Quan Thượng thư Hữu thừa Tư Mã Phòng nén giận trong lòng. Chuyện đến nhận chức ở Tuyển bộ tào[1] vốn là chuyện tốt, dồn hết tâm trí làm việc vài năm, rồi mới ra ngoài làm quận thú hay một chức quan ở Kinh Triệu tiền đồ cũng không tệ. Nhưng giờ thì Tư Mã Phòng lại gặp phải một vị quan trên chẳng biết việc gì.
Mọi người ai cũng biết Tuyển bộ thượng thư Lương Hộc là người không quan tâm đến việc chính. Lương Hộc tự Mạnh Hoàng, xuất thân không cao, nhưng nhờ theo học bậc đại gia thư pháp là Sư Nghi Quan mà tên tuổi lẫy lừng, thậm chí trình độ viết chữ triện tuấn nhã không kém sư phụ. Nhưng ông ta ra làm Tuyển bộ thượng thư căn bản cũng chỉ là ăn không ngồi rỗi, sáng sớm hằng ngày ông đem công văn giấy tờ ném lên bàn một đống, rồi buông một câu:
— Các ngươi xem rồi giải quyết đi! - Thế là coi như xong, rồi một mình tìm chỗ yên tĩnh luyện thư pháp.
Hồi đầu, Tư Mã Phòng còn cho là cấp phó sẽ phải thò đầu ra mà gánh vác công việc, sau mới phát hiện tất cả những việc ấy đều không được giải quyết đến đầu đến đũa. Tuyển bộ tào nắm giữ việc bổ nhiệm hay bãi miễn, thăng chức hay giáng chức các quan viên từ mức lương hai ngàn thạch trở xuống và các hiếu liêm. Nhiệm vụ của quan chức bộ này xưa nay lắm ân nhiều oán. Hôm nay tam công hạ lệnh phải trưng dụng người này, ngày mai hoạn quan lại lấy cớ thân quan muốn thăng thưởng cho người nọ, người kia; hoàng thượng và thái hậu cũng thỉnh thoảng lại chỉ định một người đảm nhiệm chức vị nào đó. Người thì nhiều mà chức thì có hạn định, vừa được đằng đông thì mất lòng đằng tây.
Tư Mã Phòng chỉ là một Thượng thư hữu thừa nhỏ nhoi, chẳng gánh tội được cho bên nào, suy nghĩ chiêu đăm cũng không thể quyết định. Đi thỉnh thị Lương Hộc, ông ta vẫn chỉ câu cũ: “Ngươi cứ xem rồi giải quyết đi!” - Công việc ấy thật không cách nào làm nổi. Tư Mã Phòng có ý không làm nữa, nhưng lại chưa có chỗ để đi, đành dằn lòng dâng sớ đàn hặc Lương Hộc nhưng cũng không kiện được. Lương Hộc kia tuy chỉ chiếm chỗ ngồi không, nhưng vì viết chữ rất đẹp, được mọi người ca ngợi, đến hoàng đế cũng vô cùng tán thưởng, từ công khanh đến các đại thần đều lũ lượt đến xin chữ, nhờ đề biển. Vì lý do đó, mà ông ta có mối quan hệ tốt với mọi người. Làm việc cũng không được, từ chức cũng không nổi, kiện cáo cũng không xong, Tư Mã Phòng tiến lui chẳng được, chỉ còn biết nuốt giận trong lòng.
Trước đó không lâu, đất Bái rộ lên vụ đại án, tướng đất Bái là Sư Thiên kiểm tra xét cử trong quận không theo phép tắc, sau đó không biết vì sao đắc tội với Vương Phủ, Sư Thiên trở về liền tự hủy nhà cửa, kết liễu tính mạng. Sau sự việc, Vương Phủ muốn nghĩa tử của ông ta là Vương Cát làm tướng đất Bái. Tư Mã Phòng không chống lại nổi, phải theo ý đó mà làm. Ai ngờ tên Vương Cát ấy nhận chức chưa đầy một tháng đã quyết liền bốn vụ án lớn, tính cả có tội lẫn vô tội, giết hơn trăm mạng người, còn phơi thây đầy đường, tru di cửu tộc, bêu đầu cổng thành, tàn nhẫn đến cực độ. Trong triều ngoài nội trên dưới đều loan truyền, khiến Tư Mã Phòng cùng Vương Phủ, Lương Hộc đều bị chửi rủa. Điều ấy khiến ông càng thêm nổi giận khôn nguôi.
Buổi sáng hôm ấy thời tiết nóng bức vô cùng, Tư Mã Phòng tâm tình lại không vui, nhìn đống công văn cùng thư từ của hoạn quan, quý thích, công khanh nhờ vả chất chồng trên bàn, ông dường như ngồi không yên nữa.
Ông vỗ mạnh vào trán mấy cái để tâm tình bình tĩnh trở lại, rồi gắng lấy tinh thần bắt đầu xem xét công văn và những thư từ ấy.
Giở công văn xem, việc đầu tiên là thái úy mới nhận chức Đoàn Quýnh xin thăng chức cho bộ hạ cũ. Đoàn Quýnh từ khi được Vương Phủ nâng đỡ nhận chức thái úy đến nay, đã là lần thứ ba nhờ vả thăng chức cho bộ hạ cũ. Ông ta vì chuyện bắt bớ giết hại các thái học sinh, tiếng xấu đã vang rất xa, thế nhưng vẫn không biết thu lại, còn ra sức xin xỏ cho người thân tín. Tư Mã Phòng đã có ý bác đi, nhưng nghĩ kỹ lại thì Đoàn Quýnh câu kết với Vương Phủ, nhất thiết không thể đắc tội với ông ta. Nhưng nếu thuận theo tâm nguyện của hắn thì mình khó tránh khỏi lại bị chửi rủa. Rốt cuộc nên làm thế nào? Tư Mã Phòng tính kế nửa ngày trời cũng không biết làm thế nào cho phải, đành để công văn đó sang bên đợi quyết định.
Cầm bản công văn thứ hai lên, là tờ sức liên quan đến quan viên ở quận Bột Hải. Từ sau khi Bột Hải vương Lưu Lý bị xử tử, Bột Hải đổi từ “quốc” thành “quận”, phải tuyển phái quan chức lại từ đầu. Quyết nghị từ triều đình còn chưa gửi xuống, Vương Phủ đã gửi trước đến cả một danh sách dài, đều là đám người thân tín cố hữu đút tiền cho ông ta, thậm chí ai làm huyện lệnh ở đâu, ai làm công tào, lại chức lớn đều đã sắp đặt đâu đấy. Nhưng rõ ràng hoàng thượng đã có lời ban ra, phải chọn các quan viên thanh liêm đến đó đảm đương công việc, nói không chừng sau này sẽ đích thân lựa chọn. Chuyện này nên làm thế nào cho phải? Tư Mã Phòng trong đầu như mây mù mờ mịt, lại cầm bản công văn đó ném sang một bên.
Cầm bản công văn thứ ba lên, mới đọc qua lại thấy càng chối. Đó là Đại hồng lô Tào Tung nhờ vả tạo điều kiện cho con trai là Tào Tháo được làm quan. Nếu là người khác cũng được thôi, duy riêng với phụ tử Tào gia thì chuyện này nhất thiết không thể tùy tiện hứa hẹn!
Mấy tháng trước, Tào Tháo vừa được xét cử hiếu liêm, còn chưa lên kinh đã gây ra một vụ đại án. Sĩ thân đất Bái là Hoàn Thiệu tố cáo Tào Tháo vì tranh giành một ả đào hát đã đánh chết quản gia của Hoàn phủ. Chính vừa lúc tên khốc lại Vương Cát mới đến nhận chức, chẳng cần hỏi đầu cua tai nheo thế nào liền kết án luôn. Khép Tào Tháo là kẻ sát nhân không chớp mắt. Nhưng thẩm vấn lên thẩm vấn xuống hơn hai tháng trời, kết quả lại là tố cáo không có bằng chứng, vụ án không thể xử được.
Thực ra suy nghĩ kỹ càng một chút sẽ hiểu ngay, Tào Tung và Vương Phủ vốn cùng hội cùng thuyền, chắc chắn Vương Cát khi chưa biết rõ thân phận của Tào Tháo đã hấp tấp kết án, gây ra màn kịch đánh nhau vỡ đầu mới biết họ hàng. Sau này biết rõ ràng rồi, nên vụ án cũng không cần xét nữa, chỉ tìm lấy một tên tiểu tử họ Hạ Hầu nhận tội. Nhưng chuyện tranh đào giết người ầm ĩ ấy trong triều ngoài nội đều biết, còn có thể sắp xếp một chức vụ thể diện cho Tào Tháo? Tào Tung kia chẳng những không biết thu dẹp đi, còn rống lên như sư tử muốn con trai được giữ chức Lạc Dương lệnh! Da mặt đúng là dày như tường thành. Nhi tử đã gây họa, lại còn muốn để nó làm huyện lệnh của một huyện đứng đầu thiên hạ. Cho hay là không cho đây? Án kiện là tự họ gây ra, nay lại chính họ không biết liêm sỉ đến xin làm quan, đạo lý trong thiên hạ này đều bị họ chiếm hết cả rồi. Công văn viết cả xe lời hay ý đẹp, đọc xong vẫn chưa biết tên Tào Tháo này có tài cán gì!
Tư Mã Phòng thực sự không thể đọc tiếp được nữa, ông cảm thấy trời đất như quay cuồng, nhìn đống công văn như núi trên bàn, cảm giác như trong đó đều viết hai chữ “Ân Oán”, đến tức mắt ức lòng! Bận rộn nửa ngày trời mà không giải quyết nổi một công văn, ông lo lắng đến nỗi mồ hôi túa ra ướt đầm, hoa cả mắt, ù cả đầu. Ông dụi dụi hai mắt, thở dài một tiếng, ngẩng đầu nhìn qua chỗ Lương Hộc đang ngồi cách đó không xa - vị đại thượng thư đang ngồi luyện thư pháp, ung dung nhàn tản.
— Lương đại nhân... Lương đại nhân...
Dường như Lương Hộc mang tất cả tâm tư để vào các con chữ đang viết, không hề nghe thấy Tư Mã Phòng đang gọi.
— Thượng thư đại nhân! - Tư Mã Phòng cuối cùng đã không nhẫn được, cất tiếng gọi to. - Đây có mấy công văn, xin ngài coi qua.
— Ờ? - Lương Hộc vẫn không ngẩng đầu lên. - Công văn gì vậy? Ta chẳng đã nói là ông xem rồi tự giải quyết ư! Ta còn đang bận việc! Đầu tiên là Hoàng môn Trương Nhượng xin ta viết chữ, rồi sau đó còn cả một đống nữa! Viên công muốn ta viết cho một quyển thiên Hồng Phạm sách Thượng thư[2] để lưu giữ. Vĩnh Lạc thái hậu cũng bảo ta viết một bức chữ cho điệt tử của bà ấy là Đổng Trọng. Lại còn hai lão Dương công, Mã công, họ đã đợi hơn nửa tháng rồi. Ngoài ra là lão Trương Hoán, tuy đã bãi quan nhưng nhã hứng chẳng hề suy suyển, viết thư đến nhờ ta chép cho một bài Mãnh hổ hành[3]...
— Đại nhân! - Tư Mã Phòng không nghe tiếp được nữa. - Xin ngài tạm gác chuyện thư pháp lại, đây có mấy việc nhất định phải có ngài đích thân giải quyết!
— Chuyện gì vậy? Ông xem rồi làm đi! - Lương Hộc không muốn bị quấy rầy.
— Xem rồi làm! Xem rồi làm! Bỉ chức đâu có thể làm được! - Tư Mã Phòng tức điên lên, hét như lên cơn dại, thuận tay gạt hết đống công văn giấy tờ xuống đất. Quan chức đời Hán rất chú ý đến sự tôn nghiêm, nói lớn tiếng đã là thất lễ, huống chi lại làm như thế. Ông ta gây rối như thế, khiến cho tất cả thuộc hạ, thư lại trong nhà đều sợ hãi lặng người, kinh ngạc nhìn vị thượng quan thường ngày vẫn ôn hòa nhã nhặn.
— Còn nhìn gì nữa? - Lương Hộc khi đó mới buông bút xuống, nói lớn. - Mọi người đều lui cả ra đi, ta có mấy lời muốn nói riêng với Tư Mã đại nhân.
Đợi tất cả thuộc hạ lệnh sử đều lui ra ngoài hết, Tư Mã Phòng mới ý thức đến sự thất thố của mình, ôm đầu nhỏ giọng giải thích:
— Thuộc hạ thật lỗ mãng! Kỳ thực... bẩm đại nhân... tiểu nhân thật sự... thật sự không có khả năng làm nổi, tiểu nhân làm không nổi những việc này.
— Vậy làm thế nào? - Lương Hộc ngáp dài, khuôn mặt vẫn không biểu lộ gì.
— Xin thượng thư đại nhân ngài cho một chỉ thị, nên làm thế nào?
— Ta cũng không biết... ta chỉ biết phải viết cho đẹp những chữ này.
Tư Mã Phòng thấy ông ta vẫn giữ bộ dạng dửng dưng như thế, trong lòng dường đã hiểu, cười nhạt bảo:
— Đại nhân! Nếu ngài đã không biết xử lý thế nào thì sao không nghĩ cách làm chút việc chính đáng chứ?
— Đấy chính là việc chính đáng đấy! - Giọng Lương Hộc tuy không lớn nhưng rắn rỏi chém đinh chặt sắt, khiến Tư Mã Phòng phát hoảng. - Tư Mã lão đệ, ông cho là ta có thể làm được những công vụ này ư?
— Nói vậy nghĩa là...? - Tư Mã Phòng cúi đầu.
— Nói thật cho ông biết, những công việc này dù là Chu công tái thế, Quản Trọng phục sinh cũng không làm nổi! - Lương Hộc lắc lắc đầu không biết làm sao. - Những việc trong thiên hạ, vốn chẳng thể thỏa mãn được tất cả mọi người, huống chi hiện nay trong triều đình lắm phe nhiều phái, căn bản không thể làm được cho đến đầu đến cuối.
— Thế chúng ta...
— Cho nên ta mới bảo ông cứ tùy ý mà làm! - Lương Hộc rung rung bàn tay.
— Nhưng xử trí như thế liệu có sai sót không?
— Chớ lo lắng! Ông chỉ là một Thượng thư hữu thừa lương bốn trăm thạch nhỏ mọn, ai có thể so đo với ông? Họ mới là người không dám đem bát vàng ra chọi với âu sành của ông! Bọn họ dù có oán trách cũng chỉ oán trách ta, có cung tên cũng chỉ nhằm bắn ta thôi! - Nói đến đó Lương Hộc sờ tay lên trán, thở dài một tiếng, thần thái tự tại không nệ thói đời chớp mắt đã không thấy đâu nữa. - Cho nên ta chỉ có thể đem việc công giao phó cho ông, để ta có thời gian viết chữ cho mấy vị đại nhân này, gắng sức làm họ vui lòng. Như vậy phía đông có kẻ bắn tên, chúng ta sẽ đến phía tây tìm người che chắn, đến lúc bên tây bị lật thuyền, chúng ta lại sang bên đông lánh nạn. Xếp sắp nhân sự, có người thất vọng thì cũng có người vui lòng! Chúng ta cứ qua lại chu toàn với họ, bất kể thế nào hai chân không lơ lửng trên không là được!
Tư Mã Phòng nghe những lời từ tâm can ấy của Lương Hộc, như người trong mộng chợt bừng tỉnh, ông bỗng nhận ra Lương Hộc đại trí mà giả ngu ngơ, kỳ thực cao minh hơn nhiều so với mình tưởng.
— Tư Mã lão đệ! Ông cũng đã làm việc lâu năm vậy rồi, sao còn chưa hiểu chút đạo lý này? Nhân phẩm của ông rất tốt, dũng cảm làm việc, lại không bất cẩn lắm lời, mấy ngày nay đúng là vất vả cho ông... Thực ra ông không cần suy nghĩ quá nhiều, chỉ cần tùy theo tâm tình mà làm, có phiền phức gì đã có ta gánh nhận. Chúng ta cứ một người lo việc ngoài, một người lo việc trong như thế, hai năm nữa ta bảo đảm ông sẽ được thăng lên Kinh Triệu doãn, nhanh chóng rời khỏi cái chỗ chết tiệt kêu trời trời chẳng thấu, kêu đất đất không nghe này!
— Vậy... - Tư Mã Phòng xấu hổ cúi gập người nhặt công văn giấy tờ vương đầy mặt đất. - Không ngờ đại nhân lại lắm nỗi khổ tâm như vậy, bỉ chức đã hiểu lầm ngài rồi!
— Lão đệ khách sáo rồi! Chẳng giấu gì ông, có lúc ta đã nghĩ đem những chữ này xé hết, đốt sạch đi... Nhưng không làm thế được! Nếu không phải vì ta có thể viết được chữ đẹp thế này thì một kẻ chẳng có dòng dõi, chẳng có gia thế như ta, đã bị đuổi khỏi kinh sư từ lâu rồi! Thế đạo ngày nay, có cách nào khác đâu? - Lương Hộc xoa hai tay lên mặt, lộ rõ nét mệt mỏi khác thường.
— Ngài nói rất đúng... - Tư Mã Phòng cũng trầm ngâm.
— Lão đệ này! Chớ làm lỡ công việc nữa! Chúng ta đều là những con vật đã được treo lên xe, thân đã trong bể hoạn thì một phút cũng không thể nghỉ được!
— Dạ... - Tư Mã Phòng nghe cách so sánh của Lương Hộc thì bật cười. - Vậy thì... ta sẽ nể mặt Đoàn Quýnh, thăng cho người mà ông ta tiến cử một cấp. Được không ạ?
— Được!
— Còn số danh sách quan viên đợi tuyển cho quận Bột Hải, ta không phê những người của Vương Phủ có được không?
— Được!
— Còn việc của Tào Tháo, - Tư Mã Phòng không dám tùy tiện thêm nữa, ngừng lại một lúc mới nói. - Nếu cho hắn giữ chức Lạc Dương lệnh thì quá lộ liễu, nhưng nếu cho hắn ra làm huyện lệnh huyện ngoài, khiến phụ tử họ chia lìa... lại dường bất cận nhân tình, dù sao Tào Tung cũng đã có lời nhờ vả đến đại nhân ở đây rồi.
— Vậy theo ý lão đệ thì thế nào?
— Cho Tào Tháo giữ chức Lạc Dương Bắc bộ úy[4] vậy!
— Cũng được... Ông cứ xem xét mà làm đi! - Lương Hộc lại nhấc bút lên, tiếp tục viết chữ.
Tào Xí giáo huấn
— Làm quan ở kinh sư nhất thiết phải dè dặt thận trọng! - Tào Xí nhắc đi nhắc lại câu đó với cháu của mình. - Chuyện ở quê cháu không được nhớ đến nữa, chỗ Vương Cát ta đã đi lại ổn rồi. Thực ra tên quản gia của Hoàn phủ cướp người trước vốn đã vi phạm luật pháp, chỉ là tên Hoàn Thiệu ấy vẫn cố tình không chịu nghe. Tên tiểu tử ấy mồm gang miệng thép, nhất định cắn không chịu buông, may mà Vương Cát mạnh tay mới dẹp được. Nếu có thể tìm được hai tỷ đệ đứa đào hát ấy hỏi rõ sự tình là tốt nhất, nhưng kỳ lạ là hai tỷ đệ nó sao có thể trốn biệt không thấy tông tích đâu cả chứ? - Tào Xí nói đến đó mắt cứ chăm chăm nhìn vào cháu mình.
Tào Tháo rất sợ vị nhị thúc vô cùng tinh ý này. Với phụ thân là sự tôn trọng, với tứ thúc Tào Đỉnh là sự thán phục, với thất thúc Tào Dận là sự kính sợ, duy chỉ có nhị thúc Tào Xí thì đó thực sự là sợ hãi. Chuyện này vốn đã mờ ám, nên nghe nhị thúc hỏi như vậy, trống ngực Tào Tháo liền đánh thình thịch, nhưng cũng cố trấn tĩnh nói:
— Có thể vì sợ chỗ cửa quan! Vương Cát vốn là người nổi tiếng tàn bạo, Hoàn gia lại có tiền có thế, có kẻ dân thường nào gặp phải chuyện này mà chẳng sợ?
Tào Xí không đáp, vẫn cứ nhìn chằm chằm vào Tào Tháo, hồi lâu mới thử thăm dò:
— Cả đời ta cũng không bao giờ quên, tiểu xảo lừa người của cháu khi còn nhỏ, có khi cháu đang giả vờ trúng phong trước mặt ta cũng nên? Cũng có thể người đó... đúng là do cháu đánh chết thật! Nếu là cháu đánh chết, Hạ Hầu Diệu Tài đầu thú nhận tội, rồi đem tỷ đệ Biện thị giấu đi thì việc này có thể hiểu được.
Tim Tào Tháo dường như bắn ra khỏi lồng ngực, nghĩ đủ mọi cách để giải thích thì đã nghe Tào Xí ung dung bảo:
— Thôi được rồi, thôi được rồi! Chuyện đã qua cũng nên cho qua đi, cùng lắm thì để Diệu Tài ngồi trong nhà lao mấy ngày thôi. Hiện nay Tào Nhân ở quận cũng đã có tiếng nói, lại có ta quan tâm, Vương Cát sẽ không làm khó cậu ta nữa đâu.
Tào Tháo thở phào một hơi, nỗi lo trong lòng giờ mới tạm nguôi đi.
— Quan trọng là sau này! Làm quan ở kinh sư nhất thiết phải dè dặt thận trọng! - Tào Xí nói một hồi lại trở về câu nói đầu tiên. - Lạc Dương Bắc bộ úy chẳng qua là chức quan nhỏ như hạt vừng, chẳng thể trêu ngươi được ai! Chẳng nói gì cháu, ngay ta hiện nắm giữ Trường Thủy doanh, ngoài mặt đường đường là thống lĩnh hơn bảy trăm binh mã, nhưng kỳ thực chẳng qua cũng chỉ là tên sai vặt! Dưới chân thiên tử, nhân vật lớn có quá nhiều, chẳng biết khi nào chỉ cần đi nhầm một bước là mất mũ ngay, không cẩn thận còn mất cả đầu ấy chứ!
— Tiểu điệt hiểu ạ, chỉ giận lão Lương Hộc ấy không cho tiểu điệt giữ chức Lạc Dương lệnh!
— Tiểu tử ngốc, ngươi còn mơ hồ lơ ngơ lắm. - Tào Xí nghiêng đầu liếc nhìn cháu mình. - Cháu tưởng là... Hừ! Huynh đệ bọn ta nhờ vả gửi gắm kỹ lưỡng như thế, thực ra cũng không nghĩ thật sự cháu sẽ được làm Lạc Dương lệnh!
— Ồ?
— Huyện lệnh của một huyện đứng đầu thiên hạ này đâu có thể nói làm là làm ngay được? Chưa có tám năm, mười năm rèn luyện từng trải và nhiều mối quan hệ thì ai có thể làm được? Tiểu tử! Nói thực cho cháu biết, đều bởi cháu nảy nòi ra chuyện gây kiện cáo ở ngoài, nên chúng ta mới cố ý đòi chức quan dễ bị gièm pha này đấy, nếu không giờ cháu đã bị điều đi nhận chức ở một huyện nhỏ ngoài biên viễn rồi! Chúng ta đòi như thế, bọn Lương Hộc, Tư Mã Phòng mới nể mặt, không muốn tùy tiện xử trí, may mà giữ cháu lại kinh sư đấy! - Tào Xí cười nhạt một tiếng. - Nghe nói hôm trước cháu còn dẫn Sái Mạo đến bái yết Lương Mạnh Hoàng, nhưng bị người ta cho ăn bế môn thang[5] hả? Đúng là không chịu động não suy nghĩ một chút, biết bao nhiêu con mắt dòm ngó vào ông ấy như thế, Lương Hộc có thể gặp cháu không?
— Hóa ra là vậy... - Tào Tháo vốn bất mãn với Lương Hộc, nghe thúc phụ giảng giải như vậy mới hiểu ra trong đó lại có những đạo lý như thế nữa.
— Thực ra tuổi trẻ rèn luyện bên ngoài một chút cũng không hẳn là không tốt, lưu lại kinh sư chưa chắc đã là chuyện hay, nhưng phụ thân cháu mà không muốn cháu về kinh thì ta cũng chẳng làm gì nổi... Làm quan ở kinh nhất định phải cẩn thận, cẩn thận hơn nữa! - Tào Xí lại nhắc lại câu nói ấy. - Khi nãy cháu nói là đã hiểu! Nhưng ta xem cháu còn hồ đồ lắm! Hai năm nay, triều đình đã có bộ mặt khác rồi!
— Thúc phụ nói vậy là có ý gì ạ?
— Ý gì ư? Vương Phủ đã không còn có tiếng nói như trước đây nữa, từ sau khi lật đổ Bột Hải vương, ông ta trở thành một con chuột qua đường rồi! Hoàng thượng cũng ngày càng trưởng thành, Vĩnh Lạc thái hậu cũng coi như đã lên ngôi chính vị, sao có thể việc gì cũng đều do tay Vương Phủ sắp đặt? Hiện nay nhóm tiểu hoạn quan Trương Nhượng, Triệu Trung, Kiển Thạc, Lữ Cường đều đã nổi lên rồi, ngay như lão Tào Tiết cũng bắt đầu quay mặt với ông ta, cháu nghĩ xem, liệu những ngày sắp tới có trôi qua suôn sẻ với ông ta không?
— Vậy thì phụ thân tiểu điệt...
— Chớ lo! Hơn một năm nay, phụ thân cháu đã không đi lại quan hệ với Vương Phủ, Đoàn Quýnh nữa rồi. Nhưng phàm những việc cần tiếp xúc với họ, ví như vụ án của cháu lần này, đều là ta ra mặt giải quyết. Nếu chẳng may có chuyện gì, sẽ không liên quan đến phụ thân cháu, cùng lắm cũng chỉ ta bị mất mũ mà thôi, chỉ cần không bị chết cả đám thì sẽ có lúc xoay chuyển được.
Tào Tháo cúi đầu nhấm nháp mùi vị chốn quan trường, hồi lâu mới nghĩ ra là phải động viên nhị thúc mấy câu, liền cười bảo:
— Chuyện này thật là... khiến thúc phụ người vất vả quá, tiểu điệt thật xấu hổ!
— Thằng nhóc này sao cũng học được cách ăn nói khách sáo thế? Không còn như hồi nhỏ cháu từng cưỡi lên cổ ta mà đái nữa rồi? Học đi! Sau này bọn Nhân nhi, Hồng nhi, Đức nhi, Thuần nhi lớn lên, các cháu cũng phải hiểu được giống huynh đệ chúng ta bây giờ! - Tào Xí nói lời sâu sắc ý nhị. - Nói thực ra, Nhân nhi chẳng có tài cán để làm được quan lớn, nếu làm một tên võ biền sai vặt, ta còn thấy phù hợp. Đức nhi là con mọt sách không làm được việc gì. Thuần nhi còn ít tuổi không nói. Còn Hồng nhi, tiểu tử thối thây ấy, từ năm ba tuổi đã biết là sau thế nào rồi, tương lai không gây tai họa cho nhà ta cũng là may... Chỉ có cháu còn có thể làm được việc đó. Ài! Sau này Tào gia cũng chỉ trông chờ vào cháu làm rạng rỡ tông môn thôi!
— Thúc phụ quá khen rồi! Tiểu điệt sau này nếu làm nên, tất sẽ không để huynh đệ phải thiệt thòi! Gặp việc sẽ nghĩ đến huynh đệ thân thiết trước! - Tào Tháo vội vàng nói theo, miệng nở nụ cười.
— Chớ có vội đắc ý như thế! - Tào Xí bỗng trầm ngâm trở lại vẻ nghiêm túc. - Ta lại cho cháu được đẹp mặt rồi, đúng không? Hồi nhỏ ta bắt cháu đọc sách cũng mong tốt cho cháu, mà cháu còn lừa ta, nào giả trúng phong, nào giả ngây giả ngô. Sau đấy phụ thân cháu quản giáo rồi, lại chẳng nghiêm khắc hơn ta ư? Bốn năm giáo huấn mà quên hết rồi sao? Đã nhớ thì lúc nào cũng phải cúp đuôi lại cho ta! Làm người, xử thế chỉ cần phóng túng một chút, là có báo ứng đến liền!
Tào Tháo liên tục gật đầu nghe nhận, nhưng trong lòng nghĩ thế nào thì chẳng ai biết được.
— Có một số chuyện thực sự không cách nào tính trước được. Một năm trước, tứ thúc của cháu muốn gió có gió, muốn mưa có mưa, cất lời nói giúp cháu mấy câu thì ai dám không theo? Nhưng nay cả nhà Bột Hải vương đã mắc họa bị diệt, Tống hậu lại càng không được sủng ái, ông ấy cũng như đi trên băng mỏng, lời nói chẳng còn giá trị gì, không giúp nổi cháu nữa! - Nói đến đó, Tào Xí thở dài. - Ôi... Quang Vũ đế năm xưa anh hùng là thế, sao giang sơn Đại Hán ngài vất vả khó khăn mới vãn hồi được giờ đây lại để cho mấy tên hoạn quan thao túng chứ!
Tào Tháo thấy Tào Xí đang vô cùng cảm khái, bộ dạng muốn nói lại thôi, đột nhiên nhớ đến lời thất thúc từng bảo, ông ấy hồi trẻ vốn là người mạnh bạo mà tế nhị, giỏi khôn khéo luồn lọt, nay lại mở miệng khuyên răn con cháu làm kẻ cúp đuôi. Xem ra cuộc đời con người ta cũng chẳng khác nào cục đá, mài ngày này sang ngày khác, năm này sang năm khác, cuối cùng mài hết các góc cạnh, mài đến nhẵn nhụi như viên bi, mài đến chỉ còn một tầng ánh sáng xám xịt ảm đạm...
— Đi đi! Về nghĩ cho kỹ, từ nay về sau nên làm thế nào, chớ có ngu độn qua ngày. Lúc nào cũng phải nhớ kỹ, cháu đã là một ông quan rồi. - Tào Xí vẫn vung tay nói không biết chán.
Tào Tháo thi lễ cáo từ, quay người còn chưa bước đi, lại nghe thấy giọng nói thấp trầm của thúc phụ:
— Còn nữa... tiểu tử! Còn một lớp vải thưa ta chưa phá cho cháu, nhưng lại sợ cháu còn ít tuổi chưa hiểu hết lẽ đời, nên ta phải nhắc nhở cháu. Nếu cháu muốn giấu hai tỷ đệ nhà kia, nhất định phải giấu cho thật kỹ, nếu việc coi thường pháp luật bị lọt ra ngoài để cho người ta nắm được chuôi thì không phải chuyện chơi đâu. Đi đi!
Tào Tháo vẫn còn chân trong cửa, chân ngoài cửa, nghe nhị thúc nói vậy, bỗng dưng sợ hãi toàn thân toát mồ hôi lạnh.
Nha môn quạnh quẽ
Tào Tháo không được làm Lạc Dương lệnh trong lòng từng ấm ức oán giận Lương Hộc, nhưng nhận chức rồi mới nhận ra chức Lạc Dương Bắc bộ úy vốn không coi ra gì, thực tế lại là công việc tốt hiếm có.
Thành Lạc Dương kinh đô nhà Hán được xây dựng dựa vào núi Mang Sơn, nhìn ra sông Nghị Thủy, thành ngoài từ đông sang tây rộng sáu dặm, từ nam đến bắc dài chín dặm. Thành trì bốn phía xung quanh tổng cộng đặt mười một cửa thành: Mặt nam, từ đông sang tây là ba cửa lớn: Khai Dương Môn, Bình Thành Môn, Tiểu Uyển Môn; phía bắc thành có hai cửa: Cốc Môn và Hạ Môn; phía đông thành, từ bắc xuống nam là các cửa: Thượng Đông Môn, Trung Đông Môn, Háo Môn; phía tây thành có: Thượng Tây Môn, Ung Môn, Quảng Dương Môn. Phía nam có ba cửa, phía bắc có hai cửa, phía đông có ba cửa, phía tây có ba cửa, đó là đại thể mười một cửa ở Lạc Dương. Vì Lạc Dương là huyện đứng đầu thiên hạ, dưới chân hoàng đế, diện tích lại tương đối rộng; ngoài thành, phố phường thôn xóm nhà dân còn đông đúc hơn trong thành, cho nên ở bốn mặt bên ngoài thành, triều đình đặt ở mỗi mặt một huyện úy, địa vị giống một huyện úy của các địa phương khác.
Tuy bốn quan huyện úy đông tây nam bắc vị trí tương đồng, bổng lộc như nhau, nhưng trên thực tế công việc lại rất khác biệt. Nam bộ huyện úy công việc rất khó làm, bởi coi giữ ở cửa chính, phải lo toan mọi công việc khi quan viên các quận về tấn kiến. Hơn nữa trong vùng còn có các nơi trọng yếu như nhà Minh Đường, Tị Ung, Linh Đài, Thái Học... tuy không phải trực tiếp quản lý nhưng vẫn phải lao tâm không ít. Ngoài ra còn có Nam thị thường ngày đều họp, là nơi tụ tập của đủ hạng người. Cho nên Nam bộ huyện úy từ sáng đến tối bận rộn đến mức không mở mắt ra được. Trong khu vực quản hạt của Tây bộ huyện úy chủ yếu là thường dân bách tính, hằng ngày bách tính vào thành đến Kim thị làm công hay buôn bán, cho nên đi lại tuần tra, xử lý tranh chấp, việc phiền phức cũng không ít. Phía đông thì bắt đầu từ Vĩnh Hòa lý[6], Bộ Quảng lý trong thành trở ra cả một dải đều là phủ đệ của các quan lại cao cấp trong kinh, ngoài thành lại thường niên có Mã thị (chợ bán ngựa), cho nên ba cửa phía đông phần lớn là hoạt động của thân thích các quan, Đông bộ huyện úy cả ngày phải chú ý lễ phép, chỉ sợ đắc tội với quý nhân.
So sánh như thế thì chỉ có cửa bắc mà Tào Tháo cai quản là thanh nhàn nhất. Mặt bắc thành Lạc Dương tiếp liền với sông Nghị Thủy, qua sông tiến tiếp về phía trước chính là núi Bắc Mang nhấp nhô trùng điệp, ở đó hầu như không có nhiều nhà dân, chỉ là mấy ngôi lều cỏ dựa núi kề sông, quá nửa là nơi nhàn cư ẩn dật đọc sách tiêu khiển của các vị lão thần. Công việc xưa nay vốn ít, lại thêm nha môn Bắc bộ úy cách doanh Trường thủy Hiệu úy do thúc phụ của Tào Tháo là Tào Xí chưởng quản không xa, hai người chiếu ứng cho nhau càng không gì có thể sơ suất được.
Tào Tháo hằng ngày dẫn bộ hạ đi tuần thị hai vòng, không có chuyện gì bất thường thì về nghỉ. Đặc biệt là buổi chiều, thỉnh thoảng còn đến doanh Trường thủy Hiệu úy của thúc phụ chơi một vòng.
Trường thủy doanh này tuy cùng với các doanh Đồn kỵ, Việt kỵ, Bộ binh, Xạ thanh đều thuộc năm doanh bắc quân, nhưng sĩ binh thì không như bốn doanh kia, bảy trăm ba mươi sáu tên sĩ binh trong doanh này đều là người Hồ. Đám sĩ binh dân tộc du mục này tuy đã quy phục Trung Nguyên, nhưng vẫn giữ truyền thống giỏi cưỡi ngựa bắn cung như trước đây. Hằng ngày xem những người ngoại tộc này luyện tập cưỡi ngựa bắn cung, đối với Tào Tháo mà nói cũng là một thú vui, một sự an ủi.
Hôm ấy dùng xong bữa trưa, Tào Tháo cảm thấy mệt mỏi, đến chân cũng không buồn nhấc lên nữa, bèn ngồi ngủ gật trong nha môn.
— Mạnh Đức! Từ khi chia tay đến nay vẫn bình an chứ?
Tào Tháo nhắm mắt nhưng nghe thấy như có ai gọi tên mình, mở to hai mắt vẫn còn đang lơ mơ nhìn hồi lâu mới nhận ra người cao lớn đứng ngay trước mặt chính là Lâu Khuê!
— Tử Bá! Tiểu tử ngươi đi đâu vậy? Sao lại đến được đây? - Tào Tháo vội đứng lên chỉnh đốn áo mũ. Từ khi về kinh làm quan đến nay, những bằng hữu ngày trước đều lần lượt đến chúc mừng. Đầu tiên là Thôi Quân, Sái Mạo mở tiệc mời, tiếp theo là Viên Thiệu đến nhà chúc mừng, lại còn mang đến cả thư của Trương Mạc, Hà Ngung, sau đó đến Viên Thuật cũng tới gặp gỡ. Vương Tuấn và Hứa Du thì không cần phải nói, chỉ có độc Lâu Khuê đã hơn một tháng nay chưa thấy tăm hơi đâu.
— Nha môn này của huynh há lại ngăn được ta ư? Ở bên ngoài ta nói ta là đại ca của huynh, là cháu cả của Tào lão gia, thế là bọn chúng chắp tay cúi người cho ta vào ngay thôi.
— Mạo nhận quan thân hả? Đúng là chỉ có ngươi thế... Mấy ngày nay ngươi đi đâu vậy? Bí mật quá, hỏi chẳng ai hay biết.
— Thôi đừng nhắc đến nữa! - Lâu Khuê xua tay, cũng chẳng đợi Tào Tháo mời, liền uể oải ngồi luôn xuống ghế. - Ta không có đường làm quan như huynh, cả ngày ở trong phủ của thầy học Lễ ký chương cú cũng chẳng có ý nghĩa gì. Năm nay thầy ta không làm chức tư đồ nữa, nhưng còn bận rộn hơn. Hứa Du thì quá nghèo, có vẻ như phải nhờ vào việc mua vui cho người ta để qua ngày. Ta định cùng Vương Tuấn học môn khác, nhưng không sao tĩnh tâm lại được mà học, ta thật sự phục huynh ấy, có công phu luyện mông, ôm sách ngồi cả ngày cũng được! Ta thì chịu hẳn!
— Ha ha... to con như huynh đúng là không giống kẻ học trò. - Tào Tháo cũng thấy buồn cười.
— Sau đấy ta nhất quyết xin thầy cho nghỉ, một mình đến Lương Châu một chuyến. Đi chơi giải sầu thôi. Lần đó đúng là được mở mắt.
— Ồ? Mở mắt làm sao?
— Từ khi Trương Hoán, Đoàn Quýnh đánh bại người Khương, mới bỏ công mấy năm mà những tướng lĩnh ngoài biên cương phía tây đến nay đã rủng rỉnh lắm rồi. Đoàn Quýnh nay là Thái úy, những người liều lĩnh theo ông ta trước kia cũng đều nhờ nước dâng thuyền lên, người nào người nấy đều có danh phận! Còn có một tên là Đổng Trác, là hống hách nhất, binh lính dưới tay hơn một nửa là người Hồ, nào là người Khương, nào là người Đồ Cách, Hung Nô, đủ cả. Ta xem thế là hiểu, trong tay nắm binh quyền, sống lưng tự nhiên sẽ cứng. Lũ ấy tuy gọi là quan nhưng thực ra cũng chả khác thổ phỉ là mấy, cưỡng chiếm ruộng đất của dân, sách nhiễu đòi tiền của lương thực, liên kết với đám thổ hào, giết người như di con sâu cái kiến. - Lâu Khuê hùng hồn đàm luận. - Những viên tướng ấy đều dung túng cho thuộc hạ coi thường chèn ép người Khương. Cứ như ta thấy, đám người tộc ngoài ấy rõ ràng là bị bức bách phải làm phản, làm phản rồi bọn họ lại trấn áp giết người sau đó về triều đình báo công... Cách vỗ yên các tộc ngoài biên ải của Ngu Hủ, Hoàng Phủ Quy, Trương Hoán năm xưa đúng là không còn thấy chút gì nữa rồi!
Tào Tháo nghe rồi không khỏi liên tục lắc đầu:
— Xem ra như vậy Lương Châu vừa là chiến loạn, vừa là thổ hào, vậy huynh đi đường nhất định gian nan không ít rồi!
— Còn phải nói! May mà ta có quen một vị trưởng giả là Diêm Trung ở Hán Dương, được ăn được uống ở chỗ ông ấy mấy ngày, đến khi đi còn viết cho một bức thư tay. Ôi! Đúng là còn hơn cả văn thư quan phòng, vừa thấy thư của Diêm Trung, cả Khương lẫn Hán đôi đường đều không ai dám làm khó cả... - Lâu Khuê đột nhiên đổi giọng:
— Ta thật không so được với huynh, Huyện úy đại nhân! Chức quan này của huynh làm đúng là ung dung tự tại, mới nhận chức hai tháng mà đã nhàn nhã, còn được nằm ngủ trong nha môn nữa!
— Thôi nào! Huynh chớ bới móc ta nữa, việc của quan ở kinh đâu phải huynh không rõ, phía bắc thành này có thể có bao nhiêu công vụ? Chớ nhìn mặt tây mặt nam công việc bận rộn, bận rộn thế mới có nhiều chính tích, mới có hy vọng được thăng tiến chứ! Còn trẻ như ta mà ngồi ở vị trí này, biết đến khi nào mới có thể ngóc đầu lên được! Như thế này chẳng thà cho ta cai quản một huyện nhỏ còn hơn!
— Huynh chớ thấy được hưởng phúc mà không biết là phúc, bao nhiêu người nát óc nghĩ kế còn không về được kinh đấy! Huynh rõ hay, lại muốn nhận chức ở ngoài, mới làm quan có hai tháng đã mong được thăng chức, huynh định làm Cam La[7] tái thế ư! Trong thiên hạ những người đã làm huyện lệnh mười mấy năm nhiều đến hàng vốc, huynh vừa ra làm quan liền được làm ở kinh, bọn họ đều đang nóng mắt đấy. Hiện nay phụ thân huynh đang là người có tiếng nói trong triều, hoàng thượng cũng rất tín nhiệm. Lại còn mấy vị thúc phụ của huynh nữa, bọn họ có ai làm quan nhỏ đâu? Huynh lo gì tiền đồ của mình nữa? Đến huynh mà phải ngày ngày phát rầu thì ta với Hứa Du chắc phải tìm một cành cây mà treo cổ chết mất?
— Huynh mà treo cổ thì phải tìm cành cây cao một chút. Cổ huynh cao thế này, cành thấp thì không treo nổi đâu! - Tào Tháo trêu đùa.
— Này! Tào Mạnh Đức, huynh đúng là biết cách trêu người khác làm vui! Người ta nói “Phát tài rồi không nhận người quen cũ”, đúng là chẳng sai chút nào, để xem ngày mai có ông quan to nào đến nha môn của huynh, coi huynh còn dám trêu ông ta cao hay thấp không!
— Xem huynh nói gì kìa! Làm quan tất không thể tránh sợ kẻ quyền quý. Nếu ông ta là vị quan đàng hoàng thì nào sợ một tên nha dịch, dù ông ta có xấu hay đẹp, cao hay thấp, ta vẫn theo đúng lệ nghênh đón từ xa. Còn nếu ông ta là kẻ nịnh thần tục lại thì dù có là tam công cửu khanh đã phạm đến tay ta cũng đều phải xử lý đến nơi đến chốn!
— Ồ? Huynh có thể có được chí khí như vậy sao? Nói thế rất có chí khí, chỉ e đến khi thực sự gặp chuyện như vậy thì chưa chắc làm được. Huynh hiện giờ “hát bài Đại phong, ca câu Mãnh sĩ”,[8] đến khi thực sự có nhân vật lớn nào phạm vào tay huynh, huynh lại sợ run lên ấy chứ! Đến khi đó muốn ăn nói cho người ta vui lòng không nhờ được ai đâu nhé! - Lâu Khuê liếc nhìn Tào Tháo. - Ta mà là huynh, ta sẽ ít nói những câu nghe thì hay mà làm không được hay như thế, huynh đệ chúng ta nào có ai coi thường ai chuyện ấy?
Tào Tháo nghe Lâu Khuê tràng giang đại hải một thôi những câu chẳng ra mềm cũng chẳng ra cứng, vừa bực vừa buồn cười, trong lòng thầm nghĩ: “Người này trăm hay ngàn tốt, rốt cuộc cũng chỉ là kẻ thích so đo với người khác xem ai trên dưới thấp cao, chỗ này không phục, chỗ kia không nghe. Anh ta sớm muộn cũng sẽ vì tính cách ấy mà chịu thua thiệt thôi.”
— Được rồi được rồi, coi như ta sai, được chưa? - Tào Tháo cười bảo. - Chúng ta được nhàn thì cứ nhàn, đến Trường Thủy doanh xem người Hồ luyện tập chứ?
— Huynh đúng là kiến thức hạn hẹp! Những ngày tôi chờ đợi ở Tây Lương, còn lạ gì người Khương nữa? Tuy nói loạn người Khương đại thể đã được dẹp yên, nhưng người Khương ở biên cương phía Tây còn nhiều lắm! Nhất là một dải Phu Hãn, có tên thủ lĩnh người Khương quy phục triều đình là Bắc Cung Bá Ngọc, bọn thủ hạ có tới hàng ngàn người, kẻ nào cũng thành thục bắn cung cưỡi ngựa, biết nói tiếng của người Hán cũng tới hơn một nửa, lại không mạnh hơn đám binh lính mà thúc phụ của huynh quản lĩnh ư? - Lâu Khuê dường như không coi đám lính người Hồ của doanh Trường Thủy có gì đáng kể. - Ta nghĩ chi bằng huynh cùng ta đến Mã thị chơi một bữa. Lần này đi chơi xa mới lĩnh hội được rằng, không có một con ngựa khỏe là không thể được.
— Được! - Tào Tháo bằng lòng tức thì. - Đợi ta sắp đặt công việc một chút rồi chúng ta đi.
— Hừ! Cái nha môn nhỏ như tổ sẻ này của huynh thì có công việc quái gì chứ!
Vụ cướp trong Công phủ
Tào Tháo thay bộ thường phục rồi cùng Lâu Khuê rời khỏi nha môn. Hai người cũng chẳng mang theo đầy tớ, chỉ tự dắt ngựa của mình vào cửa Cốc Môn. Con đường này thật ra không xa, chỉ cần đi qua Võ Khố, vòng qua Địch Tuyền, Vĩnh An Cung, rồi chạy đến ngoài cửa đông là có thể đến Mã thị. Tháng Tám, tiết thu bầu trời cao rộng không khí mát lành, hai bên đường trong thành Lạc Dương đều trồng ngô đồng, lá ngô đồng tuy chưa rụng, nhưng đã nhuộm thành một màu vàng rực. Xuyên qua khoảng cách giữa những cây ngô đồng có thể nhìn thấy tường thành Bắc cung và mấy tên lính gác. Võ Khố và bốn phía xung quanh cung Vĩnh An đều là những khu trọng địa của kinh sư, quan Chấp kim ngô hầu như ngày nào cũng phải tuần tra một vòng, trên đường tuyệt nhiên rất ít những người tản bộ.
Nhưng qua cung Vĩnh An, chuyển sang đường Vĩnh Hòa phía đông thành lại là một quang cảnh khác hẳn.
Những tòa lầu cao nhà lớn, phủ đệ của các quan viên một màu thanh nhã, xây dựng liền kề nhau thành một dãy, cột vẽ rường chạm, kéo dài mãi ra tận bên ngoài thành. Thỉnh thoảng lại có mấy gia đinh diện y phục đẹp dong xe ngựa đi lướt qua bên cạnh Tào Tháo và Lâu Khuê. Bọn chúng kẻ thì đi mua bán đồ dùng hằng ngày cho chủ, kẻ thì dong xe đi tiễn người nhà quan qua lại ra vào, kẻ thì đi đưa thư từ giấy tờ giúp chủ nhân, lại có kẻ chở những xe đầy vàng bạc châu báu, đưa đi đâu thì chả ai biết. Tào Tháo bỗng nhiên nhớ ra vòng qua một khúc quẹo nữa phía trước là phủ của Kiều Huyền, liền thuận miệng hỏi:
— Kiều công gần đây có được khỏe không?
— Vẫn khỏe luôn! Xương cốt còn rắn chắc lắm! Chỉ là gần đây bận rộn vô cùng. Ai ngờ ngài rút khỏi chức Tư đồ lại càng thêm bận! Trong phủ người qua kẻ lại tấp nập. Đến như Trần Cầu, Dương Tứ là những người vốn ít giao thiệp với bên ngoài cũng thường xuyên tới thăm hỏi. Sái Bá Giai tuy đã bị đuổi ra bên ngoài, nhưng cũng rất hay gửi thư đến. Lại còn Tư lệ Hiệu úy Dương Cầu, Thái thường khanh Trần Cáp tính cách trái ngược nhau thì dường như ở lại luôn trong phủ của thầy vậy.
Tào Thào không khỏi suy nghĩ: “Dương Tứ vốn là kẻ oán hận hoạn quan ra mặt; Trần Cầu là người ra sức tranh đấu lý lẽ cho Đậu hoàng hậu; Sái Ung là vì đấu chọi với hoạn quan mà bị trích biếm khỏi kinh sư; Dương Cầu xuất thân là kẻ khốc lại, ngay từ khi mới nhận chức ở địa phương đã công khai thề rằng phải giết Vương Phủ; Trần Cáp là đệ đệ của Quang lộc Đại phu Trần Thúc khi trước, nghe đồn rằng huynh trưởng Trần Thúc của ông ta bị hoạn quan ghét, nên bị Vương Phủ bức hại chết... Những người này ai cũng là kẻ thù sống chết của hoạn quan cả.”
— Sao thế? Mạnh Đức? - Lâu Khuê thấy Tào Tháo lặng im liền hỏi.
— Không có gì... là ta đang mải suy nghĩ, từ khi về kinh vẫn chưa qua phủ bái vọng ngài. - Thực ra trong tâm Tào Tháo sợ bị Kiều Huyền trách mắng về chuyện tranh đoạt đào hát.
— Cứ để qua ít bữa nữa rồi hãy nói chuyện ấy. Những đại nhân vật ấy ngày nào cũng đến, thầy cũng không có thời gian mà tâm sự đâu. Hơn nữa bọn họ toàn bàn đại sự, thân phận như huynh thêm khó xử... - Lâu Khuê nói nửa chừng thì ngừng lại không nói nữa.
Tào Tháo cũng không để ý, vừa đi vừa nói:
— Xem huynh nói kìa, ta chẳng qua chỉ hỏi thăm thôi, chả lẽ lại cản trở công việc gì của họ ư? - Vừa nói xong thì dường như cũng đã hiểu thâm ý của câu “thân phận khó xử”: “Những người này bàn bạc với Kiều công không gì ngoài chuyện đối phó với Vương Phủ, mà tổ phụ mình vốn là hoạn quan, còn phụ thân qua lại với Vương Phủ cũng thân cận gần như cùng phe, mình công nhiên đến bái yết sẽ khiến bọn họ sinh nghi, chẳng những nghi ngờ mình đi thám thính tin tức, không khéo bọn họ còn mất cả sự tín nhiệm đối với Kiều công.”
Tào Tháo cúi đầu, dáng vẻ trở nên vô cùng thương cảm, dường như có một mồi lửa đang thiêu đốt trong lòng:
— Tử Bá... ở quê nhà ta có một bằng hữu tên là Tần Thiệu, huynh ấy là nông dân nghèo khó. Có lúc nhà huynh ấy ngay đến cơm cũng không có mà ăn, phải nhờ nhà ta tiếp tế, nhưng từ sâu thẳm trong lòng, ta vẫn ngưỡng mộ cuộc sống của huynh ấy... Bây giờ ta thật sự không thấy chút hy vọng nào. Con người ta nếu có thể lựa chọn xuất thân của mình, ta sẵn lòng được sinh ra trong gia đình nông dân bình thường... Cuộc sống như thế tuy không giàu có gì, nhưng cấy hái cày bừa chí ít cũng không bị người khác coi thường...
— Mạnh Đức, xin lượng thứ, khi nãy ta cũng vô ý... thực ra huynh cũng cả nghĩ quá. - Lâu Khuê dừng bước nắm lấy vai Tào Tháo. - Con người ta đã sinh ra thì cần phải đối mặt với hiện thực, chỉ cần không hổ thẹn với lòng mình là được. Vương Tử Văn học hành đọc sách quên ngày quên đêm chỉ để tìm lấy một tia hy vọng; Hứa Tử Viễn cả ngày chạy đôn chạy đáo, kết giao với mọi người khắp nơi cũng chỉ để tìm lấy một hy vọng; ta chu du Tây Lương kỳ thực cũng như thế... Chỉ cần huynh làm được đúng, đi được thẳng thì cần gì để ý xem người ta nói đông nói tây những gì? Cứ làm tốt công việc được giao, sẽ có ngày lấy lại được thanh danh cho gia tộc, chấn hưng lại phong thái hào hùng của thừa tướng Tào Tham cho Tào gia của huynh! Huynh nay đã làm quan, với sự thông minh tài trí của huynh, lẽ nào ngày ấy còn xa nữa ư?
Tào Tháo gật gật đầu, bằng hữu rốt cuộc vẫn là bằng hữu, nói ra lại thêm khắc bạc, trong lòng vẫn còn thân thiết gần gũi lắm. Thường ngày tuy Tào Tháo hiếm khi qua lại với Lâu Khuê, Vương Tuấn, Hứa Du, nhưng vẫn có thể hiểu nhau, dường như còn gần gũi hơn so với đám người như Viên Thiệu. Tào Tháo ngẩng đầu thở ra một tiếng dài, lặng nhìn đình viện thâm u trong phủ đệ các vị cao quan ở bên đường...
Vừa lúc ấy, trước mắt có một đám đông dân chúng đang ồn ào tranh luận điều gì. Lâu Khuê vốn hay tò mò, vội dong ngựa lên trước ghé vào xem, Tào Tháo cũng chỉ còn cách đi theo đến.
— Giữa thanh thiên bạch nhật mà lại xảy ra chuyện như thế này!
— Không hiểu là đạo lý gì đây...
— Ban ngày ban mặt mà có cướp đến bắt người, lại còn dám vào tận nhà mệnh quan triều đình.
— Đúng đấy! Đây là trọng địa kinh đô dưới chân thiên tử cơ mà!
— Ôi trời! Thật đáng thương, đứa bé bị bắt ấy mới hơn mười tuổi, nếu bị chết thì chẳng phải là trái lẽ trời sao?
— Đúng vậy đúng vậy! Đã nửa canh giờ rồi, hiện tại đứa bé vẫn ở trong tay bọn chúng, nếu không đưa tiền cho chúng đứa bé chắc chắn chết thôi, đúng là ác nghiệt!
— Hừ! Làm quan thì có tiền, nhưng phần đa cũng chẳng phải nhờ tốt đẹp gì mà có, nay đem cho bọn cướp là phải rồi! Đi thôi! Chúng ta cũng đi xem xem sao!
Tào Tháo và Lâu Khuê nghe xong quay sang nhìn nhau, không ai dám tin giữa ban ngày ban mặt, tại chốn kinh sư lại có kẻ dám xông vào phủ đệ quan lại bắt người làm con tin để đòi tiền chuộc.
— Đó đúng là tin lạ! - Hai người cũng không lên tiếng, đi theo sau đám đông, vừa đi vừa nghe bọn họ bàn tán.
— Từ xưa quan với giặc cũng đều một giuộc, kẻ làm quan nên bỏ ra ít tiền mà ban phát cho thân thích nghèo khổ đi!
— Huynh chớ nói bừa, toàn những câu vớ vẩn chả ra sao cả!
— Gì chứ? Các huynh biết không, chỗ bọn chúng cướp là nhà quan tốt đấy.
— Quan tốt? Ai thế?
— Kiều đại nhân! Bọn ác tặc trời tru đất diệt ấy, thiên hạ bao nhiêu nhà tham quan vô lại thì không đến cướp, lại chọn nhà Kiều công trong như nước, sáng như gương ấy!
— Sao cơ? - Lâu Khuê nghe xong cũng chẳng quan tâm đến lễ tiết nữa, đẩy những người bên cạnh túm chặt lấy người vừa nói khi nãy. - Ngươi vừa nói gì? Nhà ai bị cướp?
— Là, là nhà Kiều lão Tư đồ Kiều Huyền... - Người ấy bị dáng vẻ to lớn của Lâu Khuê dọa cho phát khiếp. - Tiểu nhi tử của ông ấy bị bọn cướp bắt cóc, đang nhốt trên gác lầu trong phủ ông ấy.
Lâu Khuê cảm thấy như có tiếng sét nổ bên tai, quay lại nhìn Tào Tháo cũng thấy mặt mũi đã biến sắc từ khi nào. Hai người không kịp nói năng gì, vội nhảy lên lưng ngựa, cũng không để ý đến đám đông dân chúng, vung roi giật cương mặc bụi bay mù mịt, phi thẳng đến phủ đệ của Kiều Huyền.
Khoảng cách cũng không xa mấy, chớp mắt bọn Tào Tháo đã tới trước cửa Kiều Phủ, liền thấy đám đông những kẻ nhàn rỗi cùng các gia đinh vây bên ngoài cửa. Lâu Khuê cũng không nói gì, vung roi đánh cho đám người dạt ra, Tào Tháo theo sát ngay sau, hai người chạy thẳng vào cổng lớn rồi mới xuống ngựa. Khi đó Hứa Du đang chỉ huy một đám gia đinh tay cầm gậy gộc canh giữ ngoài cửa, anh ta đâu còn tâm tư mà hàn huyên nữa, túm ngay lấy tay Lâu Khuê:
— Thầy đang ở dưới gác Tây, mau đi theo tôi, Mạnh Đức cũng đi nào!
Xuyên qua mấy dãy hành lang, Hứa Du kể lại sơ lược sự tình:
— Hôm nay vốn có mấy vị quan ở ngoài và những môn sinh cũ ngày trước đến thăm Kiều Huyền, liền có ba tên cướp nhân khi đông đúc mạo nhận là môn sinh trà trộn theo đám người xông vào. Đúng lúc tiểu nhi tử của Kiều Huyền chạy ra sân chơi. Ba tên cướp liền đánh ngã người hầu, cướp lấy công tử, cùng rút lên trên gác Tây đánh tiếng, bắt trong phủ phải giao nộp vàng bạc đồng thời hộ tống bọn chúng ra khỏi thành mới trả lại con tin. Bọn chúng đứa nào cũng cầm đao lớn, nếu không đáp ứng sẽ giết người tức thì.
Ba người vội chạy đến dưới gác Tây, đã trông thấy một đám gia đinh vây kín xung quanh gác. Vương Tuấn đang đỡ Kiều Huyền đứng một bên. Kiều công trông không quá lo lắng, nhưng sắc mặt tái nhợt, ngẩng đầu nhìn cửa sổ trên gác, quan sát nhất cử nhất động của bọn cướp và con trai. Kiều Huyền có hai con trai và hai con gái, đại nhi tử là Kiều Vũ làm quan ở biên cương phía nam. Ai hay Kiều Huyền đã già nhưng tinh thần lại mạnh mẽ, hai phu nhân trắc thất liên tiếp có tin mừng: Một vị phu nhân sinh thêm một con trai, đến năm nay vừa tròn mười tuổi; một phu nhân khác năm ngoái sinh hạ được một cặp song sinh hai gái, cả phủ đều gọi hai tỷ muội sinh đôi ấy là Đại Kiều và Tiểu Kiều. Nhi nữ xinh đẹp khỏi cần phải bàn, Kiều Huyền vẫn đặc biệt yêu quý đứa con trai sinh trước, luôn dẫn nó theo bên mình, đích thân dạy nó đọc sách viết chữ. Cậu bé đó rất có cảm tình với bọn Vương Tuấn, Lâu Khuê.
— Kiều công! - Từ cửa sổ trên gác lộ ra một khuôn mặt dữ dằn. - Chúng ta cũng nghèo khổ không có cách nào khác, chỉ còn cách đến xin ngài chu cấp. Chỉ cần ngài đồng ý thưởng vàng cho chúng ta, đưa chúng ta ra ngoài thành, chúng ta nhất định sẽ thả người, không làm tổn hại đến một sợi lông tơ của công tử... Đứa nhỏ này của ngài đúng là rất đáng yêu! Lại đây! Lại nhìn phụ thân một chút nào! - Lại một tên cướp, trên mặt có vết sẹo, bế cậu bé ra trước cửa sổ. Đứa bé còn nhỏ, không hiểu xảy ra chuyện gì, nhưng cũng biết đang gặp nguy hiểm, bám chặt lấy song cửa mà khóc.
— Kiều công! Lão ngài đã nghĩ xong chưa. Chúng ta cần ba mươi cân vàng[9], ngài đường đường là bậc tam công, mà chút cỏn con ấy cũng không quyết được ư? - Tên cướp ấy vừa nói vừa vung vẩy đao trong tay.
Tào Tháo, Vương Tuấn, Lâu Khuê, Hứa Du đều lo lắng thót tim, chỉ thấy Kiều Huyền vẫn giữ bộ mặt ngây ra như cũ, nói lảm nhảm:
— Các ngươi đúng là gan to hơn trời, dám làm chuyện mặc cả này ngay dưới chân thiên tử, lão phu bội phục... Dù ta có đưa tiền cho các ngươi, chốn kinh sư binh lính nghiêm ngặt, kiếm được ba mươi cân này, mang theo trên người, các ngươi có thể trốn được nổi không?
— Ồ! Chúng ta đi thế nào không cần đại nhân phải bận lòng. - Tên cướp bật cười sằng sặc. - Đại nhân chỉ cần đưa chúng ta ra ngoài thành, chúng ta sẽ tự có cách.
Kiều Huyền gật gật đầu, bỗng nhiên ngửa mặt lên quát to:
— Ai sai khiến các ngươi đến đây? - Tiếng quát vừa vang lên chẳng phải nói bọn cướp trên gác, ngay những người dưới gác cũng giật mình. - Chốn kinh sư phòng vệ nghiêm ngặt, nếu không có người tiếp ứng che giấu thì dù có mọc cánh các ngươi cũng không bay ra khỏi đây được! Thêm nữa, các ngươi làm sao biết được hôm nay ta tiếp đãi các quan ở ngoài? Các ngươi làm sao biết rõ đường đi lối lại trong phủ ta như thế? Các ngươi làm sao tính toán được sẽ bắt cóc nhi tử ta chứ? Những việc này ai nói cho các ngươi biết? Nói mau! Ai sai khiến các ngươi đến đây? Nói ra thì ta hứa sẽ tha mạng cho các ngươi!
— Không hổ là Kiều Công... quả nhiên lợi hại! - Khi nói những câu này, thần sắc tên cướp ấy đã hơi tái đi. - Dù ngài nói cũng có lý, nhưng chúng ta nhận sự ủy thác của người ta, không thể nói cho ngài biết được... Còn không mau đưa tiền, chúng ta sẽ giết người thật đấy! - Vừa nói hắn vừa kề đao vào cổ đứa bé.
Những người dưới lầu đều hoảng hốt, có người kêu gào, có người chửi rủa, có người cầu xin. Một gia đinh chợt từ sân trước chạy lại:
— Lão gia! Dương đại nhân dẫn quân tới rồi!
Còn chưa dứt lời đã thấy quan binh cần gươm giáo xông đến trước lầu. Tư lệ Hiệu úy Dương Cầu hầm hầm giận dữ đi ngay phía sau, vừa đến gần lầu liền cất giọng hét to:
— Tên cẩu tặc nào gan to hơn trời đang ở trên lầu, mau thả công tử ra ngay! Quan binh đã đến đây còn không mau xuống lầu phục pháp! Bây giờ xuống đây thì ông đây sẽ tạm giữ cái mạng chó của các ngươi lại, nhược bằng dám dựa góc tường ngoan cố chống cự, ông sẽ vằm các ngươi thành tương! - Giọng nói vang như chuông đồng, khiến người khác phải chói tai ong đầu.
Tào Tháo từ lâu đã nghe danh Dương Cầu, nhưng không thể ngờ rằng lần đầu gặp mặt lại trong tình cảnh thế này. Thấy kiểu cách làm việc của ông ta, Tào Tháo mới hiểu những lời đồn đại bên ngoài đúng là không sai: Dương Cầu tự Phương Chính, từ thuở thiếu niên từng giết chết tên hương lại hạ nhục nhà ông ta, sau này làm quan nhận chức huyện lệnh Cao Đường, thỉnh thoảng lại dùng hình tra tấn phạm nhân đến chết. Sau thăng lên làm thái thú Cửu Giang, dùng hình giết bọn gian thần phản tặc lên đến hàng trăm, còn hơn cả Chất Đô, không kém gì Trương Thang, nửa đời làm quan là dẫm trên máu người mà đi lên, tiếng tăm tàn nhẫn cũng không thua Vương Cát - nghĩa tử của Vương Phủ - đúng thật là một kẻ khốc lại mặt sắt không hơn không kém!
Kiều Huyền quay đầu lại nhìn Dương Cầu, không lạnh lùng, cũng chẳng vồ vập, chỉ bảo:
— Phương Chính này, ông đến thật đúng lúc... bọn chúng bắt đầu tính sổ ta rồi.
Tào Tháo nghe chợt chột dạ: “Câu này là có ý gì?”
— Lão chính là tên Dương điên đó ư? - Tên cướp dường như cũng nhận ra ông ta. - Từ lâu đã ngưỡng mộ lão! Mấy chúng ta đều là kẻ để đầu giắt vào lưng quần cả, lão làm gì chúng ta cũng chả quan tâm đâu! Chuyện thả người là không thể, chúng ta mà rơi vào tay lão, thể nào lão chả moi ruột! Nếu thật sự không còn đường sống, hãy đem đứa bé này mổ ra, mấy chúng ta đâm đầu nhảy xuống tự vẫn còn được toàn thây, còn hơn rơi vào tay lão! Chớ phí lời nữa! Rốt cuộc các ngươi có nộp vàng hay không?
Dương Cầu nhíu mày, nhảy vội đến trước mặt Kiều Huyền bảo:
— Ta có cách này để bắt bọn chúng... nhưng công tử đang ở trong tay chúng, xin lão ngài bằng lòng cho ta được chủ trương. - Dương Cầu tuy nói nhỏ lại, nhưng giọng vẫn oang oang như thế.
— Ồ? Từ khi nào ông trở nên mềm yếu thế? Hôm nay tại sao lại lúng ta lúng túng vậy? Sợ ta không dám bỏ nhi tử của mình ư? Được rồi, ta sẽ cho ông một viên định tâm hoàn. - Nói xong, Kiều Huyền ngẩng phắt đầu. - Bọn cướp trên lầu nghe đây! Các ngươi tính toán sai rồi! Cả đời Kiều Huyền ta đã trải qua bao khó khăn nguy nan, nhưng trước nay chưa từng phải cúi đầu, há ta lại vì một nhi tử mà bỏ qua cho bọn quốc tặc các ngươi? Hôm nay ta bỏ nhi tử không cần nữa, cũng phải bắt các ngươi mà trị theo pháp luật!
Những người có mặt nghe xong đều điếng người, không thể ngờ rằng ngay đến tính mạng con trai ông ấy cũng không cần. Lần này Tào Tháo đã thực sự thấy được cốt cách của ông già đó, ngay đến Dương Cầu - kẻ giết người không ghê tay - cũng phải giật mình.
— Sao thế? Ông còn chưa hạ lệnh động thủ? Còn đợi gì nữa? Thằng bé cứ mặc tùy mệnh trời thôi! - Rốt cuộc lại là Kiều Huyền nhắc nhở Dương Cầu.
— Dạ! - Dương Cầu thi lễ, rồi quay lại kêu to, - Chúng bay đâu, xông lên cho ta! Xông lên cố hết sức bắt sống lấy! Cứu lấy cậu bé!
Ông ta vừa hạ lệnh một tiếng, hơn hai chục binh lính cùng hô một tiếng xông thẳng lên lầu. Trong khoảnh khắc, tiếng binh khí xô xát, tiếng gào thét, tiếng trẻ nhỏ khóc, tiếng chân chạy trên cầu thang, tiếng đồ đạc bị lật đổ hòa vào nhau thành một mớ hỗn độn. Bên ngoài lầu không trông thấy cảnh tượng bên trong, mọi người đều vô cùng lo lắng, Tào Tháo vội tiến lên hai bước, cùng đỡ lấy Kiều Huyền với Vương Tuấn, ông già nắm chặt lấy tay của hai người bọn họ, nhắm mắt lại chờ đợi tất cả kết thúc...
Một lúc sau, tất cả mọi âm thanh bỗng nhiên im bặt. Một tên binh trưởng chạy hộc tốc xuống lầu:
— Bẩm đại nhân! Chúng tiểu nhân đáng chết, cậu bé... cậu bé không bảo vệ được ạ.
Câu nói như dao nhọn khoét sâu vào tim Kiều Huyền, nhưng nét mặt ông chỉ thoáng giật giật, rồi cúi đầu không bận tâm đến gì nữa.
— Vậy còn bọn cướp đâu? - Dương Cầu hỏi.
— Ba tên cướp ấy thân thủ cũng không phải tầm thường, chúng tựa vào góc nhà mà chống cự, chúng tiểu nhân có hai huynh đệ bị chúng chém thương. Cuối cùng mọi người nhất tề xông lên, ba tên bọn chúng biết đột phá vòng vây là vô vọng, liền co cụm vào một chỗ tự vẫn rồi!
— Tự vẫn? - Dương Cầu vừa nghe xong thì nổi giận đùng đùng, đấm thẳng một quả vào mặt tên binh trưởng. - Chúng bay đúng là lũ vô dụng!
— Phương Chính! Chớ trách bọn chúng. - Kiều Huyền vẫn bình tĩnh. - Chuyện này không trách bọn chúng được, binh lính ông dẫn đến làm gì có người nào kém cỏi? Chỉ là đứa con ta mệnh yểu, lại đầu thai vào cửa nhà ta đây... Ba tên cướp ấy rõ ràng là bị người ta sai khiến, sao có thể để cho chúng ta bắt sống được chứ? - Vừa nói ông vừa thở dài. - Ôi... bảo đám binh sĩ đem mấy cái xác ấy đi đi. Phương Chính, hôm nay ông vất vả quá. Tư lệ đại nhân phải đích thân đến bắt giặc bắt cướp, ta nợ ông ân tình này!
Dương Cầu nghe xong chỉ một mực lắc đầu:
— Đáng hổ thẹn, đáng hổ thẹn.
— Đừng tự trách mình nữa, chúng ta đều đã cố hết sức rồi. - Kiều Huyền lại là người an ủi người khác. - Quản gia đâu? Dẫn theo mấy người lên lầu đưa tiểu thiếu gia của các ngươi... xuống đây đi.
Ông vừa nói thế, quản gia không thể nén lòng được nữa, lập tức là người đầu tiên quỳ thụp xuống đất rồi há miệng khóc rống lên, rồi tiếp theo bọn gia đinh, người ở, nha hoàn, vú nuôi cũng đua nhau gào khóc. Kiều Huyền vẫn không rơi một giọt nước mắt, khiến Tào Tháo muốn nói mấy câu an ủi mà không biết phải mở miệng thế nào.
— Phương Chính, ông cũng mau dẫn quân lên lầu, mau lôi thi thể ba tên đó đi, ta không muốn trông thấy chúng nữa. Những việc còn lại ta có thể xử lý được... Mạnh Đức! - Kiều Huyền ngoảnh đầu sang bên nhìn tên hậu sinh đang đỡ mình. - Cậu có thể đến giúp đỡ, ta thật cảm kích. - Tào Tháo vừa định cất lời nói mấy câu khách khí, đã nghe thấy Kiều Huyền đổi giọng bảo, - Nhưng Mạnh Đức này, tại sao cậu có thể rời bỏ chức trách của mình mà đến đây?
Tào Tháo dường nghe sấm nổ bên tai, vội vã cúi đầu.
— Cậu hiện đã là quan, quản giữ công việc bắt trộm bắt cướp ở khu phía bắc Lạc Dương, nếu hôm nay việc này xảy ra ở khu vực cậu quản lý thì hậu quả sẽ thế nào? Nếu bọn cướp bắt giữ con ta đi ra cửa thành phía bắc mà cậu lại không có ở nha môn thì đó chẳng phải sẽ là lỗi lầm lớn sao?
Tào Tháo không thể ngờ được, chút việc ấy cũng không qua nổi mắt của Kiều Huyền.
— Ta không có ý trách cứ cậu, chỉ muốn cho cậu suy nghĩ một chút. Làm quan không nên phân biệt lớn nhỏ nặng nhẹ, điều quan trọng là phải dụng tâm công chính, làm việc nghiêm túc. Ta nói có đúng không? - Kiều Huyền nhìn thẳng vào mắt Tào Tháo. - Được rồi, cậu cũng mau chóng trở về đi... Tử Bá, Tử Viễn, hai ngươi đi tiễn Mạnh Đức đi.
Tào Tháo nói lời từ biệt, rồi theo Lâu Khuê, Hứa Du lẳng lặng đi ra. Nửa ngày nay mọi người đều lo lắng vất vả, lúc này mới nhận ra trời đã xẩm tối, từng cơn gió lạnh thổi qua. Tào Tháo xoa xoa tay, lại ngoảnh đầu nhìn về phía Kiều Huyền.
Kiều Huyền vẫn chống gậy đứng đó, ngẩng đầu nhìn lên phía cửa sổ trên lầu - đó là chỗ mà nhi tử vẫy tay với ông lần cuối.
❀ ❀ ❀
[1] Nam quân thất thự là vệ sĩ bảo vệ hoàng cung: Ngũ quan trung lang tướng, Hữu trung lang tướng, Tả trung lang tướng, Hổ bôn trung lang tướng, Vũ lâm trung lang tướng, Vũ lâm tả giám, Vũ lâm hữu giám.
[2] Người thiện có đức cao thì tựa như nước. Nước khéo làm lợi cho vạn vật mà không tranh với vật nào.
[3] Đạo sâu xa tựa như tổ tông vạn vật, làm bớt sắc nhọn, tháo gỡ rối rắm, hòa ánh sáng cùng với bụi bặm.
[4] Bậc trị dân giỏi nhất thì dân chỉ biết có vua như vậy, nhưng bậc trị dân kém hơn một bậc thì dân lại yêu quý và ngợi ca.
[5] Thiên tử khi phê thị, đóng dấu chiếu thư có sáu loại ấn tỷ, gồm hoàng đế hành tỷ, hoàng đế chi tỷ, hoàng đế tín tỷ, thiên tử hành tỷ, thiên tử chi tỷ, thiên tử tín tỷ. Cách dùng của mỗi loại là khác nhau, hoàng đế hành tỷ chuyên được sử dụng để phê thị những chiếu thư hành chính thông thường. Sáu loại ấn tỷ này còn kết hợp với bảo tỷ truyền quốc ( chỉ mang tính tượng trưng), gọi chung là “thất tỷ”.
[6] Chỉ bà Thái Nhậm. Mẹ Chu Văn Vương và bà Thái Tự, mẹ Chu Vũ Vương. Hai bà được xem là khuôn mẫu của các hậu phi hiền đức thời xưa.
[7] Phục Sinh, người Tế Nam, sinh vào thời nhà Chu Noản Vương, đã giấu Thượng thư vào trong bức vách mà tránh được họa đốt sách, chấm dứt những tranh cãi xung quanh vấn đề căn bản Thượng thư. Vì vậy dân Đông Châu kính trọng gọi Phục thị, tính từ đời Phục Sinh đến hoàng hậu Phục Thọ, dài hơn bốn trăm năm, là “Phục bất đầu”.
[8] Bá Nhạc, người thời Xuân Thu, nước Tần, giỏi xem tướng ngựa, về sau tên ông thường dùng để chỉ người giỏi phát hiện, tiến cử nhân tài.
[9] Mệnh quý là phải từ bần hàn mà nên.