Ban ơn cho hương dân

Tào Tháo - Thánh Nhân Đê Tiện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 290 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi Thứ 83
Áo Gấm Về Quê, Tào Tháo Phong Thưởng Cho Hương Thân Phụ Lão

❊ ❊ ❊

Tào Tháo ở lại Hứa Đô không lâu, đến tháng Giêng năm Kiến An thứ bảy (năm 202 sau Công Nguyên) một lần nữa xuất binh, mục tiêu là quân phản nghịch Lưu Bị đang chiếm cứ Nhữ Nam.

Xưa, trước trận quyết chiến ở Quan Độ, Lưu Bị chiếm cứ Hạ Phì làm loạn, sau khi thất bại chạy theo Viên Thiệu. Trong lúc chiến sự giằng co lại lẻn đến Nhữ Nam, tập họp bọn dư đảng Khăn Vàng là Lưu Tích, Cung Đô cùng cử sự, chẳng những giết chết tướng được sai đi chinh phạt là Sái Dương, còn cướp đoạt các quận ở Dự Châu ý muốn đem quân đến vây Hứa Đô. Nếu không có Tào Nhân hỏa tốc chạy đến tập kích đánh lui, thiếu chút nữa đã gây ra đại họa. Nay chiến sự ở Hà Bắc đã xong xuôi, cũng nên đòi món nợ này. Nhưng lần xuất binh này không giống những lần trước, Tào Tháo phó thác hết việc trên chiến trường cho các tướng Vu Cấm, Nhạc Tiến, còn mình ung dung về thăm quê nhà ở huyện Tiều, nước Bái.

Từ khi Tào Tháo cử binh đến nay, đánh đông dẹp tây, nam chinh bắc chiến, duy chỉ có hồi bình định quân Khăn Vàng ở Dự Châu là tiện đường về quê một lần, lần đó cũng chỉ là về chôn cất phụ thân và đệ đệ, chứ không lưu lại lâu. Giờ đây, phía bắc Viên Thiệu đã bị đánh bại, Hứa Đô đã yên ổn, cuối cùng Tào Tháo đã có thể thực sự được hưởng niềm hạnh phúc phú quý hồi hương rồi. Chẳng những dẫn theo bầu đoàn thê tử, còn cho cả những đồng hương nước Bái trong quân và mạc phủ cùng theo về.

Từ sau khi Đổng Trác về kinh, huyện Tiều chiến loạn liên miên, gia tộc họ Tào hầu hết lưu tán khắp nơi, một số đi theo Tào Tháo, Tào Hồng cử binh chinh chiến, một số theo Tào Tung đi lánh nạn ở Từ Châu mà cùng bị hại, còn lại những người nghèo khó cô quả, huyết thống xa một chút thì chạy đến Trung Nguyên kiếm kế sinh nhai. Những họ hàng ở lại tôn Tào Du lên đứng đầu, tổ chức hương dũng bảo vệ trang viên. Tào Du là thúc thúc họ xa của Tào Hồng, tuổi mới năm mươi nhưng luận về thứ bậc thì là bề trên của Tào Tháo, biết tin người cháu đã làm nên công trạng muốn về thăm quê thì mừng cuống cả lên! Thân thuộc trực hệ của Tào Tháo đều ở Hứa Đô, nhà cũ ở quê bao năm binh hỏa không người coi sóc, đã hoang tàn cả rồi. Tào Du liền vội vàng cho người tu sửa lại, rồi nào là giết lợn mổ dê, bắt cá ủ rượu, nào là chỉ dạy cho hương thân các lễ nghi, chỉ sợ có điều gì sơ suất. May thay Tào Tháo đắc ý trở về cũng không câu nệ gì, dẫn theo gia quyến vào ở trong nhà cũ, qua hôm sau dẫn anh em con cháu đi tế bái mộ phần tổ phụ Tào Đằng, phụ thân Tào Tung cũng như mấy vị thúc thúc huynh đệ khác, đều suôn sẻ cả. Duy có một điểm chưa trọn vẹn, đó là sau nhiều năm chiến hỏa, nhiều bạn cũ ngày xưa của Tào Tháo người chết, kẻ chạy loạn, chẳng tìm lại được một ai để cùng hàn huyên chuyện cũ, trong lòng không tránh khỏi có chút buồn rầu. Vừa sang đầu Giêng, tiết trời còn lạnh, chỉ còn biết ngày ngày ngồi quanh bếp lửa, trò chuyện với vị tiểu thúc thúc họ xa tám cây sào chưa tới ấy.

Hôm ấy, Tào Tháo đang chuyện phiếm với bọn Tào Du, Hạ Hầu Uyên, Đinh Phỉ, Biện Bỉnh, chợt có tiệp báo từ Nhữ Nam truyền đến, bộ tướng của Lưu Bị là Lưu Tích, Cung Đô đều đã bị bắt và giết chết, nhưng Lưu Bị đã nhanh chân trốn đến Kinh Châu. Được tin, Tào Tháo không khỏi cười buồn:

— Lưu Tích, Cung Đô chẳng qua chỉ là bọn tép riu nhảy chỗ này sang chỗ khác, kẻ thực sự làm mưa làm gió chỉ có tên Lưu Bị ấy. Tên giặc tai to này dùng binh thì chẳng có tài nhưng trốn chạy thì rất có thuật, nếu không diệt cỏ tận gốc, tất sẽ gây hậu họa khốn cùng.

— Tại hạ thấy cũng không hẳn đâu. - Đinh Phỉ ngồi bên vẻ mặt trầm ngâm. Phu nhân Đinh thị là đồng tộc với ông ta, từ khi bị Tào Tháo cho về nhà, trong lòng bất mãn nhưng không dám công khai bày tỏ ý kiến gì với Tào Tháo, cho nên giờ phản đối lại với vẻ chua chát. - Lưu Bị đi lần này là muốn dựa dẫm vào Lưu Biểu. Lưu Cảnh Thăng kia cũng đã giao thiệp với vô số người rồi, há có thể dung cho Lưu Bị nắm quân làm lớn? Tại hạ thấy tên giặc tai to ấy hỏng rồi, đất khách quê người, binh mã mất hết, cùng lắm cũng chỉ được như bọn phản tướng Duyện Châu Vương Khải, Hứa Dĩ khi xưa, chỉ là gắng gượng sống được ngày nào hay ngày đó ở Kinh Châu mà thôi!

— Câu này sai rồi... - Tào Tháo không cho là vậy, - Chớ nói là Lưu Biểu, lão phu tung hoành bao nhiêu năm nay, chẳng phải cũng bị hắn lừa đó sao? Xưa ở Đan Dương có tên Trách Dung, lấy chiêu bài “Hoằng dương Phật giáo”, đi khắp nơi lừa bịp, giết người cướp của, đầu tiên là hại chết Thái thú Quảng Lăng Triệu Dục, sau giết tướng Bành Thành là Tiết Lễ, cuối cùng lại hại chết Thái thú Dự Chương Chu Hạo. Thủ đoạn tầm thường đó mà dùng được hết lần này đến lần khác, đủ thấy người trong thiên hạ cũng như con cá dưới sông, chỉ thấy mồi thơm mà không thấy lưỡi câu, đến khi bị lừa mắc câu rồi lại chẳng đáng buồn sao. - Qua việc phản loạn ở Hạ Phì, Tào Tháo đã ý thức được dã tâm của Lưu Bị, nhân vật nhỏ bé này phải chú ý đề phòng hơn cả Viên Thiệu, Lưu Biểu. Theo nhìn nhận của Tào Tháo, Lưu Bị chưa chắc đã làm nên đại sự nhưng cũng đủ để làm hỏng việc của người khác.

Đinh Phỉ thấy câu nói của mình bị Tào Tháo bác đi, không nói thêm gì nữa, cúi đầu tiếp tục oán thầm. Tào Du tuy không phải người trong Tào doanh, nhưng sống ở nước Bái, chuyện Lưu Bị làm loạn có thể nói là bản thân đã trải qua, vội kiếm câu nói góp:

— Tào công nói rất đúng! - Ông ta không dám tùy tiện gọi là “cháu”, - Năm ngoái bộ hạ của Lưu Bị là Trương Phi đến chỗ chúng ta đây cướp phá lương thực, những kẻ y dẫn theo có phải là binh lính gì đâu! Y hệt như lũ thổ phỉ Khăn Vàng vậy! Huyện lệnh ở mấy thành lân cận đều bị dọa cho chết khiếp, chính lúc ấy Tần Nghi Lộc đã chạy theo giặc đấy.

— Ồ?! - Tào Tháo biết Tần Nghi Lộc đi theo quân phản loạn sau đó bị giết, nhưng không hiểu hết nội tình, - Tên cẩu nô tài ấy lẽ nào lại chạy theo Trương Phi?

— Còn sai sao được! Nghe các hương thân nói, Trương Phi dẫn quân đến huyện Chất, họ Tần kia đóng chặt cửa thành, đến tên cũng không dám bắn, sợ đến vãi đái ra quần. Trương Phi đứng ở ngoài thành lôi hết tổ tông tám đời nhà hắn ra chửi rủa, lại còn nói cái gì mà “vợ ngươi đã chui vào chăn với người ta rồi, tên khốn kiếp ngươi còn liều mạng vì người ta ư”, những câu khó nghe lắm! Họ Tần kia cũng đúng là hèn, bị ăn chửi một trận rốt cuộc lại mở cửa ra chạy theo bọn chúng, ngài nói xem có đáng cười không?

Những người có mặt đều không phải người ngoài, chỉ có mình Tào Du là không biết chuyện của phu nhân Đỗ thị, nghe thấy ông ta nói câu “vợ ngươi đã chui vào chăn với người ta rồi” tất cả đều bưng miệng cười thầm, còn Tào Tháo thì ngượng đến đỏ mặt tía tai, vội nói sang chuyện khác:

— Sau đó thì sao, hắn ta làm sao mà chết?

Tào Du vẻ mặt coi thường:

— Nghe nói Tần Nghi Lộc hay tin Lưu Bị tiến công Hứa Đô thất bại, định bỏ trốn thì bị Trương Phi bắt được, cho một lưỡi mâu chết luôn!

— Giết là phải, hạng tiểu nhân bỉ ổi như hắn chết là đáng kiếp, Trương Dực Đức coi như đã trừ hại cho lão phu, - Tào Tháo chợt tươi tỉnh hẳn lên, lưỡi mâu ấy của Trương Phi có thể nói đã trừ tiệt hậu họa, sau này không còn lo việc Tần Nghi Lộc nói lung tung chuyện của Đỗ thị, làm bại hoại danh thanh của mình nữa.

Nhưng còn chưa dứt câu, Hạ Hầu Uyên ngồi bên chợt buồn rầu nói:

— Mạnh Đức vui mừng, nhưng nhà ta thì đúng là thê thảm! Tên tiểu nhân Trương Phi ấy đã cướp cháu gái của ta mang đi! - Hạ Hầu Uyên vốn có một đứa cháu gái, tuổi vừa mười bốn, sinh ra đã rất xinh đẹp. Thiếu nữ ấy một bữa ra đồng lấy củi, chẳng may gặp đúng lúc Trương Phi dẫn theo một đội quân đến huyện Tiều cướp lương, tiện tay dắt dê, hắn liền cướp luôn cả người đi.

Tào Tháo thở dài:

— Đó cũng là nha đầu ấy số khổ... - Tuy nói rằng dẫn quân đánh trận cố gắng không làm tổn hại đến dân chúng vô tội, nhưng sĩ tốt mỗi khi hạ được một nơi thì không tránh khỏi chuyện cướp bóc. Kẻ cầm quân thường phiên phiến cho qua, không tiện truy cứu, Tào Tháo cũng vậy. Những nữ nhân bị cướp đem đi ấy hết bị tướng sĩ lăng nhục lại còn phải làm việc nặng nhọc, kết cục rất đáng thương.

Hạ Hầu Uyên nhớ lại chuyện này, nghiến răng giận dữ:

— Nếu lại giao chiến với tên giặc tai to ấy, xin Mạnh Đức cho tại hạ làm tướng cầm quân, nhất định sẽ giết sạch bọn chúng để rửa mối nhục cho nhà Hạ Hầu!

— Ờ, được. - Tào Tháo gật gật đầu, nhưng trong lòng lại thầm cầu nguyện, chỉ mong sao từ nay trở đi tên giặc tai to đó sẽ bị Lưu Biểu khống chế, sau này cùng dọn dẹp một thể là hơn cả.

Trong khi Tào Tháo đang nghĩ ngợi, tấm rèm vải bông chợt vén lên, một luồng gió lạnh tràn vào. Tào Phi phẩy phẩy tấm áo lông cáo hớn hở bước vào:

— Phụ thân, bên ngoài có tuyết rơi rồi! Khai xuân có tuyết xuống chính là điềm lành, năm nay nhất định ngũ cốc sẽ được mùa!

Tào Chân, Hạ Hầu Thượng đi ngay sau cũng bước vào, cùng nhau thi lễ với các vị trưởng bối trong nhà.

— Đại công tử nói không đúng rồi. - Tào Du vẻ mặt khốn khổ. - Năm nay khai xuân đã mấy lần đổ tuyết, mùa xuân mà còn rét thế này rất hại cho việc trồng cấy. Xem ra năm nay thu hoạch cũng sẽ không được tốt.

— Hừ! - Tào Tháo đưa mắt lườm con trai. - Nghe thấy chưa? Chút kiến thức cỏn con ấy mà còn không biết... Con đi đâu mà từ sáng sớm đã không thấy tăm hơi đâu thế?

Tào Phi vội ngưng cười, gãi gãi đầu nói:

— Con theo Tử Đan[1] huynh đi tìm mộ phần của bá phụ, bá mẫu.

Năm xưa phụ thân của Tào Chân, Tào Bân là Tần Thiệu vì che giấu Tào Tháo mà chết, mẫu thân lại e ngại làm phiền cho việc khởi binh nên cũng tự vẫn theo. Thi thể của hai người được chôn giấu phía sau ngôi nhà gianh của Tần gia, để tránh quan phủ phát hiện nên không đắp cao thành nấm. Nhiều năm trôi qua, chiến loạn liên miên, ngôi nhà gianh của Tần gia đã mất dạng từ lâu, chỉ còn một khoảnh đất hoang lớn, có muốn tìm cũng không tìm được nữa. Tào Tháo thấy nghĩa tử ngấn nước mắt, cúi đầu không nói, liền khuyên bảo:

— Tử Đan con ta, chớ có bi thương. Thân sinh phụ mẫu của con có ân cứu mạng ta, lão phu đời này kiếp này không bao giờ quên, mộ phần tuy không tìm thấy, nhưng ta sẽ cho dựng một ngôi miếu thờ họ ở gần đó, để người ở quê hương hỏa lễ bái. Ngoài ra... em gái con cũng sắp đến tuổi hứa gả cho người ta rồi nhỉ?

Khi Tần Thiệu chết, ngoài hai con trai còn một đứa con gái vẫn còn quấn tã, cũng được Tào Tháo nuôi dưỡng. Đếm đốt ngón tay, đứa con gái ấy giờ cũng đã hơn mười tuổi rồi. Tào Chân cúi đầu bẩm:

— Tiểu muội tuổi vẫn còn nhỏ, nhưng nếu như phụ thân đã nhắc đến, thì sớm sắp đặt chuyện hôn nhân cũng tốt ạ.

— Huynh đệ các ngươi đã vừa ý ai chưa? Cứ nói thẳng với ta đừng ngại.

Tào Chân rất biết lễ nghi:

— Ơn sinh không bằng công dưỡng, anh em con nhờ ơn phụ thân dưỡng dục, chuyện hôn nhân xin nhờ người đứng ra làm chủ.

— Được! Nếu đã như vậy, ta sẽ thay Tần đại ca chủ trì việc nhà... - Mắt Tào Tháo sáng lên, đưa tay chỉ vào Hạ Hầu Thượng, - Tên có mụn cơm thông minh kia, ngươi thấy thế nào?

Hạ Hầu Thượng không ngờ Tào Tháo chỉ định uyên ương lại chỉ vào đúng đầu mình, đưa tay sờ sờ lên nốt mụn cơm trên mặt, ngượng ngùng cúi đầu thật thấp. Tào Chân thì vô cùng vừa ý, cậu ta từ nhỏ đã chơi cùng bọn Tào Phi, Hạ Hầu Thượng, tri giao từ lâu, đã hiểu rõ nhau, vội chắp tay nói:

— Hạ Hầu hiền đệ thông minh đĩnh ngộ, đã thân lại càng thêm thân, anh em chúng con xin tuân mệnh phụ thân.

Tào Tháo vuốt râu cười hỏi Hạ Hầu Thượng:

— Nghĩa nữ của lão phu gả cho tiểu tử ngươi, ngươi có bằng lòng không?

“Chí hướng cao xa” nhất trong đời Hạ Hầu Thượng là lấy được một mỹ nữ tuyệt sắc, em gái Tào Chân cậu ta đã gặp mặt rồi, dung mạo bình thường, tính cách mạnh mẽ, tuyệt không phải là cô nương trong mộng. Nhưng đây lại là Tào Tháo chỉ định trước mặt, cậu ta há dám không đồng ý ư? Hạ Hầu Thượng cắn răng mím miệng, nhưng lại không dám phản đối:

— Cái này... cái này...

— Làm sao mà cái này với cái kia? Chuyện hôn nhân chúng tại hạ bằng lòng! - Hạ Hầu Uyên mở to đôi mắt lớn cất lời. - Thân càng thêm thân, chuyện tốt như vậy, tiểu tử ngốc ngươi xấu hổ gì chứ? Mau bái lạy nhạc phụ đi. - Rồi không để Hạ Hầu Thượng kịp phân bua, Hạ Hầu Uyên ấn đầu xuống dập đầu trước Tào Tháo.

Mọi người ai nấy cùng cười lớn, Tào Tháo càng thêm vui. Chuyện hôn sự này xem ra có vẻ ngẫu nhiên, nhưng chính là đã tính toán từ lâu. Bây giờ lớp huynh đệ Tào Tháo đều đã qua tuổi trung niên, đã đến lúc cần dẫn dắt cho con cháu lớp sau. Hạ Hầu Thượng cũng là kẻ thông minh hơn người, ngày sau có thể trở thành hiền tài hữu dụng. Từ lâu Tào Tháo đã muốn lôi cậu ta về làm con rể của mình, sau này có thể trọng dụng làm tâm phúc. Nhưng con gái lớn của Tào Tháo đã gả cho con trai Hạ Hầu Đôn là Hạ Hầu Mậu. Ngoài ra cũng có mấy con gái của các vị trắc thất phu nhân, nhưng tuổi đều còn nhỏ. Duy chỉ có chọn em gái Tào Chân để kết mối nhân duyên này là thích hợp nhất. Trong lòng Tào Tháo, nữ nhi rốt cuộc vẫn chỉ là nữ nhi, nói thẳng ra chẳng qua chỉ là một quân cờ mà thôi.

Tào Chân bái tạ những người có mặt, lại nói:

— Còn một việc này xin được phụ thân ân chuẩn. Khi còn bé con thường chơi cùng với hai vị huynh trưởng ở làng bên là Tào Tuân và Chu Tán. Hiện giờ hai người ấy phải chịu khốn khổ vì chiến loạn, phụ mẫu già cả, gia cảnh nghèo khó, có thể để bọn họ... - Tào Chân không tiện nói thẳng ra là xin cho họ làm quan.

Tào Tháo khi còn trẻ cũng có biết hai tiểu tử ấy, chẳng những không học hành gì, võ nghệ lại càng không, chỉ là hai kẻ nông phu bình thường, dùng chúng vào việc gì được chứ? Nhưng ân tình của vợ chồng Tần Thiệu lớn như trời bể, cũng không thể không nể tình Tào Chân. Tào Tháo bằng lòng nói:

— Con đã có lời như vậy, hãy sung bọn chúng trung quân, sau này nếu lập được công lao thì sẽ thăng thưởng lên. Còn thực sự không có được điểm gì hơn người thì... cho hưởng thêm chút lương tiền cũng được. Đó coi như ta nể tình Tử Đan con rồi đó!

— Vâng, vâng. Đa tạ phụ thân ưu ái. - Tào Chân vội vàng tạ ơn.

Tào Phi thấy Tào Tháo nhận hai người ấy, trong lòng cũng ngứa ngáy, nói chen vào:

— Phụ thân, Chu gia ấy còn một tiểu huynh đệ tên là Chu Thước, thông minh lanh lợi là bậc nhân tài, chỉ nhỏ hơn con hai tuổi, có thể cho y vào trong phủ giúp con làm... - Còn chưa nói hết câu thì thấy phụ thân đã đổi sắc mặt, cậu ta vội vàng im bặt.

Tào Tháo nghiêm giọng nói:

— Mạc phủ là nơi bàn bạc những việc quân quốc trọng sự, há có thể nhận người theo ý riêng? Khi ta xuất binh đánh Quan Độ, ngươi đã đến chỗ Tuân lệnh quân nhờ vả, tưởng ta không hay biết ư? Hiện nay triều đình đã ổn định, ở quê nhà cũng không thể không chỉnh đốn quân trú phòng, những hương dũng sẵn có trong gia tộc, ta thấy có thể chọn lấy một số biên chế vào trung quân, không làm lỡ tiền đồ của họ. Những việc này ta tự có chủ ý, không đến lượt ngươi phải lo lắng!

Tào Phi sợ xanh mặt, còn Tào Du ngồi bên thì sung sướng vô cùng: Ông ta vất vả hầu hạ Tào Tháo bao lâu như vậy chính là đợi một câu nói này. Thu nạp dân binh ở quê tất nhiên không thể thiếu được kẻ thủ lĩnh hương dũng là ông ta. Như vậy có nghĩa là ông ta sắp được làm quan rồi. Ông ta tuy không có tài cán gì, nhưng nói đến vai vế thì chí ít cũng là tộc thúc của quan Tư không đương triều, sau này vinh hoa phú quý, tử ấm thê phong là điều chắc chắn!

Tào Tháo tất nhiên hiểu tâm tư của vị thúc thúc này. Sở Bá Vương Hạng Vũ khi xưa có câu: “Phú quý mà không về quê thì có khác gì áo gấm đi đêm”; Hán Cao Tổ Lưu Bang cũng từng có câu ca: “Gió lớn nổi chừ mây cuộn dương; Uy chấn khắp cõi chừ về cố hương”; Quang Vũ Đế Lưu Tú sau khi lên ngôi có đến năm lần về Nam Dương. Tào Tháo tuy không so được với các vị đế vương đời trước, nhưng cũng đứng dưới một người mà trên vạn người, trong lòng ông rất rõ, về quê là phải tiêu tốn nhiều tiền. Tào Tháo quyết định việc tốt là phải làm đến nơi đến chốn, tức phải ban ơn trả nghĩa cho hương thân phụ lão, ông tiện tay cầm tờ thủ trát còn trống, lấy bút viết một đạo giáo lệnh[2]: Ta khởi nghĩa binh, để trừ bạo loạn cho thiên hạ. Nhân dân nơi đất cũ, chết chóc hầu hết, đi trọn ngày trong nước cũng không gặp ai quen biết, khiến ta vô cùng đau lòng. Từ khi cử nghĩa đến nay, những tướng sĩ hy sinh không có người nối dõi, cho tìm trong thân thích để lấy người kế thừa, ban cho ruộng đất, cấp cho trâu cày, sắp đặt thầy học để dạy dỗ chữ nghĩa. Lại lập miếu thờ để những người còn sống tế tự cho những người đã khuất. Hồn phách họ nếu có linh thiêng, thì ta sau trăm năm còn gì phải hối hận nữa?

Lần sắp xếp ấy đã đem lại rất nhiều ưu đãi cho dân chúng huyện Tiều, không những việc cấy cày lương thực được bảo đảm, mà việc đi học làm quan cũng được nhiều ưu tiên. Quê hương rốt cuộc vẫn là quê hương, những quan lại xuất thân cùng quê càng đáng tin cậy hơn. Chuyện này có khác gì với việc Lưu Tú sau khi xưng đế hậu đãi bách tính Nam Dương, Tào Tháo tuy không phải hoàng đế, nhưng có thể quyết định được những việc tương tự.

Tào Tháo viết một mạch rồi đưa cho những người có mặt lần lượt xem, ai nấy đều tấm tắc khen ngợi. Tất cả đều là người quê nhà, nào có ai không được hưởng ân huệ? Cho mọi người truyền nhau xem xong, Tào Tháo trịnh trọng đưa tới trước mặt Đinh Phỉ, Biện Bỉnh:

— Chuyện này giao cho hai ngươi lo liệu.

Đinh Phỉ nghe được câu này, bao ấm ức trong lòng đều tan biến, hai mắt sáng ngời - công việc này kiếm chác được đây! Tu tạo học quán cần phải có lương tiền, trâu cày càng không thể thiếu công, đồn dân thuê trâu cũng phải móc hầu bao ra. Nhận được việc này, ông ta và Biện Bỉnh kiếm chác bỏ túi riêng thì ai biết? Chỉ cần chăm lo tốt cho những họ hàng thân thích, những người nghèo khổ khác thì làm trò một chút, còn lại tất cả đều là đút vào túi riêng.

Tào Tháo đâu có hồ đồ như vậy. Sở dĩ ông chọn Đinh Phỉ là vì khi xưa lúc mới khởi binh có nhờ tài lực của nhà họ Đinh, nay đã đến lúc trả ơn. Còn nội đệ Biện Bỉnh, tuy có công lao nhưng chưa được thăng quan tiến chức, nhà đại Hán để ngoại thích can thiệp vào chính sự mà loạn nước, Tào Tháo không muốn bị mất thanh danh vì chuyện đề bạt thân thích họ hàng. Thế nên thay vì thăng quan tiến chức, coi như đem tiền tài bù vào cho.

Đinh Phỉ đưa tay định nhận, nhưng Tào Tháo lại rụt tay dặn dò thêm:

— Các ngươi làm việc phải có tính toán, cụ thể cần bao nhiêu tiền lương thì tìm Nhậm Tuấn để bàn bạc ra một con số chuẩn, một lần tính toán cho rõ ràng, chớ có xin đi xin lại mãi không thôi. Mấy ngày nữa ta sẽ phong Viên Hoán làm Huyện lệnh huyện Tiều, ông ta chấp pháp như sơn, sẽ không nể mặt các ngươi đâu. Ngoài ra, đất đai điền sản của Tử Liêm ở quê nhiều rồi, không cho phép lại ban thêm nữa, hãy chăm lo nhiều hơn cho những người nghèo. Đã rõ chưa? - Tào Tháo biết rõ Đinh Phỉ lòng tham vô đáy, nếu không dặn dò mấy câu hắn ta tất sẽ bỏ túi riêng hết. Trong Tào doanh, những tham tài cũng không phải ít, Tào Hồng thấy tiền như thấy mạng không cần phải nói, Lưu Huân, Hứa Du, Quách Gia cũng kiếm chác thành thần. Đều là những người có công, Tào Tháo không tiện quản giáo quá nghiêm, nhưng nếu Đinh Phỉ làm lộ liễu quá, gây ra điều tiếng thì sao có thể quản được người khác, đến khi ấy mặt mũi người nào cũng khó coi cả.

— Rõ rồi, rõ rồi, ngài yên tâm đi. - Đinh Phỉ thấy tiền còn hơn thấy cha, hớn hở nhận lấy văn thư, quay sang Biện Bỉnh nháy nháy mắt rất ý nhị.

Tào Tháo thấy bộ dạng ông ta như vậy thực sự không an lòng, lắc đầu than thở:

— Mấy hôm trước Duyện Châu đưa tin báo rằng Thái thú Trần Lưu Táo Chi đã qua đời. Khi xưa nếu không có ông ta sửa đổi chế độ đồn điền thì triều đình làm gì có nhiều tiền của như vậy. Dưới gầm trời này đâu đâu cũng chỉ thấy kẻ ngửa tay xin tiền, có mấy ai hiểu được cách khơi nguồn như Táo Chi đâu? Tuân lệnh quân đang xem xét sửa đổi chính sách thuế khóa, nếu Táo Chi còn sống thì tốt biết mấy, thật đáng tiếc...

Đinh Phỉ chẳng để vào tai câu nào, chỉ muốn lập tức lôi bàn tính ra tính toán, bèn nói họa theo mấy câu rồi kéo Biện Bỉnh đứng lên:

— Các phụ lão ở quê đang nhao nhao chờ đợi, không nên để lỡ công việc, chúng tại hạ lập tức về doanh bàn bạc với Nhậm Tuấn xem làm thế nào. Chư vị tiếp tục hầu chuyện Tào công nhé.

Tào Tháo cũng chẳng muốn giữ tên hám của ấy ở lại, phẩy phẩy tay:

— Đi đi, đi đi!

— Dạ! - Đinh Phỉ cứ dính đến tiền là tinh thần phấn chấn ngay, thuận tay kéo Biện Bỉnh đi luôn. Tào Phi, Hạ Hầu Thượng, Tào Chân đứng từ nãy cũng đã buồn chân, nhân cơ hội đó chẳng nói chẳng rằng theo sau đi luôn.

Ngoài trời tuyết đã rơi dày, không lâu sau tuyết đã dày đến nửa thước, hơn nữa vẫn chưa có gió, từng mảng từng mảng tuyết bay xuống tới tấp như lông ngỗng, khiến ai nhìn thấy cũng vui thích một cách kỳ lạ. Đinh Phỉ hớn hở bước ra, nhất thời không chú ý bị trơn trượt loạng choạng, may có Biện Bỉnh đỡ cho:

— Chẳng phải là có cơ kiếm chác thôi ư, sao ông cứ như được chén mật ong thế? Chớ để mất mặt trước mọi người chứ... - Còn chưa nói dứt câu bỗng thấy tối tăm mặt mũi, một nắm tuyết lớn bay trúng giữa mặt, khiến nước đá chảy cả vào miệng. Biện Bỉnh vừa ho vừa mắng, - Khục khục!... Kẻ nào ném đấy? Khốn kiếp, không muốn sống nữa ư?

Dụi mắt ngẩng đầu lên nhìn, thì ra là một đám trẻ con, cầm đầu là mấy công tử Tào Chương, Tào Thực, Tào Xung, Tào Bưu, ngoài ra còn có Hạ Hầu Mậu, Hạ Hầu Uy, Hạ Hầu Hành, Tào Thái - con Tào Nhân, Tào Phức - con Tào Hồng, cả con của Biện Bỉnh là Biện Lan cũng có mặt trong đó, đứa lớn mới độ mười tuổi, đứa nhỏ còn chưa tới năm sáu tuổi, vừa nhảy nhót vừa nô đùa. Biện Bỉnh vốn xuất thân từ phường hát xướng, theo tỷ tỷ đến Tào gia, công việc đầu tiên được giao là trông nom dỗ dành bọn trẻ, đám tiểu bối trong tộc đều cùng chơi với Biện Bỉnh mà lớn lên. Bây giờ thấy lũ trẻ này, Biện Bỉnh chợt dâng niềm đồng cảm, chuyển giận thành vui, nắm ngay lấy một nắm tuyết ném Biện Lan đầu tiên:

— Con dám ném cha, ta kiện ngươi tội ngỗ nghịch bất hiếu!

Biện Bỉnh vừa ném thì tất cả bọn trẻ đều vốc tuyết lên ném trả, Tào Chương từ nhỏ đã to lớn hơn những đứa trẻ khác, vén tay áo kêu to:

— Ta đánh cữu cữu tội người lớn mà không nghiêm!

Thế là tất cả những nắm tuyết đều rào rào ném về phía Biện Bỉnh, bọn trẻ “muôn tên cùng bắn” tấn công cữu cữu.

Đinh Phỉ chưa bao giờ thấy chuyện mất tôn ti trên dưới như thế, liền quát tháo:

— Không được làm loạn! Tất cả không được làm loạn! Chúng ta còn có công việc đấy.

Biện Bỉnh tránh những nắm tuyết ném tới, cười nói:

— Huynh đi làm việc của huynh đi, ta cũng có biết mánh khóe moi tiền gì đâu, cần bao nhiêu huynh cứ việc nói với Nhậm Tuấn, ta không chia chác, cũng không tra xét huynh là được chứ gì? - Biện Bỉnh vẻ ngoài xuề xòa, nhưng trong lòng rất sáng suốt. Tỷ tỷ Biện thị sinh hạ được ba con trai, là người có tư cách nhất trong số các vị trắc thất. Sau này tỷ tỷ có cơ lên thay, nên không thể vì chút tiền mà hủy hoại thanh danh được. Nếu Đinh gia tham ô mà Biện gia thanh liêm thì những kẻ sáng mắt nhìn thấy tất có đánh giá thấp cao, ai dám đảm bảo rằng đây không phải là cách Tào Tháo thử thách hai nhà? Cần phải biết nhìn xa trông rộng một chút!

Đinh Phỉ tuy là kẻ có tài nhưng tiền làm mờ mắt, không nghĩ được đến như vậy, vừa cúi mình, vừa chắp tay:

— May được hiền đệ chiếu cố, ngày sau ngu huynh tất sẽ có phen báo đáp. - Rồi tự cho rằng mình đã được lợi nhiều, cười ha hả đi khuất.

Ông ta đi rồi, Biện Bỉnh chơi với lũ trẻ càng vui hơn, tuyết ném tung tóe khắp nơi, không còn biết là ai đang ném ai nữa. Tào Chương tuy nhỏ nhưng rất khỏe, ném liên tục ba nắm tuyết một, cuối cùng khiến cho đệ đệ Tào Xung ngã sóng soài. Biện Bỉnh thấy vậy, vội vàng “đình chiến”, vừa phủi tuyết vừa mắng Tào Chương:

— Cháu là anh mà nặng tay với em thế, khỏe tay thì luyện tập cung mã đi, ngày sau ra chiến trường giết giặc giúp phụ thân... Xung nhi, ngã có đau không?

— Không sao ạ. - Tào Xung cười toe toét bò dậy, sửa sang lại y phục xộc xệch. Cậu ta là con của Hoàn thị, được thừa hưởng từ mẹ dung mạo thanh tú, lại mặc bộ áo lông cáo màu trắng toát, trông hệt như một con rối bằng bạc.

Biện Bỉnh nắm chặt bàn tay nhỏ bị lạnh đến đỏ lựng của Tào Xung:

— Cháu là bảo bối trong lòng phụ thân, được phụ thân yêu mến hơn cả, nếu chẳng may có sơ sẩy gì, ta gánh sao nổi trách nhiệm đây... Nhìn y phục của cháu xem có đẹp không, người ta vẫn nói “Da ngàn con dê không bằng nách một con cáo”, phải giết bao nhiêu cáo mới gom được một cái áo lông cáo này, sao cháu lại có thể mặc nó mà lăn lê trong tuyết thế?

Tào Xung chẳng hề bận tâm:

— Cha cháu nói rồi, hang cáo ở khắp nơi dưới gầm trời này, sau này sẽ moi tận hang ổ của chúng, lột hết da bọn chúng. Khi ấy cháu cũng đã lớn, sẽ may cho cháu một tấm áo bào thật oách!

Trẻ con nghe là học nói theo, nhưng những lời này khiến Biện Bỉnh giật nảy mình, rõ ràng trong lời nói của Tào Tháo có ẩn ý khác, phải chăng ông rất vừa ý với đứa con này? Trong lúc đang ngây người suy nghĩ, Biện Bỉnh chợt thấy sau lưng lạnh buốt - thì ra Tào Chương bị mắng mấy câu, liền nhân khi Biện Bỉnh không đề phòng vốc một nắm tuyết lớn nhét vào cổ áo Biện Bỉnh.

— Ối chao ôi! - Biện Bỉnh lạnh đến run người. - Lũ nhóc này nghịch ngợm quá, làm ướt hết áo ta rồi. Còn làm việc thế nào được nữa? Mau giải tán hết đi, về sưởi ấm, thay quần áo. Đứa nào cũng là cục cưng của cha mẹ, lạnh mà sinh ốm thì há lại không lo lắng ư? - Nói đoạn bế Biện Lan lên đi về.

Bọn trẻ thấy cữu cữu đi rồi, túm đôi tụm ba một lát rồi cũng dần giải tán, chỉ còn Tào Chương, Tào Xung, Tào Bưu vẫn chưa thấy chán, kéo tay áo Tào Phi đòi chơi nữa. Tào Phi mấy hôm nay mọi việc đều không được như ý, từ khi Tào Tháo dẫn quân về triều, động một chút là la mắng, hôm nay vừa mở miệng nhắc đến chuyện Chu Thước lại bị mắng tại trận, còn tâm tư nào dỗ dành em trai nữa:

— Đi đi, đừng đến làm phiền ta! Ta còn có việc, ai được như các đệ ngày nào cũng chỉ biết chơi!

Tào Chương thấy Tào Phi khó chịu như vậy, làm bộ mặt xấu trêu nói:

— Hừ! Động một tí là ra vẻ ca ca, có gì ghê gớm chứ? Huynh cứ tưởng phụ thân coi trọng huynh lắm hả?... Xung nhi, Bưu nhi, chúng ta chơi với nhau thôi, mặc kệ huynh ấy đi!

Tào Phi bỗng giật mình, đứng lặng đi trong tuyết: “Đứa bé mười tuổi sao hiểu hết được ý nghĩa mấy câu ấy? Đây tất là người trong phủ nói chuyện riêng với nhau để nó nghe thấy, mình là con trưởng mà không được phụ thân coi trọng, xem ra đó không còn là điều bí mật nữa rồi...” Đúng lúc đang hoang mang, Tào Phi bỗng nghe thấy tiếng khóc lóc thảm thiết vang lên, từ ngoài sân một người lính già run run rẩy rẩy đi vào - đó chính là Lý Thành, người cai quản tàu ngựa trong mạc phủ.

Lý Thành cũng là người huyện Tiều, nước Bái, hồi nhỏ làm bộc đồng trong Tào gia, sau theo Tào Tháo tòng quân đánh giặc, đến khi lớn tuổi thì phụ trách tàu ngựa, có thể coi là một gia nô rất mực trung thành. Ông ta thường ngày tính tình vui vẻ, hay cười hay nói, nhưng hôm nay bộ dạng buồn bã, gần sáu chục tuổi đầu mà ngày đổ tuyết đi ra ngoài đến cái áo bông cũng không chịu mặc, mũ nón không đội, bê theo chiếc yên ngựa vừa đi vừa khóc lóc.

— Ồ, ông làm sao thế? - Tào Phi lấy làm lạ hỏi.

Lý Thành như không nghe thấy, chỉ cúi đầu vừa khóc vừa lẩm bẩm:

— Sống không nổi rồi... Sống không nổi rồi...

Tào Chương thấy ông ta tuổi tác đã cao mà còn khóc lóc đến lạ, chạy lại giật giật chòm râu. Nào ngờ Lý Thành bị cậu ta giật râu, liền nhân thế quỳ sụp xuống đất, ôm yên ngựa gào khóc to hơn.

Bọn Tào Phi vội vàng đỡ dậy:

— Ông có việc gì hãy nói ra, khóc có tác dụng gì chứ?

Lý Thành lau giọt nước mắt già nua, nâng cái yên ngựa lên:

— Các vị công tử xin hãy nhìn đây...

Chiếc yên ngựa ấy, da bọc đã lên nước đen bóng, được vẽ sơn màu, có vòng đồng để chân, vừa nhìn có thể nhận ra ngay là vật của Tào Tháo, nhưng bên cạnh đã thủng một lỗ to bằng ngón tay cái. Lỗ thủng tuy nhỏ, nhưng khiến những người có mặt đều giật mình sợ hãi. Tào Tháo bình sinh vốn thích ngựa, tất cả đồ dùng đều yêu cầu người dưới phải chăm chút cẩn thận. Đặc biệt là chiếc yên ngựa này chính là di vật của Tào Ngang, bị hỏng như thế há có thể sửa là xong? Tào Tháo quản thuộc hạ vô cùng nghiêm khắc, duyện thuộc trong phủ làm việc chỉ cần thiếu chu toàn một chút là bị phạt đòn trước mặt mọi người, hôm nay nếu Tào Tháo nổi cơn lôi đình, chưa biết chừng sẽ lấy cái mạng già của Lý Thành!

Tào Phi cũng hoảng hốt:

— Làm sao mà ra thế này?

— Chuột cắn đấy ạ. - Lý Thành sợ sệt nói, - Nô tài mới ra ngoài một lúc, bọn chuột đã chui vào trong tàu ngựa rồi!

— Ông xưa nay làm việc cẩn thận, sao lại để sơ suất như thế? Hôm trước chẳng phải đã cho phép ông về thăm nhà rồi ư, ngày đổ tuyết thế này còn đi ra ngoài làm gì?

— Lão nô đến chỗ thầy lang xin một đơn thuốc, nào biết đâu... - Lý Thành ôm chặt cổ chân Tào Phi, - Xin đại công tử cứu mạng, công tử nói giúp lão nô một câu, lão nô tuổi tác thế này không chịu nổi đòn đâu... Công tử xin cứu lão với...

Tào Phi biết rõ phụ thân vui giận thất thường, bản thân lại không được yêu mến đến thế, ăn nói không khéo chưa biết chừng lại còn vạ lây, từ nay về sau càng khó có thể được coi trọng!

Tào Chân, Hạ Hầu Thượng cũng lắc đầu quầy quậy, chẳng ai có thể giúp được việc này. Lý Thành thấy vậy, biết không có hy vọng gì, phủ phục xuống đất khóc thất thanh, bỗng thấy bên tai có một giọng trẻ con:

— Lão bá chớ khóc, ta sẽ giúp lão bá việc này.

Lý Thành ngẩng lên nhìn, thì ra là công tử Tào Xung mới sáu tuổi, làm sao cậu ta có thể lo được việc của người lớn? Nhưng Tào Xung đã có chủ ý trong lòng, ghé đến bên tai Lý Thành thì thầm mấy câu. Cũng thật lạ, Lý Thành quả nhiên không khóc nữa, gạt nước mắt nói:

— Cách ấy... có được không?

— Làm sao không được? - Tào Xung vung tay ra vẻ người lớn. - Chỉ cần lão bá nghe thấy ta hắng giọng thì chạy vào thỉnh tội, chắc chắn sẽ bình an vô sự.

— Cái ấy thì không khó... - Lý Thành bán tín bán nghi nhìn cậu bé. - Nhưng công tử nói giúp lão nô chuyện này thế nào?

— Cái ấy lão bá không cần phải hỏi. - Tào Xung cười vẻ bí hiểm, - Phiền các ca ca tìm một sợi dây thừng trói tay Lý Thành lão bá ra sau lưng, làm cho ông ấy lôi thôi một chút... Chân ca ca, cho đệ mượn cây bội kiếm của huynh.

— Đệ còn bé thế muốn mượn kiếm làm gì? - Tào Chân lấy làm khó hiểu, nhưng vẫn rút bội kiếm ra đưa cho cậu ta, - Đệ cẩn thận đấy, chớ để đứt tay.

Nào ngờ Tào Xung cầm lấy kiếm rồi chẳng nói chẳng rằng cởi ngay chiếc áo lông cáo ra cắt thủng một miếng.

— Ối! Tên nhóc này... - Tào Phi, Tào Chân giật mình kêu lên, Lý Thành cũng tròn mắt ra nhìn, chiếc áo quý giá như vậy há có thể phá hỏng?

Tào Xung cười hi hi mân mê chỗ lỗ thủng, vò vò cho đến khi tuột ra rất nhiều lông cáo rồi mới vừa ý, lại dặn Lý Thành:

— Lão bá phải nghe thật rõ nhé, đợi ta ho rồi mới được chạy vào. - Nói xong Tào Xung vứt bảo kiếm xuống, nhảy chân sáo chạy thẳng lên chính đường...

Tào Tháo lúc này vẫn đang buồn rầu vì cái chết của Táo Chi, chợt thấy rèm cửa vén lên, Tào Xung hớt hải chạy chúi vào lòng mình, khóc thút thít:

— Không hay rồi! Không hay rồi! Cha mau cứu con với...

— Nín đi, nín đi! - Tào Tháo tưởng đứa con cưng bị bắt nạt, vội ôm lấy nó, cho ngồi lên đùi, vén râu hôn lên má rồi bảo, - Xung nhi, nín đi nào... Có chuyện gì hãy nói cho cha nghe, có kẻ nào to gan bắt nạt con ư?

Tào Xung chỉ khóc giả vờ, nghe vậy liền dẩu cái miệng nhỏ xinh nói:

— Là chuột ạ! Chuột cắn cái áo mới của con, cha nhìn mà xem! - Cậu giơ lỗ thủng trên chiếc áo lông cáo cho mọi người xem.

Tào Du ngồi bên nói chen vào:

— Tiểu công tử chưa từng sống ở quê nên không biết đấy thôi. Bên ngoài tuyết rơi nhiều, tất nhiên chuột sẽ chui vào trong nhà.

Tào Xung vẫn một mực không nghe, đung đưa cái áo nhau nhảu nói:

— Không đúng, không đúng, ta có nghe vú em nói, nếu chuột cắn áo ai thì người ấy sẽ có tai họa. Xung nhi hôm nay nhất định mắc nạn rồi, cha cứu Xung nhi với...

— Ha ha ha! - Tào Tháo cười nghiêng ngả, véo nhẹ cái mũi nhỏ của con. - Con trai ngốc của ta, đó đều là những câu mê tín của đám đàn bà con gái, há có thể tin là thật?

Tào Xung giả vờ run rẩy, túm lấy râu Tào Tháo giật giật:

— Con sợ, con sợ lắm!

— Được rồi, được rồi. - Tào Tháo kéo một cái ghế lại. - Con cứ ngồi ở bên cạnh ta, nếu thực sự có hoạn nạn gì, ta sẽ đỡ cho con.

Tào Xung khi ấy mới hết lo, thở phào một tiếng nói:

— Thiên hạ ai cũng nói cha uy danh bốn biển, vô cùng nghiêm khắc, chớ nói là kẻ ác nhân mà ngay cả quỷ thần cũng phải sợ mấy phần!

Điều khiến người làm cha trong thiên hạ vui nhất là được con khen. Huống chi lại còn nói quỷ thần cũng phải sợ mấy phần, Tào Tháo nghe được câu này còn hơn rót mật vào tai:

— Xung nhi nói đúng lắm, có cha ở đây con không phải sợ gì hết, sau này con cũng phải đội trời đạp đất giống như cha đây nhé! Chẳng phải chỉ là cái áo thôi sao, thủng một lỗ cũng tốt, không bỏ cái cũ đi sao có cái mới được, sang năm cha lại bảo người may cho con cái mới.

Hai cha con Tào Tháo nói chuyện với nhau, người ngoài ai nghe thấy cũng phải tấm tắc. Ăn mặc của bản thân thì Tào Tháo không chú ý lắm, nhưng với đứa con này thì lại rất chăm chút, áo lông cáo quý giá như vậy mà bảo may mới là may mới ngay, từ đại công tử Tào Phi trở xuống nào có ai được như vậy?

Tào Xung cũng không ầm ĩ lên nữa, ngoan ngoãn ngồi yên lặng một bên. Tào Tháo tiếp tục bàn bạc chuyện truy thưởng cho Táo Chi với Hạ Hầu Uyên, quyết định gia phong tước vị cho con trai ông ta, rồi cầm bút lên viết tấu chương. Ước khoảng nửa canh giờ, Tào Xung thấy phụ thân dừng bút trầm ngâm nghĩ ngợi câu chữ, liệu rằng thời cơ đã đến, liền lấy giọng ho lên mấy tiếng. Bọn Lý Thành, Tào Phi đợi sẵn dưới cửa sổ nãy giờ, ngồi lâu đã tê cả chân, Lý Thành vội vàng quỳ sụp xuống đất, cất giọng hô to:

— Lão nô cầu kiến Tào công!

— Lý Thành hả? Vào đi... - Tào Tháo nhận ra giọng ông ta, ngẩng đầu lên nhìn.

Tên mã phu già mặc độc chiếc áo đơn màu nâu, tóc tai rũ rượi, tự trói hai tay, quỳ gối lết vào cửa, liên tục dập đầu côm cốp:

— Tiểu nhân có tội, xin chúa công trách phạt!

— Chuyện gì mà nghiêm trọng thế?

— Tiểu nhân nhất thời không cẩn thận, để chuột chui vào tàu ngựa, cắn thủng yên cương của chúa công. Xin chúa công trách phạt.

— Chuyện cỏn con đó có đáng kể gì? Ngươi ra ngoài đi!

Lý Thành ngỡ rằng mình nghe nhầm, vẫn dập đầu mãi không thôi:

— Bất luận thế nào thì cũng là lỗi của lão nô. Đó là di vật của Ngang công tử để lại, xin chúa công giáng tội...

Tào Tháo lừ mắt nhìn ông ta:

— Thế có gì mà cuống lên? Áo của Xung nhi để trong phòng ngủ còn bị chuột cắn nữa là! Trong tàu ngựa có chuột thì có gì lạ đâu?

— Lão nô bất tài...

— Đừng nói nữa. - Tào Tháo đang để tâm vào bản tấu chương, sốt ruột xua tay, - Chuyện cỏn con ấy có gì mà trị tội! Đi đi, cho ngựa của ngươi ăn đi, đừng ở đây quấy rầy lão phu nữa.

Thế là coi như không có việc gì.

Lý Thành thở phào một hơi, lại dập đầu lần nữa rồi lui ra. Tào Xung nhẫn nại ngồi thêm một lúc nữa, khi thấy Tào Tháo đã viết xong tấu chương, liền giật giật tay áo ông nói:

— Cha cứ viết viết vẽ vẽ chán chết, hài nhi không ngồi ở đây nữa đâu.

— Ồ! - Tào Tháo bị con trai lừa mà vẫn không biết, - Tiểu tử này không biết kiên nhẫn gì cả, thôi đi tìm bọn Bưu nhi chơi đi... Ta nghe con có vẻ hơi ho đấy, mặc nhiều áo một chút!

Tào Xung thuận miệng vâng một tiếng rồi vui vẻ chạy đi, qua cửa ngoài một quãng khá xa, thấy ca ca, đệ đệ đang vây quanh Lý Thành cười đùa. Mọi người thấy Tào Xung chạy tới đều tỏ ý khen ngợi. Tào Xung dương dương đắc ý, nhưng thấy Lý Thành vẫn có vẻ lo lắng, liền bảo:

— Chuyện yên ngựa ổn cả rồi, lão bá còn lo gì nữa?

Lý Thành thở dài:

— Tránh được kiếp nạn hôm nay, nhưng lão nô vẫn không tránh được phải chết... Các công tử có cười cũng không dám giấu, lão phu thân mắc trọng bệnh, nếu năm nay vẫn không có thuốc chữa trị, lão nô tất sẽ không qua khỏi.

Tào Xung chớp chớp mắt:

— Tìm thuốc thì có khó gì? Phụ thân ta quyền khuynh thiên hạ, có cái gì mà không kiếm được? Đến ngự dược trong cung muốn lấy lúc nào cũng được. Lão bá là người trong phủ từ xưa, chỉ cần cầu xin một câu, phụ thân ta sẽ lấy cho lão bá.

Lý Thành cười nhăn nhó:

— Tên phải bắn vào con chim hết số, bệnh phải trị vào tay kẻ biết nguyên do. Bệnh này của lão nô, duy chỉ có vị “thần tiên sống” Hoa Đà ở huyện ta mới có thể chữa được.

— Hoa Đà? Lại còn là “thần tiên sống” ư? Chúng ta sao lại chưa được nghe về người này nhỉ? - Đám công tử đua nhau nói.

— Các công tử đều lớn lên ở kinh thành, tất nhiên là không biết. Những người ở vùng này có ai là không biết đến Hoa Đà tiên sinh? Đó đúng là một người tài giỏi, nhân từ, thuốc đưa ra là bệnh liền hết, bất cứ chứng bệnh khó trị thế nào cũng đều có thể chữa khỏi. Bệnh này của lão nô, mười tám năm trước đã có rồi, ngày nào cùng ho mãi không dứt, trong đờm có kèm theo máu, rất nhiều thầy thuốc đã bó tay rồi! Cuối cùng tìm đến chỗ Hoa tiên sinh, chỉ uống một thang thuốc của ông ấy là đỡ luôn. Nhưng Hoa tiên sinh có nói, bệnh này không chữa tận gốc được, mười tám năm sau sẽ lại tái phát, rồi cho lão nô thêm một thang thuốc để phòng đến khi ấy thì dùng. Mấy hôm trước lão nô có người họ hàng cũng mắc phải chứng ấy, lão nô nhất thời dễ dãi đã đem thang thuốc ấy cho người ta rồi. - Nói đến đó, nét mặt Lý Thành lộ vẻ hối hận, - Lão nô vốn nghĩ còn có thể gặp Hoa tiên sinh, nào ngờ hôm trước đến tìm thì ông ấy không có nhà. Vừa nãy lão nô đội tuyết đến tìm lần nữa, nhưng ông ấy vẫn chưa về. Qua hàng xóm hỏi thăm mới biết, Hoa Đà được Thái thú Quảng Lăng mời đến chữa bệnh. Từ đây đến Quảng Lăng cách xa ngàn dặm, không biết bao giờ ông ấy mới quay về, mấy ngày nữa, chúng ta lại phải khởi hành về kinh rồi... Lão nô e là không qua nổi năm nay...

— Trên đời làm gì có chuyện như thế! Bệnh đã cách mười tám năm há lại tái phát? Chỉ là những lời đồn nhảm nhí, vớ vẩn. - Tào Chân chỉ cho là chuyện nực cười.

Lý Thành vẫn nói chắc như đinh đóng cột:

— Công tử không biết tài năng của Hoa Đà đó thôi. Ông ta chỉ cần nhìn một cái là có thể biết mình có bệnh hay không, bệnh nặng đến mức nào rồi. Trước đây có vị Huyện lệnh trí sĩ về quê đến gặp ông ấy, sức khỏe như vâm, nói năng không có gì khác lạ, nhưng Hoa Đà lại nói bệnh của ông ta đã chạy đến cao hoang[3], sắp chết đến nơi. Huyện lệnh chỉ cho là lời nói điên cuồng, nào hay trên đường về nhà liền thấy hoa mắt chóng mặt, đỡ từ trên xe ngựa xuống đất thì chết! Rất nhiều bách tính hương lý đều tận mắt chứng kiến, nếu không sao lại tôn ông ấy là Hoa thần tiên chứ?

— Thế gian rộng lớn, chẳng có chuyện lạ gì mà không có, không biết chừng Hoa Đà kia đúng là có tài hơn người. - Tào Xung đưa tay lau nước mắt cho Lý Thành. - Lão bá đừng khóc nữa, nếu Xung nhi không nhầm, thì Hoa Đà cũng sắp hồi hương rồi.

— Ồ? Tiểu công tử làm sao mà biết?

— Quét sạch loạn đảng, phục hưng xã tắc là niềm mong mỏi của phụ thân ta. Trần Đăng vốn là người giữ quân tự vệ, trước đây cho ông ta làm Thái thú chẳng qua là để rảnh tay đối phó với Hà Bắc, bây giờ Viên Thiệu đã thua rồi, phụ thân ta há có thể dung cho ông ta tác oai tác quái, độc bá một phương? Ta liệu rằng vài tháng nữa hay cùng lắm là một năm, phụ thân ta nhất định sẽ điều Trần Đăng ra khỏi Quảng Lăng! Khi ấy Hoa Đà sẽ cùng đi theo đến, lão bá chẳng phải sẽ được cứu ư?

Lý Thành vẫn không hề lạc quan, dù có đúng như lời Tào Xung nói, thì ai biết khi ấy liệu còn chữa kịp nữa hay không? Nhưng ý tốt của Tào Xung cũng nên cảm tạ, Lý Thành quỳ sụp xuống đất dập đầu liên tục:

— Đại ân của công tử lão nô không biết lấy gì báo đáp, nếu may mắn không chết, ngày sau xin được dắt ngựa nâng chân cho công tử. Dù cái mạng già này có vì bệnh mà chết, thì kiếp sau xin làm thân trâu ngựa để báo đáp ân đức của công tử!

Tào Phi đứng bên nghe mà toát mồ hôi lạnh: “Tên tiểu tử này không những rất hiểu tâm tính phụ thân, mà đến đại sự của triều đình cũng hiểu rõ như soi đèn, chả trách phụ thân yêu mến nó đến vậy. Chuyện hôm nay nếu Lý Thành kể cho mọi người biết thì trên dưới trong phủ sẽ đều nói tên tiểu tử này biết thương kẻ dưới... Nó mới có sáu tuổi thôi! Sau này không biết sẽ còn thông tuệ đến mức nào nữa!”

Đúng lúc ấy, một tràng vó ngựa dồn dập vọng đến, thì ra là Tào Thuần đội tuyết từ quân doanh chạy sang, đến trước ngõ liền nhảy xuống ngựa vội vàng chạy vào trong, tay cầm cuộn văn thư.

Tào Chân trông thấy lấy làm lạ:

— Tử Hòa thúc thúc, trong quân có chuyện gì ư?

— Chuyện vui, chuyện vui thôi! - Tào Thuần tươi cười hớn hở, - Bằng hữu cũ của chúa công là Lâu Khuê muốn đi theo chúng ta!

Bạn cũ về theo

Cỏ mượt oanh bay, tiết dương xuân lại đến, băng tuyết dần tan, vạn vật đều bừng tỉnh, trên đồng ruộng công việc đồng áng cũng dần bận rộn. Nhờ những ưu đãi đặc biệt của triều đình, việc trồng cấy của dân chúng Bái Quốc cũng trở nên vô cùng thuận lợi, nông dân được lĩnh trâu cày, lâu xa[4], thậm chí quân đội cũng được sai đến để giúp khai hoang, những mảnh đất vô chủ từ khi xảy ra chiến loạn đến nay được khôi phục canh tác trở lại. Tất cả những điều ấy đều là nhờ ơn của Tào Tháo.

Tào Tháo lỏng buông tay khấu, vừa đi vừa nhìn ngắm cảnh sắc thôn quê, tâm tình vô cùng phấn chấn. Lương thực là gốc của quân đội, dân lấy ăn làm trời, chỉ cần có lương thực thì bất cứ vấn đề gì đều có thể giải quyết một cách dễ dàng. Đồn điền giúp nông nghiệp phát triển, tích lũy sản xuất, đó là cơ sở giúp Tào Tháo có được ngày hôm nay, cũng là phép tắc bất di bất dịch của kẻ xưng bá xưa nay. Tào Tháo nhìn ra phía xa xa, thấy từng tốp dân chúng đang vận chuyển gỗ đá, chuẩn bị sửa sang học quán, bất giác nhớ lại chuyện xưa, quay lại nhìn Lâu Khuê cười nói:

— Tử Bá, còn nhớ chuyện năm xưa chúng ta theo Kiều công đi chơi, được nghe những lời dạy bảo của lão nhân gia chứ?

Lâu Khuê vui vẻ gật đầu nhưng không đáp lời, sự nghiệp ông ta gây dựng mười mấy năm nay so với Tào Tháo thì kém xa. Trước đây Lâu Khuê với Vương Tuấn, Hứa Du cùng là bằng hữu của Tào Tháo, lại đều được Kiều Huyền dạy bảo, nhưng con đường đi thì lại khác hẳn nhau. Vương Tuấn theo túc nguyện của mình là làm một vị ẩn sĩ, đóng cửa ở nhà, viết sách lập ngôn, hiệu đính kinh điển, không màng đến chuyện chìm nổi trên đời; Hứa Du ban đầu đi theo Viên Thiệu lập công ở Hà Bắc, sau đó trong trận Quan Độ lại chạy theo Tào Tháo, bày mưu lập kế, thi triển quyền mưu, cũng có được tiền tài phú quý. Luận về tài hoa thì Lâu Khuê tuyệt nhiên không kém gì bọn họ, chí hướng khi xưa còn cao hơn bọn họ, nhưng mấy năm nay lại im lìm không ai biết đến, chẳng khác gì một kẻ bỏ đi.

Từ khi Đổng Trác dấy loạn, Lâu Khuê trở về quê nhà Nam Dương, vốn định rằng sẽ hưng binh khởi nghĩa, kiến công lập nghiệp một phen, không ngờ để cho Viên Thuật ra tay đoạt trước. Lâu Khuê hổ thẹn vì ở dưới người khác, không bằng lòng giúp sức dưới trướng, tự mình dẫn một toán quân nhỏ đánh lẻ ở phía bắc Nam Dương. Nhưng trong đời loạn, những thế lực nhỏ bé như vậy thực sự quá nhiều, nếu không có chỗ dựa thì không thể tự tồn tại được. Sau đó huynh đệ họ Viên đánh nhau ở Dự Châu, Lâu Khuê quân thiếu, lương ít, thực sự không thể gắng gượng được nữa, chỉ còn cách hạ mình đi theo Lưu Biểu. Kinh Châu là nơi nhân sĩ Trung Nguyên đến lánh nạn nhiều nhất, quần hiền đủ cả, lớn nhỏ tụ tập, những kẻ sĩ tên tuổi nhiều không kể xiết, nên ngôi sao cỏn con như Lâu Khuê chẳng thể sáng lên được. Mới đầu Lưu Biểu còn coi Lâu Khuê là một nhân vật quan trọng, từng sai lên Vũ Quan ở phía bắc để chiêu nạp dân tị nạn. Lâu dần chẳng buồn dòm ngó, bỏ mặc Lâu Khuê một xó, dần dà chả khác gì một tên bạch đinh. Nếu Lâu Khuê không làm một việc gì đó, e rằng đời này sẽ phải buông trôi theo sông nước. Vừa hay khi ấy gặp Lưu Bị binh bại chạy đến Kinh Châu, Lưu Biểu khoan hậu dung nạp coi như thượng khách, Lâu Khuê dự cảm rằng Lưu Biểu tất sẽ hoàn toàn chia rẽ với Tào Tháo, bèn chạy đến huyện Tiều theo bằng hữu cũ, hy vọng sẽ có hồi làm nên.

— Tử Bá này, chuyện ngày xưa đã xa vạn dặm, ta cứ nghĩ đời này chúng ta không còn dịp gặp lại nhau nữa. - Tào Tháo nhìn Lâu Khuê từ đầu đến chân. - Nhưng đệ chẳng hề già đi chút nào, còn ta thì rõ ra một tên lính già rồi!

Lâu Khuê tuổi cũng gần ngũ tuần nhưng râu tóc vẫn còn đen, đến một sợi ria bạc cũng không có. Ông ta mình cao chín thước, tướng mạo khôi vĩ, ngồi trên lưng ngựa cũng cao hơn Tào Tháo rất nhiều, hai người mặc áo thường xuất hành, đi ngựa sóng đôi, ai không biết tất cho rằng Lâu Khuê mới là đương triều Tư không, còn Tào Tháo chỉ giống như một lão nô tầm thường.

Lâu Khuê tay nâng chòm râu dài nói:

— Mạnh Đức chớ nói vậy, da dẻ tóc râu này thì làm được gì? Năm xưa Kiều công từng nói, sự nghiệp của chúng ta ngày sau đều không ai bằng huynh, đến nay xem ra chẳng đúng lắm ư? Nam nhi trên đời đều muốn làm nên, nếu như ta ở vào vị trí của huynh... - Lâu Khuê nói đến đó chợt im bặt. Nhược điểm lớn nhất của Lâu Khuê, đó là hay đem mình so với người khác, lúc nào cũng nói “nếu như tôi là ông thì tôi sẽ như thế, như thế”, cứ như so với bất kỳ người nào trong thiên hạ mình cũng cao minh hơn vậy. Ông ta cũng biết cái tật ấy là không hay, nhưng vẫn thường không giữ nổi miệng.

Trong lòng Tào Tháo rất rõ, bằng hữu dù thân đến đâu, nhưng xa cách lâu ngày tất có khoảng cách nhất định, huống chi trong đời loạn trôi nổi dọc ngang này. Dù năm xưa chung một chí hướng, thì nay đã khác xa một trời một vực rồi, đâu còn có thể dốc lời gan ruột với nhau như xưa nữa. Con người Lâu Khuê không giống Hứa Du, không thể lấy tiền tài tước vị ra mà khống chế được. Tào Tháo vừa mến tài lại vừa sợ chí của ông ta, trong lòng tuy cẩn trọng nhưng vẫn giả như vô cùng thân thiết, vỗ vai Lâu Khuê nói:

— Có gì đệ cứ việc nói thẳng, giữa chúng ta với nhau còn có gì phải e ngại chứ? Ta còn nhớ khi xưa đệ từng nói rằng: “Nam nhi ở đời, nên có mấy vạn binh, vài ngàn ngựa ở sau lưng”, giờ đây đệ có còn cái chí hướng như vậy nữa không?

Lâu Khuê nghe Tào Tháo hỏi như vậy, trong lòng vô cùng buồn bã, chí hướng năm xưa chưa có một ngày nào quên, chỉ là số phận hẩm hiu khó được như mong muốn. Những câu ấy ông ta không tiện nói với Tào Tháo, chỉ còn biết thở dài nói:

— Tuổi trẻ cuồng ngôn, nhắc lại làm chi. Giờ đây chẳng qua chỉ là láo nháo qua ngày mà thôi.

Tào Tháo cũng biết Lâu Khuê nói không thật lòng, cười bảo:

— Kỳ lân há có thể mai một nơi đồng ruộng? Nếu hiền đệ không chê, hãy làm một chức tư mã trong quân của ta, đợi một thời gian, ta sẽ biểu tấu cho đệ lên làm hiệu úy, tướng quân, đệ thấy thế nào?

Câu ấy chính trúng ý Lâu Khuê, nhưng ông ta không dám lộ vẻ vui mừng, nghiêm trang đáp lại:

— Đã đến đây rồi, thôi thì xin nghe theo sự sắp xếp của Mạnh Đức.

— Ha ha ha!... - Tào Tháo ngửa mặt lên trời cười lớn. - Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời, đệ vẫn là một người có chí khí! Từ nay về sau huynh đệ chúng ta cùng mưu đại sự, an định giang sơn, phục hưng xã tắc, há chẳng phải là một chuyện tốt ư? Vậy sau khi về doanh trại, ta sẽ chính thức phong cho đệ làm Biệt bộ tư mã, thống lĩnh quân mã đi theo nghe lệnh trong quân. Chúng ta đã là bằng hữu cũ, có yêu cầu gì đệ cứ nói thẳng đừng ngại. Bây giờ so với năm xưa có gì khác nhau chứ?

— Vâng, vâng. - Lâu Khuê tuy liên tục đáp lời nhưng vẫn ngoảnh đầu nhìn lại phía sau - cách đó không xa, Hứa Chử dẫn theo mấy chục võ sĩ giáp trụ nai nịt, từng giờ từng phút bảo vệ an toàn cho Tào công, dù là Tào Tháo chỉ đi nhàn du cùng bằng hữu cũng không ngoại lệ. Sự đề phòng như vậy, địa vị khác xa nhau như vậy, sao có thể nói giống như ngày xưa đây?

Lâu Khuê vẫn còn đang thầm oán trách ông trời bất công, lại thấy Tào Tháo nói sang chuyện khác:

— Tên Lưu Bị kia sau khi đến Kinh Châu thì cảnh ngộ ra sao?

Lâu Khuê hơi ngạc nhiên rồi lập tức tỉnh ngộ. Hứa hẹn phong quan chẳng qua chỉ là hình thức, điều ông ta quan tâm hơn cả chính là tin tức mà mình mang đến, Lâu Khuê vội đáp:

— Lưu Biểu đối đãi với Lưu Bị thực sự không giống như người thường, ngày nào cũng cùng yến ẩm trò chuyện, tựa hồ có ý sai ông ta ra đóng quân ở Tân Dã kháng cự với minh công. - Lâu Khuê nói đến đây, cố ý chuyển từ cách xưng hô “Mạnh Đức” đổi sang gọi là “minh công”.

— Hừ! - Tào Tháo cười nhạt một tiếng, - Lưu Biểu đúng là không khôn ra được chút nào cả, khi xưa nâng đỡ cho Trương Tú ngăn trở lão phu, bây giờ lại dựng tên giặc tai to kia lên, bắt hắn đi làm bia hứng tên cho ông ta, còn bản thân thì trốn ở Tương Dương tiêu dao thích chí. Nghe nói gần đây Lưu Biểu còn tiếm vượt lễ chế, làm lễ tế trời đất, thực là không hiểu việc dụng binh. Nhưng Lưu Bị đâu phải như Trương Tú, không cẩn thận sẽ lại nuôi ong tay áo thôi! - Tào Tháo hiểu rất rõ chuyện này. - Lần trước trong trận Quan Độ, Lưu Biểu vốn muốn tập kích ta, vừa hay gặp lúc Thái thú Trường Sa Trương Tiện làm loạn mới miễn cưỡng bỏ qua. Giờ đây phụ tử Trương Tiện binh bại thân vong, Trường Sa lại về tay Lưu Biểu, ông ta lấy người nào thay vào vị trí của họ Trương?

— Trương Cơ ở Nam Dương.

— Trương Cơ? - Tào Tháo không dám tin, - Là Trương Trọng Cảnh vốn xưa nay chỉ nghiên cứu y thuật đó ư?

— Chính là người ấy. - Lâu Khuê đáp lời. - Họ Trương là vọng tộc ở Nam Dương, Lưu Biểu tuy giết cha con Trương Tiện, nhưng vẫn phải dùng người trong họ đó.

Trương Trọng Cảnh là chi hệ suy vi trong họ, dùng người này làm Thái thú chẳng những có thể mượn danh vọng của họ Trương, lại không phải lo lắng chuyện sau này ông ta lớn mạnh lên. Huống chi chiến trận ở Trường Sa khiến cho quan dân bị thương vong, lại gặp dịch bệnh hoành hành, số người chết do cảm nhiễm thương hàn lên đến gần một nửa. Trương Trọng Cảnh am hiểu y thuật, ngoài việc chính sự còn có thể làm nghề thuốc cứu giúp cho dân chúng.

Tào Tháo lại châm chọc nói thêm:

— Sách Thuyết văn có nói: “Y, là việc trị bệnh vậy.” Nói thẳng ra chẳng qua chỉ là đám thợ vu y bách công[5] mà thôi, không phải là việc làm của người quân tử. Lưu Biểu dùng một kẻ không biết việc ấy vào làm Quận tướng, há có thể giúp yên ổn địa bàn, bảo vệ dân chúng? Dù cho ông ta có thể chữa được bệnh thương hàn, lẽ nào lại có thể chữa được những nỗi thống khổ trong thiên hạ?

Lâu Khuê đã từng gặp Trương Trọng Cảnh, tuyệt đối không phải là kẻ tầm thường như lời Tào Tháo nói, nhưng không tiện phản bác, chỉ nói thuận theo:

— Lưu Cảnh Thăng dùng người rất kém! Khi xưa lệnh cho Biệt giá Hàn Tung về kinh bái yết thiên tử, ngài biểu tấu cho ông ta làm Thái thú Linh Lăng. Sau khi Hàn Tung trở về liền bị Lưu Biểu nghi kỵ, trách mắng là kẻ thập thò đuôi lươn. Lần trước Quan Độ kịch chiến, Hàn Tung ra sức ngăn cản Lưu Biểu xuất binh, bị Lưu Biểu bắt bỏ ngục đến nay vẫn còn phải chịu cảnh lao tù khốn khổ. Lòng dạ hẹp hòi không nghe lời hay như thế, há có thể được mọi người ủng hộ? Mọi việc nội ngoại chẳng qua chỉ nhờ vào Sái Mạo, Khoái Việt mà thôi. Người Tương Dương đều nói Lưu Cảnh Thăng chẳng qua chỉ là ngồi không trên sảnh đường, còn hai họ Sái, Khoái mới là chủ nhân thực sự ở Kinh Châu.

Tào Tháo càng cười nhạt:

— Khi xưa Lưu Biểu một mình một ngựa đi nhận chức không có căn cơ gì, được hai nhà Sái, Khoái tương trợ mới đứng được vững chân. Giết Tô Đại, trừ Bối Vũ, kết giao với Hoàng Tổ, chiêu nạp các danh sĩ thanh lưu, họ đều lập được công lao lớn, Lưu Biểu sao có thể khống chế nổi nữa? Ta từ nhỏ đã quen biết với Sái Mạo, đó là kẻ rất có tâm kế. Nghe nói em gái Sái Mạo được gả cho Lưu Biểu làm tục huyền, kết nên mối thân tình lang cữu. Xã tắc trong thiên hạ bại hoại phần lớn là do ngoại thích can dự vào chính sự mà ra, dùng người kỵ nhất điểm này. Còn như Khoái Việt, năm xưa từng làm chức Tây tào duyện trong phủ của Hà Tiến, khi ấy Lưu Biểu còn phải nghe lời ông ta nữa kia!

Lâu Khuê giọng đầy cảm thán:

— Những kẻ như Viên Thiệu, Lưu Biểu tuy chiếm cứ một phương, nhưng đều dựa vào thế lực cường hào ủng hộ mà lập lên, duy chỉ có Mạnh Đức ngài là hạn chế thổ hào, tự nắm lấy quyền uy, thắng bại há lại tự dưng mà có!

Câu ấy khiến cho Tào Tháo vô cùng đắc ý. Hạn chế thổ hào, tự nắm uy quyền, nói thì dễ nhưng làm được mới khó. Chuyện làm phản của Trương Mạc, Trần Cung ở Duyện Châu trước đây khiến Tào Tháo tưởng chừng không còn chỗ đứng chân. Sự cường thịnh hôm nay phải trải qua muôn vàn gian khó mới có được. Tào Tháo quay lại nhìn Lâu Khuê, trầm mặc hồi lâu mới nói:

— Những bàn luận cao minh trong thiên hạ có nhiều điểm giống nhau, chúng ta đã xa cách nhiều năm mà trong lòng vẫn có nhiều điểm tương đồng vậy... Ngu huynh năm xưa mỗi khi gặp những chuyện không thể quyết định được, vẫn thích nghe kiến giải của đệ, bây giờ cũng thế. Trước mắt đang có một chuyện rất khó quyết định, xin phiền Tử Bá giải giúp có được chăng?

— Tại hạ không dám...

Tào Tháo không đợi ông ta khách sáo, liền nói luôn:

— Sau trận chiến Thương Đình, Viên Thiệu co về Hà Bắc, ta dẫn quân đến đánh, nửa năm vẫn chưa thắng được. Trong khi ấy, Lưu Biểu ở sau lưng ta bỏ tù Hàn Tung, thu nạp Lưu Bị, dường như có ý muốn làm loạn. Bây giờ ta nên tiến lên phía bắc thảo phạt Viên Thiệu, hay là nên xuống phía nam lấy Kinh Châu?

— Cái này... - Ý Lâu Khuê là muốn đánh lên phía bắc, nhưng lại không tiện nói ra. Một là mới vào Tào doanh còn chưa có một danh phận thực sự. Hai là ông ta từ Kinh Châu đến, nếu nói thẳng rằng Lưu Biểu vẫn chưa thể lấy được, tất khó tránh khỏi bị hiềm nghi là có ý bảo vệ người cũ.

Tào Tháo đã nhận ra cả:

— Đã nói nửa ngày rồi mà đệ vẫn chưa chịu thật lòng thật dạ với ta ư? Đã là bằng hữu cũ của ta, cũng nên làm hết chức trách của bằng hữu. Nói đúng nói sai đều không sao hết, quyền lựa chọn chẳng phải là ở ta ư? Ngu huynh chưa bao giờ oán trách ai vì việc nói năng. - Tào Tháo chỉ trời thề nguyền.

Lâu Khuê thấy Tào Tháo có thái độ như vậy, cũng yên tâm lên tiếng:

— Nên bắc tiến đánh Viên Thiệu.

— Vì sao?

— Uy danh trong thiên hạ không ai cao hơn họ Viên, môn sinh cố lại, của cải tiền tài chẳng đâu hơn được Hà Bắc. Minh công với Viên Thiệu đã đối đầu mấy năm nay, mới có chiến công ở Quan Độ, Thương Đình, chính nên nhân thế mà quét sạch gai góc, há có thể bỏ lỡ thời cơ? Còn Lưu Biểu kia ở đất Kinh, Tương, chính là nơi bốn bề chiến địa. Tây có Lưu Chương, đông có Tôn Quyền, nam có Sơn Việt[6]. Với tài của minh công muốn lấy cũng không khó, nhưng phía bắc chưa vững chắc, lấy gì để bảo toàn đây?

Tào Tháo liền nói:

— Tuy nói như vậy, nhưng trận thắng ở Quan Độ chẳng qua chỉ là vì bắc yếu mà nam mạnh, đem quân cố lấy chưa chắc đã dễ dàng thắng lợi... - Thực ra Tào Tháo cũng đã thử một lần, căn bản đánh không được Viên Thiệu.

— Thời gian trôi đi tất sẽ có thay đổi, nếu tại hạ là minh công thì sẽ lên phía bắc đóng quân ở Duyện Châu để sẵn sàng chiến đấu, chỉ cần Hà Bắc có biến cố gì đó thì lập tức đem quân qua sông đánh thẳng đến Nghiệp Thành! - Lâu Khuê nói rất say sưa, không hề ý thức rằng mình đã lại phạm phải tật cũ.

Có thể nói đây là một lời thức tỉnh kẻ trong mộng. Mấy ngày nay Tuân Du, Quách Gia đều khuyên Tào Tháo trước hết lấy Hà Bắc, thậm chí là Tuân Úc đang ở Hứa Đô cũng gửi thư đến vì việc này. Nhưng điều thực sự làm Tào Tháo lay động chính là kế sách này của Lâu Khuê. Duyện Châu chỉ cách Hà Bắc một con sông, một chút động tĩnh là có thể biết ngay, thực sự là nơi rất tốt để ém quân sẵn sàng chờ đánh. Tào Tháo trong lòng đã hạ quyết tâm, nhưng vẫn ra vẻ dửng dưng nói:

— Cách này cũng rất khả thi. Kỳ thực từ lâu ta cũng đã tính đi Duyện Châu, đại chiến thắng lợi cũng nên vỗ về bách tính ở đó một chút, ngoài ra ta muốn tiện đường đi Thư Dương tế bái lăng mộ Kiều công. Đệ đến thật đúng lúc, ta sẽ viết một phong thư gọi cả Hứa Du đến, xưa chúng ta cùng nhận hậu ân của Kiều công, lẽ tất nhiên phải cùng đi bái tế.

— Thực là vẹn cả đôi đường, hay lắm, hay lắm! - Lâu Khuê vừa trình bày được cao luận của mình, trong lòng rất vui sướng.

— Cũng không còn sớm nữa, chúng ta về doanh thôi. - Tào Tháo ngoặt cương ngựa, - Về doanh ta sẽ chính thức phong cho đệ làm Biệt bộ tư mã. Nhưng giao chiến với Viên Thiệu sĩ tốt đã tử thương nhiều, từ trung quân trở xuống thiếu rất nhiều quân, e là chưa có nhiều quân sĩ để cấp cho đệ sai khiến. Đệ cùng với bọn Quách Gia cùng tham gia quân cơ, sau này chiêu mộ thêm quân sẽ quy về cho đệ thống lĩnh vậy.

Lâu Khuê không cam lòng:

— Mạnh Đức nói đùa đấy ư? Tư mã mà không có quân há chẳng phải là chức suông sao?

— Ha ha ha!... - Tào Tháo cười vang, - Cấp phát cho lương tiền, xây nhà ở Hứa Đô, ngu huynh há lại để cho đệ thiệt thòi? Quân lính sớm muộn cũng sẽ bổ sung cho đệ, chúng ta là bằng hữu cũ kia mà! - Nói đoạn liền vung roi quất ngựa đi trước.

Lâu Khuê không biết làm sao, đành cười nhăn nhó đi theo sau. Hai người dẫn theo đám quân hộ vệ về nơi đóng trại, còn cách cửa ải rất xa đã nghe phía trước có đám đông ầm ĩ. Thấp thoáng trông thấy mấy tên vệ binh đang vây lại ẩu đả kẻ nào đó, bên cạnh còn có một chiếc xe có ván sàn cũ kỹ, trên xe là một người y phục rách rưới đang ngồi. Tào Tháo chau mày, gọi Hứa Chử lại bảo:

— Ngươi chạy qua xem có chuyện gì, nếu là kẻ gian hay vi phạm thuế khóa thì đem giao cho nha huyện trị tội. Nếu là sĩ tốt vô cớ gây sự thì ta sẽ nghiêm khắc trừng phạt. Tụ tập trước cửa đại doanh đánh người, còn ra thể thống gì nữa!

Tào Tháo vốn không có thời gian để quan tâm đến những chuyện nhỏ nhặt như vậy. Nhưng từ sau chiến thắng Quan Độ, sĩ tốt như cởi bỏ được gánh nặng, quân kỷ đã hơi lơ là, hôm nay có chuyện rối loạn như vậy, chính là dịp tốt để giết mấy tên lập lại kỷ cương, nhân đó Tào Tháo mới dừng ngựa lại trước viên môn, lạnh lùng nhìn thẳng vào đám đông, khiến mấy tên lính vừa đánh người sợ run như cầy sấy. Hứa Chử hỏi rõ nguyên do, quay về bẩm báo:

— Khải bẩm chúa công, quân sĩ không phải là vô cớ gây sự, mà là có kẻ mạo nhận thân thích nhà quan ạ!

— Nói láo! - Kẻ bị đánh nghe thấy Hứa Chử nói vậy, vội vàng bò dậy. - Ta rõ ràng là thân thích nhà quan, sao lại nói là mạo nhận?

Hứa Chử thấy hắn ta cứng cổ, định hạ lệnh bắt giam, Tào Tháo giơ tay ngăn lại, nhìn kỹ người đó: Đầu tóc bù xù, mặt mũi nhem nhuốc, tiết đầu xuân rét căm căm mà chỉ mặc độc chiếc áo đơn, rách rưới tả tơi lộ cả cánh tay đen đúa, không có dây lưng, chỉ buộc một sợi thừng ngang bụng, dưới chân thì đến đôi giày cũng không có. Trên chiếc xe kéo bên cạnh hình như là một bà lão, tóc bạc phất phơ, mặt mũi nhăn nheo, mặc cái áo bông rách bẩn thỉu, sợ quá chỉ cúi đầu không dám nhìn ai - rõ ràng là hai kẻ hành khất!

Tào Tháo lắc lắc đầu:

— Dân lưu tán không kế sinh nhai thì coi như cũng thôi, nhưng mạo nhận thân thích nhà quan thì thật là đáng ghét, hãy đem giao cho nha huyện trị tội. - Nói xong Tào Tháo không thèm để ý đến nữa, dong ngựa đi vào trong doanh.

Tên cùng đinh kia vẫn còn muốn giải thích, nhưng đám binh lính đã xúm cả lại định trói, người ấy không chống lại được, chỉ một mực kêu to:

— Lão già kia thật to gan! Ta mà tìm được thúc phụ nói rõ cho ông ấy biết, ông ấy quyền cao chức trọng, không lấy mạng của lão mới lạ!

— Khoan đã! - Tào Tháo bỗng ghìm cương ngựa, quay sang nhìn kỹ tên cùng đinh bẩn thỉu ấy, khi đó mới nhận ra kỳ thực hắn vẫn còn ít tuổi, - Thả hắn ra... ngươi nói là lấy mạng của lão đây ư? Được thôi, vậy lão đây phải hỏi cho rõ ràng mới được, vị thúc thúc ấy của ngươi rốt cuộc là ai?

Tên cùng đinh ấy dường như đã bị đánh đến nổi khùng, chống nạnh hô to không biết sợ là gì:

— Lão hỏi đường thúc của ta hay là hỏi tộc thúc danh tiếng ngút trời của ta?

— Ồ? - Tào Tháo nghiến răng, - Ta đều muốn biết cả.

— Đường thúc nhà ta chính là Minh Đình hầu, Đô hộ Tướng quân Tào Tử Liêm; còn tộc thúc của ta chính là đương triều Tư không Tào Mạnh Đức!

Tào Tháo vừa tức vừa buồn cười:

— Nói như vậy ngươi chính là hậu duệ nhà công hầu rồi! Thế ngươi thấy lão đây là hạng người nào?

Quân lính thấy Tào Tháo rõ ràng không quen biết tên kia, tất cả đều bưng miệng cười.

Duy có Lâu Khuê là thầm chặc lưỡi: “Tào Mạnh Đức ơi là Tào Mạnh Đức, thân là bậc tể phụ đương triều lạ đi so đo với đám tiểu dân như vậy, sao ngài lại thành một người như thế chứ?”

Tên kia thấy Tào Tháo có ý châm chọc mình, lớn tiếng mắng lại:

— Ta thấy lão đúng là kẻ bụng dạ nhỏ nhen, thâm độc xảo quyệt, ghen ghét hiền tài, thực là một tên gian tặc vô lại!

Hứa Chử biết Tào Tháo rất dễ nổi nóng, tên kia dám cuồng ngôn như thế, khó mà tránh khỏi bị muôn đao băm vằm, không đợi ra lệnh lập tức xông lên ấn cổ hắn xuống đất, quát lớn:

— To gan thật, dám nhục mạ Tào công, ngươi không muốn sống nữa ư?

Nào hay hắn ta không sợ hãi mà lại mừng rỡ, vùng vẫy kêu toáng lên:

— Ông ấy chính là Tào công ư?... Thúc phụ! Là cháu đây! Cháu là Hưu nhi đây... Thúc phụ không nhận ra cháu sao?...

Tào Tháo đang giận tím mặt vì bị hắn mắng mỏ, bỗng nghe thấy hai từ “Hưu nhi”, chợt giật mình: Năm xưa con trai của tộc thúc Tào Đỉnh mất sớm, để lại một đứa con còn trong bụng mẹ đặt tên là Tào Hưu, cô nhi quả phụ khốn khổ qua ngày, sau lại gặp hồi chiến tranh loạn lạc, phải lánh nạn bên ngoài, người trong hương lý đều cho rằng họ đã chết. Chẳng lẽ tên trẻ tuổi kia chính là Tào Hưu? Nghĩ đến đó, Tào Tháo lại quay sang nhìn thật kỹ, nhưng trong ký ức của ông Tào Hưu chỉ là một đứa bé con, không thể nhận ra được là thực hay giả.

Đang lúc phân vân, bỗng thấy bà lão ngồi trên xe cất tiếng khóc rống lên:

— Thả con ta ra!... Các ngươi mau buông nó ra... Ối trời ơi!...

— Dừng tay! - Tào Tháo nhảy xuống ngựa, bước nhanh đến trước xe. Tuy bà lão đã tóc trắng phơ phơ, hình dung tiều tụy, nhưng nét mặt khi xưa vẫn nhận ra được, quả nhiên đúng là tẩu tẩu góa bụa của ông! - Ôi chao, lão tẩu tẩu của ta! Tẩu, tẩu... vẫn còn sống ư!

Bà lão sợ hãi đến mụ người, lấy tay áo che mặt run run rẩy rẩy. Tào Tháo gỡ tay bà ta ra:

— Tẩu nhìn lại ta đi, ta là A Man đây!

— Ôi... - Bà lão kêu to một tiếng, rồi phủ phục xuống khóc lóc, - Đúng là ông trời có mắt, tổ tông phù hộ, cuối cùng con cũng gặp được thân nhân rồi... Vong phu con đúng là không có phúc, không có mắt rồi...

Bà già nghèo khổ chẳng biết lễ giáo, Tào Tháo sợ mọi người trông thấy chê cười, vội khuyên:

— Lão tẩu, nín đi nín đi, về quê gặp lại họ hàng, phải vui mới đúng chứ!

Tào Hưu quỳ xụp xuống đất, lết gối đến trước Tào Tháo:

— Thúc phụ đại nhân, cháu là Hưu nhi, là Hưu nhi đây! Cháu khi nãy vô lễ, xin được chuộc tội với người! - Vừa nói Tào Hưu vừa dập đầu.

— Đứa cháu đáng thương của ta... - Tào Tháo vội vàng ôm chầm lấy hắn. - Mẹ con cháu đã đi đâu, để cho thúc bá trong tộc đều rất thương nhớ. Lão thúc Tào Cảnh Tiết của ta chỉ có một mình cháu, nếu lại chết ở đất khách quê người, há chẳng phải khiến lão thúc của ta tuyệt tự ư?

Tào Hưu vừa khóc vừa nói:

— Năm xưa quân Đổng Trác cướp bóc Dự Châu, mẫu thân phải dắt cháu chạy đến nhà bà ngoại ở huyện bên, nào ngờ cả nhà bà ngoại cháu đều bị hại hết, đến nhà cửa cũng bị quân Tây Lương đốt trụi. Lại có bọn sơn tặc thảo khấu nhân loạn cướp bóc, mẫu thân cháu sợ hãi không còn đường nào khác, phải theo đám lưu dân chạy xuống phía nam, từ đó xa cách quê hương. Đến vùng Nam Dương rồi, Viên Thuật lại bắt lính khắp nơi, mẫu thân sợ cháu bị hại, lại men theo bờ Trường Giang xuôi xuống Hoài Nam, hai mẹ con phải ăn xin sống qua ngày, gặp phải năm mất mùa, đến rau dại cũng không có mà ăn, thế rồi lại qua sông chạy đến Ngô Quận, may mắn gặp được một ông quan tốt bụng, nhận mẹ con cháu vào nha môn quận nha, cháu thì làm bộc đồng, còn mẫu thân thi may vá cho họ, nhưng cũng chỉ đủ miếng ăn mà thôi.

Tào Tháo thấy mẫu tử hai người họ gặp nhiều khốn khổ như vậy, không ngăn được nước mắt:

— Cháu ơi là cháu, sao không đến tìm thúc phụ?

— Binh hỏa loạn lạc, đường đi không thông, cháu đâu biết thúc phụ ở chỗ nào! Qua mấy năm sau, được biết thúc phụ nghênh đón thánh giá lập lại triều đình, nhưng đất Giang Đông năm nào cũng đánh nhau, muốn về cũng không thể về được. Mẹ con cháu ở nơi đất khách lại không dám để lộ với người ngoài về quan hệ với thúc phụ, - Tào Hưu nói đến đó càng thấy đau lòng, - Tổ phụ cháu khi còn tại thế mới hiển quý làm sao, trên vách đại đường ở nha môn Ngô Quận vẫn còn bức họa lão nhân gia đấy! Mẹ con cháu mỗi khi nhớ nhà chỉ biết quỳ trước bức họa ông mà khóc...

Tào Tháo chợt nhói lòng, tứ thúc Tào Đỉnh - Tào Cảnh Tiết từng làm chức Thái thú Ngô Quận, nhưng ông ấy cũng không phải là vị quan tốt cho lắm, tham ô hối lộ, liên tục bị đàn hặc. Không ngờ sau khi ông ấy chết nhiều năm, con dâu cháu chắt phải để cho người ta sai khiến, chịu đủ khổ sở ở nơi ông ấy làm việc ác trước đây, rồi hằng ngày đến trước bức họa ông cho ông nhìn thấy! Đó lẽ nào lại là một sự báo ứng...

Tào Hưu gạt nước mắt, cắn răng run rẩy nói:

— Mẹ con cháu chỉ biết nhẫn nhịn, nhẫn nhịn cho tới khi Tôn Sách bị hành thích, Tôn Quyền lên kế vị, đất Giang Đông thu quân mới dám trở về. Muôn vàn khó khăn cũng không sợ gì, nhưng chân của mẫu thân cháu...

Tào Tháo khi ấy mới chú ý, lão tẩu từ nãy đến giờ vẫn cứ ngồi trên xe, quân lính đánh con mình cũng không thấy bà ấy động đậy gì.

— Lão tẩu, lão tẩu làm sao...

— Liệt rồi! - Bà lão đập đập lên sàn xe. - Ngô Quận nóng ẩm, không phục thủy thổ, ngày ngày tôi làm việc giặt giũ, hai chân giờ thành tàn phế rồi. Khốn khổ thằng bé, phải bỏ hết số tiền lộ phí ra mới mua được cái xe cũ này, xa xôi ngàn dặm kéo tôi về đây... Đứa con hiếu thảo của tôi...

Nghe đến đó, Tào Tháo vô cùng xúc động, nhìn chăm chăm vào Tào Hưu - Đứa bé này tuy y phục rách rưới, mặt mũi nhem nhuốc, nhưng trong ánh mắt rõ ràng lộ lên một khí chất quả cảm, cương nghị. Một mình vất vả đưa được mẹ già từ Ngô Quận về đến huyện Tiều quê nhà, đó thực là một nghị lực phi thường, một hiếu tâm vô cùng! Nỗi khổ trong đời người ta không gì bằng loạn li, lúc ra đi mẹ ẵm con thơ còn nhỏ dại, khi trở về thì con kéo mẹ tàn phế... Tào Tháo đứng lặng hồi lâu, xoa đầu Tào Hưu nói:

— Cháu đúng là con ngựa câu ngàn dặm của Tào gia ta! Tự cổ trung thần vốn từ những hiếu tử mà ra, ngày sau con tất sẽ làm nên đại nghiệp!

Hai mẹ con Tào Hưu phục trước xe khóc thật lâu, Tào Tháo đưa họ vào trong doanh cho cơm ăn áo mặc, rồi vội gọi Tào Hồng đến, thúc điệt nhận nhau lại một phen mừng mừng tủi tủi. Mẹ con Tào Hưu xa quê đã nhiều năm, điền sản đã hoang phế từ lâu, Tào Tháo liền giữ họ lại ở nhà mình, chọn hơn mười nữ tì giỏi giang tài cán cho hầu hạ tẩu tẩu, lại dặn dò bọn thuộc hạ lấy lễ công tử mà đối đãi với Tào Hưu, tất cả mọi chuyện ăn mặc chi dùng không khác gì Tào Phi. Hai nhà Tào gia, Hạ Hầu gia yến ẩm mấy ngày, mừng vui đoàn tụ, dân chúng huyện Tiều được ơn huệ của triều đình cũng đều hớn hở vui mừng.

Độ một tháng, lại có quân báo của Thái thú Nhữ Nam Mãn Sủng báo tin bọn dư đảng phản tặc trong địa bàn đã bị tiễu trừ hoàn toàn, thủ cấp của Lưu Tích, Cung Đô đã được đưa đến kinh sư báo công, các tướng dẹp loạn là Vu Cấm, Nhạc Tiến đều dẫn quân về triều. Chuyến về quê của Tào Tháo cũng kết thúc ở đó, sau đó tiếp tục dẫn quân lên Duyện Châu ở phía bắc, đợi thời cơ tiến lên Hà Bắc một lần nữa chinh thảo Viên Thiệu.

❀ ❀ ❀

[1] Trích phần dịch thơ của dịch giả Tạ Quang Phát trong cuốn Kinh thi, Khổng Tử, Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2003, trang 348.

[2] Quan coi dịch trạm được đặt ra ở các châu huyện, lo việc nghi trượng, xa mã và nghênh tiễn, không có phẩm tước.

[3] Kính cẩn mà khiêm tốn, nghe theo mà mau lẹ, không dám tự ý quyết định, không dám tự ý chọn lựa, coi việc thuận theo ý trên làm chí hướng của mình, đó là đạo thờ minh quân. Hài hòa mà không a dua, mềm mỏng mà không khuất phục, khoan thứ mà không dung túng, lấy đạo rất cao để giảng giải mà nhà vua không thể không thỏa hiệp, thì có thể cảm hóa bản tính của ngài ấy, lúc nào cũng đi vào lòng ngài ấy, đó là đạo thờ bạo quân.

[4] Nhận mệnh làm Tốt chính Đạo Giang (Thái thú Thục Quận). Cuối thời Tần, thiên hạ nhiễu loạn, quần hùng nổi lên, Công Tôn Thuật tự xưng là Phụ Hán Tướng quân kiêm lĩnh chức Ích Châu mục. Năm Kiến Vũ thứ nhất (năm 25), ông ta tự xưng làm hoàng đế ở đất Thục, đặt quốc hiệu là Thành Gia, và đổi niên hiệu là Long Hưng. Về sau, ông ta bị nhà Đông Hán cất quân tiêu diệt, chỉ ở ngôi được mười hai năm.

[5] Chỉ nội dung cuộc nói chuyện giữa Gia Cát Lượng và Lưu Bị trong lần gặp mặt đầu tiên ở Long Trung.

[6] Sáu mươi tuổi thì nghe theo thiên mệnh.

g Hộc, đều là những nét bút mà những kẻ đọc sách tranh nhau sưu tầm, học theo, những người bình thường tốn công nhọc kế cũng không xin được, hôm nay Chung Do lại chủ động đề tặng. Nhưng Đinh Nghi không những không vui, trái lại mặt mày thất
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Vương Hiểu Lỗi

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.