Tào Tháo về kinh

Tào Tháo - Thánh Nhân Đê Tiện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 394 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi Thứ 17
Bắt Đầu Cuộc Tranh Giành Mới Trong Cung Đình

❊ ❊ ❊

Năm Quang Hòa thứ ba đời Hán Linh Đế (180 SCN), sau khi đại hoạn quan Vương Phủ - kẻ đã nhiều năm lộng quyền - bị lật đổ và tiêu diệt, Tào Tháo hai mươi sáu tuổi cũng nhờ thông hiểu cổ học, lại lần nữa được triều đình vời ra làm quan, chuẩn bị từ biệt thê nhi ở quê nhà, lên Lạc Dương nhận chức Nghị lang - trở thành cố vấn cho Hán Linh Đế Lưu Hoành. Chức vụ ấy trên danh nghĩa tuy vinh dự cao quý, nhưng lại là một chức chẳng có chút thực quyền nào cả.

Trước hôm từ biệt quê nhà ở quận Tiều[1], đất Bái, Tào Tháo chơi đùa với đứa con còn đang quấn tã - Tào Ngang một lát. Cảm giác nhàn nhã tới phát chán, bèn kéo Tào Đức, rồi lại tìm người bạn thân là Đinh Xung đi đá cầu.

— Lần này ta đi Lạc Dương, không biết bao giờ mới lại được về đây. Nào, chúng ta cùng đá cầu một trận cho thỏa đi!

Khi ấy, dù đang là buổi cuối thu nhưng Tào Tháo chạy qua chạy lại, chừng nửa canh giờ thì mồ hôi đã túa ra như tắm, toàn thân đau mỏi. Trông thấy quả cầu thêu bay lại như tên bắn trên lưng trời, Tào Tháo nắm ngay lấy cơ hội, lại đá một quả “móc ngược mũ tử kim”[2].

Tào Đức hốt hoảng, chạy nhanh đuổi theo đến mãi xa, mà vẫn không đón được, quả cầu bay vù vào truông rậm không thấy đâu nữa. Hai tên nô bộc là Tần Nghi Lộc và Lâu Dị trông thấy, vội chạy vào truông tìm. Đinh Xung bèn thôi, thở hổn hển ngồi bệt xuống đất, lôi từ trong bụng ra bầu rượu dốc lấy dốc để. Tào Tháo cởi áo, tay chống mạng sườn ha hả cười lớn:

— Mấy người kém quá đi mất!

Tào Đức vừa thở vừa lắc lắc đầu:

— Toàn những người gần ba chục tuổi đầu cả rồi, thể lực không bằng được thuở thiếu niên nữa.

Kỳ thực Tào Tháo cũng đã thở dốc, nhưng vẫn cố ưỡn lưng bảo:

— Chớ nói những câu thoái chí như vậy... Khổng Tử nói “tam thập nhi lập”, đó mới là tuổi lập công dựng nghiệp. Lần này ra nhận chức Nghị lang, ta sẽ phải làm lại từ đầu.

Dưới bóng cây bên rừng, hai vị phu nhân Đinh thị và Biện thị đang ngồi trò chuyện.

Đinh thị ôm trong lòng nhi tử Tào Ngang mới sinh chưa được nửa năm, kỳ thực thằng bé không phải đích thân nàng sinh ra, mẫu thân của nó là Lưu thị vốn là nha hoàn của Đinh thị, là tiểu thiếp của Tào Tháo. Vì sinh nhi tử khó sinh này mà nàng phải chết, trước khi qua đời nàng đã đem Tào Ngang phó thác cho Đinh thị. Đinh thị hết lòng quan tâm, thực sự đã coi thằng bé là con ruột của mình, chỉ tiếc là không có sữa cho nó bú mà thôi. Biện thị vốn xuất thân là ca nữ, nếu đem so sánh khí chất với người mẹ hiền vợ đảm Đinh thị thì hoạt bát hơn nhiều, nàng cầm chiếc quạt lụa tròn, lặng lẽ chăm chú dõi theo mấy người đang đá cầu.

Tào Tháo lại đá bay quả cầu thêu, rồi nhanh chân rảo bước lại phía hai người bảo:

— Nóng chết mất... Ôi trời! Mấy tiểu tử kia kém quá!

Đinh thị nhướn mắt nói:

— Người ta vốn không biết đá cầu, ra đây chủ yếu là để chàng giải sầu thôi, thế mà chàng còn chê bai. Hiện nay sản nghiệp trong nhà cũng đã nhiều rồi. Nhận được thư của cha, Đức nhi huynh đệ vừa mua nhà cửa lại mua đất đai, chàng cũng chẳng biết đường mà giúp đệ ấy. Ngày mai đi rồi, mà còn không làm chút việc cho ý nghĩa. Trời nóng thế này còn lôi kéo mọi người ra bắt phải tội với chàng, đúng là phiền phức quá! - Vừa nói nàng vừa vỗ vỗ đứa bé trong lòng. - Ngang nhi, Ngang nhi nghe mẫu thân nói, lớn lên rồi không được học theo phụ thân con như thế đâu...

Biện thị ngồi bên cười bảo:

— Tỷ tỷ à, lang quân sắp phải đi xa rồi, tỷ tha cho lang quân đi.

Tào Tháo cầm vạt áo, lau mồ hôi trên mặt, Đinh thị trông thấy lại nói:

— Chàng cũng thật chẳng biết thương người, đều là mấy người làm cha cả rồi, mà chẳng nghiêm túc chút nào, y phục đâu phải để cho chàng lau mồ hôi? Chàng không phải giặt y phục nên chẳng bao giờ để ý gì cả.

Tào Tháo chau mày nói:

— Nàng sao thế? Ở nhà nhắc nhở ta một vài câu chẳng nói làm gì. Vừa ra ngoài được một bữa mà nàng lại nói nhiều thế, ta không được lau mồ hôi ư?

Đinh thị chỉ chăm chú đến hài nhi, chẳng để ý đến Tào Tháo nữa, Biện thị bèn bảo:

— Phu quân, chàng đúng là không hiểu ý gì cả. Chỉ là tỷ tỷ không muốn để chàng đi đấy thôi!

Tào Tháo im lặng ngồi xuống, thở dài: Hoàng đế Lưu Hoành dưới sự cổ võ của hoạn quan Vương Phủ đã phế truất Tống hoàng hậu, đổi lập Hà hậu. Tống thị bị chụp cho tội yểm bùa mưu phản, Tào gia vì kết thân với Tống thị nên cũng bị liên lụy theo, không những quan chức cả tộc bất kể lớn nhỏ đều bị bãi quan, mà ba vị thúc thúc là Tào Xí, Tào Đỉnh, Tào Dận còn nối nhau qua đời. Cuối cùng nhân Tào Tung - phụ thân của y, nhờ vả được đại hoạn quan Tào Tiết giúp sức, mới minh được vụ án oan. Triều đình lại nhân bởi Tào Tháo thông hiểu Kinh thi, có thể làm sáng rạng cổ học, nên đã cho vời vào triều nhận chức Nghị lang. Trong chuyện ấy, Kiều Huyền đã giúp sức rất nhiều. Đến nay Tào Tháo cũng đã là kẻ làm phụ thân, vậy mà hy vọng trên con đường sĩ hoạn vẫn cứ mịt mù như thế.

Phu nhân Đinh thị nghe thấy Tào Tháo thở dài, ngẩng đầu lên nói:

— Thời buổi bây giờ càng không thể so được với ngày xưa. Ngày xưa nhà ta làm quan to như thế, đến nay chỉ còn mỗi mình cha, lại không có thế lực nữa. Chức Nghị lang nhỏ mọn của chàng cũng khó làm.

— Học tốt nghề văn võ, đem bán nhà đế vương. Khổng Tử còn nói: “đợi giá mà bán.” Tuổi tác của ta bất kể thế nào, cũng phải mưu tính cho tương lai mới được. - Tào Tháo cầm vạt áo làm quạt mà quạt.

— Thiếp có nói không cho chàng đi đâu? - Đinh thị lườm Tào Tháo. - Thiếp chỉ bảo chàng cẩn trọng! Nếu chàng lại gây họa như trước kia, thì cả nhà chúng ta biết làm thế nào đây? Ôi muội muội của thiếp đã chết rồi...

Tào Tháo nghe thấy Đinh thị khóc Lưu thị, vội vàng khuyên bảo:

— Nàng làm ồn lên làm gì? Bảo ban ta thì làm sao mà phải đến khóc lên như thế?

Biện thị cũng nói:

— Tỷ tỷ đừng khóc, chẳng phải cha đã được phục nguyên chức cũ rồi sao? Phu quân chúng ta lại cũng có bản lĩnh, sao phải lo tương lai không có tiền đồ tốt đẹp? Chúng ta cứ ở nhà hy vọng cho chàng là được! Chàng có không làm nên gì đi chăng nữa, thì đó cũng là số mệnh, có lo lắng cũng chẳng giải quyết gì được! Tính khí của chàng thế nào, ra ngoài thì mình cùng không quản nổi. Chúng ta lo lắng thì có tác dụng gì đâu? Đấng nam nhi chí ở bốn phương, cứ để chàng ra ngoài dấn bước thôi!

Tào Tháo cười, nói với Đinh thị:

— Tôi nói bà này, bà có nghe rõ không? Cô tiểu muội này của bà đúng là có kiến thức đấy. Có hiền thê như thế, thì trượng phu lo gì không chết vì can gián?

— Chàng chớ nói lung tung! - Hai lão bà cùng nhíu mày.

Trong lúc mọi người trò chuyện, Tào Đức cũng đã đi đến nơi, hai tay trống không, không tìm thấy quả cầu đâu, lắc đầu bảo:

— A Man, huynh giỏi thật đấy! Đây đâu phải là đá cầu nữa, mà là chơi trốn tìm thì có, đệ không tìm nữa đâu. Đệ thấy chúng ta nên nghỉ đi, ngày mai huynh phải lên đường rồi, chúng ta về nghỉ thôi.

Tào Tháo đứng lên chăm chăm nhìn đệ đệ, nói:

— Tử Tật, đệ nói xem, chức Nghị lang này của ta nên nhìn nhận thế nào?

— Đệ đâu có làm quan, làm sao biết được nhiều việc của huynh thế?

— Hiền đệ, đệ không làm quan, nhưng đệ đọc sách nhiều hơn ta. Đệ nói xem, có cuốn sách nào chuyên để cho người làm quan đọc không?

— Sách cho người làm quan đọc... - Tào Đức cười. - Nếu làm quan thật sự có bí quyết thì cũng chẳng truyền ra ngoài đâu, chỉ có tự mưu tính lấy con đường sĩ hoạn của mình thôi.

— Ầy dà... hoàng thượng cũng thật quá hẹp hòi, vời ta từ xa xôi thế này về triều, mà lại chỉ cho cái chân Nghị lang cỏn con ấy.

— Đều là vì tiếng tăm của Tào gia ta không được tốt. - Tào Đức cúi đầu thật thấp. - Nếu theo sử sách các nhà thì từ vời ra làm Nghị lang đến khi nhận chức cửu khanh, nhanh nhất chỉ mất nửa năm. Nhà ta thì đừng mong được vậy, ngay chuyện huynh về làm quan trong triều cũng khiến người ta nhảy dựng lên rồi. Ngay cả phụ thân chúng ta, đã ở ngôi cửu khanh hơn mười năm rồi, một bước nữa là lên hàng tam công, nhưng nào có bước được một bước ấy.

Tổ phụ Tào Đằng của Tào Tháo là hoạn quan, khi xưa nhân vì giúp sức cho ngoại thích Lương Ký đón Hiếu Hoàn đế lên ngôi mà tiếng xấu truyền xa. Kỳ thực chuyện ấy cũng coi như xong, nhưng phụ thân của Tào Tháo - dưỡng tử của Tào Đằng - là Tào Tung lại không tu sửa tài năng đức độ, suốt ngày chỉ đi theo nịnh nọt đám hoạn quan. Hồi đầu vào hùa với đại hoạn quan Vương Phủ, kết quả là theo đuôi ngựa lại bị ngựa đá, bị một vố ngã đau. Sau này lại phục hồi được, tuy là chuyện tốt nhưng cũng bởi nhờ vào quan hệ với đại hoạn quan Tào Tiết. Chuyện ấy luôn khiến huynh đệ Tào Tháo trong lòng buồn bực.

Tào Tháo gật gật đầu nói:

— Không có xuất thân, lại chẳng có người dẫn dắt, thì biết xoay xở thế nào?

Tào Đức vừa nghe thấy chợt bật cười:

— Huynh, huynh là người thông minh, mà chút đạo lý ấy lại không biết ư? Để đệ nói cho huynh nghe. - Nhưng lại chẳng nói gì, quay đầu ra phía bìa rừng gọi to. - Nghi Lộc! Nghi Lộc! Ngươi ra đây đi!

Vừa nghe thấy tiếng gọi, Tần Nghi Lộc vội vàng chạy ra, hớt hải đến chỗ hai huynh đệ họ:

— Đại gia, nhị gia... ngài có gì dạy bảo?

— Đá cầu ngày rét mướt thế này, lại có kẻ nói huynh đệ chúng ta bất nhã, ngươi nói xem như thế có được không?

Tần Nghi Lộc cười bảo:

— Làm sao mà bất nhã chứ? Hai ngài cứ vui vẻ là được rồi! Việc này thánh nhân đã nói rồi, “yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu”[3] đấy thôi. Hai huynh đệ ngài thích “cầu” như vậy, thế lại chẳng phải là quân tử ư? Người nào nói hai ngài bất nhã, là nói bậy nói bừa đấy ạ.

— Ha ha ha... - Mọi người chẳng ai không cười lớn. - Câu “quân tử hảo cầu” nói hay lắm!

Tào Đức quay sang nhìn huynh trưởng, lại nói với Tần Nghi Lộc:

— Ngươi có biết ai nói lời bất nhã ấy không? Là phụ thân của chúng ta nói đấy.

— Là lão gia nói ạ! - Tần Nghi Lộc giật nảy mình, lắp bắp nói, - Vậy, vậy... vậy là lão gia nói đúng rồi! Đá cầu cũng phải nghiêm túc đoan chính, cởi áo kéo quần thế này cũng không hay lắm. Tuy mấy gia quyến nữ đều là người trong nhà, nhưng vẫn phải giữ ý một chút mới được!

Tào Tháo cười nhạt:

— Hừ! Thế nếu huynh đệ chúng ta nói được, phụ thân ta nói không được, thì ngươi thấy ai nói đúng?

— Việc này... - Tần Nghi Lộc quỳ thụp xuống. - Tiểu nhân có là cái thá gì chứ! Làm sao dám quản chuyện trong nhà của chủ nhân? Lời tiểu nhân nói ngài có để vào đâu, chớ hỏi tiểu nhân nữa ạ.

Tào Đức vội xua tay:

— Thôi đi đi, đi đi! - Đợi khi gã đi xa rồi mới nói với Tào Tháo, - Huynh trưởng, huynh đã thấy chưa? Đó chính là cái đạo làm quan. Kiểu lựa ý nói tốt như vậy chính là trò nằm lòng của tên Tần Nghi Lộc. Cái chức Nghị lang mà huynh đảm nhận, khi gặp việc mà huynh chống đối lại người khác, người ta sẽ cho là huynh nhiều chuyện. Chỉ cần huynh chịu thuận ý mà nói, còn ai có thể khiến huynh phiền lòng nữa? Huynh à, trước đây huynh đã thể hiện quá lộ liễu rồi.

Tào Tháo nghĩ ngợi một lát, rồi lắc lắc đầu:

— Tuy nói như vậy, nhưng thấy nghiêng mà không đỡ, thấy nguy mà không cứu, thì còn dùng đến chức vụ kia làm gì?

— Huynh à, huynh phải xem đương kim thánh thượng hiện nay là người như thế nào, nếu là người sáng suốt như Văn đế, Cảnh đế, huynh có thể trái ý mà không sợ. Còn nếu là người tàn bạo như Hiếu Võ đế, thì huynh chỉ có thể thuận theo mà thôi!

— Câu này của đệ không đúng, nếu là vị vua ái nam sắc như Hiếu Ai đế thì chẳng lẽ ta lại phải chủ động hiến thân cho ông ta ư? - Tào Tháo vừa nói vừa liếc nhìn Biện thị, khiến Biện thị buồn cười.

Tào Đức than thở:

— Lần này không được nữa thì cũng thôi... Lâu Dị! Lâu Dị!

— Nhị gia, xin đợi con một lát! - Lâu Dị đáp lời, nhưng mãi lâu sau mới từ trong truông chui ra. Quần áo trên người bị cào rách nát cả, hình như còn bị trẹo chân, nhưng đã tìm thấy quả cầu thêu. - Nhị gia, tìm thấy cầu rồi đây ạ!

Tào Đức lại nói với huynh trưởng:

— Huynh có thấy không? Như thế này cũng được, chẳng nói chẳng rằng chỉ chăm chú làm công việc mà mình gánh vác, không khoe công, không nói nhiều, người ta có chỗ nào hay cũng không thèm để mắt. Ví như chức Nghị lang ấy của huynh, có công việc thì cắm đầu làm, không cần biết người khác nói gì, như thế cũng có thể được thăng chức.

Tào Tháo lại lắc đầu:

— Thế cũng không hay, tuy mình chẳng chèn ép ai, nhưng cũng không thể để người khác chèn ép mình. Cứ cúi đầu làm việc đến tối tăm mắt mũi, thì còn biết đến cái gì khác nữa? Công việc được giao, làm không xong thì tội lỗi ở mình, làm xong rồi vẫn không được người ta khen ngợi. Chuyện ngu ngốc như vậy ta cũng không làm.

— Đại ca, thế này cũng không được, thế kia cũng không được, vậy huynh nghĩ thế nào?

Lần này đến lượt Tào Tháo gọi người:

— Đinh Xung! Con sâu rượu kia, buổi chiều thế này, uống rượu làm gì? Đá cầu đi!

Đinh Xung chẳng buồn quay đầu lại, lắc lắc bầu rượu trong tay bảo:

— Tôi thích uống thì uống! Huynh quản làm sao được?

Tào Tháo cười nói:

— Tử Tật, đệ nghe thấy chưa? Đó mới là điều ta muốn làm đấy.

Tào Đức ngạc nhiên, hồi lâu mới lắc đầu bảo:

— Đó không phải là cái đạo của kẻ ăn bổng lộc... Chúng ta về nhà đi.

— Đợi đã! - Tào Tháo túm lấy quả cầu thêu Lâu Dị mới tìm lại được, đá mạnh một cú, chỉ thấy quả cầu bay tít đi xa, lại bay vào trong truông. Tào Tháo cũng kêu lên theo, - Đi thôi! Chúng ta về nhà nào! Tần Nghi Lộc đi tìm quả cầu đi, không thấy thì không cho về nhà!

Vì có phụ nữ, nên mọi người đi trên hai chiếc xe, cười cười nói nói đã về đến trang viên Tào gia. Giờ đây Tào gia đã khác rồi, sau khi Tào Tung nếm trải quả đắng sự vấp ngã, đã đưa Tào Đức một số tiền lớn, bảo y mua ruộng đất nhà cửa, tích tụ gia tài, để phòng khi bất ngờ cần đến. Tào Đức liền trở thành địa chủ một vùng, dựng tường vây, trồng hàng rào, rất nhiều việc còn chưa xử lý xong. Tào Tháo không thích việc làm ăn như thế, xuống xe liền chui ngay vào sân nhà mình, vừa vặn trông thấy tiểu cữu tử Biện Bỉnh đang thổi sáo cho Hoàn nhi nghe, liền cắt ngang:

— Tên tiểu tử này lại đã vào đây rồi. Ngoài sân còn bao nhiêu việc kia kìa, nhị ca của ngươi đang bận tưởng chết đấy, không ra mà giúp một tay à?

Biện Bỉnh cũng như tỷ tỷ Biện thị vốn xuất thân là người ca hát mãi nghệ.

Nghe thấy câu ấy, Hoàn nhi vội vàng lánh đi, Biện Bỉnh cất cây sao nói:

— Đệ đến tìm tỷ phu đây, có chuyện này muốn nói với huynh.

— Tiểu tử ngươi thì có chuyện gì?

— Hôm trước đệ có lên quận, đưa ít đồ đạc cho Hạ Hầu Nguyên Nhượng (Hạ Hầu Đôn), khi ở chỗ huynh ấy có nghe người ta nói, đại hoạn quan Tào Tiết chết rồi.

— Sao? Lại có chuyện tốt như thế ư? - Tào Tháo cười: “Tào Tiết chết rồi, giữa nhà mình với hoạn quan sẽ không còn dây mơ rễ má gì nữa, sau này có thể có tiếng tăm tốt rồi.”

— Đúng là chết rồi, hoàng thượng đã truy phong cho ông ta là Xa kỵ Tướng quân.

— Sao? Danh hiệu Xa kỵ Tướng quân như thế mà có thể truy phong cho một tên hoạn! - Tào Tháo hơi tức giận. - Tào Tiết có công lao gì chứ, bè đảng với Vương Phủ, hại nước hại dân, gian thần như thế còn phong ông ta làm Xa kỵ Tướng quân. Dù có vào sinh ra tử nơi biên ải cũng còn chưa được tước vị cao như thế ấy chứ!

— Huynh cũng chớ nên tức giận, thói đời bây giờ có tức giận cũng chẳng làm gì được! Tỷ phu, ngày mai không có việc gì, đệ tiễn huynh lên kinh nhé!

— Không cần đệ đi! - Tào Tháo tức giận hầm hầm nói.

— Tỷ phu, lần này huynh đi có đưa gia quyến theo không?

— Không đưa.

— Thật không đưa ư?

— Sao đệ cứ hỏi vặn như bà già thế? Đã nói không đưa là không đưa. - Tào Tháo nói xong câu ấy, Biện Bỉnh vui sướng không cầm lòng được, vỗ tay đi ra.

Tào Tháo đang lấy làm lạ, thì thấy phu nhân Đinh thị đi tới nói:

— Cậu ấy sợ chàng đưa Hoàn nhi đi theo! Người ta ai cũng đều có kẻ để thương nhớ, chỉ mình chàng chẳng biết thương nhớ ai bao giờ.

— Nàng ơi, - Tào Tháo cười nói. - Đêm nay ta qua chỗ nàng nhé. Lần này ta đi, không được nghe nàng giáo huấn nữa, e là sẽ không quen được mất!

— Chàng cứ đi việc chàng! - Đinh thị cười bẽn lẽn, quay người chực đi. Tào Tháo túm lấy tay nàng bảo:

— Nàng ơi! Nhà ta đây phó thác cho nàng tất cả đấy.

Đinh thị thở một hơi dài:

— Chàng cứ đi! Cánh tay có dài tới đâu cũng không giữ được trái tim của chàng đâu!

Sáng sớm hôm sau, Tào Tháo chỉ dẫn theo hai người tùy tòng là Tần Nghi Lộc và Lâu Dị, rời khỏi huyện Tiều, đi đến Lạc Dương. Hồi trong nhà gặp hoạn nạn phải qua lại nhiều cũng đã quen, ba người không ngồi xe, chỉ cưỡi ngựa, chạy đến Lạc Dương đúng là nhanh như tên bắn. Đêm ngày không nghỉ, mất có hai ngày đã đến Lạc Dương rồi.

Từ khi rời kinh đến nay đã hơn một năm, phố phường phồn hoa vẫn y như cũ, nhưng không còn như trước kia nữa, hiện giờ thân phận của mình đã trong sạch rồi, nhờ thông hiểu kinh sách mà được cử làm quan, lại thêm gia tộc không còn dính dáng gì tới hoạn quan nữa, có thể nói là ung dung tự tại. Ruổi ngựa đến dinh quan Tào thị ở ngõ Vĩnh Phúc phía đông thành, từ xa đã trông thấy hai cỗ xe nhà quan đậu trước cửa nhà. Gia nhân vừa thấy đại thiếu gia trở về, vội vàng chạy vào bẩm báo. Lâu Dị, Tần Nghi Lộc sắp xếp đồ đạc, Tào Tháo thì vội vã đến thư phòng gặp phụ thân - chuyện bí mật trên quan trường của Tào Tung rất nhiều, nên phàm tiếp khách đều ở trong thư phòng, mà không bao giờ tiếp ở khách đường.

Tào Tháo vừa đi đến cửa thư phòng, chợt nghe thấy tiếng phụ thân trong phòng:

— Tào lão công công chết đi, sau này chỉ có thể trông chờ vào Trương đại nhân và Triệu đại nhân hai ngài mà thôi.

Tào Tháo cảm thấy vô cùng kinh ngạc, thò đầu vào nói:

— Phụ thân! Con về rồi ạ!

— Ồ! Mau vào đi, mau vào đi! - Tào Tung vội gọi Tào Tháo vào. - Tại hạ xin giới thiệu với hai vị, đây là khuyển tử Tào Tháo, Tào Mạnh Đức.

Tào Tháo bước vào vái chào, ngẩng đầu lên mới thấy trong phòng có hai vị quan viên đang ngồi, đều độ hơn bốn mươi tuổi, dáng điệu ung dung, mặc y phục thường ngày, nhưng trông có vẻ hơi khác biệt.

— Hổ phụ làm gì có khuyển tử chứ!

Tào Tháo vừa nghe họ nói, giọng nghe the thé - Lại là hoạn quan! Không có râu!

Tào Tung cười híp mắt giới thiệu:

— Hai ngài đây là Triệu đại nhân, Trương đại nhân, là người kề cận bên hoàng thượng, con cũng nên biết mới được!

Tất nhiên Tào Tháo đã từng nghe danh đến hai hoạn quan Trương Nhượng, Triệu Trung rồi. Năm xưa khi cấm cố đảng nhân, thì hai vị hoạn quan này cũng chưa có công tích gì trong chuyện ấy. Tuy họ không chuyên quyền hống hách như hai lão giặc thiến Vương Phủ, Tào Tiết, nhưng cũng tuyệt chẳng phải hạng tốt đẹp gì.

Triệu Trung cười nói:

— Tào công tử chính là Lạc Dương huyện úy mà năm xưa đã dùng gậy đánh chết Kiển Đồ đây phải không?

— Chính là tại hạ ạ. - Tào Tháo luôn nói đầy vẻ khách sáo.

— Nghe nói là vời ra làm Nghị lang phải không? - Triệu Trung nửa cười nửa không.

— Dạ phải.

— Lão Kiều Huyền lại vì nước tiến cử không ít hiền tài, Trần Ôn, Bào Tín, lại còn cả Tào Mạnh Đức cậu nữa! Đều là những người Kiều Huyền tiến cử... - Triệu Trung nói đến đó liền ý tứ quay đầu liếc nhìn Trương Nhượng, Trương Nhượng hiểu ý gật gật đầu.

Trong lòng Tào Tung đã rõ như ban ngày, Kiều Huyền tuy đã từ quan, nhưng trước đây vốn là người sống chết đối đầu với cánh hoạn quan, nhi tử của mình vừa đến đã bị bọn họ nhắm vào rồi. Ông vội vàng cười nói:

— Ôi chao! Xem ngài nói kìa! Chẳng phải ai tiến cử cũng đều là người của triều đình sao? Đã là lo việc cho nhà vua, thì tránh sao được phải nhờ cậy hai ngài quan tâm giúp đỡ chứ!

— Không dám, không dám! - Trương Nhượng xua tay khiêm nhượng.

Tào Tung quay người, cũng không biết móc ra từ chỗ nào hai chiếc hộp gấm nhỏ, đưa lên chỗ Trương Nhượng, Triệu Trung nói:

— Đây có chút lễ mọn, không đáng giá gì, xin hai ngài nhận cho để chơi ạ!

Hai người mở hộp ra xem - là một đôi trâu vàng, mắt làm bằng trân châu, sừng làm bằng mã não, nhặt lên tay thấy nặng trĩu. Trương Nhượng vội cười nói:

— Thế này có thích hợp không?

Tào Tháo trông thấy bực mình, trong lòng nhủ: “Không thích hợp thì các ông trả lại đi chứ, sao lại đút vào trong áo thế?”

Triệu Trung giả lả cười nói:

— Lệnh lang công tử, trước mặt hoàng thượng, chúng tôi nhất định sẽ nói tốt cho, nhưng... - Ông ta hơi chau mày. - Giờ đây Kiển Thạc không còn như ngày xưa nữa đâu, hiện giờ ông ta cai quản thị vệ của hoàng thượng, lại chiêu mộ một lũ người ở Tây viên, gọi là Tây viên kỵ, hai chúng tôi đều không dám trêu vào ông ấy đâu.

Trương Nhượng lại nói:

— Con người Kiển Thạc cũng là kẻ vô tâm, chỉ biết công việc, ngoài ra không quan tâm hỏi han chuyện gì cả, ông ấy không gây khó cho những chuyện ở trong triều đâu.

— Ôi dào! Hôm nay biết đâu được chuyện ngày mai chứ? - Triệu Trung lườm Trương Nhượng. - Tôi chưa từng to tiếng với ngài ư... Tào đại nhân, Tào công tử, cũng đã không còn sớm nữa. Hai chúng tôi xin cáo từ, tối nay Phàn Lăng Phàn đại nhân mời khách, mời chúng tôi đến dự tiệc rồi!

— Ha ha ha... - Tào Tung cười góp, nói, - Nếu đã như vậy, tại hạ cũng không dám giữ hai ngài, xin hai ngài cứ tùy ý...

Nói rồi ông đứng dậy tiễn, Tào Tháo thì vẫn ngồi yên lại đó, không đáp lại họ lời nào. Tào Tung tiễn hai người ấy đi rồi, quay lại hỉ hả mừng nói:

— Đúng là mỗi đời lại mỗi kém đi! Năm xưa tổ phụ con nhận lễ thì từng xe từng xe; Vương Phủ nhận lễ thì từng hòm từng hòm; đến bọn họ bây giờ thì một cái hộp nhỏ là xong. Con nói xem, nhà ta mà mang chút đồ mọn ấy đi rải cho họ, thì có phải là chín trâu mất một mảy lông không?

Trong lòng Tào Tháo có chút không vui: Khó khăn lắm mới lau sạch vết nhơ dính dáng đến Tào Tiết, thế mà lại dính vào Triệu Trung, Trương Nhượng. Biết đến khi nào phụ thân mới có thể không dây dưa với đám hoạn quan ấy nữa đây. Tuy Tào Tháo nghĩ thế, nhưng vẫn trịnh trọng khấu đầu trước phụ thân, nói nhỏ:

— Nhi tử xin thỉnh an phụ thân, sức khỏe phụ thân dạo này có được tốt không?

— Tốt, tốt. - Tào Tung lúc này mới để ý quay sang nhìn ngắm nhi tử một lượt. Gầy hơn so với hai năm trước, tính khí vốn ngỗ ngược không thuần ngày xưa cũng không còn hiện rõ nữa, đã không còn là đứa trẻ đầu để chỏm mà tâm tình vừa trông là nhận ngay ra nữa. Nhưng sự từng trải ấy đã mang đầy đau khổ và bất lực, cả một gia tộc đều phải nếm trải kiếp nạn. Nghĩ mãi, nghĩ mãi, Tào Tung chợt thấy thương cảm, phải gắng hết sức để tâm tình bình tĩnh trở lại, chỉ lẩm bẩm nói, - Hiện nay con đã là một Nghị lang có xuất thân đàng hoàng, cứ từ từ mà tham dự triều chính. Mới xa xôi trở về, hãy vào trong tắm rửa thay y phục, rồi nghỉ ngơi đi.

Tình cảm phụ tử vĩnh viễn vẫn chan chứa như thế.

Từ từ tham dự... Cách nghĩ của Tào Tháo và phụ thân vẫn cách nhau xa nhau như thế, Tào Tháo mới chậm rãi nói:

— Lần này hài nhi đã được chiếu chỉ vời ra, có nên dâng một bản kiến nghị điều trần không ạ?

Tào Tung cười nhăn nhó:

— Tên tiểu tử này giỏi nhỉ, đã học được cách làm theo ý thích của mình rồi đấy! Nhưng ta nói cho con biết, hiện nay con chưa cần làm bất cứ chuyện gì, cứ ngoan ngoãn chờ đã, qua đầu năm đi.

Tào Tháo chợt thấy ngạc nhiên:

— Câu này cứ như không phải do phụ thân nói vậy! Việc gì phụ thân cũng đều nhìn về phía trước mà? Phụ thân không muốn để hai nhi nhanh được thăng quan sao?

— Nhanh thăng quan? - Tào Tung nhếch miệng. - Nhanh thăng quan ta đã có cách, trong vòng một tháng sẽ để con làm đến Thị trung.

Nhất định lại là bỏ tiền mua quan... Tào Tháo lắc lắc đầu.

— Nếu là mua quan e sẽ mang tiếng xấu, vậy con hãy cứ yên lòng chờ đợi đã. - Tào Tung thở dài. - Tuy nói đài lang chức vị hiển quý, là bậc thang tiến lên trên đường làm quan... Nhưng con nhận chức không được đúng thời điểm. Hiện nay Tây viên của hoàng gia mới được hoàn thành, hoàng thượng ngay đến cung điện cũng chẳng về, con không gặp được người ngự, thì còn tiến gián được gì?

— Hoàng thượng ngay đến cung điện cũng không về? - Tào Tháo chau mày.

— Mấy hôm trước Vương mỹ nhân sinh con, người có về một bận. - Tào Tung ghé tai con nói thầm. - Hà hoàng hậu lại thất sủng rồi, Vương mỹ nhân sinh được tiểu hoàng tử, sắp tới phú quý vô biên, thật là quý hóa quá!

Tào Tháo cúi đầu, không thích nghe những chuyện vặt vãnh trong cung đình kiểu như vậy. Nhưng sự khác biệt giữa phụ tử đã sâu sắc từ lâu rồi, Tào Tháo cũng làm cha rồi, không còn thẳng thắn tranh luận giống ngày xưa nữa, chỉ chắp tay nói:

— Chuyện riêng của hoàng gia, chúng ta cũng không nên bàn bạc nhiều... Hài nhi mang theo ít đồ đạc từ quê lên, còn có cả món ăn điểm tâm mà nhi tức của cha làm cho cha nữa, để con mang lại cho cha. - Nói xong đứng lên đi lấy.

Tào Tung biết nhi tử không thích nghe những chuyện này, nhìn theo bóng Tào Tháo đi khỏi, cười nhăn nhó nói một mình:

— Tiểu tử ngốc này, ngươi còn phải trải nghiệm thêm nữa! Ngươi mới chỉ biết chuyện ngoài triều, đâu biết chuyện nội cung cũng có thể hưng quốc hay vong quốc đấy!

Hoàng tử xấu số

Thời gian nửa năm trôi qua thật nhanh, tháng Sáu năm Quang Hòa thứ tư (181 SCN), ánh nắng gay gắt như một lò lửa thiêu đốt mặt đất, sau buổi trưa thành Lạc Dương vô cùng yên ắng.

Việc phòng vệ tại kinh sư vốn vô cùng nghiêm cẩn, nhưng thời tiết như đổ lửa thế này, thì ngay cả những binh sĩ canh cửa được huấn luyện kỹ càng nhất cũng không chịu nổi. Mặt trời như sà xuống sát mặt đất, lại không một gợn gió, áo giáp kín người vẫn phải phơi nắng nóng như chảo rang, nếu đứng lâu nhất định sẽ bị cảm nắng, chỉ có cách dốc nước lạnh vào bụng liên tục. Lưng áp sát vào vòm cửa thành, mượn chút bóng râm của tường thành để tránh nắng. Mặc dù là thế, nhưng khí nóng từ dưới chân bốc lên vẫn cứ nung người ta đến độ không chịu nổi, những cảnh vật trước mắt đều mờ mịt mông lung.

Đúng lúc mấy tên lính gác cổng thành đang mơ hồ buồn ngủ, chợt nghe từ xa xa vẳng lại tiếng vó ngựa, từ phía chính đông hoàng cung một người cưỡi bạch mã vội vã phi đến. Người cưỡi ngựa ấy thân hình cao lớn, thần sắc lo lắng, mặc bộ quan phục màu đen, đầu đội mũ điêu đang[4], điều làm người ta chú ý nhất là người ấy không có râu, bên sườn đeo cây bội đao sơn màu vàng nhạt, ánh mặt trời chiếu vào làm nó sáng rực đến chói mắt - triều đình đã quy định, chỉ hoạn quan mới có thể được đeo bội đao màu vàng.

Vị hoạn quan ấy phi ngựa thục mạng, chỉ trong nháy mắt đã phi đến trước cổng thành. Bốn mặt thành Lạc Dương tất cả có mười một cổng, nhưng tuyệt không có cổng nào có thể cưỡi ngựa phóng qua được. Dù có là quan to đến đâu, nhưng nếu không có mệnh vua thì ra vào bắt buộc phải xuống ngựa. Nhưng vị hoạn quan này vẻ mặt lo lắng vội vã, mồ hôi ròng ròng, chạy đến bên thành vẫn cứ ruổi ngựa, không hề có ý định dừng lại. Một tên lính canh trông thấy, vội vàng giơ ngang ngọn kích ngăn lại. Nào ngờ tên lính đội trưởng đang đứng bên cạnh hắn đưa tay kéo ngay hắn lại nói:

— Chớ cản! Người này chúng ta không trêu vào được đâu!

Trong lúc bọn chúng nói thì vị hoạn quan kia đã phi ngựa chạy vào trong cổng thành, rồi ngay lập tức rút ấn quan đưa ra huơ huơ trước mặt mọi người, kêu to:

— Ta là ngự tiền hoàng môn,[5] đến Tây viên diện kiến hoàng thượng có chuyện gấp, các ngươi mau mau tránh đường!

Còn chưa đợi mọi người xem rõ ràng, ông ta đã xô ngã hai tên lính, phi ngựa như bay ra khỏi cửa Ung Môn thành Lạc Dương, chạy thẳng về phía tây.

— Khốn kiếp, không biết là giống gì thế! Lũ hoạn quan thối tha, có gì ghê gớm chứ. - Tên lính bị xô ngã lồm cồm bò dậy lẩm bẩm chửi.

— Câm mồm, chớ có gây họa cho ta đấy! - Tên lính trưởng nhóm trừng mắt nhìn hắn. - Chúng mày không nhận ra ông ấy à? Đó là Kiển Thạc, là hoạn quan hộ vệ ở bên hoàng thượng, rất được sủng ái đấy. Làm ông ấy nổi giận, thì chỉ cần một câu nói bâng quơ, mồ mả tổ tông tám đời nhà chúng mày đều bị san bằng hết!

Tên lính kia sợ hãi đến lè lưỡi, vỗ vỗ bụi đất trên người, không dám nói thêm gì nữa.

Từ khi lão hoạn quan lộng quyền Vương Phủ bị lật đổ, năm sau Tào Tiết lại bị bệnh chết, hai đại hoạn quan chuyên quyền can dự vào triều chính này coi như vĩnh viễn rút lui khỏi vũ đài lịch sử. Nhưng, thuận theo thói hưởng lạc dung túng của hoàng đế Lưu Hoành, những hoạn quan khác lũ lượt theo đó nổi lên, đám ấy đều do Trương Nhượng, Triệu Trung cầm đầu. Hai kẻ đó tuy không hống hách bằng Vương Phủ, không giảo trá như Tào Tiết, nhưng lại là người đích thân chăm sóc hoàng đế trưởng thành, xét về sự thân cận với hoàng thượng thì không kẻ tầm thường nào sánh được. Những người được ân sủng trong ngoài hoàng cung, cũng phải luồn lọt với hai người bọn họ.

Chỉ riêng một mình Kiển Thạc là ngoại lệ. Bởi ông ta sinh ra đã có vóc dáng cao lớn, tướng mạo uy vũ, rất được hoàng đế Lưu Hoành tin cậy, ban lệnh cho giám quản vũ lâm quân bảo vệ hoàng cung, ngay cả vệ úy và binh mã trong bảy dinh cũng có quyền điều động. Chuyện ấy trong đám hoạn quan suốt cả thời lưỡng Hán đến nay quả là có một không hai. Kiển Thạc tuy có binh quyền, nhưng không phải là kẻ tiểu nhân gian giảo, ngoại trừ chuyện năm xưa ông ta có một vị thúc thúc không chịu thua kém ai bị Tào Tháo đánh chết ra, thì người ấy hoàn toàn không có vết nhơ tham ô hối lộ gì. Kiển Thạc tựa hồ như con chó giữ nhà cho Lưu Hoành, tín điều trong cuộc sống của ông ta chính là phục tùng mệnh lệnh, hoàn toàn tuân theo ý chỉ của hoàng đế. Thậm chí những mệnh lệnh ấy của hoàng đế là đúng hay sai, xưa nay ông ta cũng chưa từng nghĩ đến. Trước sự điều khiển của một niềm tin đơn thuần như thế, ông ta đã thực sự bảo vệ cho hoàng cung vững chắc như một bức tường đồng.

Sở dĩ hoàng đế Lưu Hoành sắp xếp như vậy, là vì ông ta luôn cảm thấy hoàng cung không an toàn. Trải nghiệm thời thiếu niên thực sự khiến người ta khó mà quên được. Vào năm hoàng đế mười hai tuổi, cuộc tranh giành giữa Vương Phủ và Đậu Vũ đã dẫn đến cuộc chính biến, thái phó Trần Phồn dẫn theo hơn tám mươi thái học sinh đã chẳng mất chút sức lực mà xông vào được sân hoàng cung, sau đó lại có người để lại những câu phỉ báng trên cửa cung mà thần không biết quỷ chẳng hay. Nếu họ đã ra vào tự do được như vậy, thì chuyện hành thích giết vua há lại không đáng đề phòng sao? Vì thế ông ta mới đặc biệt chú ý đến Kiển Thạc, tên Tiểu hoàng môn tuyệt đối trung thành ấy.

Nhưng sau khi giải quyết được vấn đề an toàn cho hoàng cung rồi, Lưu Hoành lại không chịu sống ở đó. Nguyên nhân rất đơn giản: Từ khi tòa Tây viên mong ước bấy lâu đã được xây dựng xong, ông ta liền lấy danh nghĩa là tránh nóng, chui luôn vào đó hưởng lạc, rồi không chịu ra nữa.

Tây viên là ngự uyển to lớn nhất, đẹp đẽ nhất từ đời Lưỡng Hán đến nay, quy mô vượt xa so với Hồng Đức uyển, Linh Côn uyển từ thời Trung hưng lại đây. Nó được thiết kế dựa theo những tiên cảnh thần thoại trong truyền thuyết, do hoạn quan thân tín của Lưu Hoành giám sát thi công, hội tụ những thợ giỏi khéo tay khắp thiên hạ đến và bỏ ra hai năm rưỡi thời gian, hao phí ức vạn tiền tài, trưng dụng dân phu cả nước mới xây dựng lên được.

Để tu sửa ngự uyển ấy, Lưu Hoành đã không ngần ngại tăng thêm tô thuế, bắt bớ phu dịch, thờ ơ với việc tu sửa những nơi biên phòng trọng địa, ra sức tịch thu gia sản của những đại thần như Tống Phong, Vương Phủ, Đoàn Quýnh, thậm chí còn công khai treo giá bán quan để kiếm thêm tiền bạc. Trong tòa ngự viên ấy, khu săn bắn do con người xây dựng, có hàng ngàn gian phòng ốc để cho cung nga thể nữ cư trú, có hồ sen Thái Dịch được đào ngòi dẫn nước vào, có ba tiên đảo Bồng Lai, Phương Trượng, Doanh Châu được xếp đặt bằng đủ loại đá quý, lại còn cả ngòi nước nức hương dùng son phấn sáp thơm mà nhuộm hồng, để làm nơi bơi lội giỡn nước vui chơi cho Lưu Hoành. Khắp mọi ngóc ngách trong tòa Tây viên, chỗ nào cũng tràn ngập bầu không khí xa hoa dâm mị...

Quá đáng nhất là, để thuận tiện cho việc mua quan bán tước, Lưu Hoành đã cho xây tòa Vạn Kim đường trong Tây viên, tỏ ý là “hoàng kim vạn lượng”, chuyên sai đám hoạn quan tâm phúc đăng ký việc mua quan ở đó, có thể nói là giá cả niêm yết, không dối trẻ lừa già! Trong những ngày cư trú ở Tây viên, thậm chí ông ta còn dời cả các thượng thư thuộc quan đến tòa điện bên cạnh Vạn Kim đường để làm việc, thuận tiện cho ông ta có thể tùy lúc “ra ý chỉ” truyền đạt chính lệnh.

Hôm nay cũng giống mọi khi, Lưu Hoành lười nhác nằm dài trong Vạn Kim đường được chạm trổ tinh xảo, từ nãy đã có cung nữ cầm quạt lông quạt hầu, bưng lò hương, chuẩn bị đủ loại hoa quả thời trân được ướp lạnh. Các hoạn quan Trương Nhượng, Triệu Trung, Đoàn Khuê thần thái ung dung đứng hầu hai bên tả hữu. Nhưng quan Thị trung Giả Hộ ngồi suông ở đối diện đánh cờ với hoàng thượng lại không thể nào thoải mái được: Hoàng thượng muốn đánh cờ cùng, ông ta không dám không cùng đánh, nhưng kỹ thuật đánh cờ của ông ta cao hơn hoàng thượng hàng vạn lần, nếu thua thì là quá giả dối quá nịnh bợ, nhưng nếu thắng cũng không thể thắng một cách quá dễ dàng, như thế sẽ khiến hoàng thượng nổi giận. Ông ta đang âm thầm suy tính làm sao mới có thể chỉ lấy ưu thế của một quân mà thắng.

Cùng lúc đó, Thượng thư Lương Hộc mà Lưu Hoành rất tán thưởng đang múa bút vẩy mực với ngón nghề thư pháp. Giang Lãm vốn xuất thân là thợ vẽ cũng đang thi triển tài đan thanh bút mực của mình. Ngoài ra còn có Thị trung Nhậm Chi chơi cổ cầm trợ hứng.

Giả Hộ, Lương Hộc, Giang Lãm, Nhậm Chi tuy đều giữ chức vị rất cao, là quan thượng thư, thị trung, nhưng đều không phải nhờ vào học vấn và chính tích mà được đề bạt. Bọn họ đều xuất thân là học trò trường Hồng Đô Môn. Gọi văn hoa mỹ miều một chút thì mấy người đó là học sĩ, kỳ thực chẳng qua chỉ là có sở trường về môn nghệ thuật nào đó, chuyên đảm đương việc theo giúp hoàng thượng tiêu khiển mua vui thôi.

Cầm kỳ thư họa tứ đại nhã sự cùng lúc tiến hành, Lưu Hoành tiêu dao tự tại tựa như thần tiên, từ lâu đã quẳng nỗi khốn khổ của muôn dân, đại sự của quân đội nước nhà lên mãi tận chín tầng mây rồi. Ông ta vui sướng không chỉ bởi thanh sắc khuyển mã, mà còn bởi Vương mỹ nhân mà ông ta sủng ái nhất không lâu trước đây đã sinh hạ cho ông ta một tiểu hoàng tử. Giờ đây, ngoài việc thả sức hưởng lạc ra, mẫu tử họ là người duy nhất mà ông ta để ý tới.

Bỗng nhiên, một thanh âm lớn phá tan bầu không khí tràn đầy lạc thú, Kiển Thạc lăn lê bò toài từ ngoài điện vào.

— Sao thế? - Trong giây lát Lưu Hoành đã ngồi ngay ngắn dậy.

Thời tiết quá nóng, Kiển Thạc phi ngựa một mạch chạy đến, quần áo đã bị mồ hôi thấm đẫm, ướt lướt thướt như vừa từ dưới sông vớt lên. Ông ta thở không ra hơi, cảm thấy như trời đất quay cuồng, nhưng vẫn cố gắng quỳ sụp xuống đất:

— Muôn tâu bệ hạ, Vương mỹ nhân đã bạo vong ạ.

Nhậm Chi đang chơi đàn mà hồn xiêu phách lạc, ngón tay chợt sai nhịp, vang ra một loạt những âm thanh cao đến chói tai, dây đàn cũng bị đứt phựt. Lương Hộc, Giang Lãm giật mình dừng bút, quân cờ trong tay Giả Hộ cũng rơi xuống đất, ánh mắt tất cả mọi người dồn cả vào hoàng thượng.

Chỉ thấy khóe miệng Lưu Hoành run bần bật, hồi lâu vẫn không nói được câu nào. Ông ta không dám tin đó là sự thực. Nếu phải nói đến một người phụ nữ mà có thể khiến đế vương quên đi thân phận, toàn tâm toàn ý với nàng, thì Vương mỹ nhân chính là người đó. Từ lần đầu gặp mặt, Lưu Hoành đã yêu nàng rồi, sự ham muốn phát từ trong tâm, cảm tình như chim liền cánh ấy, những thề nguyện phu thê của ông với Tống hậu, Hà hậu còn lâu mới có thể sánh được. Ở hoàng cung, ở Tây viên, ở Linh Côn uyển, đâu đâu cũng đều in đậm dấu ấn tình cảm giữa hai người. Trong mắt trong lòng hoàng thượng, Vương mỹ nhân không chỉ là biểu tượng của sắc đẹp, mà là sự ủng hộ của nữ nhân với nam nhân, điều đó sẽ chẳng bao giờ bị sự trôi dạt của thời gian, sự tàn phai của nhan sắc làm cho lu mờ. Lưu Hoành vẫn ngồi lặng lẽ, miệng nửa như há ra, ánh mắt lạc đi, câu hỏi đầu tiên hiện lên trong đầu óc ông ta là - Tiểu hoàng tử sẽ thế nào đây? Vừa mới ra đời đã không còn mẫu thân... Sau khi trầm ngâm suy nghĩ, nước mắt chợt không biết khi nào đã tuôn rơi.

— Xin thánh thượng hãy bảo trọng long thể ạ. - Tất cả mọi người đều quỳ thụp xuống đất.

Lưu Hoành gạt nước mắt:

— Nàng, nàng... sao lại bỗng nhiên bỏ trẫm mà đi thế?

— Nô tài có chuyện riêng bẩm báo. - Kiển Thạc quỳ bò lên hai bước.

Mắt Lưu Hoành chợt sáng lên, biết là có chuyện lớn, lập tức ngừng nước mắt:

— Lẽ nào... Vương mỹ nhân vì cớ gì mà bạo vong?

Kiển Thạc hơi trù trừ, cúi đầu thật thấp nói:

— Chuyện này không thể để ai nghe được, thỉnh vạn tuế cho mọi người lui ra.

— Trương Nhượng, Triệu Trung ở lại, những người khác đều lui ra hết cho trẫm. - Đợi bọn Giả Hộ bốn người cùng các cung nữ đã lui hết ra ngoài điện, Lưu Hoành mới đứng dậy đến trước mặt Kiển Thạc, - Ngươi nói đi!

— Dạ. - Kiển Thạc lấy một hơi dài. - Giờ ngọ hai khắc, hoàng hậu sai hoạn quan tâm phúc đuổi quan ngự y ra, ban cho Vương mỹ nhân đồ ngự thiện, Vương mỹ nhân ăn xong thì băng.

Lưu Hoành còn bình tĩnh, Trương Nhượng, Triệu Trung thì sợ hãi đến mặt mũi tái mét. Hoàng hậu Hà thị nòi con nhà giết mổ, xuất thân thấp kém, vốn nhờ được bọn họ tiến cử mới được vào cung. Vì giúp đỡ cho Hà thị được đứng đầu hậu cung, bọn họ đã không ngần ngại cấu kết với Vương Phủ dựng lên vụ án oan về chuyện trù yểm, hại chết cả nhà Tống hoàng hậu trước đây.

Hà gia ngày nay, với bọn họ có thể nói là nhục cùng nhục, vinh cùng vinh. Nếu chẳng may Hà hậu gặp rủi, thì ngày kết cục của bọn họ cũng không còn xa nữa. Sự tình thế là đã rõ, hiện nay Vương mỹ nhân được sủng ái hơn hoàng hậu, lại sinh hạ được tiểu hoàng tử, uy hiếp trực tiếp đến địa vị của bà ta. Bản thân Hà hoàng hậu là kẻ thay thế người tiền nhậm, há có thể không hiểu chuyện đang được yên ổn cũng phải nghĩ đến lúc nguy nan? Đầu độc chết Vương mỹ nhân, đó chính là diệt cỏ diệt tận gốc, phòng họa từ khi còn chưa có. Không may là, làm việc không bí mật, đã để cho Kiển Thạc vạch rõ hết ra.

Lưu Hoành chuyển buồn thành giận, nhưng rốt cuộc cũng không tiện nói những lời tệ bạc về hoàng hậu trước bọn hạ nhân, chỉ cắn răng nói:

— Tiểu hoàng nhi của ta hiện tại thế nào? - Điều ông đang lo ngại hiện nay là ngay đến đứa con của Vương mỹ nhân cũng bị Hà hậu hại chết.

Kiển Thạc lo việc cũng khá ổn thỏa:

— Tiểu hoàng tử vẫn còn ở trong cung Vương mỹ nhân, do nhũ mẫu chăm sóc. Tiểu nhân đã dặn đi dặn lại cung nhân, không cho phép bất cứ ai tiếp cận. Nhưng cũng xin hoàng thượng nhanh chóng về...

Ông ta còn chưa nói dứt câu, đã nghe thấy tiếng võ sĩ hô to ngoài điện:

— Khải bẩm vạn tuế, Hoàng môn do hoàng hậu sai đến xin được cầu kiến.

— Hoàng hậu sai đến? Hừ! - Lưu Hoành cười nhạt một tiếng. - Lập tức cho vào!

Giây lát sau có một Tiểu hoàng môn vòng tay che trước mặt chạy vào, giả vờ hốt hoảng quỳ thụp xuống đất:

— Khải bẩm hoàng thượng, Vương mỹ nhân vì sản hậu trúng phong, không may đã qua đời, hoàng hậu đặc sai tiểu nhân đến bẩm báo hoàng thượng. Cầu xin vạn tuế chớ lo buồn, bảo trọng long thể ạ...

— Ngươi nói gì? - Lưu Hoành không nén được cơn giận, rời khỏi ngự tọa, đi đến túm lấy áo tiểu hoàng môn. - Ngươi nói lại cho trẫm một lần nữa! Vương mỹ nhân làm sao mà chết?

Tên hoạn quan ấy thấy thần sắc của hoàng thượng đã khác, đưa mắt nhìn lại thấy Kiển Thạc quỳ ở bên cạnh, trong lòng biết sự tình đã bại lộ, nhưng bát nước đổ xuống khó lấy lại được, chỉ có cách ngoan cố nói:

— Vương mỹ nhân là... sản hậu trúng phong...

— Choang! - Lưu Hoành thuận tay túm lấy bàn cờ khi nãy vừa chơi, đập mạnh vào đầu tên hoạn quan ấy. Bàn cờ bằng ngọc phỉ thúy bỗng chốc vỡ vụn, tên hoạn quan bị đánh làm mũ mão rơi cả xuống đất, máu me đầy mặt. Lưu Hoành nào có cho hắn phân bua, hai mắt trợn trừng đến tưởng rách ra, quay sang Kiển Thạc quát to, - Ngươi mau lôi tên nô tài khốn kiếp này ra chém cho ta!

— Oan uổng quá! Nô tài oan uổng quá... Xin hoàng thượng khai ân... chuyện này không liên quan đến nô tài, là hoàng hậu nương nương sai nô tài nói như vậy... Xin hoàng thượng khai ân... - Tên hoạn quan ấy cố sức chống chọi, nhưng vẫn bị Kiển Thạc dẫn theo đám thị vệ lôi đi.

Lúc này Lưu Hoành đâu còn tâm tư xem xét xem hắn có oan uổng hay không, nỗi buồn đau của ông tất cả đã hóa thành cơn phẫn nộ với Hà hậu: Ta dung túng ngươi quá lâu rồi, đã cho ngươi làm hoàng hậu rồi, ngươi muốn cho đệ đệ của ngươi làm quan trẫm cũng không phản đối, lại muốn điều ca ca của ngươi về kinh, trẫm nể mặt ngươi cũng đã điều rồi, chuyện đồn thổi ám hại Tống hậu trẫm có thể không tin, bây giờ lại còn hạ thủ với người trẫm thương yêu nhất, lần này tuyệt nhiên không thể để ngươi sống được nữa!

Hoàng đế vừa nghĩ, vừa đi như bay rời khỏi Vạn Kim đường, cũng chẳng thèm để ý đến uy phong của hoàng gia, tiện tay dắt một con ngự mã, dẫn theo một đội vệ sĩ chạy về hoàng cung. Người chết không quan tâm được trước mắt cần quan tâm đến người sống, tuy Kiển Thạc đã lệnh cho người bảo vệ hoàng tử, nhưng có chuyện gì mà hoàng hậu không thể làm chứ, ông phải ôm con vào lòng rồi mới an tâm. Đến khi Trương Nhượng, Triệu Trung hiểu ra, thì hoàng thượng đã chạy được hai dặm đường rồi. Bọn họ vội vàng cùng Kiển Thạc ai nấy lên ngựa, vừa hò hét vừa đuổi theo thánh giá.

Lưu Hoành bịt tai không nghe, dẫn đội quân kị phóng nhanh ra khỏi Tây viên, qua cửa Ung Môn, tiến vào hoàng cung, không dừng nghỉ lại một khắc nào. Đến thẳng sân rồng, xuống ngựa rồi, Lưu Hoành lại dẫn đầu đi qua các dãy hành lang và mấy khu nhà lớn đến thẳng điện của Vương mỹ nhân. Vừa đến cửa, liền trông thấy một cung nữ ôm đứa bé quấn trong tã lụa vội vàng hấp tấp đi ra, Lưu Hoành nhận ra đó là người của hoàng hậu. Ông đón đầu, đưa tay đoạt lại đứa nhỏ, mở ra xem thì chính là tiểu hoàng tử Lưu Hiệp! Lưu Hoành ôm lấy con, giơ tay vả cho ả cung nữ ấy một vả. Cung nữ ấy biết mình thế yếu, vội vàng ôm mặt quỳ sụp xuống giải thích:

— Khải bẩm hoàng thượng, đó là hoàng hậu nương nương sợ tiểu hoàng tử ở bên người chết lâu sẽ không tốt, nên sai nô tì tạm bế hoàng tử đưa về cung Trường Thu chăm sóc ạ.

Lưu Hoành chẳng thèm quan tâm đến ả cung nữ đó:

— Hỗn láo... Người đâu! Đem con tiện nhân này chém chết cho ta! - Nói xong liền ôm lấy nhi tử bước vào điện.

Trong điện lúc này chỉ còn là một đám bừa bãi, hoạn quan ở Thượng dược giám là Cao Vọng đang sắp xếp cho các hoạn quan, cung nữ, ngự y ai làm việc nấy. Không nghe ai thông báo gì cả, bỗng đã thấy hoàng thượng tự tay ôm nhi tử hầm hầm giận dữ xông vào, tất cả mọi người đều kinh hãi, run rẩy quỳ hết xuống cả loạt, lao nhao người trước kẻ sau tung hô vấn an. Những người không biết chuyện thì vẫn buồn rầu thay cho hoàng thượng, còn những kẻ biết rõ sự tình thì đều lo tim thót lên đến tận cổ - chuyện này thực không hề nhỏ!

Lưu Hoành không để ý đến bất cứ ai, bước mấy bước đến trước giường Vương mỹ nhân.

— Ái phi... Ta đã nói rằng đợi khi nàng tĩnh dưỡng khỏe rồi sẽ đón mẫu tử nàng vào trong ngự uyển, làm sao nàng lại ra đi oan uổng thế này? - Hai mắt ông đờ đẫn nhìn thi thể Vương mỹ nhân hồi lâu, trong khoảnh khắc ánh mắt mới lại sáng lên, hoàng thượng vụt quay đầu lại hỏi, - Ngự y ở đâu?

— Có chúng thần! - Ba ông già râu lốm đốm hoa râm quỳ chân bò lên hai bước.

Lưu Hoành lạnh lùng hỏi:

— Vương mỹ nhân bệnh gì mà chết?

Ba người thở một hơi dài, đầu cúi gằm xuống thật thấp, không một ai dám lên tiếng.

— Nói mau! - Lưu Hoành giục giã.

Ba người mấp máy môi không thành tiếng. - Tất nhiên không thể lừa dối hoàng thượng, nhưng cũng không thể đắc tội với hoàng hậu được!

— Trẫm hỏi lại lần cuối cùng, Vương mỹ nhân bệnh gì mà chết? - Giọng nói của Lưu Hoành đã lộ vẻ không bình thường.

Lão ngự y đứng đầu đánh bạo nói:

— Hoàng phi là... do sản hậu không điều độ... đột nhiên trúng phong không trị được, bạo bệnh mà...

Từ “chết” còn chưa kịp nói ra, Lưu Hoành đã đùng đùng nổi giận:

— Hỗn láo! Ngươi coi trẫm là tên ngốc hay sao? Đứa bé đã sinh được mấy tháng rồi, vẫn còn có thể bị sản hậu trúng phong? Người đâu... - Hoàng thượng bế nhi tử đứng dựng dậy, ấn đầu ngón tay vào trán lão ngự y ấy. - Đem ngự thiện buổi trưa mà ái phi vừa dùng còn dư lại nhét vào miệng lão già này. Ta xem xem nếu ông ta chết thì không phải là do sản hậu trúng phong!

— Xin hoàng thượng tha mạng ạ... - Lão già ấy kêu lên, lập tức bị đã bị đám võ sĩ lôi ra ngoài.

Hai người còn lại hồn vía đều lên mây cả, một lão thực sự đã sợ hãi không chịu nổi nữa, run lẩy bẩy miệng sùi bọt mép ngã lăn ra đất, bị dọa cho sợ mà chết thẳng cẳng. Lưu Hoành túm lấy lão còn lại hỏi:

— Chỉ còn mình ngươi thôi. Ngươi nói mau! Vương mỹ nhân làm sao mà chết?

— Là... là... trúng độc chết ạ... - Lão ấy không còn dám giấu giếm nữa.

— Nói to lên một chút!

— Vương mỹ nhân bị trúng độc dược mà qua đời.

Lưu Hoành thả lỏng tay, quay đầu lại nhìn khắp lượt những cung nhân đang quỳ ở dưới:

— Các ngươi đều nghe rõ cả chứ... đều nghe rõ cả chứ... nghe rõ cả chứ!? - Cuối cùng đã biến thành một tiếng quát giận dữ.

Tất cả mọi người đều sợ hãi cúi mặt sát đất, run rẩy không dám cất lời. Nhũ mẫu của tiểu hoàng tử đánh bạo tiến lên định đỡ lấy đứa nhỏ, liền bị Lưu Hoành giơ chân đạp một cái ngã lăn ra đất:

— Tránh ra! Đừng hòng kẻ nào nghĩ rằng có thể chạm vào được nhi tử của ta!

Ai nấy đều quỳ mọp mà lùi dần ra, nhất thời trong vòng cách xa một trượng bốn phía xung quanh hoàng thượng không có ai dám đến gần.

Lưu Hoành như một con sói đói, đi đi lại lại trong điện, trong lòng vẫn ôm chặt nhi tử đang khóc ngằn ngặt.

Lúc ấy Trương Nhượng, Triệu Trung cũng chạy đến ngoài điện. Thấy tình hình bên trong như vậy, cả hai bèn bước chậm lại. Trương Nhượng cảm thấy như có ai đó kéo áo mình, ngoái xuống nhìn thì hóa ra là Thượng dược giám Cao Vọng đang quỳ bên chân ông ta. Cao Vọng vốn là người quản lý thuốc thang, nay xảy ra chuyện như vậy, ông ta tuy không rõ sự tình nhưng cũng khó tránh khỏi có liên quan, nhân lúc hoàng thượng bức hỏi ngự y, đã vội vã lui ra ngoài điện. Ông ta kéo áo Trương Nhượng, cúi đầu nói nhỏ:

— Cẩn thận một chút! Đã giết một người, dọa chết một người rồi.

Trương Nhượng thầm nhủ: “Ngươi làm sao hiểu nổi, chưa vào điện cũng đã giết hai người rồi!” Ông ta nuốt nghẹn, thời điểm ngàn cân treo sợi tóc này cũng không nên tiến đến gần, nhưng Hà hoàng hậu là do ông ta tiến cử, chuyện này liên quan đến lợi ích của ông ta. Càng nghiêm trọng hơn là, vụ án yểm bùa của Tống hoàng hậu là bản thân ông ta cùng Hà hậu, Vương Phủ gây ra. Nếu hoàng thượng thực sự tống bà ta vào bạo thất, chẳng may moi ra chuyện cũ, thì cái đầu của mình cũng không còn. Chuyện đến nước này, dù không muốn bảo vệ cũng phải bảo vệ! Nghĩ đến đó, ông ta hít một hơi sâu rồi tiến bước vào điện, đến trước mặt hoàng đế quỳ xuống nói:

— Xin hoàng thượng bớt giận.

Lưu Hoành quay đầu lại:

— Ngươi đến thật đúng lúc! Đi truyền hoàng hậu đến đây cho ta!

— Nô tài... Nô tài khẩn cầu vạn tuế khai ân.

— Ngươi biết ta muốn phế ả ta, có phải không? - Lưu Hoành cười nhạt nói. - Hơ hơ hơ... khai ân gì chứ? Vì sao ả ta không khai ân? Vương mỹ nhân có tội gì? Còn nữa, vụ án trù yểm của Tống hậu khi xưa rốt cuộc là chuyện gì?

Sợ điều gì thì điều ấy lại đến, trong lòng hoàng đế đã rõ tất cả, tim Trương Nhượng đập loạn xạ. Ông ta vẫn muốn nói mấy câu tốt đẹp cho hoàng hậu, nhưng miệng đã bị đạo lý chặn lại thật kiên cố.

— Ngươi dám kháng chiếu? - Lưu Hoành chăm chú nhìn ông ta. - Mau đi đi!

— Nô tài... nô tài thực sự là... - Trương Nhượng không biết nên nói như thế nào cho tốt.

Lưu Hoành không thèm giận ông ta, ngẩng đầu lên gọi:

— Triệu Trung! Ông ta không đi thì ngươi đi! Truyền khẩu dụ của trẫm, trước hết phế Hà hậu làm cung nữ, tống vào bạo thất giam lại!

Sau phút kinh hãi, Trương Nhượng đã nhất quyết ôm chặt lấy chân Lưu Hoành nói:

— Hoàng thượng, hoàng thượng không thể làm vậy được!

— To gan! - Lưu Hoành co chân hất ông ta ra. - Loại tiện nhân như vậy, giữ lại làm gì!

Trương Nhượng ngã sõng soài, vội bò lên hai bước lại túm chặt lấy chân hoàng đế, tiếp tục can gián:

— Xin hoàng thượng hãy nghĩ kỹ! Làm sao hoàng gia có thể liên tục phế bỏ bậc quốc mẫu như vậy được!

Câu nói ấy vừa thốt ra, trong lòng Lưu Hoành đã hơi rung động: “Phải! Cả gia tộc Tống hậu đã người chết nhà tan, nay lại muốn phế giết Hà hậu. Trong thiên hạ làm gì có hoàng đế nào liên tục tru diệt hai vị hoàng hậu như thế, một người thì là bùa chú trấn yểm, một người thì là đầu độc phi tần. Hàng loạt những tai tiếng trong cung đình như thế mà lan truyền ra ngoài, thì thể diện của hoàng gia có còn nữa không? Sử quan đời sau sẽ hạ bút thế nào khi viết về mình? Nhưng nếu không phế con tiện nhân đó đi, chẳng lẽ Vương mỹ nhân lại phải ngậm hờn chết oan ức vậy...” Lưu Hoành quả thực khó xử, cảm thấy đầu óc mình như muốn vỡ tung. Ông thoát khỏi Trương Nhượng, lùi lại vài bước ngồi phịch xuống ghế mây.

Trương Nhượng thấy hoàng thượng đã hơi động lòng, nhưng lại không dám tùy tiện nói thêm điều gì, chỉ dập đầu côm cốp xuống đất. Đáng thương nhất là Triệu Trung, đã được mệnh lệnh phế hậu của hoàng thượng, giờ đây lại thấy tình huống như vậy, đi cũng không được mà ở cũng chẳng xong, chân trái chân phải cứ đá vào nhau.

— Thái hậu nương nương đến... - Tiếp theo tiếng hô to, Đổng thái hậu mặt lặng như hồ nước tiến vào. Bên cạnh là Kiển Thạc đang đứng đỡ cẩn thận. Hóa ra sau khi Kiển Thạc giết tên tiểu hoàng môn mà hoàng hậu sai đến, liệu rằng hoàng thượng về cung tất sẽ làm ầm ĩ lên, liền không đuổi theo thánh giá nữa, mà vội đến cung Vĩnh Lạc, xin thái hậu đến để chủ trì đại cục.

— Mẫu hậu! - Lưu Hoành đang buồn phiền thấy mẫu thân chậm rãi bước đến, đột nhiên không còn vẻ tức giận như khi nãy nữa, mà tựa hồ như một đứa trẻ vừa mới bị mất thứ đồ chơi yêu thích, khóc đến mất giọng, - Vương mỹ nhân... nàng ấy chết rồi...

Khi nãy Đổng thái hậu đã được Kiển Thạc cho biết nguyên ủy sự việc, nhưng bà không nhắc đến chuyện của hoàng hậu, chỉ đón lấy hoàng tử đang quấn trong tã từ trong lòng Lưu Hoành, vỗ vỗ đứa bé đang gào khóc, nói:

— Người đã chết không thể sống lại, con cũng không cần quá đau buồn. Làm gì có đạo lý nào một đại nam nhân lại khóc than đàn bà? Huống chi con là hoàng đế, phải nén bớt đau thương! Đứa bé này nuôi ở chỗ người khác mẫu tử ta đều không an lòng, ta thấy hãy để cho ai gia tự tay chăm sóc nó đi. - Nói rồi bà sờ nắn đôi tay nhỏ của đứa bé, khẽ thở dài.

— Trẫm muốn phế bỏ hoàng hậu, mẫu hậu thấy thế nào?

Đổng thái hậu chau mày: Kỳ thực từ trong lòng mình bà cũng không ưa gì Hà hậu, chỉ vì bản thân bà vốn cũng xuất thân là phiên phi, không được coi là thái hậu một cách đường hoàng, nên cũng không ép được Hà hậu. Hơn nữa điều làm bà buồn phiền nhất là, sau khi Hà hậu sinh được đại hoàng tử Lưu Biện, lại lấy danh nghĩa cầu phúc, đưa con ký dưỡng ở trong nhà đạo sĩ Sử Tử Diểu, khiến văn võ bá quan ở sau lưng vẫn gọi đại hoàng tử là “Sử hầu”. Nếu cứ như ý bà, thì từ lâu đã nên phế quách Hà hậu đi rồi... Nhưng câu nói của Trương Nhượng khi nãy bà ở bên ngoài cũng đã nghe thấy, rốt cuộc chuyện vừa phế hoàng hậu rồi lại phế tiếp chẳng phải là chuyện hay ho gì. Từ sau khi bà vào cung với thân phận phiên phi đến nay, những tiếng xấu của cung đình đã truyền ra không ngớt, giờ lại gây thêm một chuyện lớn thế này, thì sự uy nghiêm của hoàng gia đúng là bị quét sạch trơn. Giờ đây đã bế được tiểu hoàng tôn xấu số này trong lòng, cuộc sống ngày sau của bà có tằng tôn quấn quýt làm vui cũng bớt khô khan, còn bất cứ những chuyện khác bà cũng chẳng cần quan tâm, vì thế thở dài bảo:

— Ôi... hoàng thượng, chuyện phế hậu tự hoàng thượng hãy suy xét đi, bất luận hoàng thượng xử trí thế nào, ai gia cũng đều tán đồng.

— Vậy... - Lưu Hoành nghe mẫu hậu nói vậy, trù trừ chưa biết làm sao, - Kiển Thạc, ngươi thấy thế nào?

Kiển Thạc giật mình, những chuyện thế này ông ta làm sao dám nói bừa, vội vàng quỳ xuống khấu đầu đáp:

— Chuyện của hoàng gia, nô tài há dám nhiều lời? Nô tài ngu độn, không biết chuyện này nên xử lý ra sao. Xin vạn tuế long ý quyết định!

Lưu Hoành thấy ông ta thoái thác không can dự, càng thêm do dự hơn. Những công việc chính sự thường ngày có thể hạ chiếu hỏi ý kiến quần thần, nhưng chuyện như thế này, xấu xa trong nhà không thể phô ra ngoài, làm sao có thể hỏi ngoại thần được? Hoàng đế nhíu chặt hai lông mày, không đừng được lắc đầu thở dài.

Trương Nhượng nghe thấy Đổng thái hậu và Kiển Thạc không muốn can dự vào, nỗi lo lắng trong lòng coi như đã giảm bớt được quá nửa, vội vàng tranh thủ sắt nóng quai búa, nói thêm:

— Nô tài trộm nghĩ, hoàng hậu dù có sai đến ngàn lần, bệ hạ cũng nên niệm tình đại hoàng tử mà suy nghĩ lại! Vương mỹ nhân đã chết, tiểu hoàng tử tất nhiên không còn mẫu thân, lẽ nào bệ hạ lại còn muốn đại hoàng tử cũng không có mẫu thân luôn? Tình cảnh tiểu nhi tử ngây thơ như vậy mà phải xa mẫu thân... - Ông ta nói đến đấy, chợt ngưng lại, chỉ một mực dập đầu nói, - Xin bệ hạ khai ân!

Câu nói ấy thật lợi hại! Bản thân hoàng đế Lưu Hoành từ nhỏ đã mất phụ thân, bị đưa vào cung làm hoàng thượng ngoài ý muốn. Năm ấy ông mới mười hai tuổi, không thể không rời xa mẫu thân ruột thịt gắn bó với mình, chạy đến hoàng cung gọi Đậu thái hậu là mẫu thân. Tận đến khi đích thân xử lý chính sự mới cho đón Đổng thái hậu vào cung. Nỗi khổ của trẻ nhỏ không có mẫu thân bản thân ông đã rất rõ rồi. Nghĩ đến hai hoàng nhi sau này cũng phải chịu nỗi khổ tương tự, ông lập tức thấy mềm lòng.

Đúng lúc ấy, Triệu Trung cầm đầu những hoạn quan cùng một bè đảng với Trương Nhượng như Thượng dược giám Cao Vọng, Câu thuẫn lệnh Tống Điển, Ngọc đường thự trưởng Trình Khoáng, Trung cung lệnh Đoàn Khuê, Hoàng môn lệnh Lật Tung, Dịch đình lệnh Tất Lam... đều nhất tề dập đầu cầu khẩn:

— Xin bệ hạ tạm nguôi cơn lôi đình, tạm tha thứ cho hoàng hậu.

Lưu Hoành không muốn bàn bạc thêm về chuyện này nữa, chỉ xua xua tay:

— Hãy để hoàng hậu đó vậy, trẫm không giết nữa... trẫm không giết ai nữa đâu... - Rồi hoàng đế lại hoảng hốt bước đến trước thi thể Vương mỹ nhân, lặng lẽ giữ chặt lấy ái phi của mình.

Đổng thái hậu cũng thở phào:

— Hoàng thượng hãy ở đây với quý phi, ai gia đưa hoàng tôn về cung trước đã, một giờ sau sẽ lại quay trở lại... Kiển Thạc, ngươi theo ta đi.

Kiển Thạc cung kính đi theo thái hậu bước ra khỏi điện.

— Hôm nay thật vất cả cho ngươi, nhưng việc này nhất thiết không được lan truyền ra ngoài, nếu nói ra ngoài, hậu quả sẽ... - Chỉ thấy giọng nói của Đổng thái hậu chợt thay đổi, bà vỗ nhẹ hoàng tôn đang bế trong lòng nói nghe thật ai oán, - Hoàng tôn đáng thương, mẫu thân không còn nữa rồi, từ nay tổ mẫu sẽ yêu thương hoàng tôn... Mẫu thân của hoàng tôn đúng thật là rất tốt, với hoàng thượng đã tốt, với ai gia cũng cung kính, với những kẻ dưới cũng thật không tệ. - Câu nói của bà như nói với đứa cháu nhỏ, lại cũng như nói với Kiển Thạc. - Tổ phụ của Vương mỹ nhân là Ngũ quan Trung lang tướng Vương Bao đã mất, cũng có thể coi là hậu duệ chốn danh môn. Tuy ngày nay gia đạo cũng đã suy vi, nhưng tuyệt nhiên không thể để nàng ta phải tủi hận... Ta thấy thế này, đưa nàng ta vào lăng tẩm theo lệ dành cho quý nhân, các cung nữ hoạn quan ở trong cung của nàng ấy, cũng như ngự y còn lại tất cả đều sai đưa hết đến lăng mộ, để sau này họ tiếp tục hầu hạ chủ nhân của mình. Đó có thể coi là chút tâm ý của ai gia vậy.

Tiếp tục hầu hạ chủ nhân của mình? Sát nhân diệt khẩu! Kiển Thạc nghe xong đã hiểu rõ dụng ý của bà rồi. Rõ ràng là trời nóng như nung mà sau gáy Kiển Thạc như có một luồng khí lạnh thốc tới, ngoài miệng vẫn phải tuân mệnh:

— Đó là lòng từ bi của thái hậu người.

Trong lúc nói chuyện, chợt thấy hoạn quan Lã Cường người thường ngày vẫn giúp đỡ hoàng thượng xử lý chính sự, ôm hai cuốn sách thẻ tre vui mừng chạy đến. Vừa nhìn là biết ngay, nhất định ông ta cả ngày vẫn bận rộn trong sảnh đường, căn bản không biết ở đây đã xảy ra chuyện gì.

— Nô tài xin thỉnh an thái hậu nương nương! - Lã Cường hô vang thi lễ với thái hậu.

— Đứng dậy đi.

Lã Cường chậm rãi đứng lên, nghiêng người hỏi Kiển Thạc:

— Hoàng thượng có ở trong điện không? Nô tài có chuyện bẩm tấu.

— Không cần đâu! - Không đợi Kiển Thạc trả lời, Đổng thái hậu đã ngăn lại. - Vương mỹ nhân do sản hậu trúng phong mà mất, hoàng thượng đang rất đau buồn. Có chuyện gì ngươi cứ tâu với ai gia, ai gia sẽ nói với hoàng thượng cho.

— Dạ. Bẩm thái hậu nương nương, hôm nay có tin chiến thắng. Thứ sử Chu Tuấn chỉ với năm ngàn tạp binh, hương dũng đã đại phá mấy vạn quân phản loạn. Phản loạn ở Giao Châu đã được ông ta dẹp yên ạ.

— Chu Tuấn giỏi lắm, ai gia sẽ chuyển cáo tới hoàng thượng, nhất định trọng thưởng.

— Còn nữa, - Lã Cường lại bẩm, - Quốc cữu Hà Tiến phụng mệnh đảm nhiệm chức Tướng tác Đại tượng,[6] nay đã đến kinh sư, xin được vào cung diện kiến cảm tạ thánh ân, và thỉnh an thái hậu, hoàng hậu.

— Ha ha... - Đổng thái hậu cảm thấy tên Hà Tiến kia, đến đây vào lúc này thật nực cười. - Ngươi hãy thay mặt ai gia khuyên Hà Tiến, bảo ông ta hôm khác hãy tiến cung. Hôm nay nếu gặp hoàng thượng, ông ta tất sẽ chết đấy. - Nói xong bà ôm hoàng tôn, nhìn lướt một lần nữa vẻ mặt ngây ngô khó hiểu của Lã Cường và nét mặt sợ hãi của Kiển Thạc, rồi rảo bước về Vĩnh Lạc cung của mình.

— Hoàng tôn yêu, hoàng tôn ngoan, không được khóc nhé. Để tổ mẫu ru hoàng tôn nghe... - Đổng thái hậu yêu quý đứa cháu, không giao cho cung nhân, trước sau đều tự tay bế lấy. Về đến cung Vĩnh Lạc, bà mở tã ra, nắm chặt lấy bàn tay nhỏ của cháu mình. Có lẽ đúng là số phận đã gắn bó bà với đứa cháu này, tiểu hoàng tử Lưu Hiệp thực sự đã không khóc nữa, túm lấy ngón tay cái của bà ngủ ngon lành.

Đổng thái hậu nhìn gương mặt ngây thơ non nớt của hoàng tôn xấu số, trong đầu óc bà chợt lóe lên một linh cảm: “Đứa bé đáng yêu thế này tương lai nếu có thể được kế thừa ngôi vị thì tốt biết bao!”

Ý nghĩ ấy vừa nảy sinh ra, thì đã như đốm lửa thiêu đốt cả cánh đồng không thể nào ngăn chặn được. Đổng thái hậu lại cảm thấy hối hận, vì sao khi nãy không nhân gió bẻ măng, trị Hà thị kia vào tội chết chứ? Như vậy sẽ có thể bảo đảm cho đứa bé này có thể được kế thừa ngôi báu! Cơ hội tốt như vậy mà để tuột mất rồi... Nhưng bà cũng không thể nhẫn tâm: Phế trưởng lập thứ sao có thể được coi là chính đáng? Nhưng tổ tông xưa Cảnh Đế, Vũ Đế, và cả đến Quang Vũ đế đều từng làm, vậy chúng ta làm sao lại chẳng thể phế trưởng lập thứ đây? Bà lại nghĩ đến đám ngoại thích của Hà gia: Hà Tiến, Hà Miêu... Bà cũng phải gọi điệt tử của mình là Đổng Trọng vào triều, để sau này Đổng gia còn giúp đỡ Lưu Hiệp kế thừa ngôi báu...

Từ đó về sau, Lưu Hiệp được nuôi dạy khôn lớn trong cung của Đổng thái hậu, đối lại với “Sử hầu” Lưu Biện được nuôi dạy trưởng thành ở nhà Sử đạo nhân, tiểu hoàng tử Lưu Hiệp cũng bị người ta ngầm gọi là “Đổng hầu”. Vì duyên do của hai đứa trẻ này mà Đổng thái hậu và Hà hậu từ chỗ bằng mặt mà không bằng lòng đã đi đến chỗ dứt khoát cắt đứt, một cuộc tranh giành mới trong cung đình đã được mở màn, và cũng ẩn giấu một mầm họa lớn cho vương triều đại Hán.

❀ ❀ ❀

[1] Khi cầm quân thượng sách là dùng mưu, kế đến là dùng ngoại giao, thứ đến là dùng binh sĩ giao chiến, cuối cùng mới tấn công thành trì.

[2] Tiền lớn “đương bách” là loại tiền đồng bên trên có viết chữ “đương bách”, buộc người dân phải dùng tương đương với một trăm đồng, giống như mệnh giá của tiền giấy hiện nay.

[3] Vương Xán, Tòng quân thi, Bản dịch thơ của dịch giả Thanh An, đăng trên thivien. net

[4] Thất Phát là bài văn can gián của Mai Thừa, văn sĩ thời Tây Hán. Nội dung nói về thái tử của nước Sở vì ham mê hưởng lạc mà phát bệnh, không có thuốc nào chữa được, có một người khách nước Ngô lấy danh nghĩa là thầy thuốc để khuyên ngăn, cuối cùng đã làm cho thái tử thay đổi cách sống và khỏi bệnh.

[5] Lễ giảng võ là một nghi lễ quan trọng trong quân, bắt nguồn từ thời Chu, còn được gọi là lễ hiệu võ. Trong sách Lễ ký, trong buổi lễ giảng võ, thiên tử sẽ lệnh cho các tường tập bắn tên, đánh xe, đấu vật.

[6] Sinh tử có mệnh, phú quý do trời.

g Hộc, đều là những nét bút mà những kẻ đọc sách tranh nhau sưu tầm, học theo, những người bình thường tốn công nhọc kế cũng không xin được, hôm nay Chung Do lại chủ động đề tặng. Nhưng Đinh Nghi không những không vui, trái lại mặt mày thất
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Vương Hiểu Lỗi

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.