩ Chu Linh ngồi ở hàng đầu dãy phía tây, không phải vì ông ta có địa vị cao, binh mã nhiều, mà bởi ông ta không phải người trong Tào doanh. Tào Tháo công chiếm Từ Châu, Viên Thiệu sai Chu Linh và hai bộ tướng khác dẫn theo ba doanh quân đến hiệp trợ, kỳ thực cũng là có ý muốn được chia phần.
Suốt nửa năm nay, Tào Tháo lặng lẽ quan sát, Chu Linh tuy chỉ có hơn ngàn quân, nhưng tài cầm quân chẳng kém gì Tào Nhân, Vu Cấm, chiến đấu dũng mãnh chẳng để thua Nhạc Tiến, Hạ Hầu Uyên, đáng được coi là một viên tướng giỏi. Nhưng dẫu sao ông ta vẫn là người của Viên Thiệu, nói cho hoa mỹ thì là quân bạn bè, còn nói thẳng thắn thì là tai mắt của Viên Thiệu để ở bên mình, Tào Tháo không thể hoàn toàn tín nhiệm được, do vậy nói năng cũng rất khách khí:
— Văn Bác biết về Lưu Bị này ư? Vậy phiền ông hãy nói cho mọi người cùng nghe.
Chu Linh có miệng rộng, lại thêm đôi mắt to lúc nào cũng trợn tròn, cho nên dù ông ta nói gì trông cũng lộ rõ vẻ ngạo mạn:
— Lưu Bị tự Huyền Đức là nhân sĩ ở Trác Châu, được Công Tôn Toản phong cho làm Bình Nguyên tướng, thuộc quyền thống lĩnh của ngụy Thứ sử Thanh Châu là Điền Khải, tại hạ đã từng chiến đấu với người này ở Hà Bắc.
Cục thế ở Thanh Châu là rối loạn nhất trong các châu, Viên Thiệu nhận mệnh Tang Hồng tạm thay vào chức Thanh Châu Thứ sử, Công Tôn Toản cũng nhận mệnh cho bộ hạ Điền Khải làm Thứ sử, thực ra hai người đều chiếm cứ mỗi người một phần. Ngoài họ ra, quận Bắc Hải của Thanh Châu do Thái thú Khổng Dung cầm quyền lại từ xa tuân theo triều đình Tây kinh, đồng thời quân Khăn Vàng Thanh Châu cũng vẫn nắm được một số huyện thành, và thổ hào ở Từ Châu là Tang Bá cũng xâm chiếm mấy huyện ở vùng duyên hải. Mấy lộ quân mã khống chế lẫn nhau, đấu đá rối loạn như nồi cơm sôi.
— Khốn kiếp, ta tưởng là người thế nào, hóa ra là một tay ngụy chức. - Nhạc Tiến cất giọng kêu to. - Tên nhát chết Điền Khải không dám đến, lại sai một bộ hạ đến chịu chết thay. Lưu Bị kia cũng dám tới đây, đúng là đồ không biết thế nào là sống chết!
— Văn Khiêm nói vậy sai rồi. - Chu Linh cười nói. - Ta thấy Lưu Huyền Đức kia không những mạnh hơn Điền Khải, mà cả tâm kế, tài năng còn cao hơn cả chủ nhân của hắn là Công Tôn Toản đấy!
— Ông cũng thật là coi trọng hắn quá, có phải đã nói quá rồi không? - Nhạc Tiến cười hơ hơ nói. - Phải chăng lão đệ từng bị bại dưới tay hắn ta?
Các tướng ở Tào doanh luôn giữ một ý nghĩ đối địch với Chu Linh, cho nên trong câu nói của Nhạc Tiến đã ẩn giấu mấy phần moi móc.
— Lưu Huyền Đức chính là Thường Bại tướng quân, ta há lại bị thua hắn? - Chu Linh chỉ chỉ vào đầu mình. - Ta không nói người này đánh trận lợi hại, mà là nói đầu óc ông ta rất giỏi.
— Ồ? - Tào Tháo cảm thấy rất có hứng thú. - Vì sao ông biết?
— Nghe nói Lưu Huyền Đức này vốn là kẻ dệt chiếu bán giày, sau đó rời quê hương cùng Công Tôn Toản theo Lư Thực học Thượng thư...
Nhạc Tiến khoanh tay nói chen vào:
— Một tên bán giày cỏ, học Thượng thư hạ thư gì chứ?
Chu Linh lắc lắc đầu:
— Văn Khiêm huynh không đọc sách, nên không biết tác dụng của sách đó thôi. Huống hồ Lưu Bị vốn không phải là muốn học Thượng thư gì, ông ta chỉ muốn dựa vào tiếng tăm của Lư Thực mà thôi. Có lý lịch như vậy, ông ta về quê nhà sẽ có tiếng tăm. Khi xảy ra loạn Khăn Vàng, được hai nhà buôn ở Trung Sơn là Trương Thế Bình và Tô Song tư trợ, ông ta đã lập được một đội quân, hiệp trợ quan quân đánh giặc mấy trận, sau đó được triều đình nhận mệnh làm chức An Hỷ huyện úy ở quận Trung Sơn.
— An Hỷ huyện úy? - Mắt Tào Tháo chợt sáng lên. - Trước đây khi ta làm Tế Nam tướng, tiên đế bị Thập thường thị mê hoặc, sa thải người có quân công, nghe nói khi đó có một vị là An Hỷ huyện úy không phục lệnh triều đình, trói đốc bưu vào gốc cây, đánh cho hơn trăm roi, sau đó bỏ quan mà đi...
Chu Linh vỗ đùi:
— Không sai, đó chính là Lưu Bị.
— Ha ha ha... - Tào Tháo chuyển giận thành vui. - Xem ra Lưu Huyền Đức to gan làm liều chẳng phải là chuyện ngày một ngày hai đâu, nhưng hắn rất hợp ý ta.
Chu Linh nói tiếp:
— Lưu Bị kia sau khi bỏ quan, lang thang khắp nơi, vô tình gặp Đô úy Quán Khâu Nghị được Hà Tiến sai đi Đan Dương mộ binh. Năm xưa, Hà Tiến để dọa hoạn quan đã gọi binh mã các lộ về kinh, Quán Khâu Nghị cũng là một lộ. Lưu Bị cảm thấy Quán Khâu Nghị là kỳ tài, có thể dựa vào được, liền bám ông ta không rời. Kết quả là trên đường đi lên phía bắc họ gặp đám dư đảng Khăn Vàng ở Hạ Bì, liền cùng đánh một trận. Trận ấy tuy đánh thắng nhưng họ bị lỡ mất thời gian, Đổng Trác đã tiến kinh từ trước. Quán Khâu Nghị cảm kích việc Lưu Bị đã giúp mình, bèn tấu trình cho ông ta làm quan, đảm nhận chức Hạ Mật huyện thừa, rồi lại thăng lên làm Cao Đường huyện úy.
Nhạc Tiến lại nói chen vào:
— Huyện úy huyện thừa bây giờ có đáng gì? Ta chỉ vẫy tay một cái cũng có được đội quân hơn ngàn người, chẳng lợi hại hơn hắn ư?
Chu Linh liếc nhìn Nhạc Tiến, cười nói:
— Văn Khiêm huynh lại không hiểu rồi, quan lại và thổ phỉ chẳng qua chỉ khác nhau một chữ, nhưng lại khác xa một trời một vực. Huynh nắm một đội quân vô danh vô phận sẽ là thổ phỉ, triều đình có thể tiễu trừ. Nhưng người ta chẳng cần biết chức quan lớn nhỏ thế nào, nắm được một đội quân, đó gọi là hương dũng. Chỉ cần không tạo phản, chẳng ai có thể quản. Vậy cái được của việc làm quan có nhỏ không?
— Không sai, nếu ta rơi vào hoàn cảnh của hắn, cũng phải làm như vậy. - Tào Tháo vuốt râu gật đầu.
— Sau đó thiên hạ đại loạn, ông ta dựa vào quan hệ cũ khi xưa, chạy tới dưới trướng của Công Tôn Toản, làm biệt bộ tư mã...
Nhạc Tiến lại cắt lời Chu Linh:
— Hắn ta bợ đỡ khắp mọi nơi, thật là vô sỉ.
Tào Tháo đã nhìn ra vấn đề, Nhạc Tiến làm vậy là cố ý gây rối Chu Linh, người ta nói vài câu hắn lại chen ngang một lần. Lại nhìn sang Hạ Hầu Uyên, Tào Hồng đều nhướng mày nháy mắt với hắn, hóa ra đám kia bày trò, xúi bẩy Nhạc Tiến - một người vốn chẳng có tâm ý gì đứng ra chọc phá, bọn chúng liên kết nhau chống lại Chu Linh.
Tào Tháo loáng thoáng thấy sợ hãi, e rằng sau này ngay trong doanh cũng khó tránh khỏi sự tranh giành bè phái, vội mắng bảo:
— Tất cả im hết cho ta, lặng yên nghe người ta nói!
Chu Linh tiếp tục:
— Lưu Bị thay Công Tôn Toản đánh mấy trận, thực tế là thua nhiều mà thắng ít. Rồi sau bọn họ đại phá được quân Khăn Vàng bên bờ Hoàng Hà, đánh qua Hoàng Hà đến Thanh Châu, Lưu Bị liền được quy về dưới trướng Điền Khải. Điền Khải nhận chức ngụy Thứ sử Thanh Châu, Lưu Bị liền được làm ngụy chức Bình Nguyên lệnh, sau đó lại thăng làm Bình Nguyên tướng.
Chu Linh nói đến đó, đặc biệt quay sang nhìn Nhạc Tiến, không có người nào nói chen ngang gây rối, ông ta lại dường cảm thấy không quen:
— Thực ra đó cũng là Công Tôn Toản muốn tô điểm thêm cho đẹp mặt, chứ họ chẳng qua mới chiếm được mấy huyện của Bình Nguyên quốc, vậy mà dám xưng là Bình Nguyên tướng.
— Công Tôn Toản thật là ngu xuẩn, chỉ vì danh hiệu cỏn con mà phong không biết bao nhiêu chức quan danh chẳng xứng thực. Làm vậy chẳng phải sẽ khiến người ta oán hận ư? - Tào Tháo cười nhạt nói. - Hạng người như Lưu Huyền Đức tầm thường kém cỏi, làm gì có kiến thức nhiều, gửi mình dưới cửa Công Tôn há làm được gì?
Có những câu Tào Tháo không thể nói toạc trước mặt thủ hạ. Lưu Bị này dựa vào chuyện cầu học để dựng thanh danh, dựa vào thanh danh để mưu khởi binh, dựa vào khởi binh để lập công danh, dựa vào công danh để bám chân kẻ khác, rồi lại nhờ việc bám chân kẻ khác mà làm chức Bình Nguyên tướng. Một kẻ bán giày nhỏ mọn, đánh trận cũng tầm thường, có thể leo lên được như ngày nay đã là rất khó. Cứ nhìn các tướng trong doanh mình, ai cũng có xuất thân cao hơn hắn. Nhưng có ai làm tới chức quan lớn hơn? Những câu ấy, Tào Tháo chỉ tự ngầm hiểu, chứ không thể nói trước mặt đám võ phu thủ hạ e sẽ sinh chuyện.
Nhạc Tiến vẫn tính nóng vội, dù không được phép nói nhiều, nhưng vẫn không đừng được phải rủa một câu:
— Tướng quân nói rất đúng! Lưu Bị kia là thá gì, có bản lĩnh thì ra chiến trường giao đấu, đánh không nổi ông đây, dù có viết chiến thư gì cũng chỉ là đồ vứt đi!
Thấy tên lùn ấy nhấp nhổm không yên, Tào Tháo bất giác buồn cười, nhưng không để ý đến hắn, cúi đầu xếp lại cuộn thẻ tre mới bị xé đứt lại:
— Nhưng... một khi Lưu Bị đã dám dẫn một vạn tạp binh chặn đường, hãy nể mặt hắn, đáp lại một bức thư đàng hoàng. Hắn dẫn một vạn quân, ta cũng dùng một vạn quân, như vậy cũng coi như ta không bắt nạt hắn. Ngày mai đối trận, các ngươi ai dám đi bắt Lưu Bị?
— Mạt tướng đi! - Nhạc Tiến và Hạ Hầu Uyên cùng lúc đứng dậy, chỉ sợ bị Chu Linh cướp mất.
— Được. Hai người các ngươi cùng đi, ai bắt sống được Lưu Bị, ta sẽ trọng thưởng. - Tào Tháo cầm bút viết thư trả lời, vừa viết vừa nói. - Ta rất muốn gặp mặt người này.
Chu Linh khẽ mỉm cười, thầm nhủ: “Bắt Lưu Bị? Chớ có nghĩ đến chuyện ấy. Chỉ cần đến đánh, Lưu Huyền Đức sẽ chạy nhanh hơn thỏ đấy!”
Sáng sớm hôm sau, hai bên đối trận, Tào Tháo sai Hạ Hầu Uyên, Nhạc Tiến lĩnh một vạn tinh binh xuất chiến, còn mình dẫn đội quân Thanh Châu đóng trên ngọn núi nhỏ cách đó không xa để quan sát chiến cục. Đưa mắt nhìn trận thế đối diện, các tướng trong Tào doanh bỗng thấy cụt hứng. Một vạn quân địch trông thật thảm hại, có quân Đan Dương của Đào Khiêm sai tới, có kỵ binh U Châu của Công Tôn Toản cho đến, có đám nhìn là biết ngay là quân tạp Hồ, Ô Hoàn, đông nhất là dân chúng đói khát đến vác trường mâu cũng không vác nổi.
Đám quân tạp nham ấy đừng nói đến chuyện xung phong ra trận, chỉ cần biết tuân thủ quân lệnh được là làm, cấm thì thôi đã tốt lắm rồi. Dựa vào toán quân ô hợp ấy mà chống lại Tào quân hoành hành không biết sợ hãi gì này, khác nào việc mang tính mạng ra đùa bỡn!
Nhạc Tiến càng thấy địch sợ càng không nén nổi giận, chẳng nói chẳng rằng câu nào, lập tức dẫn năm ngàn quân của mình xông vào đánh. Hạ Hầu Uyên sợ Nhạc Tiến tranh công, cũng vội giục quân tranh lên trước. Quân giặc thấy vậy cũng tức khắc xung phong, nhưng hai bên vừa giao chiến, thế trận của Lưu Bị đã rối loạn. Quân Đan Dương là người Dương Châu, đều do Đào Khiêm dựa vào quan hệ cũ ở quê nhà mà chiêu mộ đến, căn bản không có tâm tư liều thân quên chết vì sự tồn vong của Từ Châu, số lui lại phía sau nhiều hơn số xông lên phía trước. Quân thiết kỵ U Châu và quân Ô Hoàn lại rất kiêu dũng thiện chiến, nhưng ngặt nỗi số người quá ít ỏi. Còn đội quân được tập hợp từ bách tính địa phương, dũng khí thì có nhưng sức chiến đấu chẳng đủ, lại không được tập luyện chẳng theo lề lối gì cả, người nào xông lên thì coi như người ấy bỏ mạng.
Chả mấy chốc, quân Đan Dương hầu như trốn sạch, những người còn lại tiếp tục ra sức đánh với Tào quân, nhưng nhiều ít khác nhau, mạnh yếu thấy rõ, bọn chúng chỉ biết miễn cưỡng chống đỡ. Xưa nay Nhạc Tiến đánh trận luôn một mình một ngựa dẫn đầu, cây họa kích trong tay múa may như gió cuốn, mỗi đường quét lại hàng loạt người đổ gục, dẫn theo đám thân binh, nhắm thẳng hướng cây đại kỳ ở trung quân mà đánh tới, ý muốn bắt sống Lưu Bị. Hạ Hầu Uyên cũng không chịu kém, đốc thúc đại đội quân mã giao tranh với đoản binh của địch, trên sa trường tiếng hò hét đánh nhau vô cùng huyên náo.
Nhưng trong lòng Tào Tháo lại thấy có điều gì đó bất ổn, bách tính Từ Châu gầy như que củi kia, tuy là châu chấu đá xe nhưng thà chết ở chiến trường chứ không chịu lui, ai nấy đều gắng sức vung thương xông lên, đến chết còn hô vang câu bảo vệ Từ Châu. Xem ra việc phá thành giết hại bách tính Từ Châu khiến họ sợ và cũng đã làm họ nổi giận, họ thực sự đã liều mạng với Tào mỗ ta rồi!
Tâm tư Tào Tháo chợt thấy mâu thuẫn: “Để báo thù có cần giết nhiều người như vậy không? Dù có đạp bằng cả đất Từ Châu, phụ thân và đệ đệ cũng không thể sống lại. Nếu có kẻ vì thế mà tìm ta báo thù vì đã giết hại bách tính Duyện Châu, ta phải làm thế nào... Cố nhiên giết người có thể lập uy, nhưng nó cũng giết luôn tiếng nhân nghĩa của ta... Nhưng Khuyết Tuyên, Trương Khải đều đã bị Đào Khiêm diệt trừ, thù này ta chỉ có thể tìm Đào Khiêm mà báo! Việc đã đến nước này, vẫn phải tiếp tục giết, chỉ cần công phá Đàm Thành phanh thây cả nhà Đào Khiêm, ta mới ngừng tay... Không giết được Đào Khiêm, không đạp bằng được Từ Châu ta sẽ vĩnh viễn có mối lo sau lưng... Giết!... Tiếp tục giết!... Không có hủy diệt sẽ chẳng có cuộc sống mới...”
Đúng lúc ấy, phía sau núi chợt hỗn loạn, có mười mấy tên kỵ binh U Châu đã lặng lẽ vòng ra sau, hòng xông lên núi đâm chết Tào Tháo. Nhưng quân Tào giáp chiến lớp lớp, chỉ với mấy người bọn chúng, dù dũng mãnh thiện chiến đến đâu cũng chỉ như lấy trứng chọi đá thôi. Cuộc chiến hôm nay tuy chẳng hung hiểm gì, nhưng lại là chuyện lạ mà bình sinh Tào Tháo chưa từng trải. Ông từng dẹp Khăn Vàng, thảo Đổng Trác, đánh Viên Thuật, diệt Từ Châu, nhưng chưa từng giao chiến với đội quân nào tự tìm cái chết như vậy. Tào Tháo thấy thoáng buồn cười, từ trên ghế cao đứng dậy, ngoảnh đầu nhìn xem tiểu đội “binh lạ” kia.
Chỉ thấy mười mấy tên đều ra sức chiến đấu, đối mặt với đại quân mà không hề biết sợ, vẫn thúc chiến mã xông vào, những chỗ chúng tiến tới đều tan tác. Kẻ cầm đầu đội quân ấy, dường là trưởng quan một bộ quân, tướng mạo khiến người khác phải chú ý. Người này mình cao chín thước, đội khôi mặc giáp, lưng khoác chiến bào màu xanh lục, hông thắt chiến quần cũng màu lục, phía dưới có giáp che đùi, chân đi đôi hia đầu hổ, cưỡi trên lưng con chiến mã trắng như tuyết. Trông tới khuôn mặt, to lớn đỏ tía, vầng trán rất rộng, mắt phượng mày ngài, môi như tô son, không giống người Hà Bắc, mà như một đại hán ở Quan Tây. Trông tuổi tác mới chỉ khoảng ngoài hai mươi, nhưng lại mang bộ râu dài tới hơn thước, nhất động nhất tĩnh đều tiêu sái phiêu dật, cứ như lực sĩ từ trên trời giáng xuống trần gian vậy. Trong tay người đó cầm cây đại đao, dài khoảng một trượng, đầu đao hình như vành trăng, lưỡi đao sáng loáng ánh ra sắc lạnh buốt. Mỗi lần múa đao, lại chập chờn sắc máu, thủ cấp bị chém bay đầy trời, nhưng tên lính bị chém mất tay mất chân lăn lộn kêu thét đến thê thảm, lộ rõ vẻ thần uy dũng mãnh.
Mười mấy dũng sĩ người đó dẫn theo, ai nấy đều quên mình liều chết, chỉ tiến không lùi, giết người như ngả rạ rồi xông lên, bọn họ còn chưa có ai bị thương mà đã xông lên được lưng chừng núi!
Tào Tháo chưa từng thấy dũng tướng nào như vậy, cứ nhìn chăm chăm, tựa hồ quên mất rằng mình chính là người mà hắn muốn giết. Kỳ thực nếu Tào Tháo ngồi xuống cũng không có nguy hiểm gì, nhưng ông lại đứng trên ghế cao, bên mình dựng cây cờ hiệu lớn, lại thêm đầu đội mũ đâu mâu dải đỏ, cho nên đã tự gây họa cho mình.
— Qua đây mau! Tướng quân trốn đi! - Câu nói của Lâu Dị dường cất lên từ phía sau, rồi lập tức bước lên cầm ngang lưỡi đao bảo vệ Tào Tháo đang đứng ngây sau lưng mình.
Mười mấy tên kia cuối cùng cũng đã sấn tới, quân tướng trên đỉnh núi cơ hồ đều hoảng hồn. Kẻ rút đao, kẻ bạt kiếm, kẻ vung thương, Tào Hồng, Vu Cấm, Chu Linh mấy tướng lĩnh đều không kịp lên ngựa, vội vung đao thương, bảo vệ ở trước Tào Tháo.
Một tràng tiếng ngựa hí vang tận mây xanh, đại hán mặt đỏ kia đã trợn tròn đôi mắt phượng, giương đao xuất hiện trước mặt Tào Tháo. Trông thấy hắn chém một đường đao ác liệt tựa hung thần, tất cả tướng lĩnh thân binh đều cuống lên, đao thương kiếm kích dồn hết lại đỡ:
Choang...! Mấy loại binh khí dồn lại một chỗ va vào nhau tóe lửa, tiếng sắt thép chạm nhau chói tai lộng óc, may là mọi người cũng đỡ được nhát đao ấy.
— Bắn tên! Bắn tên! Khốn kiếp, bắn tên mau đi! - Tào Hồng vung đao suông vội truyền lệnh.
Để bảo vệ chủ soái, lúc này cũng chẳng quan tâm được tướng quân ta hay địch, vệ sĩ hổ báo lập tức cùng lắp tên. Tào Tháo chỉ nghe thấy tiếng tên bay vun vút trên đầu mình, tên đã như châu chấu bay qua. Chớp mắt đã có bốn tên địch bị trúng tên ngã lăn xuống, mấy tên thân binh đứng trước cũng bị bắn gục, ngay cả Tào Hồng cũng bị hai mũi tên bắn vào lưng.
Cây đại đao sáng loáng trong tay đại hán kia múa tít tròn như trăng rằm, tên bắn đều bị đánh văng ra, đến một vết xước cũng không có. Thân binh tướng lĩnh đều phải dốc hết sức, giơ cao binh khí dồn lên đỡ, thực sự chỉ biết nhờ vào bức tường người này để bảo vệ Tào Tháo mà thôi. Trên đầu tiếng tên bay vù vù không ngớt, Tào Tháo đã đứng chết trân.
Mấy đợt bắn liền, quân địch trúng tên bị thương gần hết, đại hán kia cũng không chống đỡ nổi nữa, cầm đại đao quét ngang một đường, đánh cho đám binh đinh xông vào đều loạng choạng, rồi giật ngựa chạy xuống núi. Thân binh vệ sĩ chẳng bận tâm đến chuyện truy đuổi, vội vây lấy Tào Tháo đỡ dậy. Vệ sĩ hổ báo tiếp tục bắn tên, đại hán kia vẫn múa đao đến mưa không lọt gió không qua, chém bọn lính cản đường phía trước, gạt tên bay bắn tới sau lưng, trong nháy mắt đã xông xuống núi đột phá trùng vây, dẫn theo ba quân kỵ ruổi ngựa chạy đi.
— Mẹ kiếp! - Tào Hồng hầm hầm tức giận, nhổ mũi tên ghim trên áo giáp ra, ngoác miệng chửi bới, - Khốn kiếp các ngươi đều là lũ chết giẫm hả? Lại để cho nó chạy mất!
Tào Tháo thấy người đó đã chạy xa, không kịp truy cứu lỗi ai, coi như thở phào một hơi, ngồi ngây trên ghế cao lau mồ hôi bảo:
— Suýt nữa ta mất mạng...
Chúng tướng bên cạnh ai nấy đều tái mặt, bao nhiêu binh tướng thế mà để mười mấy tên đánh đến ngay trước mắt, mặt mũi còn biết giấu vào đâu được nữa? Vu Cấm dần lấy lại tinh thần, quay người nhìn chiến trường, không ngăn được kinh ngạc kêu lên:
— Mọi người mau xem kìa!
Quân mã của Lưu Bị vốn bị thương vong trốn chạy, gần như chẳng còn ai. Chỉ có toán quân kỵ binh U Châu vẫn chống đỡ, thấp thoáng trông thấy có một tiểu tướng khoác áo bào đen, tay cầm binh khí múa may rối rít, lúc thì chém, lúc thì đâm, lúc thì quét ngang, lúc thì đỡ dọc, hoàn toàn không theo lề lối gì, ai thấy cũng phải hoa mắt chóng mặt. Nhìn mãi nửa ngày cũng chẳng nhận ra hắn sử dụng thứ binh khí gì! Nhưng hắn chỉ mang theo mấy chục người ra sức chiến đấu, trong khi Tào quân đông hơn gấp trăm lần vẫn không thể hạ được, cứ nhìn bọn chúng vừa đánh vừa lui cuối cùng tản mát hết như chim bay thú chạy, không bắt nổi tên nào. Tiểu tướng mặc áo bào đen kia rời khỏi trận địa, dừng binh khí lại, khi đó mọi người mới nhận ra đó là một cây trường mâu. Hắn giục ngựa chạy vòng qua Đàm Thành, chỉ chốc lát đã không thấy tăm hơi đâu nữa.
— Kẻ mặc áo bào đen ấy là Lưu Huyền Đức ư? - Tào Tháo sốt ruột hỏi Chu Linh.
Chu Linh lắc lắc đầu, ý vị sâu xa bảo:
— Chắc chắn không phải... Mạt tướng e là Lưu Bị kia đã lẩn vào đám quân Đan Dương trốn mất dạng từ lâu rồi.
Tào Tháo trong lòng chấn động: “Chỉ một đại hán mặt đỏ kia, cùng tên tiểu tướng mặc áo bào đen, quả là có thể địch được vạn người! Lấy kiêu dũng của Nhạc Văn Khiêm, Hạ Hầu Diệu Tài ra so cũng còn kém ba phần, sao ta lại không có được tay bộ hạ như vậy? Những kỳ nhân như thế, rốt cuộc lại ở dưới trướng kẻ dệt chiếu bán giày Lưu Bị, đúng là đáng hận đáng sầu đáng thèm đáng tiếc... Nếu bọn chúng luyện kỹ binh mã rồi chống cự, há không phải là kình địch ư? Nghĩ đến đó, Tào Tháo vội đứng dậy truyền lệnh:
— Lập tức xuất binh, đánh tan doanh trại của Lưu Bị, tuyệt không thể để bọn chúng lại tập kết!
Quân lệnh mau chóng truyền ra, cả quân lính trên chiến trường và binh mã đang đứng xem trên đỉnh núi đều ầm ầm đi về đông, quân Tào tiến thẳng vào đại doanh của Lưu Bị.
Nhưng căn bản không cần đánh, Lưu Bị đã dẫn quân trốn biệt tăm từ lúc nào, tàn binh bại tướng không có ai trở lại, lương thảo quân trang đều vứt bỏ không mang theo, tất cả chỉ đợi quân Tào đến thu nhặt. Tào Tháo vừa bực vừa buồn cười, trước nay chưa từng đánh trận nào hồ đồ như vậy! Thực ra cũng không tệ, có được đại doanh này của Lưu Bị, cũng đỡ cho Tào Tháo phải lập trại vận lương. Lúc này đã đánh đến bên ngoài Đàm Huyện, ngoài bức tường thành dày ra, Đào Khiêm chẳng còn tấm bình phong che chắn nào khác nữa.
Tào Tháo ngẩng đầu nhìn về phía Đàm Thành cách đó không xa, tường thành cao hai trượng, phía trên dày đặc quân binh và dân chúng, cung tên để kín, gỗ đá chất đầy, bọn họ đã chuẩn bị sẵn sàng thề chết hộ thành. Thù giết cha, hận giết đệ, còn mối lo sau lưng khi tây tiến về Hà Nam, đến giờ coi như sắp được giải quyết triệt để. Tòa thành này chắc chắn khó đánh, nhưng dù tốn thời gian cũng phải hạ bằng được, phải diệt trừ hoàn toàn thế lực của Đào Khiêm.
Tào Tháo vừa định hạ lệnh vây thành, liền nghe thấy có tiếng cười nói vui vẻ vang lên sau lưng. Biện Bỉnh từ Duyện Châu đã đến, đang cười cười nói nói với bọn Nhạc Tiến. Tào Tháo hơi ngạc nhiên:
— Ngươi đến đây làm gì?
Biện Bỉnh cười hà hà nói:
— Tuân tiên sinh sai tại hạ đến đây úy lạo quân sĩ.
— Có gì để úy lạo? - Tào Tháo lại quay đầu nhìn lên tường thành. - Trận này e khó đánh đây, có thể sẽ phải thương vong rất lớn.
Biện Bỉnh cười kêu to:
— Mọi người hãy trở về ai lo việc người nấy đi, ta có mấy câu nói riêng với tỷ phu ta.
Mọi người nghe Biện Bỉnh nói vậy liền không túm tụm cười đùa nữa, ai đi đường nấy. Biện Bỉnh ghé sát tai Tào Tháo nói nhỏ:
— Đệ sợ quân tâm rối loạn nên không thể nói trước mặt mọi người, trận này không thể đánh được nữa.
— Có chuyện gì vậy? - Tào Tháo giật mình.
— Duyện Châu tạo phản rồi, đệ dẫn quân đưa tin thiếu chút nữa thì bị đâm chết.
Tào Tháo thở dài:
— Ôi... nửa năm chinh chiến vậy là công toi, thù giết cha còn chưa báo được... Rốt cuộc là quận nào làm phản?
Biện Bỉnh vuốt vuốt mũi, tự trấn tĩnh, rồi nói:
— Trương Mạc, Trần Cung cầm đầu làm loạn, mời Lã Bố đến. Hiện giờ toàn bộ Duyện Châu đã làm phản... Chúng ta chỉ còn ba huyện thành thôi.
Tào Tháo cảm thấy như có chiếc búa lớn đập thẳng vào ngực, lục phủ ngũ tạng tưởng như nát vụn, nhưng ông vẫn cố gắng đứng thẳng quay người gọi:
— Lâu Dị!
— Dạ. - Lâu Dị chạy đến trước mặt chắp tay thi lễ.
— Đàm Huyện thành cao tường vững, quân địch tử thủ khó đánh, truyền lệnh thu quân trở về. Dặn kỹ mọi người phải ca bài khải hoàn vui vẻ hành quân! - Tào Tháo nói xong câu đó, cảm giác đau buồn trong lòng cũng giảm bớt phần nào. Từ Châu chưa chiếm được, mà Duyện Châu cũng đột nhiên biến mất.
Tất cả phải làm lại từ đầu...
Trận chiến Bộc Dương
Trong lòng Tào Tháo như có dầu sôi lửa đốt, nhưng rút quân tuyệt không thể vội vàng. Một khi để quân sĩ biết họ đã không còn nơi để về, tất sẽ có nguy cơ sinh biến. Một kẻ bỏ chạy, sẽ có ngàn người học theo, nhất là đám lính Thanh Châu vốn chẳng có gốc rễ gì ở Duyện Châu, lòng quân dao động sẽ lập tức tan ngay, chưa biết chừng còn có kẻ muốn lấy đầu Tào mỗ này để đến tìm Lã Bố, Trần Cung mà đầu hàng ấy chứ!
Dọc đường đi, Tào Tháo đã triệu tập hội nghị mấy lần, dần tiết lộ cục thế ở Duyện Châu cho các tướng biết. Đương nhiên, Tào Tháo đã cố ý nói theo cách lạc quan hơn so với tình hình thực tế. Các tướng lĩnh ấy khi truyền đạt với các bộ tướng lại nói lạc quan thêm chút nữa, mỗi cấp truyền tin đi đều như vậy, khi truyền đến tai quân sĩ thì họ chỉ nghĩ rằng ở Duyện Châu có một bọn thổ phỉ đang gây rối. Mọi người hát khúc khải hoàn diễu võ dương oai, mang theo quân giới lương thảo cướp được ở Từ Châu về. Thậm chí đi ngang đường, còn tiếp tục phá tan cánh quân truy kích của bộ tướng Từ Châu là Tào Báo.
Có thể giấu giếm người khác, nhưng tuyệt không thể giấu các huynh đệ tâm phúc. Huynh đệ Tào gia ai nấy mặt như chàm đổ, cuối cùng sẽ phải đối mặt với phản loạn của cả một châu. Trong lòng Tào Tháo không những lo lắng mà còn thấy buồn đau, sợ hãi. Buồn đau là vì kẻ dẫn đầu làm phản lại là Trương Mạc - bằng hữu thâm giao của mình bao năm - lại cả Trần Cung - bộ hạ thân tín đã giúp mình làm chủ Duyện Châu, đúng là thành cũng ở Tiêu Hà, bại cũng ở Tiêu Hà. Sợ hãi là vì bọn chúng lại mời đến kẻ mà mình tối kỵ xưa nay - Lã Bố!
Mỗi khi Tào Tháo nhớ lại những ngày ở Lạc Dương, hình ảnh Lã Bố sát khí đằng đằng đến mời rượu mình liền hiện lên trong đầu. Đôi mắt xanh sâu hoắm ấy, cây phương thiên họa kích âm khí lạnh buốt ấy, đã năm lần bảy lượt vương vất trong giấc mộng của Tào Tháo, lần nào cũng khiến Tào Tháo sợ hãi toát mồ hôi. Tào Tháo thực không dám nghĩ nhiều, nhìn đoàn quân thắng lợi khí thế hào hùng, xếp hàng mà đi, tâm tư Tào Tháo cũng bình yên hơn chút:
— A Bỉnh, trừ Trương Mạc, Trần Cung ra, còn ai tạo phản nữa?
Biện Bỉnh cưỡi trên lưng ngựa, đi sát bên cạnh Tào Tháo, nói nhỏ:
— Trương Mạc, Từ Hấp, Mao Huy, Ngô Tư toàn quận đều phản. Trần Cung đánh lén Đông Quận, Hạ Hầu Nguyên Nhượng mấy bận không thắng được, đành phải đem số quân ít ỏi đột phá vòng vây, nửa đường lại bị bọn sĩ tốt trá hàng bắt giữ, may nhờ bộ hạ là Táo Chi tương trợ mới thoát hiểm, hiện đã bảo vệ được gia quyến của huynh đến Quyên Thành. Hứa Tỷ, Vương Khải dẫn bộ quân làm phản đến đón Lã Bố. Lý Phong, Tiết Lan đã làm trị trung và biệt giá cho hắn.
— Còn Trình Lập, Mao Giới? - Tào Tháo lại hỏi.
— Trình Lập trong lúc gấp gáp nhanh trí liên thủ với Tiết Đễ, đã giúp huynh giữ vững huyện Đông A, lại du thuyết được huyện lệnh Phạm Huyện là Cận Doãn. Còn Mao Giới dẫn theo Trương Kinh, Lưu Diên đều đã đến Quyên Thành cố thủ, Từ Đà cũng trốn được ra rồi. Tên Thứ sử Dự Châu được Viên Thiệu phong là Quách Cống suýt nữa đã mượn gió bẻ măng, may mà Tuân Văn Nhược một mình một ngựa đến du thuyết mới tránh được nạn ấy, nhưng Hí tiên sinh thì...
— Ông ấy làm sao? - Tào Tháo vô cùng lo lắng.
— Hí Chí Tài bị Trương Siêu dẫn người tới bắt đi, nhưng ông ấy thân mang trọng bệnh nên chưa bị sát hại.
— Ta nhất định phải cứu Chí Tài huynh... - Tào Tháo nói đến đó, dường đã ý thức được sự bất lực của bản thân lúc này. - Nếu không phải khi trước đã sai Tuân Úc đến Quyên Thành thì lần này đúng là chẳng có chỗ mà về. Nhưng xảy ra hoạn nạn mới biết ngay gian, ta vẫn được lòng không ít người... Ngụy Chủng thế nào? Hắn được ta xét cử hiếu liêm, tuyệt nhiên không thể bỏ ta mà phản chứ.
— Tướng quân, Ngụy Chủng cũng theo bọn Trần Cung... - Biện Bỉnh ngại ngùng cúi đầu nói.
— Được lắm! Rất được! Lại là tên tiểu nhân vong ân bội nghĩa. - Tào Tháo đỏ bừng mặt, không ngăn được nỗi tủi hổ biến thành giận dữ. - Ngụy Chủng to gan! Trừ phi ngươi chạy đến man di phía nam, hay Hồ lỗ phía bắc, còn nếu không ta tuyệt sẽ không tha! - Tiếng quát của Tào Tháo khá lớn, khiến quân lính xung quanh đều giật mình kinh hãi, quay sang nhìn bộ dạng giận không nén nổi của chủ soái, cảm thấy vô cùng kỳ lạ.
Tào Tháo sợ người khác nhận ra, lập tức nén giận, lại nhỏ giọng hỏi Biện Bỉnh:
— Quân mã của Lã Bố hiện giờ ở đâu?
— Tấn công Quyên Thành không được, hiện nay hắn đang đồn trú ở Bộc Dương.
— Chỗ Thái Sơn có binh mã đóng chặn bảo vệ không?
— Cơ bản là không có. Binh lực của Lã Bố có hạn, Trương Mạc cũng không phối hợp chặt chẽ lắm, hầu hết các quận huyện vẫn giữ thành quan sát, đệ thấy chỉ cần hạ được Lã Bố, tất cả những chuyện khác đều không khó khăn gì.
Tào Tháo gật đầu cười bảo:
— Một khi Lã Bố chiếm được Duyện Châu, mà không biết giữ Đông Bình, cắt đứt đường Khang Phụ, Thái Sơn để lợi dụng chỗ hiểm bắt ta, lại đồn trú ở Bộc Dương, ta đã biết là chẳng có tài cán gì rồi! - Nói xong lại cười khàn mấy tiếng. Ngoài miệng Tào Tháo nói vậy, nhưng trong lòng lại hiểu rõ, chiêu này của Lã Bố là để dụ địch vào sâu, vô cùng thâm hiểm, đó là muốn dùng kế lấy an nhàn đối phó mệt mỏi, nuốt gọn Tào quân đây! Nhưng hiện giờ ngoài cách tự cởi bỏ nỗi lo lắng trong lòng, còn cách nào khác đâu?
May mà đã đoạt được khá nhiều lương thảo ở Từ Châu, đại quân Tào Tháo cuồn cuộn từ xa xôi trở về, không gặp phải bất cứ trở ngại gì, cũng không phải cố hạ một thành một huyện nào, mũi nhọn tiến quân nhằm thẳng Bộc Dương. Lã Bố mài sẵn dao đang chờ đợi Tào Tháo, và đóng doanh trại ở phía tây thành bốn mươi dặm. Tào Tháo hy vọng chỉ cần đánh một trận có thể thu phục Duyện Châu, lập tức chấn chỉnh binh mã, đến phía tây thành Bộc Dương đối chiến.
Binh mã của Lã Bố không nhiều, có một nửa là quân Tịnh Châu, một nửa là phản quân Duyện Châu của Trần Cung, Hứa Tỷ, Vương Khải quy phụ. Ngoài ra, trong thời gian Lã Bố theo gót Trương Dương cũng có được một số quân ở Hà Nội. Tuy tổng binh lực còn thua xa Tào Tháo, nhưng kỵ binh Tịnh Châu vốn nổi danh thiên hạ khỏe mạnh thiện chiến, trong đó còn có một số quân lính người Hung Nô, Đồ Cách, thế lực không thể coi thường. Chúng bày trận xếp quân Tịnh Châu, quân Hà Nội ở trước, các bộ quân Duyện Châu ở sau, toàn bộ trận thế phía trước hẹp, phía sau rộng, như một mũi dùi nhọn.
Tào Tháo biết rất rõ là kẻ địch mạnh, chỉ còn cách lấy đông lấn ít, nói khó nghe một chút là trừ việc lấy thịt đè người ra sẽ chẳng còn cách nào khác. Tào Tháo lợi dụng ưu thế về quân số, chia đại quân ra làm bốn đội trên bình nguyên, đích thân thống lĩnh đội quân chủ lực đã theo nhiều năm nay, và quân hổ báo kỵ của Tào Thuần cùng ba doanh quân Hà Bắc của bọn Chu Linh xếp làm đội trung quân. Cánh trái sai Tào Nhân, Vu Cấm, Lý Càn dẫn theo quân Duyện Châu. Cánh phải là Tào Hồng, Biện Bỉnh, Đinh Phỉ thống lĩnh quân Thanh Châu. Còn phía trước nhất là hai viên mãnh tướng Nhạc Tiến, Hạ Hầu Uyên dẫn theo kỵ binh được tuyển chọn kỹ càng đi làm tiên phong. Dưới con mắt của Tào Tháo, đội kỵ binh này tuy không so được với kỵ binh Tịnh Châu, nhưng cũng đủ để chống trả mũi nhọn của quân địch. Chỉ cần tiền đội chặn đứng quân địch, hai cánh tả hữu sẽ xông lên, trung quân phía sau theo sát mà tiến, chẳng mấy chốc sẽ vây chặt quân địch, mà nuốt trọn.
Hai bên đối trận, Nhạc Tiến, Hạ Hầu Uyên bắt đầu gây chiến trước, dẫn theo kỵ binh xung phong. Tào Tháo thấy vậy, lập tức hạ lệnh ba quân cùng tiến, đại quân đen đặc tiến về phía quân địch. Quân Lã Bố tuy chỉ có một trận doanh, nhưng không hề sợ hãi, ngẩng đầu xông tới không chút tránh né.
Nhưng đúng lúc hai bên sắp sửa giáp mặt. Quân Lã Bố đột nhiên thay đổi thế trận, quân kỵ Tịnh Châu đi đầu bất ngờ giật ngựa quay sang phía bắc đột phá phía quân Thanh Châu bên cánh hữu. Chúng vừa chuyển hướng, phản quân Duyện Châu phía sau đột nhiên lộ ra, mấy hàng quân đi đầu tên nào tên nấy đều cung khỏe tên cứng cầm sẵn trên tay. Tào Tháo vừa trông thấy lập tức toát mồ hôi lạnh - Thua rồi!
Đúng khoảnh khắc ấy, Tào Tháo liền nhận ra mình đã lầm. Nếu chỉ có một mình Lã Bố thì chẳng có gì đáng sợ, nhưng lúc này bên cạnh hắn còn một Trần Cung vốn biết người biết ta, trước mặt Trần Cung mình đã không hề giấu giếm gì, nhược điểm của quân Thanh Châu đã bị hắn nắm rõ như lòng bàn tay. Lã Bố biến trận lần này với mình mà nói đúng là chí mạng. Bởi quân Thanh Châu đều là quân Khăn Vàng xin hàng, quân tâm bất ổn, lại không được rèn luyện, dựa vào chúng mà chống kỵ binh Thanh Châu thì tất sẽ thua. Trong khi đội kỵ binh đã hao tâm tổn trí sắp xếp, lại bị ngàn vạn mũi tên đang chờ sẵn. Hai cánh tiền quân, hữu quân rối loạn, lập tức khiến trung quân và tả quân, chốc lát cùng giẫm đạp lên nhau mà rối.
Không còn cách nào khác, sự việc biến chuyển quá nhanh, Tào Tháo tức tốc giương cao cờ lệnh:
— Truyền lệnh! Toàn quân lập tức dời xuống phía nam cho ta!
— Dời xuống phía nam... Dời xuống phía nam... Dời xuống phía nam... - Vội thay đổi trận thế không phải là việc đơn giản, dù có là quan truyền lệnh hay không, lúc này đều nối nhau hô to.
Nhưng khiến cả bốn cánh quân lập tức phục tùng tướng lệnh thực khó vô cùng, quân địch đã đến ngay trước mặt. Kỵ binh Tịnh Châu như hổ dữ xông vào bầy dê, tung hoành trong cánh quân Thanh Châu. Quả nhiên đám quân nông dân đối mặt với quân thiết kỵ lập tức tan vỡ, vứt mũ quăng giáp chạy trốn tứ tán, khóc mẹ kêu cha rối như canh hẹ. Tào Tháo không biết rằng, cánh kỵ binh Tịnh Châu đi tiên phong chính là đội quân xuất sắc nhất trong số quân tinh nhuệ do Cao Thuận dẫn đầu, được gọi là “hãm trận doanh”, tên nào tên nấy đều là kỵ sĩ một người chọi được trăm tên. Cây trường thương trong tay chúng đâm người mà như đâm ếch liên tục xả vào đám quân Tào đang tan vỡ rối loạn, xuyên thủng thế trận cánh phải, rồi lại ngoặt đầu ngựa xông vào đánh lần nữa, đánh giết qua lại như vào chỗ không người. Quân Thanh Châu bị đánh giết như trời long đất lở, hoàn toàn mất khống chế.
Cùng lúc ấy, đội tiên phong của Tào quân cũng xảy ra vấn đề, Trần Cung đã hạ lệnh vạn mũi tên cùng bắn một lúc. Chớp mắt tên bay rợp trời dày như mưa xối, kỵ binh tiên phong đang thế xung phong, căn bản không dừng ngựa lại được, không ít kỵ binh cả người lẫn ngựa đều bị tên bắn khắp người trông như lông nhím. Loạt trước gục ngã, chiến mã loạt sau lập tức ngã theo, vừa ngã xuống lập tức lại bị tên bắn tới, do thế xông lên mạnh nên liên tiếp ngã ngựa đến mấy loạt liền, xác chết chất chồng nhiều như tường đổ. Nhạc Tiến, Hạ Hầu Uyên đều bị trúng tên, dẫn theo tàn quân nhờ có bức tường xác người che chắn vội quay trở lại, coi như bảo toàn được nửa quân số.
May mắn Tào Tháo truyền lệnh di chuyển xuống phía nam, theo đó đại quân có hướng hành động, nếu không sẽ tự giẫm đạp lên nhau có nguy cơ làm toàn quân chết hết. Nhưng dù là vậy, cánh quân Thanh Châu tối tăm mặt mũi bỏ chạy, cũng có ảnh hưởng ít nhiều đến trung quân. Phản quân Duyện Châu bắn tên xong liền xông lên, quân kỵ Tịnh Châu phá tan cánh hữu cũng từ phía bắc đánh đến, hai hướng cùng nhau giáp kích, khí thế quân Tào tan sạch. Chư tướng chỉ huy quân mã ra sức tử chiến, trung quân trường thương trong tay dồn lại dày đặc, mũi thương nhằm thẳng cổ ngựa mà đâm, quân địch hai ba lần đột kích nhưng cũng không thể đột phá được, khí thế đánh phá cuối cùng cũng phải dừng. Tào Tháo điều động các tay cung tiễn, cũng bắt đầu đứng sau thương trận bắn về phía quân giặc.
Hai bên giằng giữ nhau như vậy hơn nửa canh giờ, cuối cùng phía Lã Bố cũng lui binh trước. Nhưng quân Tào tử thương nặng nề, sĩ khí giảm sút, tướng lĩnh nhiều người bị thương. Không còn đủ sức truy kích, Tào Tháo chỉ còn cách hạ lệnh thu binh.
Quân Thanh Châu tổn thất lớn nhất, hồi doanh kiểm lại quân số đã bị mất một nửa, người bị trường thương đâm giết, người bị thiết kỵ giẫm chết, người bị quân mình ngộ sát, nhưng nhiều nhất là số đã trốn chạy, hoàn toàn rời khỏi chiến trường, bọn chúng sợ đến nỗi không dám quay lại Tào doanh, thà tiếp tục làm lưu dân chứ không dám đi lính đánh trận nữa.
Trên bình nguyên rộng mênh mông nhìn vút tầm mắt, khắp nơi đều là thi thể quân Tào. Có xác nằm ngổn ngang trong vũng máu, có xác máu thịt trộn lẫn không còn phân biệt được, có xác bị thương quá nặng cầm thương chống xuống đất chết đứng như trời trồng, có xác bị tên bắn nhiều như lông nhím đến ngã cũng không ngã xuống đất được, lại có cả những bức tường tử thi chất cao ngất. Những chiến mã còn chưa chết hẳn chân thi thoảng lại giẫy đạp cất lên những tiếng kêu đau đớn...
Tào Tháo nhìn cảnh tượng thê thảm ấy, bắt đầu dần ý thức được tình trạng đáng sợ của cục thế.
Mảnh đất từng thuộc về mình, bây giờ bốn bên đều đã như thành nơi xa lạ. Giờ đây nếu lui quân về Quyên Thành sẽ chẳng khác nào nhận thua, tất cả các quận huyện đang đóng cửa lập tức sẽ hoàn toàn ngả về phía Lã Bố, Trần Cung. May mà lương thảo đoạt được ở Từ Châu mang về vô cùng sung túc, có thể tiếp tục đối chọi với giặc, chống đỡ trong vòng mấy tháng không phải lo lắng gì.
Nhưng Tào Tháo phải nghĩ ra được cách nào để đột phá kỳ binh mới hy vọng xoay chuyển được cục diện bất lợi này.
Hiểm nguy lớp lớp
Màn đêm yên tĩnh, vầng trăng như chiếc câu liêm treo trên tầng mây. Giữa đêm thanh vắng tối đen như mực, thành Bộc Dương chỉ lập lòe một vài ánh lửa, đó là những binh đinh đang tuần phòng. Tào Tháo đang mai phục trong bụi cỏ cao ngang lưng phía đông thành, người ngậm tăm, ngựa bỏ nhạc. Sau lưng còn có Nhạc Tiến, Hạ Hầu Uyên dẫn theo ba ngàn dũng sĩ, được màn đêm và cỏ cây che kín không hở chỗ nào. Họ đang chờ đợi tín hiệu trên lầu thành ở cửa Đông.
Tào Tháo và Lã Bố đã cầm cự nhau một tháng, đôi bên chỉ có vài lần giao chiến nhỏ lúc thắng lúc bại, chẳng thể thay đổi được tình thế giằng co. Nhưng ba ngày trước, có một người nhân đêm khuya đã ra khỏi thành đến Tào doanh, tự xưng là gia nô của đại tộc Điền thị ở Bộc Dương.
Vốn là từ khi Lã Bố vào Bộc Dương đến nay, cưỡng bức nhà phú hộ trong thành quyên góp lương thảo, trong khi binh lính Tịnh Châu chẳng có kỷ cương, cướp bóc tài vật của nhân dân, bách tính trong thành khốn khổ không tả xiết. Gia tộc Điền thị bị Lã Bố bức quá, bằng lòng làm nội ứng, đem vàng bạc hối lộ lính giữ cổng thành, nhân đêm tối sẽ mở cổng cho Tào quân đánh vào. Mới đầu Tào Tháo còn hoài nghi lời lẽ kẻ ấy, nhưng thư tín qua lại mấy lần, cảm thấy việc này có thể làm được. Hơn nữa cầm giữ nhau đã lâu, lòng quân mỏi mệt, Tào Tháo liền đồng ý hợp mưu.
Thực ra hành động như vậy sẽ vô cùng nguy hiểm, tốt nhất Tào Tháo không nên tự mình tham gia, nhưng xét thấy lòng quân chán nản, ông quyết định đích thân cổ vũ tướng sĩ đoạt thành. Để đảm bảo an toàn tuyệt đối, trước lúc đi Tào Tháo còn cởi đâu mâu giáp trụ, đổi sang ăn mặc như tướng hiệu bình thường để che tai mắt địch, và lệnh quân sĩ mang theo mồi đá lửa sẵn sàng để chiếu sáng khi vào thành.
Lúc ấy là canh hai, Tào quân đã chờ đợi trong bụi rậm một canh giờ. Mọi người không dám lơi lỏng chút nào, cầm chắc đao thương trong tay, nhưng vẫn lặng im không một tiếng động, chỉ nghe tiếng dế kêu rả rích xung quanh. Đã đến giờ hẹn, nhưng phía đầu thành vẫn im lìm không động tĩnh, trong lòng Tào Tháo thấp thỏm không yên, suy cho cùng ông với gia tộc Điền thị kia cũng chẳng có qua lại sâu đậm gì, vạn nhất sự tình có biến, hoặc việc mở cổng thành thất bại, ông phải mau chóng dẫn quân quay về đại doanh.
Đúng lúc Tào Tháo đang nóng ruột, đèn đuốc trên cửa Đông bỗng tắt ngấm, liền sau đó một lá cờ trắng lắc lư dựng lên - Tín hiệu xuất hiện rồi!
Giữa bình nguyên mênh mông, tiếng mở cổng thành rầm rầm vang xa, Tào Tháo lập tức truyền lệnh xông vào thành. Ông cùng Nhạc Tiến, Hạ Hầu Uyên phi ngựa phóng nhanh vào trong thành trước, quân lính cũng lũ lượt dấn bước, nén tâm trí kích động chạy đến đại môn thành Bộc Dương, trên lầu thành trước sau vẫn không một ai bắn tên ngăn cản.
Chớp mắt ba ngàn người đã vượt qua cửa thành, ai nấy đốt đuốc lửa, chỉ thấy trong thành im lìm như chết, có bảy tám tên lính giữ thành đang quỳ dưới đất.
— Lũ tham tài bất nghĩa, để lại làm gì? Giết bọn chúng đi! - Tào Tháo vừa ra lệnh, mấy tên dâng thành đã đầu lìa khỏi cổ.
Nhạc Tiến dẫn theo người chực đánh vào trong, Tào Tháo ngăn lại:
— Bây giờ nghe hiệu lệnh của ta, chúng ta bắt giặc bắt tướng, những binh đinh trên thành cứ mặc, trước hết đánh đến phủ nha của châu chém Trần Cung, thành Bộc Dương lập tức sẽ bình định được!
— Đề phòng bất trắc, chúng ta có nên để lại vài người canh giữ cửa Đông, nhằm mưu tiến thoái không? - Lâu Dị dắt ngựa nhắc bảo.
Tào Tháo cười nhạt một hồi:
— Chúng ta đã đến đây rồi, thề phải hạ được thành Bộc Dương, cắt đứt đường cấp lương cho Lã Bố, hôm nay phải đập nồi dìm thuyền[1], chỉ có tiến, không có lùi! Phóng hỏa đốt cửa Đông cho ta! - Tào Tháo vừa ra lệnh, hơn mười bó đuốc lập tức ném lên thành môn, sĩ tốt thấy vậy đều vô cùng phấn chấn.
Nhạc Tiến một ngựa đi trước, cất tiếng kêu to, dẫn mọi người xông vào. Lần này đi trước đều là quân Duyện Châu, vào trong thành Bộc Dương có thể nói là xe nhẹ đường quen, hô to khẩu hiệu giết Trần Cung mà xông tới nha phủ. Nào hay mới chạy được nửa đường, bỗng nghe tiếng hô vang còn hùng dũng hơn, từ khắp các ngả trong thành Bộc Dương vô số quân địch xông ra, hô to:
— Bắt lấy lão Tào Tháo!
— Điền thị trá hàng, ta trúng kế phản gián rồi! - Tào Tháo chợt thót tim, vội gò cương ngựa, nhưng trông thấy quân binh không biết phải làm sao, Nhạc Tiến ở phía trước lại đã giáp mặt với quân địch.
Quân giặc kéo ra ngày càng nhiều, giơ cao đuốc lửa và đao thương, chia đội ngũ Tào quân ra làm mấy đoạn cùng hỗn chiến.
Cứ thế này chỉ lát nữa thôi toàn quân sẽ chẳng còn một mống, Tào Tháo quăng luôn câu thề khảng khái khi nãy xuống âm ty, giơ tay hô lớn:
— Lui quân! Lui quân!
Nhưng sao lui được nữa? Tiếng hò hét, tiếng đao thương, tiếng ngựa hí đã hòa làm một, tất cả mọi người ai nấy đều liều mình. Hạ Hầu Uyên chém liền mấy tên giặc, sấn tới trước mặt Tào Tháo:
— Trong quân không thể không có người làm chủ, tại hạ bảo vệ tướng quân ra khỏi thành! - Nói xong liền dẫn theo mấy thân binh xông ra bên ngoài. Lúc này Tào Tháo cũng chẳng còn cách nào khác, chỉ biết theo Hạ Hầu Uyên chạy ra ngoài. Lâu Dị cũng ra sức đâm chém liều thân bảo vệ hai bên tả hữu cho Tào Tháo.
Nhưng chỉ thấy dưới ánh lửa cháy, phía trước đã có phục binh chặn đường từ bao giờ. Hạ Hầu Uyên cũng không nghĩ được nhiều, vung đao xông vào đám đông mà đánh giết, đám phục binh xô nhau xông lên, vây chặt lấy hắn cùng đám thân binh. Lâu Dị thấy tình thế không thể qua được, lấy tay chỉ bừa sang phía tây, cố sức kêu to:
— Lão Tào Tháo ở phía này!
Cách ấy quả nhiên công hiệu, đêm khuya tuy có ánh lửa nhưng vẫn mông lung mờ ảo, là địch hay ta cũng khó mà phân biệt. Đám phục binh nghe thấy Lâu Dị nói là “lão Tào Tháo” thì chẳng hoài nghi gì, bởi bọn chúng đều mong mỏi lập công nên nhất thời có đến hơn nửa quân binh mơ hồ chạy sang phía tây.
Tào Tháo thấy những thân binh bên Hạ Hầu Uyên đều chết, trong khi vẫn còn phải chiến đấu với mấy tên giặc nữa, định đến đánh giúp. Lâu Dị liền nắm chặt cương ngựa của Tào Tháo:
— Bọn họ sẽ tự có cách thoát thân, ngài nên chạy mau đi, nếu không sẽ không kịp đâu. - Hai người nhân loạn, lại tiếp tục chạy sang phía đông, bên cạnh không có tên thân binh nào.
Nhưng đến gần cửa Đông Tào Tháo bỗng kinh hãi. Khi nãy đốt cửa Đông nên bây giờ phiền phức to rồi!
Lúc vào thành, Tào Tháo ra lệnh đốt cửa Đông để tỏ quyết tâm, nhưng ngọn lửa ấy lại gặp phải gió đông thổi mạnh đã bốc cháy rừng rực. Đến những đống cỏ chất cao ở phía đông thành cùng nhà dân gần đó đều bị bén lửa, phút chốc gió mượn thế lửa, lửa mượn uy gió, đã đốt cháy cả nửa dãy phố. Lưỡi lửa liếm bùng khắp các nóc nhà, tiếng lửa reo phần phật bên tai không dứt, có căn nhà run rẩy như muốn ụp xuống.
Con đại uyển của Tào Tháo đã tử chiến ở Biện Thủy, sau đó được Tào Hồng nhường cho con ngựa quý, tên là “Bạch Hộc”. Con ngựa này trèo núi vượt ghềnh, băng đèo leo dốc đều không ngại, duy chưa từng kinh qua cảnh lửa cháy lớn thế này. Chỉ nghe một tiếng hí thảng thốt, con Bạch Hộc đã sợ hãi dừng bước, hai chân trước nhấc bổng lên cao, hất tung Tào Tháo xuống đất. Lâu Dị còn chưa kịp đỡ dậy, liền nghe thấy tiếng rối loạn ầm ĩ, từ phía sau dồn lại một toán đông bại binh, chen chúc nhau chạy lên trước.
Lúc này chẳng kẻ nào bận tâm đến tướng quân hay tướng lĩnh gì nữa, nhất thời chen cả Lâu Dị ngã lăn xuống đất. Tào Tháo bị ngã toàn thân đau điếng, lại thấy từng đôi từng đôi chân chạy qua trước mắt, thậm chí còn có kẻ nhảy qua đầu mình, bụi đất cuộn mù tung đầy hai mắt, ông vội lồm cồm bò dậy, vừa lăn vừa bò tránh sang bên đường. Đám lính chen nhau chạy ấy, để trốn ra khỏi thành giữ lấy mạng sống cũng chẳng quan tâm đến lửa cháy hay không, cứ liều mạng lao ra ngoài. Cũng có tên mạng lớn, thoát được ra ngoài, có tên lại bị nhà cửa đổ ụp đè chết, có tên bị chen ngã vào biển lửa, khắp người lửa cháy, lăn lộn dưới đất kêu gào thảm thiết, tận đến khi bị đốt thành than, không còn động đậy gì được nữa.
Cùng với lửa cháy ngút trời, khói cuộn đen sì cũng bị gió đông táp đến trước mặt, khiến ai cũng ho sặc sụa. Thấp thoáng trông thấy, Tào Tháo đang lần mò trong đó. Lại thấy Hạ Hầu Uyên, Nhạc Tiến dẫn theo mấy tên tàn binh phóng ngựa chạy qua.
— Diệu Tài... Văn Khiêm... Hụ hụ... - Tào Tháo kêu được nửa câu thì lại bị hơi khói sộc vào miệng.
Hạ Hầu Uyên, Nhạc Tiến ra sức đánh nhau với địch yểm hộ chủ soái thoái lui, bọn họ cứ ngỡ Tào Tháo đã chạy được ra ngoài. Lúc này tiếng người lại huyên náo ầm ĩ, căn bản không nghe thấy tiếng gọi của Tào Tháo, cứ ruổi ngựa đạp qua mặt đất đầy xác chết, tro than, đột phá cửa Đông mà chạy.
Bấy giờ Tào Tháo đã lăn lộn trong đám tro than khiến chiến bào rách bươm, mặt mũi đen nhẻm, lại thêm vốn ăn mặc như một tướng hiệu bình thường, nên hầu như không có tên lính nào chú ý đến. Tào Tháo cố gắng bò dậy, ánh lửa chói mắt, hơi khói mịt mù, lửa cháy càng lúc càng to, hun đến nóng căng cả mặt. Đúng thời khắc nguy hiểm ấy, lại nghe tiếng nhạc ngựa leng keng, thấy rất nhiều kỵ binh Tịnh Châu đã truy kích đến, viên tướng đi đầu ngồi trên lưng con ngựa hồng. Tào Tháo vừa nhìn đã sợ đến hồn phi phách tán.
Viên tướng ấy mình cao chín thước, lưng hổ eo gấu, hai vai rộng, đầu đội mũ tử kim quan, mình khoác áo giáp mặt thú vàng đỏ liên hoàn, choàng chiến bào bách hoa bằng gấm đỏ Tây Xuyên, vai đeo cây cung bán nguyệt họa tước sơn vàng, eo thắt đai bó giáp sư tử đeo giáp linh lung, đùi buộc tấm che gối sợi bạc, chân đi hia đầu hổ, trong tay cầm cây phương thiên họa kích dài hơn một trượng, cưỡi trên lưng con ngựa Xích Thố. Nhìn lên khuôn mặt, thấy da trắng như ngọc, mắt phượng mày rồng, mũi cao môi đỏ, mái tóc đen ánh, đôi mắt ẩn màu xanh biếc phản chiếu ngọn lửa tàn bạo, lộ rõ thần thái kiêu ngạo tự phụ - đó chính là Lã Bố!
Trước tình cảnh ấy, thấy Lã Bố như một quỷ sứ cướp mạng từ lò luyện hỏa địa ngục chạy thẳng đến phía mình, Tào Tháo trốn không được chạy không xong, chỉ biết ngồi đờ trên mặt đất. Nhìn Lã Bố cười như điên dại cuốn đất xông đến, giơ cây phương thiên họa kích lạnh ngắt gí vào đầu mình, Tào Tháo thở dài nhắm mắt - Thế là xong!
Không ngờ cây họa kích ấy lại được nhấc cao lên, rồi nhẹ nhàng hạ xuống, đập đập vào mũ Tào Tháo. Lã Bố cười ha hả hỏi:
— Tào Tháo chạy đi đâu rồi?
Sao!? Tào Tháo đã hiểu ra, mình và Lã Bố không hay gặp nhau, hắn chưa chắc đã nhớ mặt mình, thêm nữa hôm nay ăn vận theo lối tướng hiệu bình thường, lại bị khói than làm mặt mũi nhem nhuốc, nên hắn không nhận ra mình.
— Nói ra ta sẽ tha mạng cho ngươi! - Lã Bố lại quát hỏi.
Tào Tháo vội vã chỉ bừa, giả giọng the thé nói:
— Tướng quân chúng tôi không vượt được lửa, đã dẫn quân chạy sang cửa Nam rồi! Người khoác áo bào vàng cưỡi trên con ngựa vàng ấy chính là ông ta!
Tào Tháo cứ nghĩ Lã Bố sẽ lập tức đuổi theo, nào ngờ Lã Bố chậm rãi cúi người sát mình ngựa, trợn mắt xanh nhìn chằm chằm vào mình.
Hắn nhận ra mình rồi!? Tào Tháo vội cúi đầu, tim như muốn nhảy ra ngoài.
Lã Bố nhìn Tào Tháo hồi lâu, khuôn mặt trắng trẻo bỗng khẽ mỉm cười nói:
— Ngươi nói là cửa Nam, nhưng sao tay lại chỉ sang cửa Bắc thế.
Tào Tháo thực sự sợ hãi đến hồ đồ, nói dối cũng không biết cách nói. Nhưng liền nhanh trí, lấy sai chữa sai, quỳ sụp xuống đất nói:
— Tướng quân ngài thần uy vô địch, tiểu nhân tâm trí rối loạn, không phân biệt được năm bắc... Ông ta thực sự nói là chạy sang phía cửa Nam ạ.
— Ha ha ha... - Lã Bố ngửa mặt lên trời cười rộ, - Tào Mạnh Đức dùng những kẻ tiểu nhân nhát gan thế này làm tướng, há lại chẳng bại? Ta tạm tha cho ngươi vậy... Các huynh đệ, theo ta đi bắt sống Tào Tháo! Ha ha ha... - Theo tiếng cười ngạo mạn nhỏ dần, Lã Bố dẫn theo đám kỵ binh Tịnh Châu chớp mắt đã không thấy bóng dáng đâu nữa.
Tào Tháo thở phào một hơi, hai chân mềm nhũn đổ nhào xuống đất, rất lâu mới ý thức được rằng mình chưa thoát hiểm, lại vội vội vàng vàng bò dậy. Ông tập tễnh chạy về phía trước, chợt thấy có người dắt ngựa lần mò trong màn khói mịt mù:
— Lâu Dị... Có phải ngươi không?
— Là tại hạ đây! - Lâu Dị mừng tưởng muốn khóc, trên mặt hắn thấy rõ đã có thêm một nhát đao chém, máu tươi đang chảy ròng ròng.
— Ngươi sao vậy?
— Có mấy tên muốn cướp ngựa của tướng quân, đã bị tại hạ giết rồi. - Lâu Dị lau lưỡi đao còn dính đầy máu, - Ngài không sao là tốt rồi, mau lên ngựa, chúng ta chạy thôi! - Vừa nói Lâu Dị vừa đỡ Tào Tháo đang run lẩy bẩy lên lưng con ngựa Bạch Hộc.
Lúc này thế lửa đã không thể khống chế được nữa, toàn bộ mặt nam Bộc Dương đều bị thiêu rụi, nhà cửa nối nhau đổ xuống, chỉ còn một con đường nhỏ hẹp. Tào Tháo không còn lựa chọn nào khác, chỉ biết cố sống cố chết lao ra ngoài, vừa đi vừa phải vỗ về con chiến mã đang bị kinh hãi, Lâu Dị cầm đao chạy bám theo sau.
Đột nhiên có tiếng rầm rầm, một tòa nhà bị cháy đổ sập xuống. Thấy tướng soái hai người sắp phải mất mạng trong biển lửa, Lâu Dị vội lao đến bên con Bạch Hộc, đâm mạnh một nhát đao vào mông, con ngựa đau quá giật mình liều mạng xông lên trước, thanh gỗ mục cháy sượt qua ngay đầu Tào Tháo rơi xuống phía sau.
— Lâu Dị! Lâu Dị! - Thoát khỏi kiếp nạn, Tào Tháo run rẩy quay lại nhìn, chỉ thấy biển lửa mênh mông, Lâu Dị làm sao có thể sống sót qua được?
Con ngựa Bạch Hộc đã bị sợ hãi, Tào Tháo chẳng có cách nào khống chế nổi, cũng không kịp nghĩ đến việc bi thương, chỉ biết ghì chặt dây cương, nằm phục trên lưng ngựa, để mặc nó chạy cuồng trong lửa dữ. Đến khi Tào Tháo một mình một ngựa xông được ra khỏi cửa Đông, chiến bào và râu ria đều đã bị cháy trụi cả...
❀ ❀ ❀
[1] Thường bá là chức quan đại thần thời Chu, giúp hoàng đế quản lý việc dân chính, tương đương với chức thị trung thời Hán. Người Hán thường so sánh thị trung với thường bá.