Tào Tháo nghe theo kế của Quách Gia, sau khi về đến Hứa Đô lập tức sai Hạ Hầu Đôn chia quân xuống phía nam, làm ra vẻ nhòm ngó Kinh Châu, nhưng lại ngầm lệnh cho Giả Tín, Tuân Diễn trấn thủ Lê Dương từng giờ từng phút chú ý động tĩnh của huynh đệ họ Viên, quân báo từ Lê Dương không ngừng bí mật chuyển về Hứa Đô.
Sự việc quả đúng như dự liệu của Quách Gia. Tào Tháo vừa lui, mâu thuẫn giữa hai huynh đệ họ Viên lại trở nên kịch liệt. Viên Đàm đề nghị truy kích quân Tào, đòi Viên Thượng giao thêm cho binh mã giáp trụ. Viên Thượng nghi ngờ Viên Đàm muốn giữ quân tự vệ, từ chối không cấp thêm cho. Lại thêm đám tâm phúc của hai người, kẻ nào cũng tranh quyền đấu thế vì chủ mình. Thẩm Phối nhảy ra đòi truy cứu cái chết của Bàng Kỷ; Quách Đồ, Tân Bình chỉ trích Thẩm Phối chuyên quyền. Sự tình ngày càng căng thẳng, dẫn đến huynh đệ hai người chia nhau ra lập mạc phủ riêng ở Nghiệp Thành, ai nấy tự làm theo ý mình - chuyện tranh giành giữa hai huynh đệ đã như mũi tên bắn ra không thể thu lại được nữa.
Vào một buổi chiều lại có tin quân báo từ Hà Bắc đưa đến mạc phủ. Đúng lúc Tào Tháo đang ở trong cung, Tuân Du không dám chậm trễ, lập tức thay áo mũ mang theo quân báo vào cung tìm. Qua cửa nghi môn, men theo đường phục đạo đến Trung đài, Ô đài[1] tìm khắp một vòng cũng không thấy bóng dáng Tào Tháo đâu. Liệu rằng Tào Tháo đã lên điện gặp hoàng đế, đang không biết làm thế nào thì chợt nghe một tràng cười vui vẻ, thấy Tào Tháo dẫn theo đứa con yêu Tào Xung cùng Thượng thư lệnh Tuân Úc, An Nam Tướng Quân Đoàn Ổi, Thị trung Cảnh Kỷ, Nghị lang Châu Cận, Thượng thư tả thừa Hàm Đan Thương, Thượng thư hữu thừa Phan Húc cũng với một viên quan trẻ không quen đang nói cười rôm rả từ ngự viên đi lên.
Tuân Du nhét bức quân báo vào người, vội bước đến thi lễ:
— Tham kiến Tào công cùng chư vị đại nhân.
— Có chuyện gì gấp khiến đại quân sư của ta phải vào tận sảnh trung thế này? - Tào Tháo nét mặt hoan hỉ, hỏi đùa.
— Cũng không có chuyện gì... - Tuân Du nổi tiếng là kín miệng, trước mặt những triều thần ở ngoài mạc phủ thế này tuyệt nhiên không bao giờ để lộ quân cơ, - Huyện trưởng Tây Ngạc Đỗ Tập được minh công cho mời hiện đã vào kinh.
Tào Tháo biết rõ ông ta và nói như vậy, liền cũng nhân đà nói theo với mọi người:
— Các ngài còn chưa biết về vị Đỗ Tập, Đỗ Tử Tự này đâu. Năm ngoái Lưu Biểu thừa lúc ta đang ở Hà Bắc, tập kích huyện thành Tây Ngạc, sự việc bất ngờ không được báo trước, bách tính quá nửa vẫn đang ở ngoài thành cày cấy, Đỗ Tử Tự nhất thời chỉ tập hợp được hơn năm chục người canh giữ huyện thành. Nhưng chỉ dựa vào hơn năm chục người ấy mà đã chiến đấu hơn nửa tháng trời với quân Kinh Châu, giết chết vài trăm tên giặc, thực là giỏi! Sau khi lão phu dẫn quân về, Lưu Biểu cũng lui binh, nhưng món nợ đánh trộm vào Ngạc Tây cùng tội dung túng cho Lưu Bị nhất định phải tính sổ với Lưu Cảnh Thăng. Lão phu mấy hôm nữa sẽ xuống phía nam chinh thảo Kinh Châu, nên cho gọi Đỗ Tập hỏi han một chút xem thế giặc ra sao. - Tào Tháo không lúc nào quên làm ra vẻ sẽ cho quân đi đánh Lưu Biểu.
— Vâng, vâng, Tào công tính toán lo liệu quả là nhìn xa trông rộng. Lần này nam hạ nhất định mã đáo thành Công. Lưu Biểu kia như trứng chọi đá, nhất định sẽ bó tay chịu trói. - Thị trung Cảnh Kỷ là huyền tôn của trung hưng công thần Cảnh Huống, nhờ phúc ấm tổ tiên nên được tập tước, tuy thường tham mưu chính sự cùng với Tuân Úc, nhưng tự biết không phải cùng đám với Tào Tháo nên vô cùng thận trọng, lúc nào cũng nói tốt.
Tuân Úc lại cảm thán nói:
— Trước kia, ba người Đỗ Tập, Triệu Nghiễm, Phồn Khâm cùng được trưng vời, được tại hạ với Tào công cùng tiếp kiến. Tại hạ cho rằng Đỗ Tập tính cương, Triệu Nghiễm lại nhu, còn Phồn Khâm hỏng ở chỗ siểm nịnh. Tào Công lại không cho là vậy, đều chiếu lệ ban cho họ quan chức. Mấy năm nay, Phồn Khâm soạn thảo công văn đâu ra đấy, Triệu Nghiễm khi làm Huyện lệnh Lãng Lăng hành xử lấy nhu chế cương, an định các nhà hào tộc. Nay Đỗ Tập cũng có công lớn. Xem ra Tào công quả biết cách dùng sở trường của từng người. Tại hạ tuy lo chính sự nhiều năm, thực không nhìn xa bằng Tào công được vậy!
Tào Tháo biết Tuân Úc không hề nịnh nọt, nghe thấy câu này tự nhiên thầm lấy làm đắc ý.
Viên quan trẻ tuổi đứng bên cũng khen ngợi thêm:
— Kỳ thực nhìn con là biết cha rồi. Nhi tử của Tào công mới sáu bảy tuổi mà còn thông tuệ nhường ấy, huống chi là phụ thân chứ!
Câu nói ấy khiến mọi người cùng vui cười. Vốn là Vu Điền Quốc ở Tây Vực[2] từng tiến cống triều đình một con voi nhà, cho ở trong ngự viên, vừa rồi Tào Tháo dẫn Tào Xung cùng bọn Tuân Úc đi xem voi. Mọi người đều là nhân sĩ Trung thổ, chưa từng nhìn thấy con vật nào to lớn như vậy, Tào Tháo hiếu kỳ muốn biết trọng lượng của con voi, nhưng làm gì có cái cân nào có thể cân được con voi ấy? Bọn Tuân Úc đều không biết làm sao, vậy mà cậu nhóc Tào Xung lại nghĩ ra cách là: cho con voi lên một chiếc thuyền lớn trên hồ, rồi vạch lại ngấn nước trên mạn thuyền, sau đó đổ đá lên thuyền đến khi thuyền nặng chìm đến vạch ngấn nước khi nãy, sau đó đem cân số đá ấy lên xem nặng bao nhiêu cân thì con voi sẽ nặng bấy nhiêu cân. Cách này vừa nói ra ai nấy đều phải vỗ tay khen hay, khen Tào Xung là tuổi nhỏ tài cao.
Nghị lang Châu Cận không những tinh thông ngôn ngữ các dân tộc ở Tây Vực mà còn thông thuộc kinh sách, tán thêm một câu:
— Lời Tượng quẻ Càn Kinh Dịch nói rằng: “Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức.”[3] Nay Tào Công muốn đem quân nam hạ mà Vu Điền Quốc đúng lúc này lại tiến cống voi lớn, há chẳng phải điềm đại cát ư?
Phan Húc, Hàm Đan Thương cùng lũ lượt gật đầu phụ họa. Tuân Du thì không hề để tâm đến chuyện voi, chỉ nhìn kỹ viên quan trẻ không quen kia, thấy người này khoảng hơn hai mươi tuổi, sắc mặt đen sạm, mặc bộ quan phục màu xanh mới tinh, lưng đeo ấn dây đen. Mới tuổi ấy đã làm chức Nghị lang thực sự là rất ít.
Tào Tháo thấy Tuân Du có vẻ ngạc nhiên, bèn giới thiệu:
— Công Đạt, để ta giới thiệu với ngươi. Vị này là con trai của Thứ sử Lương Châu Vi Hưu Phủ, tên gọi Vi Đản, tự Trọng Tương. Vi Đản vâng mệnh cha theo đoàn sứ giả Vu Điền Quốc vào kinh, vừa được nhận mệnh làm Nghị lang.
Tuy chưa từng gặp Vi Đản, nhưng Tuân Du đã được nghe về người này. Thứ sử Lương Châu Vi Đoan có ba con trai, con trưởng Vi Khang tự Nguyên Tương, hai năm nay thường đến Hứa Đô chuyển công văn, con thứ ba Vi Hùng còn chưa đến tuổi nhược quán. Vi Đản là con thứ hai. Tuân Du lại nhìn sang Hàm Đan Thương, đột nhiên nhận ra Tào Tháo tuyệt không phải là nhàn rỗi dẫn mấy người này dạo chơi ngự viên. Khi nãy nhất định có chuyện quan trọng bàn bạc. Hàm Đan Thương khi còn ở Tây Kinh được triều đình nhận mệnh làm Thứ sử Lương Châu, gặp lúc đất Tam Phụ rối loạn không thể đi được, cho nên chức Thứ sử Lương Châu vẫn do Vi Đoan nắm giữ. Họ Vi là gia tộc lớn ở Kinh Triệu, giữ ngôi Thứ sử này về danh nghĩa là nghe theo sự điều khiển của triều đình, nhưng thực tế cũng là cát cứ các huyện ở Vũ Uy. Tào Tháo hẹn người nhà họ Vi và Hàm Đan Thương cùng đến đây, nhất định là muốn truyền tin qua Vi Đản, bảo phụ thân y nhường vị trí cho Hàm Đan Thương, triều đình sẽ có thể trực tiếp nắm giữ sự vụ ở Lương Châu, cũng không cần phải lo lắng rằng Cao Cán có thể làm loạn ở đó nữa.
Tào Tháo thấy Tuân Du có vẻ bồn chồn, liệu rằng tất có việc quân khẩn cấp, bèn đưa tay lên nói với bọn Đoàn Ổi:
— Ngự viên đã đi dạo rồi, voi cũng đã xem rồi, chúng ta cũng nên giải tán thôi. Đoàn tướng quân hiếm khi vào triều, Vi Nghị lang lại mới được thăng quan, tối nay lão phu xin làm chủ tiệc mời chư vị đến tệ xá uống rượu!
Lão tướng Đoàn Ổi lần này về kinh vừa là đi theo sứ giả Tây Vực, cũng là nhận ủy thác của Chung Do bẩm báo việc quân ở Quan Trung. Ông ta tuy tuổi đã cao những vẫn thích vui nhộn, âu cũng là tâm tính của kẻ võ phu, nghe nói đến yến ẩm thì hào hứng ngay:
— Tào công ban yến, mạt tướng không dám chối từ, nhưng chỉ có mấy chúng ta thì có thú gì? Hay là mời thêm chư tướng trong doanh của ngài cùng đến, vậy càng vui hơn.
— Ha ha ha!... - Tào Tháo thì không muốn bữa tiệc tế nhị này trở thành buổi tụ hội của đám võ phu, - Lão tướng quân chớ có làm đẹp mặt thêm cho bọn chúng, đám tướng lĩnh ấy đúng là không ra sao, mấy hôm nay ta vừa hạ lệnh chỉnh đốn quân kỷ, để bọn chúng luyện rèn cho tốt. Lão ngài yên tâm, lát nữa ta sẽ cho người đi mời các quan viên trọng yếu trong kinh đến phủ, sẽ chẳng thiếu người uống với ngài đâu!
— Xin theo sự sắp đặt của minh công. - Khuôn mặt đầy nếp nhăn của Đoàn Ổi cười như một đóa cúc khô.
Tào Tháo đổi giọng nói:
— Nhưng lão phu còn có mấy việc phải thương nghị với Lệnh quân, xin mời chư vị hãy đến phủ ta trước nhé... Xung nhi! Con cũng về nhà đi.
Đoàn Ổi từ nãy đã thấy thích cậu bé này, không cần biết đang ở chốn hoàng cung, bế luôn Tào Xung lên nói:
— Tào công yên tâm, ta sẽ đưa tiểu công tử về. Ta cũng muốn được nghe xem cậu chàng này còn biết bao nhiêu chuyện nữa nào!
Tào Xung cũng không sợ người lạ, tóm lấy chòm râu bạc của Đoàn Ổi cười khanh khách!
Từ biệt mọi người rồi, Tào Tháo cùng Tuân Úc, Tuân Du vào một tòa gác trong sinh đài. Cảnh Kỷ, Phan Húc đều rất biết ý, nhận thấy bọn họ có chuyện bí mật muốn nói, vội bảo các thượng thư, lệnh sử trong gác đi hết ra ngoài, lại tiện tay đóng cửa lớn lại. Tuân Du khi ấy mới lấy bức quân báo ra - hóa ra là huynh đệ họ Viên tranh đoạt đại vị đã nổ ra giao tranh ở Nghiệp Thành, Viên Đàm quân ít bị thua, cùng Quách Đồ, Tân Bình chạy ra ngoài thành, lấy danh nghĩa là Xa kỵ Tướng quân, Thứ sử Thanh Châu chiêu mộ binh mã khắp nơi, lại cho gọi bộ hạ của y ở Thanh Châu khẩn cấp đến Ký Châu giúp mình cướp lại ngôi vị. Nhưng các bộ quân Thanh Châu phần lớn là cường hào địa phương, chỉ muốn được bảo toàn tư lợi, không muốn tham gia nội chiến. Thêm nữa, bọn họ đã nhiều năm phải chống cự với bọn Tang Bá, Tôn Quan đến xâm lấn, nên thực sự đã mất niềm tin với Viên Đàm. Bộ tướng Thanh Châu là Lưu Tuân cử binh tạo phản ở huyện Luy Ấm, chỉ trong vòng mấy ngày ngắn ngủi mà kẻ làm phản trong thành đã không thể đếm hết được. Duy chỉ có Biệt giá Vương Tu, Thái thú Đông Lai Quản Thống là có lòng đi theo Viên Đàm, dẫn theo binh mã lên phía bắc hưởng ứng. Trận chiến cốt nhục tương tàn đã không thể tránh khỏi.
Tuân Du thấy thời cơ đã chín muồi, đề nghị một lần nữa lại đưa quân bắc phạt. Nhưng Tào Tháo vẫn chưa vội:
— Ta thấy vẫn còn sớm quá... “Đả hổ thân huynh đệ, thượng trận phụ tử binh.”[4] Huynh đệ họ Viên tuy đã trở mặt với nhau, nhưng dẫu sao cũng là người một nhà. Nếu lúc này bắc phạt, tất sẽ lại khiến bọn chúng tái hợp, liên thủ cùng đối địch với ta, chuyện lần trước chẳng phải là một bài học ư? Ta với Phụng Hiếu đã bàn bạc việc này rồi, đối đầu trực tiếp với chúng chẳng bằng để chúng tự cốt nhục tương tàn, hao binh tổn tướng, mất hẳn lòng dân, chúng ta hãy ngồi chờ ngư ông đắc lợi.
Tuân Du lại có vẻ lo lắng:
— Ngồi chờ ngư ông đắc lợi cố nhiên là tốt. Nhưng cũng phải nắm được đúng thời cơ, nếu như Viên Đàm bị Viên Thượng đánh bại, mối ngư lợi này cũng sẽ không còn!
— Yên tâm đi, ta tin lời Phụng Hiếu, tên tiểu tử ấy nói không thể sai! - Tào Tháo cười, - Gửi thư cho các tướng Tang Bá, Tôn Quan, bảo bọn họ nhanh chóng tiến quân. Ký Châu cứ để cho huynh đệ chúng làm loạn, nhưng Thanh Châu có thể nhân loạn mà giành lấy. Nếu Lưu Tuân bằng lòng quy thuận triều đình là tốt nhất, còn không sẽ tru diệt cả. Phiền Lệnh quân soạn hai bản chiếu thư, lệnh cho Lã Kiền đi làm Thứ sử Từ Châu, Tang Bá kiêm lĩnh Thứ sử Thanh Châu, mảnh đất được biếu không lẽ nào lại không lấy?
Tuân Du lại nói:
— Việc này không đơn giản. Thái thú Liêu Đông Công Tôn Độ vẫn luôn nhòm ngó Thanh Châu. Khi Viên Thiệu còn sống, hắn không dám động thủ, nhưng nay đã sai người cướp được mấy huyện ven biển rồi, lại còn đổi tên cho khu vực đó là “Doanh Châu”, muốn đặt ra chức Doanh Châu mục! Làm sao để đối phó với hắn đây?
Liêu Đông tuy thuộc địa bàn U Châu, nhưng vẫn là “nước riêng trong nước”, không nghe theo điều khiển của họ Viên. Tên Công Tôn Độ phía đông xâm lấn Cao Cú Lệ, phía tây đánh đuổi Ô Hoàn, thậm chí thôn tính cả Phù Dư Quốc[5] vào làm đất của mình, đem những vùng đất ngoại bang cướp được lập ra hai quận Liêu Tây, Trung Liêu. Gần đây y lại còn tự xưng là “Liêu Đông Vương”, gần như một thiên tử nước khác. Hiện nay địa bàn ở phía đông bắc Công Tôn Độ đã cướp đủ rồi, lại vượt eo biển sang cướp vùng Thanh Châu.
Tào Tháo cười nhạt nói:
— Công Tôn Độ thực không biết trời cao đất dày là gì, cho rằng đánh bại được đám man di ở biên cương như vậy đã là thiên hạ vô địch ư? Mấy hôm trước Phụng Hiếu có bàn bạc với ta chuyện này, ta quyết định để triều đình phong cho hắn chức Vũ Uy Tướng quân, tước Vĩnh Ninh hầu. Nếu như hắn biết điều mà quy hàng là tốt nhất, còn nếu chấp mê bất ngộ thì ta sẽ xử trí hắn!
— Nên sai ai đi truyền chiếu?
— Phụng Hiếu tiến cử Lương Mậu, ta thấy rất thích hợp.
Tuân Du tuy đã nhiều tuổi nhưng trong lòng vẫn cảm thấy thật chua chát, Quách Gia mới chỉ là một chân Tế tửu nhưng lại được coi trọng hơn chức quân sư của ông. Ông cố gạt đi sự ganh tị trong lòng, nói sang chuyện khác:
— Vừa nãy ngài mời Vi Đản và Hàm Đan Thương cùng dạo chơi ngự viên, phải chăng vì việc thay đổi chức Thứ sử Lương Châu
— Không sai! Lần trước đánh nhau ở Bình Dương nguy hiểm quá! - Ánh mắt Tào Tháo lộ vẻ lo sợ, - Nếu không phải khi ấy thuyết phục được Mã Đằng thì hậu quả không biết sẽ ra sao, bằng không đất Quan Trung đã rơi cả vào tay Cao Cán rồi.
— Nghe nói bộ hạ của Mã Siêu có một chiến tướng tên là Bàng Đức, chém chết Quách Viện ngay tại trận. Sau đó Chung Do nhận ra thủ cấp của cháu mình đã bật khóc. Là người một nhà ai thờ chủ nấy, thực khiến người ta phải đau lòng.
— Cao Cán, Quách Viện là cháu gọi Viên Bản Sơ, Chung Nguyên Thường bằng cậu, không ngờ đại sự của lão phu thiếu chút nữa đã bị hỏng bởi tay của hai đứa cháu ấy! - Tào Tháo không hề quan tâm đến cảm nhận của người khác. - Mã Đằng biết quay ra khỏi đường mê cũng coi như có công, hãy tận thăng cho ông ta làm Chinh Nam Tướng quân. Nhưng chuyện này chỉ có một lần, không có lần thứ hai. Nếu ông ta lại làm phản thì triều đình há có thể dung túng được ư? Hay là cần phải có một chức Thứ sử do triều định bổ nhiệm để giám sát Mã Đằng. Vi Đoan rốt cuộc cũng là cát cứ một phương, không phải việc gì ông ta cũng bẩm báo lão phu.
Tuân Du lại không cho là vậy:
— Họ Vi tuy không có danh nghĩa, nhưng dẫu sao cũng có danh vọng ở Lương Châu. Nếu sai người ngoài đến làm Thứ sử, chỉ e tướng lĩnh ở đó không nghe theo. Hơn nữa, Hàm Đan Thương có đáng cho ngài tin tưởng không? Đã có Nghiêm... - Ông ta vốn muốn nói rằng: “Đã có Nghiêm Tượng bị thất bại ở Dương Châu là một tiền lệ rồi, những chuyện này phải rất thận trọng.” Nhưng người tiến cử Nghiêm Tượng là Tuân Úc đang ngồi bên cạnh, nên đành nuốt lời lại không nói ra.
— Cũng không đáng ngại. - Tào Tháo hiểu rõ điều lo lắng của Tuân Du, - Hàm Đan Thương là nhân sĩ ở Trần Lưu, Duyện Châu, ta đã từng hỏi thăm qua Vạn Tiềm, Tiết Đễ rồi, người này trung thuận, nghiêm minh, rất đáng tin cậy. Ngoài ra ta nghe Vi Đản nói, phụ thân cậu ta từ lâu đã có ý rời khỏi Lương Châu. Chúng ta có thể mời Vi Đoan vào triều ban cho chức quan cao, nhưng giữ con trai ông ta là Vi Khang ở lại Lương Châu tiếp tục thống lĩnh bộ hạ, như vậy vừa có thể khống chế được Lương Châu, lại có thể nắm được con tin của họ Vi, làm tốt chuyện này còn có thể làm gương cho đám võ phu ở Lương Châu. Đám thổ hào ấy đến ngủ cũng mơ được làm đại quan đấy!
Tuân Du vẫn thấy Tào Tháo suy nghĩ quá đơn giản, nhưng nếu bình định được Hà Bắc tất sẽ uy hiếp được Quan Tây, sắp đặt như vậy tựa hồ cũng không ảnh hưởng đến đại cục:
— Nếu họ Vi bằng lòng, việc này coi như đã xong. Nhưng đất Tây Lương không thể để một mình Mã Đằng lớn mạnh được. Mã Đằng và Hàn Toại tuy kết nghĩa anh em nhưng lại thường xuyên mâu thuẫn, vậy sao không thăng chức cho Hàn Toại để hai kẻ ấy kiềm chế lẫn nhau, không ai có thể độc bá ở Lương Châu được.
— Ý hay lắm! - Mắt Tào Tháo chợt sáng lên. - Hàn Toại này lão phu đã biết từ lâu. Phụ thân hắn được xét hiếu liêm cùng một năm với ta, bản thân hắn cũng từng du học Lạc Dương, còn được bái kiến Hà Tiến. Nhưng khi ấy hắn tên là Hàn Ước, tự Văn Toại, sau đó bị Bắc Cung Bá Ngọc hiếp bức mà tạo phản, để tránh tai mắt của người khác, nên đổi tên Hàn Ước, tự Văn Toại thành Hàn Toại, tự Văn Ước. Dẫu sao hắn cũng từng là người đọc sách, biết rằng tạo phản là việc đáng chê cười, có thể nói hắn thông minh hơn Mã Đằng nhiều. Thế này đi... Mã Đằng làm Chinh nam Tướng quân, Hàn Toại cũng thăng lên làm Chinh tây Tướng quân, một kẻ chinh nam, một kẻ chinh tây, để cho bọn chúng tranh nhau vậy!
Tuân Úc lật giở những tấu chương để bừa bãi trên án, nói thêm:
— Gần đây Thái thú Vũ Uy bị bệnh chết, Đoàn Ổi tiến cử con trai danh tướng Trương Hoán là Trương Mãnh thay giữ chức này, nhưng người đó còn ở Hoằng Nông, chúng ta chưa được gặp, không biết có thể trọng dụng được không?
Tào Tháo cười nói:
— Trước kia Đoàn Quýnh với Trương Hoán bất hòa, vì chuyện chinh thảo người Khương mà công kích, đàn hặc lẫn nhau. Đoàn Quýnh dựa vào hoạn quan Vương Phủ, Trương Hoán thì hô hào lật lại vụ án cho đảng nhân, không ngờ sau khi bọn họ chết đi, anh em con cháu hai người lại hòa hợp, thân thiết với nhau. Trương Mãnh, tự Thúc Uy là hổ tử của tướng môn, con mắt của Đoàn Ổi chắc hẳn không sai, hơn nữa huynh trưởng của ông ta là Trương Sưởng vẫn ở trong triều làm chức Hoàng môn Thị lang, chắc sẽ không hai lòng với chúng ta. Hàm Đan Thương làm Thứ sử, Trương Mãnh làm Thái thú Vũ Uy, hãy để bọn họ cùng đến Lương Châu nhận chức, để còn có thể bảo vệ lẫn nhau. - Tào Tháo trầm tư hồi lâu, lại nhớ ra một chuyện. - Lệnh quân, những duyện thuộc trưng dụng gần đây đã đến đủ cả chưa?
Tuân Úc cầm một tờ trát đưa cho Tào Tháo:
— Đây là trát của Mao Giới vừa chuyển đến, số người này đã đến được bảy tám phần mười rồi. Trần Kiều, Từ Tuyên ở Quảng Lăng, Dương Tuấn ở Hà Nội, Lưu Dực trốn về từ Kinh Châu, Đỗ Tập nhận chức bên ngoài được vời về, lại còn những bộ hạ cũ của Lưu Huân là bọn Lưu Việp, Tưởng Tế, Thương Tử cũng nằm trong số đó, chỉ có Tư Mã Ý vẫn chối từ không nhận chức. Ngoài ra tại hạ cũng tự mời thêm ba người.
Duyện thuộc ở mạc phủ cũng thường xuyên thay đổi, Tào Tháo mỗi khi cần dùng người đều chọn những kẻ có tài cho ra làm huyện lệnh ở địa phương, lâu dần sẽ tấn thăng lên làm quận thú, như vậy những quan viên trọng yếu ở địa phương sẽ do người trong mạc phủ nắm giữ, hoàn toàn nghe theo mệnh lệnh của Tào Tháo. Đến nay, những duyện thuộc lớp trước như Hà Quỳ, Lưu Phức, Viên Hoán, Lương Mậu, Ta Mã Lãng, Trịnh Hồn, Từ Dịch đã được cho ra ngoài nhận chức hết, cần bổ sung gấp người mới.
— Người khác thì không nói, nhưng Trần Kiều, Từ Tuyên thì ta muốn gặp riêng một chút, không biết Trần Đăng có chịu rời Quảng Lăng không? - Tào Tháo cầm bản danh sách, đọc xem, thấy cuối hàng có ghi bổ sung thêm tên ba người: Trương Ký, Đỗ Kỳ, Vi Hoảng. - Lệnh quân sao lại bổ sung ba người này?
Tuân Úc thong thả nói:
— Trương Ký, tự Đức Dung, người huyện Cao Lăng, Tả Phùng Dực làm chức Huyện lệnh Tân Phong. Trong cuộc chiến ở Bình Dương, chính ông ta đã thuyết hàng Mã Đằng thay cho Chung Do đấy ạ.
— Có can đảm, có kiến thức. - Tào Tháo gật gù. - Còn hai người kia?
— Đỗ Kỳ, tự Bá Hầu là nhân sĩ ở Đỗ Lăng, Kinh Triệu. Ông ta là người từng trải, từng làm các chức Công tào Kinh Triệu, Huyện lệnh Trịnh Huyện, Phủ thừa Hán Trung, sau vì Trương Lỗ ở Hán Trung làm loạn nên phải lánh sang Kinh Châu mấy năm gần đây vừa mới về đến Quan Trung, hiện làm Công tào dưới trướng Kinh Triệu doãn Trương Thời... - Nói đến đây, Tuân Úc chợt cười.
— Ôi chà! - Tào Tháo liếc nhìn Tuân Úc, - Lão phu có mấy khi thấy Lệnh quân cười thế đâu? Phải chăng Đỗ Kỳ kia có điểm gì thú vị ư?
— Không dám giấu Tào công, tại hạ phát hiện ra người này cũng rất ngẫu nhiên. Đỗ Kỳ ấy với Thị trung Cảnh Kỷ vốn là bạn chí thân, tối hôm trước hai người họ đến gặp nhau, đốt đèn trò chuyện thâu đêm. Hôm ấy vừa hay tại hạ ngủ lại sảnh đài, ngay sát phòng Cảnh Kỷ, chuyện họ nói với nhau nghe rõ mồn một. Đỗ Kỳ rất có kiến thức trong việc sửa chữa thói tật ở đời, hơn nữa lại rất phù hợp với sách lược “lung lạc Quan Trung, không đánh mà yên” của Tào công. Cho nên hôm qua tại hạ đã chất vấn Cảnh Kỷ chuyện “biết bậc quốc sĩ mà không tiến cử, sao xứng với ngôi vị của mình”, để lấy được lý lịch của người này ạ.
— Ha ha ha!... - Tào Tháo cũng cười mãi không thôi. - Tuân Lệnh quân tiến cử người hiền, đúng là không biết mệt mỏi. Ta thấy nhân tài trong thiên hạ, sớm muộn cũng bị ngài đánh lưới hết thôi!
— Tào công quá khen. - Tuân Úc chắp tay khiêm nhường.
Tào Tháo kéo Tuân Du lại nói:
— Nếu đem so thì Tuân quân sư lại là người trừ ác không biết mệt mỏi. Tất cả những diệu kế phá địch, lão phu đều phải nhờ vào ngài. Nhờ có hai ngài như hai cánh tay trái phải giúp cho lão phu, còn lo chi đại sự không thành?
Tuân Du thì không thấy gì, nhưng Tuân Úc lúc này cảm thấy rất hoài nghi với “đại sự” mà Tào Tháo nói, bèn quay lại chuyện khi nãy:
— Còn một người nữa là Vi Hoảng, cũng là người trong Vi tộc ở Kinh Triệu, nổi tiếng là người nghiêm cẩn, trung chính.
— Rất tốt, ba người này đều có thể dùng được. Cái hay ở chỗ là bọn họ đều quê quán ở Quan Trung, dùng những người như thế, đất Quan Trung còn lo gì không yên ổn? Khi nãy Đoàn Ổi có nói với ta, tuổi tác đã cao rồi, không thích chuyện đánh đấm nữa, ta nghĩ đợi bình định xong Hà Bắc sẽ gọi ông ta về kinh, trao cho một chức trong hàng cửu khanh, cũng là dựng lên một tấm gương trong việc quy phục triều đình cho chư tướng ở Quan Trung.
Tuân Du lại nói:
— Chuyện của Đoàn Trung Minh tạm không cần phải vội, theo như tại hạ thấy, nên mau chóng triệu Thái thú Hà Đông Vương Ấp vào triều. Người này thân là quận thú, nhưng trước việc Cao Cán tiếm lập Quách Viện cũng chẳng buồn để tâm. Cao Cán tiến đánh Quan Trung, ông ta cũng chỉ giữ chặt thành trì không dám ra nghênh chiến, đó rõ ràng là khoanh tay đứng nhìn, gió chiều nào xoay chiều ấy, là kẻ ba phải mà thôi!
Thái thú Hà Đông Vương Ấp được nhận mệnh từ khi triều đình còn ở Tây Kinh, khi thiên tử trở về phía đông, ông ta từng dâng cống một số lương thảo, giúp đỡ cho triều đình lưu vong dừng chân ở An Ấp, do vậy được phong làm Đại tư nông, Dương Đình hầu. Nhưng người này thực lực yếu kém, không lo tiến thủ, chỉ biết trơ mắt nhìn Tào Tháo đón thiên tử đi, đến nay ông ta vẫn dẫn theo đám binh mã của mình đồn trú ở Hà Đông. Triều đình cũng giữ ý nên chức vị Đại tư nông và tước hầu của ông ta vẫn để đó chưa thu lại.
Tào Tháo nghĩ ngợi một lúc rồi nói:
— Cũng nên điều ông ta về từ lâu rồi, nhưng việc này phải có sách lược, Vương Ấp từ lâu trấn thủ Hà Đông, tất có phe cánh, nếu vì điều ông ta về mà kết oán với cường hào ở Quan Trung thì khác nào vì cái nhỏ mà mất cái lớn.
— Để tại hạ suy nghĩ thêm xem có kế sách vẹn toàn nào không. - Tuân Úc lại lấy hai cuốn thẻ tre trên án, - Về việc trưng dụng duyện thuộc, Khổng Dung cũng tiến cử một người, đó là Thịnh Hiến ở Cối Kê...
— Không dùng người này! - Tào Tháo gạt đi luôn. - Ta từng nghe nói rồi, Thịnh Hiến có quan hệ rất thân thiết với Khổng Dung. Triều đình này có một tên điên đã đủ phiền lắm rồi, không thể lại dùng thêm một nhân vật như thế nữa!
— Dạ. - Tuân Úc nuốt nước bọt, lại nói, - Còn một người nữa, tại hạ muốn đặc biệt tiến cử lên minh công, đó là một người ở Cao Bình, Sơn Dương, tên là Trọng Trưởng Thống. Người này đã thông hiểu kinh thư, lại biết nhìn xa trông rộng, từng dụng tâm soạn bộ sách Xương Ngôn. Tại hạ từng được đọc qua, ngôn từ tinh tế, đúng đắn, thiết thực không kém gì bộ Pháp Ngôn của Dương Hùng, Tân Luận của Hoàn Đàm, Tiềm Phụ Luận của Vương Phù, là bậc đại tài đời này vậy! Tại hạ đã mời ông ta đến đây để minh công có thể nhận mệnh bất cứ lúc nào. - Vừa nói Tuân Úc vừa cầm cuốn thẻ tre đặt vào tay Tào Tháo, - Đây là một cuốn trong bộ Xương Ngôn, thiên Lý Loạn, xin minh công xem qua!
Tuân Úc đã tiến cử không ít hiền tài, nhưng hiếm khi đánh giá người khác cao như vậy, lại còn đem so với Dương Hùng, Hoàn Đàm nữa, vậy thì Trọng Trưởng Thống kia nhất định có điểm hơn người. Tào Tháo càng nghe càng thấy hứng thú, liền vội mở ra đọc to:
— Kẻ hào kiệt nắm thiên mệnh, đầu tiên phải phân chia thiên hạ. Không phân chia thiên hạ, tất sẽ nổi lên chiến tranh. Khi ấy, giả mượn uy trời, chiếm cứ địa bàn, tập hợp binh mã để đấu tài trí, đem dũng khí để so thư hùng, chẳng biết sẽ đi đến đâu, làm lầm lẫn cho thiên hạ, số ấy không thể đếm hết được...
Chỉ đọc qua mấy câu ấy, Tào Tháo đã thấy nóng mặt! Thế nào là “giả mượn uy trời, chiếm cứ địa bàn”, thế nào là “chẳng biết sẽ đi đến đâu, làm lầm lẫn cho thiên hạ”? Câu này đọc đi đọc lại cứ y như phê phán mình không chịu trả chính sự lại cho thiên tử vậy. Tào Tháo trong lòng thầm ghét, nhưng nể mặt Tuân Úc nên không tiện nói gì, chỉ bảo:
— Văn chương tuy hay, nhưng chưa hẳn đã có thực tài. Số duyện thuộc trưng dụng thế cũng đủ nhiều rồi, đợi sau này có cơ hội sẽ nói sau vậy.
Tuân Úc sở dĩ không viết tên Trọng Trưởng Thống vào danh sách là vì muốn tiến cử riêng với Tào Tháo. Theo nhìn nhận của ông, người này tiền đồ không thể chỉ làm một chân duyện thuộc cỏn con, mà rất có thể được đứng vào chốn miếu đường làm danh thần một đời. Nào hay Tào Tháo chỉ hai câu nói liền gạt đi luôn, ông bèn vội vàng tranh luận:
— Trọng Trưởng Thống thực sự là tài năng hiếm có, xin minh công...
— Sau này vẫn còn cơ hội mà! - Tào Tháo không đợi Tuân Úc nói hết câu liền đứng dậy luôn. - Tối nay ta phải thiết yến trong mạc phủ, phiền Lệnh quân và quân sư thay ta mời rộng rãi quần thần, càng đông càng tốt. Ngoài ra, cũng gọi cả Trần Kiều, Từ Tuyên và các huyện thuộc khác cùng đến dự, nhân cơ hội này để mọi người làm quen với nhau. Lão phu phải về tiếp Đoàn Ổi, việc ở đài các, vất vả Lệnh quân vậy... - Kỳ thực Tào Tháo còn có một dụng ý khác, muốn diễn cho đủ vở kịch và phát binh đánh kinh Châu, nên mượn bữa tiệc này làm cho bá quan trong triều ai ai cũng biết, khiến khắp kinh sư phải xôn xao, như vậy Viên Thượng, Viên Đàm được tin mới có thể yên tâm đầu đá nhau được.
Tuân Úc còn muốn nói thêm mấy câu cho Trọng Trưởng Thống, nhưng Tào Tháo đã ra khỏi đi thẳng. Tuân Du liếc nhìn Tuân Úc, khẽ nói:
— Việc trong thiên hạ đều phải theo ý của Tào công. Dù là bậc đại tài, nhưng không hòa đồng theo ý ngài ấy liệu có được không? Văn Nhược này, bất luận là chúng ta tiến hiền hay trừ ác, cũng phải có mức độ vừa đủ thì thôi.
Không ngờ đứa cháu lớn hơn mình sáu tuổi ấy lại nói ra câu đó, Tuân Úc im lặng hồi lâu, cũng chỉ còn biết gật đầu đành vậy...
Văn thái phong lưu Tào Tháo trước sau vẫn luôn lưu tâm đến Thái thú Quảng Lăng Trần Đăng, thứ nhất là vì trước đây ông ta từng phản bội Lã Bố, thứ hai là ông ta từng có giao tình rất thân thiết với Lưu Bị. Năm ấy, Tôn Sách có ý tiến lên phía bắc, Tào Tháo lo việc quyết chiến với Viên Thiệu, không muốn chuốc thêm phiền toái, nên tạm thời để Trần Đăng lưu lại Quảng Lăng, đồng thời gia phong làm Phục Ba Tướng quân, dùng Trần Đăng làm lá chắn ngăn cản Tôn Sách. Nhưng Tôn Sách đã chết, ông ta không còn tác dụng gì nữa, mà ngược lại, dưới con mắt Tào Tháo, có khi còn là mối ẩn họa. Vì vậy Tào Tháo đã lệnh cho Trần Đăng rời khỏi Quảng Lăng đi lĩnh chức Thái thú Đông Thành, đồng thời cắt hai cánh tay đắc lực của Trần Đăng là Trần Kiều, Từ Tuyên đem về mạc phủ.
Tào Tháo hội kiến các vị duyện thuộc mới nhận chức, gặp mặt chuyện trò mấy câu với từng người, rồi giữ hai người Trần, Từ ở lại. Trần Kiều thì Tào Tháo đã được biết từ khi bình định Lã Bố, trong thời gian đánh nhau ở Quan Độ ông ta từng chạy đến Tào doanh cầu viện, Tào Tháo rất coi trọng Trần Kiều, hôm nay gặp gỡ, vô cùng vui mừng:
— Mấy năm chưa gặp, Quý Bật đã hơi phát tướng rồi nhỉ?
Trần Kiều rất biết chiều lòng:
— Đó là nhờ ân đức và tín nhiệm của Tào công nên mới phát tướng vậy.
Tào Tháo không có tâm trạng nghe ông ta nói đùa:
— Ta nghe nói Trần Nguyên Long khi chuyển đi làm Thái thú Đông Thành, bách tính ở Quảng Lăng quyến luyến mãi không rời, lại còn có người chuyển cả nhà, dẫn theo vợ con cùng đi theo ông ta. Có chuyện ấy ư?
— Quả đúng có chuyện đó. - Trần Kiều thành thật đáp, - Trần Quận tướng nhận chức ở Quảng Lăng ngần ấy năm, chấp pháp công minh, khuyến khích nông tang, tiêu trừ cướp biển, phía nam thì chống lại giặc ngoài, bách tính được an cư lạc nghiệp nên đều nhớ ơn đức ông ấy. Do vậy khi nghe Trần Quận tướng phải dời đi làm quan nơi khác, hương thân phụ lão đều mong muốn đi theo, dù có phải bỏ quê quán đến Đông Thành khẩn hoang đi nữa... Kỳ thực cũng bởi Tào công biết cách dùng người, Trần Quận tướng mới có thể được dân chúng mến yêu, một phương khen ngợi vậy!
Tào Tháo nghe mà cười không nổi, khóc không xong, dường như có chút ghen tị với Trần Đăng, nhưng con người ấy danh vọng cao như vậy, dù cho có đi khỏi Quảng Lăng rồi cũng không thể coi thường được:
— Thời buổi loạn lạc, bách tính phải chịu nhiều cảnh loạn ly khốn khổ, khó khăn lắm mới gặp được một viên quan tốt như Trần Đăng, tất nhiên sẵn lòng đi theo ông ta. Nhưng... - Tào Tháo đổi giọng - Quận huyện các nơi vốn đã có dân bản hạt, tùy tiện di dời là không lợi cho kế dân sinh vậy.
Trần Kiều tựa hồ hiểu được ẩn ý trong lời Tào Tháo nói. Hiện giờ ông ta đã được Tào Tháo vời vào mạc phủ, ăn cây nào phải rào cây ấy, liền phụ họa theo:
— Đất Quảng Lăng là nhờ ân đức Tào công mới được yên ổn, lòng người hướng về ngời ngời vừng nhật. Trần Quận tướng những năm qua cũng vẫn thường tỏ lòng kính trọng ngài với chúng tại hạ. Hơn nữa...
— Sao?
Trần Kiều hơi nhướn mày:
— Không phải là tại hạ vô ơn nói bừa, Trần Quận tướng có lẽ mệnh cũng không còn được lâu nữa.
— Ồ! - Tào Tháo sững sờ, - Nói vậy là thế nào?
— Trần Quận tướng mắc phải chứng khí muộn nhiều năm, mỗi khi phát bệnh trong ngực nhức nhối không thể ăn uống được. Mùa xuân năm ngoái bệnh lại phát ra, đau đớn đến đỏ mặt tía tai, nghiêm trọng hơn trước rất nhiều. Thấy có vẻ nguy đến tính mạng, ông ấy đã cho mời danh y Hoa Đà đến chữa trị, uống một thang thuốc liền thổ ra tới hai thang thử trùng bọ đầu đỏ, thân hồng, đằng đuôi có vẩy, ngo ngoe sống nguyên...
Tào Tháo nghe ông ta miêu tả chợt thấy ghê sợ, vội đưa tay ngăn lại:
— Không cần kể thêm nữa, rốt cuộc là bệnh gì?
— Hoa Đà tiên sinh nói rằng bệnh này là do ăn cá sống mà ra[6], Trần Quận tướng từ nhỏ đã thích ăn món này, mắc bệnh quá lâu đã không thể chữa trị tận gốc được. Lần này tuy đã đuổi được thứ trùng này ra, nhưng lục phủ ngũ tạng đã bị tổn hại nghiêm trọng, trong vòng ba năm tất sẽ lại phát bệnh. Khi ấy dù có Biển Thước tái sinh cũng không thể cứu được!
Tào Tháo chỉ mong Trần Đăng chết sớm, nhưng ngoài miệng vẫn giả vờ nói:
— Nguyên Long tài trí phi phàm, vậy mà lại mắc phải chứng nan y, ông trời thật bất công quá! Nhưng đám phương sĩ vu y trên thế gian đều hay dọa dẫm khiến người ta nghe phải sợ, lúc bắt mạch thì nói là chứng bệnh nan y, đến lúc chữa khỏi liền tự khoe khoang là tài năng của mình. Hoa Đà kia thực ra là đồng hương với lão phu, tuy cũng có chút tài mọn nhưng ông ta nói không cứu được cũng chưa hẳn đã là thế.
— Minh công bận rộn bên ngoài cũng có khi không biết, Hoa Đà hoàn toàn không phải là đám giang hồ thuật sĩ, ông ta chẳng những tinh thông y thuật mà còn thông hiểu kinh thư. Tuy vọng, văn, vấn, thiết,[7] đều theo phép tắc, nhưng hoàn toàn không lấy đó làm nghề chính, ngay cả những kẻ quan cao chức trọng tìm ông ta nhờ xem bệnh cũng không dễ dàng gì. Chỉ vì phụ thân của Trần Quận tướng là Trần Hán Du khi làm chức Bái Quốc Tướng từng xét hiếu liêm cho Hoa Đà, nên nhờ mối ân tình riêng ấy mới mời được ông ta. - Trần Kiều vẻ thành thực, - Tại hạ có đề nghị thế này, sao minh công không vời người này vào mạc phủ, một là giao cho ông ta một công việc đàng hoàng, hai là nếu minh công trong người không khỏe có thể gọi ông ta đến bắt mạch kê đơn cho.
Từ Tuyên từ lúc thi lễ với Tào Tháo đến giờ vẫn đứng một bên, tận đến khi nghe được như vậy mới nói chen vào:
— Quý Bật nói sai rồi! Khổng Tử nói: “Quân tử bất khí”,[8] đám đồng cốt thầy lang, thợ thuyền, đầu bếp, hát xướng, tuyệt không phải hàng sĩ đại phu. Hoa Đà không làm việc chính đạo mà lại đi nghiên cứu phương thuật, há chẳng phải là gốc ngọn đảo lộn ư? Quý Bật hiện đã là duyện thuộc trong mạc phủ, không tiến cử bậc đại tài lên cho chúa Công, sao lại đề bạt đám hãnh tiến tà đạo ấy chứ?
Từ Tuyên với Trần Kiều tuy cùng là người Quảng Lăng, đều cộng sự giúp sức dưới trướng của Trần Đăng nhiều năm, nhưng thường bất hòa với nhau. Trong cuộc chiến Quan Độ, một người mượn binh quân Tào, một người dẹp loạn ở Hà Tây, đều lập được công lao trong việc đánh lui Tôn Sách, tài năng cũng không thua kém gì nhau, chỉ là không ưa nhau mà thôi.
Trần Kiều là kẻ sĩ ung dung nhàn dật, cử chỉ nói năng khá thoải mái, còn Từ Tuyên lại là người nghiêm khắc giáo điều, nổi tiếng là đức độ chính trực, tính cách hai người tựa như nước và lửa vậy! Hôm nay Từ Tuyên gây sự với mình ngay trước mặt Tào Tháo, Trần Kiều đâu có chịu lép vế, phản bác với vẻ châm chọc:
— Tại hạ tiến cử Hoa Đà là nghĩ đến sức khỏe của minh công, chứ đâu có suy xét đến đạo lý lớn lao như vậy? Từ Bảo Kiên ơi là Từ Bảo Kiên, con người ông đúng là giống hệt cái tên mình, cứng nhắc đến độ không thấu hiểu nhân tình vậy!
Từ Tuyên nghiêm mặt nói:
— Bậc quân tử không thể nói bừa, ông châm chọc cái tên của tôi là quá rồi đấy!
— Thế ông chẳng đã từng đi kể khắp nơi chuyện gia sự của tôi ư?...
Tào Tháo từ lâu đã biết hai người vốn bất hòa với nhau, nhưng không ngờ chỉ cần một đốm lửa là bùng lên ngay như vậy, thấy Từ Tuyên sắc mặt sa sầm đứng thẳng vẻ nghiêm trọng, Trần Kiều thì mặt mũi đỏ gay ghé mắt nhìn xéo, đúng là vừa tức vừa buồn cười, bèn vội vàng dàn hòa:
— Lời Bảo Kiên nói tuy rất đúng, nhưng không tránh khỏi quá khắt khe. Kỳ thực say mê y thuật chưa hẳn đã là không hay, chí ít cũng có thể trị bệnh cứu người. Người ta ở đời họa phúc khó lường, ví như Trần Nguyên Long kia, chẳng qua mới hơn ba mươi tuổi, ngay cả Tôn Sách ở Giang Đông cũng bị ông ta chặn đứng. Nhưng ngờ đâu chỉ vì thích ăn mấy miếng cá sống mà sắp phải bỏ mạng như vậy!
Đang lúc trò chuyện thì Vương Tất vào bẩm báo:
— Khải bẩm chúa công, liệt vị đại nhân đến dự yến đã tới cửa cả rồi ạ.
— Ồ, mau mau mời vào. - Tào Tháo vội vàng đứng dậy, dẫn theo hai người Trần, Từ xuống nhà.
Bọn Đỗ Kỳ, Lưu Việp, Thương Từ, những duyện thuộc mới đến đều đứng cả ngoài sân, thấy Tào Tháo đi ra vội nhất tề thi lễ. Tào Tháo vẫy tay bảo bọn họ bình thân:
— Lát nữa ta bày tiệc mời khách, các ông cũng không được trốn tránh, ta sẽ sai người bày bàn ghế ở trong sân, các ông cứ trò chuyện thoải mái, sau này cùng làm việc cũng hiểu nhau hơn.
— Đa tạ chúa công ban yến. - Mọi người cùng đồng thanh.
Tào Tháo vừa định đi, chợt thấy Tào Phi cũng đứng lẫn trong đám đông:
— Sao ngươi lại cũng đứng đây?
Tào Phi bước ra nói:
— Bẩm phụ thân, Thực nhi đi tìm huynh đệ Đinh gia, Xung nhi chơi cả ngày bây giờ cũng đã về đi ngủ rồi, Chương nhi đòi đi cưỡi ngựa, hài nhi không yên tâm đã bảo Tử Đan huynh đi cùng đệ đệ ấy rồi...
— Ta không hỏi chúng. - Tào Tháo trừng mắt. - Ta nói ngươi sao không ở nhà sau đọc sách, lại mò ra đây làm gì?
— Các huynh đệ đều không có nhà, hài nhi vừa cùng Lưu Trinh, Nguyễn Vũ trò chuyện thơ văn, thấy bên ngoài có tiếng người ồn ào, cho nên đi ra đây xem sao... - Tào Phi vừa nói vừa lui lại phía sau.
— Đừng đi nữa! Hôm nay ta mời khách, con hãy ở lại có việc gì thì giúp ta.
— Dạ! - Tào Phi vẫn muốn được lộ mặt trước mọi người, lần này coi như đã được như ý.
Trước cửa mạc phủ ngựa xe tấp nập, chư vị đại thần được mời tới đã tự động sắp thành hàng theo cấp bậc trong triều. Từ Tư đồ Triệu Ôn trở xuống có hơn ba chục vị, người nào người nấy y quan tề chỉnh, hia mũ trang trọng, chào hỏi hàn huyên như được tắm gội hơi xuân. Tào Tháo dẫn các duyện thuộc ra nghênh đón, ai nấy đều nhường nhau mấy lần rồi mới bước vào trong phủ - đến phủ Tào Tháo, bọn họ lại dám không khách sáo ư?
Lúc này gia đinh bộc đồng trong phủ đang bận tíu tít, sắp bàn đặt ghế, vần từng vò rượu, ngoài ra còn có nhạc công sắp đặt chuông khánh nhã nhạc, ti trúc quản huyền, chuẩn bị tấu nhạc hầu rượu. Tào Tháo kéo tay Tư đồ Triệu Ôn:
— Nào, nào, Triệu công vào ngồi cùng với ta.
Triệu Ôn là nhân sĩ ở Thành Đô, Thục Quận, thuở còn trẻ khi mới bước chân vào đường sĩ hoạn từng có câu cuồng ngôn rằng: “Đại trượng phu nên sải cánh, há có thể nằm co!” Mấy chục năm sau ông ta thăng quan tiến chức rất nhanh, từ khi còn ở Tây Kinh đã bước lên ngôi tam công, nhưng khi ấy Lý Thôi, Quách Dĩ làm loạn chính sự. Nhưng nay Tào Tháo độc chiếm đại quyền, có muốn bay cũng không thể bay lên được, đành phải ngoan ngoãn nằm co mà thôi. Ông ta tuổi gần thất thập, mấy năm nay làm chiêu bài cho Tào Tháo nhưng cũng rất được việc, lại thêm sẵn giọng thổ ngữ Thục Trung vô cùng mềm mỏng, nói rất dễ nghe:
— Tào công là chủ, chúng tôi là khách, lão hủ không dám cho khách vượt chủ đâu! - Nói xong cũng không đợi Tào Tháo nhường thêm lần nữa, ông ta ngồi luôn xuống bàn tiệc đầu hàng phía đông. Triệu Ôn muốn làm gương cho những người khác, phía sau, bọn Khổng Dung, Hoa Hâm, Vương Lãng, Hy Lự, Cảnh Kỷ, Tuân Duyệt, Châu Cân đều theo thứ tự mà ngồi, duy chỉ có Tuân Úc ngồi trấn trung đại là không đến. Bên dãy phía tây thì không câu thúc như vậy, Đinh Xung, Đổng Chiêu đều là những tâm phúc của Tào Tháo, ngoài ra là Hoàng Tôn Thị lang Trương Sương, Nghị lang Kim Toàn là những người vốn quê quán Quan Tây cùng đi với Đoàn Ổi, Vi Đản vào tiệc, Hàm Đan Thương sắp đi nhận chức cũng ngồi trong số đó. Còn đám duyện thuộc trong phủ chẳng qua là được chung vui cùng, nên bày tiệc thêm ở ngoài sân cho họ. Duy có Tào Phi là không giống ai, cả hai nơi đều không ngồi cùng được, phải bày riêng cho cậu ta một bàn ngoài hành lang, nhưng lại có thể nhìn rõ ràng cả hai chỗ trong ngoài, Tào Tháo ngồi vào ngôi chủ tiệc, dặn dò khởi nhạc khai yến, lại liếc thấy Giả Hủ ngồi chung bàn với Hứa Du dưới sân, vội gọi Lưu Đại:
— Mời Giả Văn Hòa lên nhà. Ông ấy là người đã từng làm chức Thượng thư lệnh, Chấp kim ngô, lại quê quán ở Lương Châu, xét về lý nên cùng ngồi với Đoàn tướng quân.
Lát sau, các món ăn đã được chuyển lên như hành vân lưu thủy, dâng lên từng bàn - nem ngũ vị, tương bát hợp,[9] rau xanh, hoa quả. Lại còn cả nho do sứ giả Tây Vực tiến cống, bào ngư của chư tướng ở Thanh Châu dâng lên, đồ uống là thứ rượu thơm Xa Điếm đã ủ nhiều năm. Đám nhạc công đàn sáo ai nấy trổ tài, tấu khúc Dương xuân, thực là cảnh chung minh đỉnh thực, phú quý vô biên!
Lễ Ký có câu: “Phu lễ chi sơ, thủy chư ẩm thực.”[10] Chuyện ẩm thực thường nhật ở mạc phủ cũng rất bình thường, nhưng hôm nay thì khác, là một bữa tiệc được dày công sắp đặt. Đồ ăn thức uống thượng hạng, không hề sơ sài nhưng chẳng thấy ai nói cười. Dãy phía tây phần lớn là những quan viên bộn bề công việc, ghé tai thì thầm bàn luận thế cục ở Quan Trung. Dãy phía đông đều là các vị quan lớn phải làm gương, ai nấy ngồi nghiêm chỉnh không nói năng gì, chỉ có mình Khổng Dung là tùy tiện, thoải mái. Còn đến cánh duyện thuộc dưới sân thì càng không dám tự tiện nói năng. Tào Tháo bình sinh thích ăn cá nhưng giờ cũng không thấy hứng thú, cứ định đưa đũa ra thì lại nhớ đến thứ trùng bọ trong bụng Trần Đăng, đành nâng chén rượu cố nghĩ ra một câu để nói:
— Phục quốc trượng và Dương công sao không đến?
Mọi người thấy Tào Tháo nhắc đến Phục Hoàn và Dương Bưu, lại cho rằng ông có ý trách cứ, Triệu Ôn cười nói:
— Phục quốc trượng mấy hôm nay bị trúng phong nằm bẹp trên giường không dậy nổi, còn Dương đại nhân thì vẫn là chứng bệnh cũ ở chân, không tiện ra khỏi nhà. Bọn họ không đến được, mong Tào công lượng thứ.
Chuyện Phục Hoàn bị bệnh là thật, còn chứng đau chân của Dương Bưu có từ ngày bị bãi miễn chức Thái úy, đó là cái cớ để ông không tham dự vào chuyện thế sự. Tào Tháo cũng chẳng buồn so đo làm gì, chỉ nói:
— Gần đây thời tiết không tốt, Thị trung Lưu Mạc cũng đổ bệnh nằm nhà, muội phu của ta là Nhậm Bá Đạt cũng bị ốm đấy. - Lưu Mạc cũng có thể coi là ân nhân của Tào Tháo, tuy khi xảy ra vụ án “chiếu thư trong hai ngọc” cũng có chút trái ý với nhau, nhưng Tào Tháo vẫn nhớ đến ơn của lão nhân gia. Hiện ông ấy đã quá tuổi cổ lai hy, cũng gần đất xa trời rồi. Còn bệnh của Nhậm Tuấn thì cũng không hề nhẹ, gần đây những việc đồn điền đã phải tạm nghỉ. Tào Tháo đã mời ngự y đến chữa trị cho ông ta, lại chuyển ông ta sang nhận chức Trưởng thủy hiệu úy, ở lại Hứa Đô an tâm tĩnh dưỡng.
Chỉ nói được hai câu ấy, rồi tất cả lại yên lặng, Tào Tháo bèn gọi Tào Phi lên kính rượu liệt vị đại nhân. Mọi người nào dám làm vất vả vị Tào đại công tử ấy, có mấy vị quan lớn triều đình còn không kể thân phận, bước ra đáp lễ khiến công tử trẻ tuổi Tào Phi càng thêm khó xử. Tào Tháo thấy mấy người ấy thực chẳng hứng thú gì, dốc một chén rượu nói:
— Hôm nay lão phu thiết yến, một là để đáp lại công lao khó nhọc của chư công đã giữ vững triều cương; hai là để chia tay với chư vị để lên đường nam chinh Kinh Châu. Chư vị im ắng thế này còn ra làm sao nữa, ai có thể ngâm một bài thơ để trợ tửu hứng chăng?
Chư vị đại thần nghe Tào Tháo nói, quay sang nhìn nhau nhưng không ai dám bước ra. Tào Tháo bèn xua tay:
— Đã vậy thì, trước hết hãy bảo duyện thuộc trong phủ ta phao chuyên dẫn ngọc vậy. Phồn Hưu Bá, Lộ Văn Úy, các người tiên phong đánh trước, được không?
Phồn Khâm ngồi ngoài cửa sảnh đường nghe thấy gọi cùng Lộ Túy quay sang nhìn nhau, rồi vội bước ra khỏi tiệc quỳ xuống:
— Khải bẩm chúa công, chúng tại hạ nhiều năm nay chỉ biết soạn công văn, tuổi tác đã cao mà cũng không có tài cán gì đặc biệt, hãy để những người trẻ tuổi thể hiện tài năng thôi ạ.
Người trẻ tuổi mà ông ta nhắc đến là chỉ Nguyễn Vũ, Lưu Trinh - mấy người mới vào phủ gần đây. Bọn họ mới hai ba mươi tuổi nhưng đều nổi tiếng thơ văn. Tào Tháo vốn thích thơ ca, điều bọn họ từ chân thư tá[11] thăng lên làm kỷ thất[12], được hưởng bổng lộc như hàng lệnh sử nhưng lại rất ít khi soạn thảo tấu chương, mà phần lớn là ngâm thơ viết phú cùng với bọn công tử Tào Phi.
— Cũng được... - Tào Tháo mỉm cười, nhìn Lưu Trinh nói, - Công Cán! Tiểu tử ngươi hãy mau làm một bài thơ giúp liệt công trợ hứng nào. Lẽ nào còn phải bắt lão phu xuống lôi ngươi lên?
Lưu Trinh vốn tính khôi hài lại thích khoe khoang, trong bụng đã chuẩn bị sẵn một bài thơ hay, nhưng nghe thấy gọi vẫn chưa chịu bước ra, cười hì hì chắp tay nói:
— Xin chúa công thứ tội, tại hạ nhất thời chưa kịp chuẩn bị, xin được suy nghĩ thêm chút nữa... Nhưng Nguyên Du huynh là người văn thơ lai láng, xin hãy để huynh ấy đi đầu ạ! - Lưu Trinh lại đẩy gánh nặng sang vai Nguyễn Vũ.
Tào Tháo cười ha hả:
— Không muốn làm tiên phong sao không nói thẳng ra, tiểu tử ngươi láu cá lắm đấy. Vậy Nguyên Du hãy làm một bài, lát nữa nếu hắn không làm được bằng ngươi, lão phu sẽ sai người đổ rượu lên đầu hắn.
Nguyễn Vũ không dám thoái thác, đành rời bàn tiệc lên sảnh đường, vái chào mọi người:
— Dám hỏi chúa công, muốn làm một bài thơ về đề tài gì ạ?
— Hôm nay không phải hội văn, chẳng qua chỉ là hầu rượu các đại nhân đây, đâu cần phải cầu kỳ như thế? Ngươi cứ tùy ý làm một bài là được.
Nguyễn Vũ thầm nghĩ: “Cục thế hôm nay không biết sẽ phải làm bao nhiêu thơ văn. Mình bị điểm danh đầu tiên, một khi đã lên là phải theo đến hết sức, thơ của Lưu Trinh có hay đến đâu cũng chẳng còn thấy ra gì nữa. Tốt nhất là ứng cảnh làm một bài thơ nghiêm túc, chỉ cần trung dung, hài hòa là ổn...” Nghĩ đến đó, Nguyễn Vũ liền đưa tay vuốt râu, chậm rãi ngâm:
Tiết dương xuân khí hòa rung động
Đấng chúa biển vốn chuộng đúc nhân.
Ban ơn thỏa khắp xa gần;
Mến yêu chẳng khác người thân một nhà.
Sảnh trên cùng vui hòa tụ tập;
Món thời trân dọn khắp trong ngoài.
Dồi dào ngũ vị đủ đầy:
Thỏa thuê chén chuốc như mây bời bời.
— Hay lắm, hay lắm... - Hoa Hâm vốn tốt bụng, cất lời khen ngợi đầu tiên. Ông ta đã nói thì người khác đều hưởng ứng theo, đồng loạt khen hay, không khí nhanh chóng sôi nổi hẳn lên, Tào Tháo cũng gật đầu cười.
Trong tiếng ồn ào, Khổng Dung lấy giọng kêu to:
— Không được, không được! Thứ thơ bình thường như thế sao gọi là giai tác được.
Bậc tiên sinh khiêu khích vốn không nên biện bạch, nhưng Nguyễn Vũ chỉ muốn nhân dịp bày trò để làm vui cho Tào Tháo, bèn đánh bạo chạy đến trước mặt Khổng Dung:
— Dám hỏi Khổng đại nhân, bài thơ ấy của tại hạ có chỗ nào không được như ý?
— Từ đầu đến cuối đều không như ý. - Khổng Dung uống chén rượu, cười mỉm nói, - Trước hết là đầu tiên “Tiết dương xuân khí hòa rung động”, dám hỏi cậu, bây giờ là tháng mấy rồi?
— Đại nhân chỉ ra rất đúng. Nhưng cái mà những kẻ làm thơ chúng ta đi tìm là ý cảnh, hôm nay mọi người cùng vui vẻ tụ họp đến đây dự yến hội, há chẳng phải tình người ấm hơn cả ý xuân ư? - Nguyễn Vũ nói năng rành rọt.
— Cũng được. Lão phu tạm bỏ qua cho ngươi câu đó. - Khổng Dung tươi cười, nhưng vẫn nói tiếp, - Câu thứ hai là gì nào, “Đấng chúa hiền vốn chuộng đức nhân”, câu này thật hoang đường! Chúa hiền là để gọi đương...
Hoa Hâm nghe thấy câu này, tim đập thình thịch, Khổng Dung lại còn muốn hỏi rõ chữ “chúa hiền” là chỉ Tào Tháo hay hoàng đế! Ông vội vàng nâng chén rượu, không để Khổng Dung kịp nói ra mấy từ “đương kim thánh thượng”, liền đứng ngay dậy mời rượu:
— Liệt công, xin mời... - Hoa Hâm vốn là người cơ trí, đầu tiên là mời rượu Đinh Xung.
Con sâu rượu Đinh Ấu Dương dù là lính tốt hay phu xe mời rượu cũng đều uống cả, lập tức kêu lên theo:
— Nào, nào, nào, mời chư vị cùng uống!
Mọi người lũ lượt mời nhau ầm ĩ hồi lâu, át đi câu nói của Khổng Dung ở sau lưng. Đợi đến khi mọi người dân yên ắng trở lại, thì chỉ còn nghe thấy nửa câu sau:
— Câu “Dồi dào ngũ vị đủ đầy” thì nói làm gì? Lẽ nào người muốn viết ra hết tất cả những món sơn hào hải vị ở đây ư? Nếu như cho ngươi viết tiếp nữa, chỉ e là “Biển rộng bào ngư nhảy; Nho chín khắp nhà bay” ngươi đều viết cả vào đấy!
Câu nói ấy của Khổng Dung khiến ai nấy đều phải bật cười.
— Cổ nhân nói: “Ngũ hành phối ngũ vị”. Cho nên việc nấu nướng là làm chín món ăn mà điều hòa ngũ vị vậy. Trong đó có thâm ý sâu xa, lão đại nhân há lại không biết? - Nguyễn Vũ chắp tay sau lưng giải đáp hết mọi câu hỏi.
— Khiên cưỡng, quá khiên cưỡng...
Hai người bọn họ vẫn lời qua tiếng lại, tranh luận mãi không thôi, chợt nghe thấy sau lưng có tiếng khen ngợi:
— Chữ đẹp! Đúng là diệu bút!
Hóa ra Vị Đản vốn viết chữ rất đẹp, ở Tây Châu được mọi người rất mến mộ, cậu ta lại trẻ tuổi, thích khoe tài, nên trong lúc Nguyễn Vũ đang ngâm thơ liền tìm Lưu Đại xin một tờ giấy Sái Hầu[13] lớn, cứ theo từng câu mà viết lại, bây giờ mới cầm lên cho mọi người xem, không ai là không khen ngợi.
— Mời Tào công xem qua... - Nguyễn Vũ cầm tờ giấy, bước nhanh đến trước soái án..
Tào Tháo chăm chú ngắm nhìn - bức chữ triện này nét nào nét nấy đều như dây sắt, móc bạc. Tuy chưa được như Lương Hộc - danh gia chữ triện tên tuổi lẫy lừng, nhưng tuổi còn trẻ mà đã có được bút pháp như vậy cũng rất phi phàm. Tào Tháo liên tục gật đầu tán thưởng:
— Quả là hậu sinh khả úy... Nếu chăm chỉ thêm nữa, ngày sau trình độ sẽ không thể lường hết được.
— Đa tạ minh công khen ngợi! - Tên tiểu tử Vi Đản không hề khách sáo.
— Bức chữ này lão phu sẽ giữ lại. - Tào Tháo vẫy tay gọi Lưu Đại, - Ngươi sai người lấy một chiếc đai ngọc tặng cho Vi công tử, tạm coi là có lễ qua lại... À, lấy thêm một ít vải lụa và bút mực để tặng cho Nguyên Du nữa.
Lưu Đại cũng nói theo góp vui:
— Tại hạ có chủ ý này, hay là ta cho chuyển sẵn một hòm vải lụa lên, sau đây không biết sẽ còn có bao nhiêu thơ được làm nữa, cứ nhất loạt ban thưởng cho mọi người vậy.
— Hay lắm, cho ngươi đi lo việc này! - Tào Tháo lúc này đã cao hứng, làm cái gì cũng được.
Tào Phi thấy vậy thì sốt ruột, chợt nảy ra một ý: “Nếu mình cũng làm một bài thơ trước mặt mọi người, há chẳng phải là ai cũng khen ngợi ư? Khi ấy phụ thân cũng phải coi trọng ta hơn một chút”, liền nói:
— Phiền ông cũng mang cho ta một cuốn thẻ tre lên đây. - Tào Phi không dám công nhiên khoe thơ, dự tính sẽ nghiền ngẫm kỹ, viết ra rồi mới nói.
Lưu Trinh đã chuẩn bị sẵn dưới sân, đợi Nguyễn Vũ đi ra, vẫn không quên nói một câu khách sáo:
— Đa tạ huynh trưởng lưu tình, đã để lại chỗ trống cho tiểu để thể hiện. - Rồi sải bước nhanh lên đại đường, nói, - Chư vị đại nhân, tại hạ cũng có một bài thơ, xin chư vị chỉ giáo! - Nói xong, vung tay áo rộng, vừa ca vừa múa:
Diều kêu vươn cánh tung bay;
Nhẹ nhàng chao lượn tầng mây xanh rờn.
Ta vùng giận dữ đứng lên;
Anh hào khí thế thần tiên còn nhường.
Nhanh như lừa xẻ kinh hoàng
Tên bay ba mũi, diều tàn một đôi.
Đầu tường màu sắc tanh ôi;
Lông theo gió cuộn tả tơi la đà.
Sĩ dân cất tiếng ngợi ca;
Bắn cung chàng đích thực là tuyệt hay.
Lưu Trinh còn chưa tới ba mươi tuổi, đang độ thanh xuân, lại được phú cho tướng mạo anh tuấn, tay áo dài khéo múa, phấp phới lượn bay, khi phất phơ rủ xuống, khi như cánh diều bay, thực là đẹp đẽ tuyệt luân, khiến cho mọi người trên sảnh chẳng ai không vỗ tay tán thưởng.
Tào Tháo vừa uống một hớp rượu, thì nghe thấy câu “Nhanh như lửa xe kinh hoàng; Tên bay ba mũi, diều tàn một đôi”, không ngăn được phì cả rượu ra ngoài, rồi ngửa mặt lên trời cười lớn - Tên tiểu tử này sao lanh lợi thế. Huynh đệ Viên Thượng, Viên Đàm tranh giành lẫn nhau, lão phu đúng là đang muốn nhất tiễn hạ song điêu đây!
— Hay! - Các vị bên dãy phía tây lại nâng một bức chữ lên, đó là chữ của Hoàng Tôn Thị lang Trương Sưởng viết. Chữ cuồng thảo của hai đời cha con Trương gia có thể nói là nếp gia học, đẹp như rồng bay phượng múa. Tào Tháo vỗ đùi tấm tắc khen:
— Thơ hay, chữ càng hay! Tuyệt diệu, tuyệt diệu!
Trương Sưởng tuổi đã gần thất tuần, đứng dậy khiêm tốn nói:
— Lão hủ dâng chút nghề vụng, chư vị thực đã quá khen rồi. Nếu tiên phụ và gia huynh tại thế, không biết là so với ta còn hơn đến thế nào!
Câu này không hề sai, phụ thân Trương Sưởng là Trương Hoán, tự Nhiên Minh, chẳng những giỏi đánh trận mà thảo thư cũng vào hàng đệ nhất. Còn huynh trưởng của ông ta là Trương Chi thì hạ bút như thần, thiên hạ vô song. Trương Sưởng cũng có được mấy phần, nhưng còn kém xa cha anh của mình. Nhưng giờ đây, Trương Hoán, Trương Chi đều đã qua đời, nên tài năng của Trương Sưởng mới được biết đến.
Đoàn Ổi chỉ quen nghiệp võ, ngồi cạnh Trương Sưởng, kéo tay ông ta nói:
— Lão huynh đệ, thế này là đủ cho người ta nể phục rồi! Hôm nay người Quan Đông ngâm thơ, người Quan Tây viết chữ, bọn họ là văn, chúng ta là võ... Cạn chén nào!
Mọi người cười nói ồn ã, Tào Tháo vui cười nghiêng ngả, khăn trên đầu rơi cả vào bát canh ướt hết. Lưu Đại cũng rất nhanh nhẹn, lấy ra hai xấp lụa mang tới cho Lưu Trinh, còn Trương Sưởng chẳng những có đai ngọc mà còn được thêm một miếng ngọc như ý chạm trổ tinh xảo - Những món đồ này giành được trong trận Quan Độ, Tào Tháo lại không dùng, nay mang ra tặng cũng là mua lấy lòng người cho ông.
Tào Phi trăn trở mãi nhưng chẳng viết được chữ nào, nhã trí như Nguyễn Vũ, hào sảng như Lưu Trinh hay làm một bài theo cách riêng của mình đây? Mấy người Đinh Xung, Khổng Dung, Đoàn Ổi cứ thi nhau hò hét, khiến đầu óc Tào Phi rối loạn cả lên. Suy nghĩ hồi lâu mới viết được một câu, còn chưa kịp đặt bút viết tiếp lại thấy Khổng Dung đứng lên nói:
— Đoàn Trung Minh, tên lính già ông có phải là chê cười Quan Đông chúng ta không có kẻ sĩ hào sảng ư? Lão phu sẽ làm một bài, để ông dỏng tai lên mà nghe cho rõ! - Ông ta vừa nói xong câu ấy, những người có mặt cho đến cả Tào Tháo cũng đều yên lặng, ai cũng biết rằng Khổng Dung là bậc thầy văn chương ở đây. Chỉ thấy Khổng Dung cầm đũa lên, nhẹ gõ chén bát, rồi ngửa mặt ca lớn:
Đỉnh Chung Sơn ngất cao vời vợi
Chói chang đường nắng xối buổi đang.
Cửa trời cao rọi sáng choang
Cảnh xa trắng lóa như băng một vùng.
Mấy đời bất khuất dòng kẻ sĩ
Đã vun trồng gốc rễ bền lâu.
Lã Vọng kia lão thất phu
Bởi chưng thế cố làm bừa mà thôi.
Kia Quản Trọng nhỏ nhoi tù hoạn
Há riêng mình lập đặng nên công
Đời người nào mãi được thường,
Chỉ lo năm tháng dần sang yếu già.
May vẫn được đẫy đà sức óc
Hãy hiên ngang cất bước hùm beo.
Há đành khổ một thân sao?
Cùng đời thế tục làm theo những gì.
Bởi bất cẩn chẳng nề tiểu tiết
Để phàm phu cười miệt ta đây.
Trên đời Lã Vọng còn đây
Di, Tề nào đáng người nay mộ cầu.
— Ha ha ha!... - Bài thơ rất ngông nghênh, ngang tàng, khiến không ít người nghe xong phải phì cười.
Đoàn Ổi cười mãi không thôi:
— Ông đúng là một lão ngông cuồng, tuổi tác càng lớn lại càng cuồng đến không biết bờ bến nào nữa. “Lã Vọng kia lão thất phu”, “Quản Trọng nhỏ nhoi tù hoạn”, ta thấy ông không cam chịu tuổi già như vậy thì đừng ngồi trên sảnh đường này nữa, hãy xuống sân ngồi cùng với đám hậu sinh tiểu tử kia đi vậy![14]
Mọi người cùng cười, Tào Tháo chẳng những không vui, trái lại trong lòng còn thấy hơi ghét: Khổng lão quỷ này gan to hơn trời, lại dám đọc thơ như vậy ngay trước mặt ta! “Trên đời Lã Vọng còn đầy; Di Tề nào đáng người nay mộ cầu”. Thái Công Lã Vọng mà hắn còn không coi ra gì, Bá Di Thúc Tề cũng không đáng nhắc đến, câu ấy rốt cuộc là muốn nhắm vào ai? Lẽ nào hắn muốn phỉ báng ta có ý mưu toan thoán vị? Nhưng xem ra cũng không phải... Thôi vậy, uống rượu ngâm thơ cũng không có lỗi gì, huống chi bây giờ lão phu vẫn cần dùng đến hắn. Nhưng chuyện này ta cũng tạm ghi nhớ lại đấy đã, ngươi nói Quản Trọng chỉ là tên tiểu tù hoạn, đừng trách sau này có ngày ta sẽ cho ngươi làm tù phạm!
Trên sảnh đường cũng có những người tinh ý, bọn Hy Lự, Vương Lãng, Tuân Duyệt đều nhận ra ẩn ý trong khúc nhạc, lén đưa mắt quan sát sắc mặt Tào Tháo. Dần dà mọi người cảm thấy có điều không ổn, lát sau tất cả đều yên ắng trở lại, duy có Khổng Dung chẳng để ý gì, vẫn còn cười.
Đổng Chiêu khều Giả Hủ, che miệng nói lẩm bẩm:
— Văn Hòa, Tào công dường như nổi giận rồi...
Giả Hủ vẫn và không nghe thấy, cứ cắm cúi ăn uống.
Đang lúc tất cả đều yên lặng Tư đồ Triệu Ôn ngồi ở bàn trên đột nhiên cất lời:
— Chư vị đại nhân, món canh bào ngư hôm nay tươi ngon quá!
Hoa Hâm vội vàng tiếp lời nói:
— Phải đấy, nho Tây Vực cũng rất ngọt.
Hai lão láu cá kẻ xướng người họa, phá tan không khí khó xử lúc ấy, những người khác cũng vội tìm lời nói thêm vào, coi như cũng giải quyết được xong chuyện.
Có lẽ Tào Tháo cũng cảm thấy sự thất thố của mình, dần nở một nụ cười, đứng dậy nói lớn:
— Hôm nay chư vị cao tài đều có giai tác, lão phu cũng xin được góp vui, ca một bài theo điệu nhạc phủ cổ Thiện Tai hành, xin chư vị chỉ giáo.
Vừa nghe thấy nhân vật chính muốn có một khúc, khắp trên sảnh dưới sân đều vỗ tay tán thưởng, nhạc công đàn sáo hai bên đều chuẩn bị sẵn sàng, vội vàng dìu dặt cung thương ai nấy đều trổ hết tài năng. Tào Tháo bước ra khỏi soái án, vừa nhìn khắp lượt mọi người, vừa lấy giọng ca vang:
Cổ công Đản phụ;
Vun bồi đắc nhân;
Lo mở đạo lớn;
Thánh hương đất Mân.
Thái Bá, Trọng Ung
Vương đức từ nhân;
Gây dựng trăm đời;
Tóc cắt, mình xăm.
Bá Di, Thúc Tề
Thánh hiền đời xưa;
Nhường nước chẳng ham;
Chết đói Thù San.
Trí thay Sơn Phủ;
Tướng của Tuyên Vương;
Đâu cần Đỗ Bá;
Lụy bậc thánh hiền.
Tề Hoàn xưng bá;
Nhờ có Trọng Phụ;
Lũ kế vị tôi;
Hổ lang khắp ngõ.
Án tử Bình Trọng
Tích đức cùng nhân;
Đức sáng ở đời;
Mệnh lệnh chẳng cần.
Trọng Ni xuất thế;
Vua trong chư hầu;
Tùy lễ uống rượu;
Quan lại đều theo.
Giọng Tào Tháo sang sảng, câu thơ lập ý cao xa, hát lên sự nhân đức của một loạt các vị tiên hiền, từ Cổ Công Đản Phụ, Thái Bá, Trọng Ung, Bá Di, Thúc Tề, Trọng Sơn Phủ, Quản Trọng, Án Anh, Khổng Khâu,[15] thực là một bài hát quân tử chính đạo! Các đại thần có mặt quá nửa không phải là tâm phúc của Tào Tháo, nhưng nghe thấy bài thơ trang nhã, khẳng khái hiên ngang như vậy, ai còn có thể hoài nghi lòng chân thành phụ tá nhà Hán của Tào Tháo đây? Nhưng những người tinh ý đều có thể nghe ra, vừa rồi Khổng Dung phỉ báng cổ nhân, chỉ chó mắng mèo, còn Tào Tháo lại tránh thực đánh hư, khen ngợi tiên hiền, lập ý của hai người rõ ràng là chống chọi lại nhau vậy.
Khổng Dung nhận ra bài thơ của Tào Tháo là nhằm vào mình, trong dạ cười thầm: “Kẻ chê chưa chắc đã là chê, còn kẻ khen cũng không hẳn là thành thực, ca tụng thánh nhân thì kẻ nào chẳng biết? Nhìn nhận con người, không thể chỉ nghe họ nói thế nào, quan trọng là phải nhìn xem họ làm thế nào.”
Những người khác thì không để ý nhiều đến thế, vội vàng dời bàn tiệc quỳ xuống đất:
— Tào công văn chương siêu phàm, đức theo kịp tiên hiền, chúng tại hạ không thể bì kịp.
— Ha ha ha!... - Tào Tháo dương dương đắc ý, đang định mời mọi người thêm một tuần rượu, chợt thấy chủ bạ Vương Tất hớt hải chạy lên sảnh đường, không cần để ý đến ai, chạy thẳng tới bên cạnh Tào Tháo ghé vào tai nói thầm mấy câu.
— Tên giặc tai to đáng ghét!... - Nụ cười trên mặt Tào Tháo chợt biến mất. - Lão phu có chút việc quân phải làm, chư vị đại nhân xin cứ tự nhiên. Công Nhân, Văn Hòa, hai ông đi cùng với ta.
— Dạ! - Đổng Chiêu, Giả Hủ vội vàng đứng dậy, bước nhanh theo Tào Tháo vào hậu đường.
Bọn họ vừa đi, không khí trong sinh đường lập tức trầm xuống. Nào ai có tâm tư uống rượu làm thơ nữa, chẳng qua chỉ là diễn kịch mà thôi. Bọn Hoa Hâm, Vương Lãng chỉ cúi đầu không nói, lặng lẽ ăn uống. Đoàn Ổi cùng Trương Sưởng, Hàm Đan Thường thì thấp giọng bàn bạc chuyện riêng. Cho đến bọn Lưu Trinh, Nguyễn Vũ và đám duyện thuộc mới được mời vào ở dưới sân thì càng không dám tùy tiện bàn luận. Chỉ có mình Khổng Dung là sang sảng nói cười, tự nhiên như thường.
Không khí vừa lắng xuống, lập tức ý văn của Tào Phi tuôn như suối chảy, cậu ta một tay vuốt chòm tóc mai, một tay đưa bút, thong thả viết ra một bài thơ đắc ý của mình, vốn cũng định đợi phụ thân quay lại sẽ dâng lên khoe tài, nào ngờ đợi mãi mà vẫn không thấy tăm hơi đâu cả. Một lúc lâu sau, Lưu Đại chợt từ bên ngoài chạy lên sảnh đường, vái khắp một vòng rồi nói lớn:
— Chúa công ta có công việc quan trọng bất ngờ, không thể cùng uống rượu với các vị đại nhân tiếp được, xin chư vị đại nhân thứ tội. Chúa công cũng nói, xin chư vị cứ ăn uống tự nhiên, không phải câu nệ gì cả, lát nữa nếu vị nào muốn về xin cũng cứ tùy ý.
Chủ nhân không ra nữa, còn uống rượu làm gì? Tư đồ Triệu Ôn đứng lên cáo từ trước tiên. Tào Tháo không có ở đây, chức quan của ông ấy là lớn nhất, Triệu Ôn muốn về, tất cả mọi người đều phải ra tiễn chân, các vị như Đoàn Ổi, Trương Sưởng cũng nhân cơ hội đi luôn. Đám danh sĩ Hoa Hâm, Khổng Dung, Vương Lãng cũng nhường nhau mãi, rồi cùng sánh bước mà đi. Những quan viên khác uống một hớp rượu, nhắm một miếng thức ăn, nói vài câu nhàn đàm rồi cũng lui chân, đám duyện thuộc túm đội tụm ba ra về. Cuối cùng ngay cả Đinh Xung tay không rời hũ rượu cũng đứng dậy, lúc bước ra cửa chút nữa vấp phải cái hòm đựng lụa. Trong sảnh đường bát đĩa ngổn ngang cuối cùng chỉ còn lại một mình Tào Phi. Thế là lại lỡ mất cơ hội thể hiện tài năng trước mặt mọi người. Tào Phi thở dài một tiếng, cầm bài thơ vừa viết xong, thẫn thờ bước xuống sành đường.
— Công tử! - Lưu Trinh tiễn khách xong quay lại, chạy đến trước mặt Tào Phi. - Vừa rồi ta thấy công tử cầm bút suy tư, không biết có giai tác gì vậy?
— Giai tác với không giai tác gì chứ? Chỉ là trò mọn này thôi. - Tào Phi đưa cho Lưu Trinh xem.
Sông Tề, Hà, Đông Việt;
Bờ bể lớn trông vời.
Rung rinh cần trúc vút;
Sàn sạt cá quẫy đuôi.
Khách đi đường thích thú;
Mồi thơm cứ nhử hoài.
— Ôi! - Lưu Trinh kinh ngạc thốt lên, - Tiếc thay, tiếc thay! Khi nãy không kịp mang ra cho mọi người cùng thưởng thức, đây là bài hay nhất ngày hôm nay đấy!
— Hừ! - Tào Phi cho rằng Lưu Trinh đang nịnh mình, - Huynh chớ đem ta ra làm trò cười, mấy câu viết chơi ấy mà cũng đáng để kinh ngạc thế ư?
Lưu Trinh lắc đầu:
— Tại hạ không hề nịnh bợ công tử, bài thơ này của công tử thực sự có chỗ cao minh. Kinh Thi có câu: “Cần câu bằng trúc vót cao; Để ta cầm đến ngồi câu sông Kỳ. Há rằng ta chẳng nhớ mi? Xa xôi chẳng thể nào đi tới cùng.”[16] Đó là cái tình tương tự trên thế gian. Câu thơ “Rung rinh cần trúc vút; Sàn sạt cá quẫy đuôi” của công tử có thể coi là kế thừa được cái đẹp ấy. Đúng là giai tác... giai tác...
— Thực ra tự ta cũng thấy không tệ. - Tào Phi nhìn Lưu Trinh đang lắc lư ngâm nga như say như mê, dường như không giống như lời an ủi.
Lưu Trinh trầm ngâm hồi lâu, cười bảo:
— Khi nãy, bài Công Yến thi của Nguyên Du chẳng qua chỉ là bài vặt vãnh, ứng cảnh mà làm thôi, bài Xạ diên của ta thì ca đại phong tụng dũng sĩ, chỉ quý ở chỗ nhất tiễn hạ song điêu, mua vui cho mọi người. Lão già Khổng Dung ngông cuồng ngang ngạnh, cả vú lấp miệng em, chẳng qua cũng là chí hướng bình sinh của ông ta, vui cười chửi rủa cũng thành văn chương, người khác đúng là không bị được! Đến như bài Thiện Tai hành của chúa công thì là để nói lên đức nhân của tiên hiền, tự mình không dám sánh bằng. Đem cả ra mà xem xét, thì duy có bài này của công tử là hay hơn cả, yểu điệu nhẹ nhàng, thực phù hợp với tâm cảnh. Nghĩ lại, Công tử đã sắp tới tuổi nhược quán, tình yêu chớm nở, tương tư mỹ nhân cũng là thường tình của nam tử ở đời vậy!
— Chớ đem ta ra làm trò cười. - Tào Phi hơi đỏ mặt, trong lòng không tán đồng cách nhìn của Lưu Trinh. Bài thơ này không phải là viết về mối tương tư nào cả, hợp với ý trong Kinh Thi cũng chỉ là ngẫu nhiên. Nhưng Lưu Trinh là bậc cao thủ trong làng thơ, nếu như người này đã thực lòng khen hay thì nhất định là không tệ. Sau này nếu có dịp sẽ mang ra cho phụ thân xem, chắc chắn sẽ được một câu khen ngợi. Nghĩ đến đó, Tào Phi liên mồm cảm tạ, trò chuyện thêm mấy câu rồi quay vào hậu đường. Nào hay còn chưa đi tới cửa sau, chợt nghe thấy một giọng nói lạ gọi ở sau lưng:
— Công tử, xin dừng bước.
Tào Phi quay lại nhìn - Hóa ra là một duyện thuộc mới đến. Người này không xuất chúng như bọn Lưu Việp, Đỗ Kỳ, khi nãy ngồi lẫn trong đám đông không hề hé nửa câu. Đến tên họ của người này Tào Phi cũng không biết, liền hỏi bừa một câu:
— Tiên sinh có chuyện gì sao?
Người ấy cung kính chắp tay nói:
— Thứ lỗi cho tại hạ mạo muội, có thể cho tại hạ xem bài thơ trong tay công tử không?
Tào Phi không biết ý người ấy thế nào, nhìn suốt một lượt cân nhắc: Người này tầm hai bốn, hai lăm tuổi, giọng nói mang hơi hướng khẩu âm Duyện Châu, vóc người không cao, mặt mũi trắng trẻo, ngũ quan tướng mạo đều không có gì xuất chúng, để bộ ria ngắn bóng mượt mới nuôi được, mình mặc áo chung đen của duyện thuộc thông thường, không đội mũ, trên đầu cài một chiếc trâm bằng gỗ hoàng dương. Hẳn chỉ là một nhân vật bình thường mà thôi.
Người ấy thấy Tào Phi không nói gì, vội giải thích:
— Công tử xin chớ hiểu lầm, chỉ là tại hạ nghe nói công tử văn chương xuất chúng, đại bút hoa hàn nên muốn được chính mắt xem thơ của công tử làm mà thôi.
Tào Phi liệu rằng hắn ta cũng là đám a dua hãnh tiến, nếu như không cho xem nhất định sẽ quấy rầy không thôi, bèn nói vẻ không vui:
— Tiên sinh xem cũng được, nhưng ta đang còn việc bận ở nhà trong, tiên sinh xem nhanh một chút nhé.
Người đó cầm lấy cuộn thẻ tre, cúi đầu khom lưng dáng vẻ cẩn thận, đọc thầm một lượt, rồi đưa bài thơ trả lại, khen bảo:
— Thơ hay, thơ hay! Người đời nay chen nhau lũ lượt đi tìm danh lợi, nhưng nào có biết đó chỉ là mồi thơm như mình. Đời người như nước chảy về đông, tranh giành lẫn nhau, rốt cuộc có làm được gì chứ?
— Tiên sinh... - Tào Phi vô cùng kinh ngạc, trong lòng thầm lấy làm lạ, đó mới chính là nguyên lý của bài thơ này! Khi nãy Lưu Trinh không nhận ra điều ấy, Tào Phi cho rằng do mình công lực chưa đủ, bây giờ người này lại hiểu được rõ ràng, đúng thực là nhìn nhận người không thể dựa vào tướng mạo bên ngoài. Tào Phi vội gạt kiểu cách công tử khi nãy của mình, sửa lại áo quần chắp tay nói, - Dám hỏi tiên sinh quý tính đại danh, cùng quý quán nơi nào?
— Không dám. - Người ấy nghiêm cẩn đáp lễ - Tại hạ là Ngô Chất, người huyện Định Đào, Trần Lưu.
— Từ lâu đã ngưỡng mộ! - Kỳ thực Tào Phi chưa từng được nghe về ông ta, nhưng nghe ông ta giảng giải về thơ, liền biết rằng ông ta cũng là người hiểu biết. - Khi nãy ta có trò chuyện với Lưu Công Cán, ông ta nói thơ này chỉ có ý tương tư, ta cứ tưởng rằng mình viết chưa đủ công lực, khiến khéo thành vụng mất rồi! Tiên sinh đúng là tâm nhãn tinh tường.
Ngô Chất chẳng những hiểu thơ mà còn rất hiểu nhân tình:
— Lưu Công Cán chẳng phải là không hiểu rõ ý của bài thơ, mà là cả ngày lo lắng việc thư trát nên thiếu mất mấy phần tâm cảnh bình hòa mà thôi. Thứ cho tại hạ nói thẳng, với địa vị của công tử chẳng phải là dễ dàng viết ra được bài thơ này, những lời cảm khái thế tất phải có cảm ngộ mới phát ra được, phải chăng công tử có chuyện gì không được như ý?
Tào Phi đỏ mặt, chuyện này sao có thể dễ dàng tâm sự được. Bèn xua xua tay nói:
— Chẳng qua chỉ là chút phiền muộn trong lòng, không có gì to tát cả, tâm tư chợt đến ngẫu nhiên làm thơ thôi.
— Ồ. - Ngô Chất không hề phản bác, ngâm nga bài thơ một lần nữa, trầm giọng nói, - Có mấy câu này, tại hạ cứ nói chơi, xin công tử cũng nghe chơi, nếu như có chỗ không đúng, xin lượng thứ cho. Tại hạ nghe phong thanh Tào công cũng rất thích thơ phú, tinh thông Kinh Thi, am tường âm luật, nhưng khi ở vào độ tuổi công tử hiện nay cũng chưa chắc đã viết được tác phẩm thế này. Công tử đã là con hơn cha rồi, nhưng... - Ông ta nói được nửa câu, đột nhiên chau mày ngừng lại.
— Nhưng sao?
— Tại hạ khuyên công tử một câu, bài thơ này tuyệt đối không nên để cho lệnh tôn đọc.
— Hả? - Tào Phi lặng người, - Vì sao?
Ngô Chất càng hạ thấp giọng nói hơn:
— Công tử đang ở tuổi vũ tượng[17], sách Chu Lễ có câu: “Vũ tượng giả, vũ võ giả, vi dụng can qua chi tiểu vũ dã.”[18] Độ tuổi này của công tử đang là tuổi hiếu dũng tranh cường, tiền đồ mở rộng, săn bắn cưỡi ngựa múa gươm, hâm mộ anh hào, tráng chí ngút trời, sao có thể không bệnh mà rên như thế? Tào công sinh ra đã có khí phách siêu phàm, các huynh đệ của công tử lại nhiều, ai nấy đều là bậc anh tài, nếu Tào công thấy công tử làm thơ thế này, e là... Khà khà... - Những câu đụng chạm đến chuyện trong nhà, Ngô Chất liền không nói nữa.
Một lời thức tỉnh người trong mộng, Tào Phi bất giác lạnh run người - phụ thân đang tuổi tráng niên, bữa trước tiểu thiếp Lý thị lại sinh thêm một trai, đặt tên là Tào Chỉnh, vậy là cả lớn cả nhỏ huynh đệ các phòng đã có tới hơn mười người. Xung nhi được sủng ái không cần phải nói nữa, ngay cả Chương nhi, Thực nhi, Bưu nhi cũng không thua kém gì mình. Phụ thân mà đọc được bài thơ này, rồi hiểu lầm rằng ta không nghĩ đến chuyện tiến thủ, suốt ngày chỉ biết ai oán, há lại có thể coi trọng ta ư?... Tào Phi chợt tỉnh ngộ, thực sự cảm thấy ân hận vì gặp Ngô Chất muộn, vội vàng thi lễ lần nữa:
— Đa tạ tiên sinh chỉ bảo, xin được lĩnh giáo, lĩnh giáo!
Ngô Chất trước sau vẫn chỉ mỉm cười:
— Được xem thơ văn của công tử, quả là danh bất hư truyền, tại hạ đã được thỏa nguyện, thực là may mắn ba đời vậy. Cũng không còn sớm nữa, công tử còn có việc nhà, tại hạ xin được bái biệt ở đây.
— Kính tiễn tiên sinh.
Tào Phi muốn lưu Ngô Chất lại nói thêm mấy câu, nhưng đám bộc đồng đi qua đi lại, không tiện thổ lộ tâm tư, lại thấy quan Hiệu sự Triệu Đạt, Lư Hồng lượn lờ lui tới, những câu kín đáo há có thể để cho hai kẻ tiểu nhân ấy nghe thấy ư?
Ngô Chất cung kính lui liền mấy bước rồi mới quay mình đi ra, mới bước được mấy bước bỗng nhiên lại quay đầu lại nói:
— Đúng rồi! Công tử nếu như đã thích chuyện thơ phú, sao không làm những bài về hành quân đánh trận chứ? Nếu một ngày nào đó phụ tử cùng xuất chinh, cho ba quân tướng sĩ hát vang những bài ca của công tử, tất sẽ hùng tráng biết bao! Ha ha ha!...
❀ ❀ ❀
[1] Nguyên văn câu này là: “Cao sơn ngưỡng chỉ, cảnh hành hành chỉ.” Trịnh Huyền đời Hán chú: “Người có đức hạnh cao thì để người ta ngưỡng mộ, người có hành vi ngay thẳng thì được người ta xem như khuôn mẫu mà noi theo.” Còn Chu Hy đời Tống chú giải rằng: “Ngưỡng, nghĩa là ngưỡng trông; cảnh hành nghĩa là đường lớn. Núi cao thì để người ta ngưỡng trông, đường lớn thì để người ta bước đi.” Cả hai cách hiểu này đều có lý, và được sử dụng phổ biến, ở đây chúng tôi chọn dùng cách hiểu thứ nhất của Trịnh Huyền để hợp với văn cảnh, bởi Tư Mã Thiên còn dẫn hai câu sau.
[2] Hay còn gọi là “cửu phẩm trung chính”.
[3] Lấy quân nhàn nhã chờ quân mệt mỏi.
[4] Chỉ việc thay hoàng đế xuất chinh. Sứ thần cầm phù tiết đại diện cho hoàng đế và đất nước, có quyền sai khiến tương ứng, được phép tùy ý chặt đầu những binh sĩ vi phạm quân lệnh.
[5] Chỉ Đô đốc trung quân và ngoại quân, là trưởng quan quân sự chỉ đứng sau Đại đô đốc.
[6] Một chức quan được đặt vào thời Hán Chiêu Đế, ban đầu gọi là lĩnh Thượng thư sự, ý chỉ đại thần kiêm quản chức Thượng thư. Thời Hán gọi người kiêm quản chức quan khác nhưng không giữ chức quan đó là “lĩnh”.
[7] Vọng, văn, vấn, thiết: bốn thuật ngữ trong Đông y. Vọng: nhìn, quan sát, xem bệnh; Văn: nghe giọng nói người bệnh; Vấn: hỏi han người bệnh về bệnh tình của họ; Thiết: bắt mạch.
[8] Quân tử bất khí: Ý nói người quân tử không phải đồ vật, chỉ dùng vào được một việc.
[9] Nem ngũ vị, tương bát hợp là món ăn nổi tiếng đời Hán Ngụy. Nem ngũ vị (ngũ vị bô) là món ăn chính, được chế biến từ thịt bò, dê, hươu, lợn rừng, lợn nhà. Tương bát hợp (bát hợp tê) là thứ nước tương chấm được làm từ các loại gia vị như tỏi, gừng, quất, mơ, hạt dẻ, gạo nếp, muối, dấm bằm nát trộn đều. Cuối đời Hán ở Trung Quốc vẫn còn chưa xuất hiện cách chế biến món ăn bằng cách rán, mà chủ yếu là dùng cách hấp, nấu, nướng, muối. Và thường có kèm theo tương chấm, rưới, tương tự như cách ăn uống của người phương Tây.
[10] Khởi nguyên của lễ, bắt đầu từ ẩm thực.
[11] Thư tá: chỉ chức văn thư tá quan thông thường trong các công phủ, địa vị ở dưới duyện thuộc, lệnh sử.
[12] Ký thất: gọi đầy đủ là ký thất lệnh sử, là người chuyên phụ trách việc soạn thảo các biểu tấu công văn ở bên cạnh Tam công, Đại tướng quân, có địa vị cao hơn thư tá.
[13] Giấy Sái Hầu: loại giấy được làm ra bằng phương pháp của Sái Luân đời Đông Hán. Nghề làm giấy của Trung Quốc tuy được phát minh sớm nhưng không được sử dụng rộng rãi, thời Đông Hán người ta vẫn chủ yếu ghi chép bằng thẻ tre, vải lụa, da dê... Vì được làm một cách kỹ lưỡng nên giấy vô cùng quý giá.
[14] Sau này Tào Phi viết sách Điển Luận, trong đó đã xếp Khổng Dung, Lưu Trinh, Nguyễn Vũ cùng với những người quy phụ Tào Tháo sau này là Trần Lâm, Vương Xán, Từ Cán, Ứng Sướng, suy tôn văn chương thơ phú của bảy người này, đời sau gọi chung là “Kiến An thất tử”.
[15] Cổ Công Đản Phụ: ông nội của Chu Văn Vương, đã dẫn tộc Chu từ đất Mân dời sang Kỳ Sơn, khiến cho nhà Chu từ đó được hưng vượng. Thái Bá, Trọng Ung: hai con của Cổ Công Đản Phụ, đã nhường ngôi cho cha của Chu Văn Vương là Quý Lịch, rồi huynh đệ cùng đi xuống phía nam lập lên nước Ngô. Trọng Sơn Phủ: danh thần thời Chu Tuyên Vương, nắm mọi chính lệnh triều đình, phẩm đức cao thượng. Án Anh, tự Bình Trọng, hậu thế tôn xưng là Án tử, là quan đại phu nước Tề thời Chiến Quốc, làm quan trải ba triều Linh Công, Trang Công, Cảnh Công, tài trí hơn người, trị nước có quy củ.
[16] Đây là một khổ thơ trong bài Trúc Can thuộc Vệ Phong. Bản dịch của Tạ Quang Phát.
[17] Vũ tượng: chỉ con trai ở độ tuổi từ 15 đến 20.
[18] Vũ tượng là múa võ vậy, ấy là điệu múa nhỏ có dùng giáo và khiên.