Tình thế “sắp đổ mưa rào gió ngập lầu” đã hiện hiện rõ ràng, nhưng hoàng đế Lưu Hoành vẫn hồn nhiên không hay biết. Sau cái chết của Vương mỹ nhân, ông ta càng thêm thả sức hưởng lạc hơn bao giờ hết. Có thể là bởi nỗi đau đớn trong lòng không cách nào khỏa lấp hết được, hoàng đế đã đem hết tinh thần sức lực buông thả vào thanh sắc.
Nhà vua ra lệnh cho hoạn quan và cung nữ mở chợ bán hàng trong ngự viên, tất cả phỏng theo đúng chợ bên nhà cũ của mình ở Hà Gian, đem những đồ trân bảo ra bầy hàng mua bán. Hoàng thượng thì tự mình cải trang thành lái buôn, trả giá mặc cả với các cung nữ, thậm chí còn khuyến khích bọn họ lấy trộm “hàng hóa” của nhau, xem bọn họ đánh cãi nhau làm vui. Ngoài ra Lưu Hoành còn cho lập một trại ngựa cho hoạn quan cai quản, chuyên đi tìm tòi ngựa tốt trong dân gian về tập trung nuôi ở đó, bọn luồn lọt được dịp may, những kẻ nhờ chuyện dâng ngựa tốt để được chen chân vào quan trường có thể nói là đếm không xuể, đến nỗi khiến ngoài dân gian, một con ngựa tốt có giá lên đến một hai trăm vạn tiền.
Có nhiều ngựa tốt như thế, Lưu Hoành lại không dùng, đòi đi bằng xe lừa kéo. Khiến cho quan thái bộc và lục ký thừa không làm sao được, phải làm riêng cho ông ta một xe ngự liễn do bốn con lừa kéo. Lưu Hoành lại chẳng hề phiền hà, đích thân tự đánh chiếc xe kỳ quái ấy đi chơi khắp Tây viên. Lại thêm ông ta thích mặc trang phục người Hồ, thật giống như một người lái buôn ở miền tây đang vào chợ bán hàng. Sau khi chơi đùa ở Tây viên chán rồi, ông ta lại đánh xe ra khắp các phố phường ở Lạc Dương chơi. Do đó dân chúng ba ngày thì hai buổi có thể nhìn thấy hoàng thượng như một tên điên đánh xe lừa chạy qua, hai bên là vô số vũ lâm quân và hoạn quan chạy bộ theo sau, mồ hôi đầm đìa theo sau hộ giá.
Kẻ trên đã thích, người dưới tất a dua. Hoàng thượng chơi bời như vậy, ở thành Lạc Dương từ các quan viên cho đến con em nhà phú thương trông xem đều cảm thấy vô cùng mới lạ. Thế là đủ các loại xe lừa: ba lừa kéo, hai lừa kéo, một lừa kéo, đủ các kiểu các loại, lũ lượt được ra lò. Đánh xe lừa ra ngoài thành du ngoạn đã trở thành trò phổ biến nhất trong đám con cái nhà giàu có ở Lạc Dương. Bọn họ nhất cử nhất động đều đua nhau xa hoa, học theo gương của hoàng đế.
Người đầu tiên không thể chấp nhận chuyện này được nữa, là lão thần Dương Tứ. Dương gia là nhà kinh học thế gia, sánh ngang với Viên thị ở Nhữ Nam. Từ đời tổ phụ của Dương Tứ là Dương Chấn đã là một bề tôi thẳng thắn lòng như sắt đá, làm quan đến chức Thái úy. Phụ thân của ông là Dương Bỉnh cũng là người dám moi gan xé mật để trừng trị tham quan, và cũng làm quan đến Thái úy.
Đến nay Dương Tứ tuổi đã quá bảy mươi, giữ chức Tư đồ, bốn đời đều làm chức tam công, mạnh mẽ dám nói không kém gì người trước. Ông dâng sớ lên Lưu Hoành, yêu cầu hoàng thượng dừng hàng loạt những hành vi khiến người ta phải chướng tai gai mắt, ngăn chặn phong trào xa hoa phung phí. Nhưng Lưu Hoành vẫn coi như không hay biết, ngược lại càng trở nên nghiêm trọng hơn. Rồi lão thái úy Lưu Khoan cũng không thể làm ngơ, lấy thân phận là thầy dạy của hoàng thượng để đưa ra ý kiến, kết quả ông lại bị vu oan đổ tiếng đến mức chức thái úy bị bãi bỏ, khiến ông tức giận ngày nào cũng uống rượu giải sầu. Sau khi Lưu Khoan bị bãi miễn, Lưu Hoành bất ngờ đề bạt vệ úy Hứa Vực - một tên quan nịnh bợ lên làm chức thái úy, khiến ai ai cũng sững sờ. Tất cả những hành vi hoang đường của nhà vua, không còn ai có thể hỏi han giám sát được nữa.
Đúng lúc ấy, một tin mừng truyền đến kinh sư. Thủ lĩnh Tiên Ti là Đàn Thạch Hòe trong một lần đến cướp bóc vùng biên giới đã bị quân Hán đả thương, sau khi trở về không điều trị được đã chết, con trai của Đàn Thạch Hòe là Hòa Liên nối tiếp lên làm thủ lĩnh. Hòa Liên vốn tính tham lam tàn bạo, mức độ hoang đường chẳng kém gì Lưu Hoành, dẫn đến Tiên Ti bạo phát nội loạn, họa từ bên trong tường vách, đánh giết nhau không ngừng, không còn sức để gây phiền nhiễu cho biên cương nhà Hán nữa. Trước đây chinh phạt thất bại, khiến phải hao binh tổn tướng, đến nay chẳng mất chút công sức thổi hạt tro tàn, sự uy hiếp của Tiền Ti vô hình đã được hóa giải.
Lưu Hoành cho là được trời cao phù hộ, thế là liền có kẻ nhân cơ hội, chạy đến hoàng cung dâng thứ cỏ chi anh hiếm có, nói là điềm lành. Điềm lành vừa xuất hiện, khắp nơi liền reo mừng, bọn bề tôi a dua múa may bút mực ca tụng, trong hoàng cung đàn hát vang rền, Lưu Hoành thực sự cho là đang ở thời thái bình thịnh trị rồi! Ông ta ngày ngày hưởng lạc, không gặp các bề tôi bên ngoài, liền đem công lao quy cho đám hoạn quan, bèn phá vỡ cả quy định xưa nay chỉ giới hạn danh ngạch có bốn vị trung thường thị, mà muốn gia phong cho cả mười ba tên hoạn quan ở bên mình đều được lên làm trung thường thị, người nào cũng được bổng lộc hai ngàn thạch. Trong đám người ấy chỉ có Lã Cường còn biết liêm sỉ, cố từ chối không nhận, còn lại mười hai người là: Trương Nhượng, Triệu Trung, Hạ Uẩn, Quách Thắng, Tôn Chương, Tất Lam, Lật Tung, Đoàn Khuê, Cao Vọng, Trương Cung, Hàn Lý, Tống Điển tất cả đều nhận chức, sau đấy lại tấn thăng lên tước hầu. Những kẻ sĩ trung lương không ai không phỉ nhổ, lấy mười hai là số nhiều, gọi chung lại là “thập thường thị”.
Thập thường thị ỷ vào sự sủng tín của hoàng thượng, đua nhau dựng dinh thự riêng, đề bạt kẻ thân tín. Triều đình lũ lượt dâng sớ đàn hặc, Lưu Hoành cuối cùng lại nói với các đại thần:
— Quả nhân từ nhỏ vào cung không biết dựa vào ai, Trương Nhượng đã giống như cha ta, Triệu Trung giống như mẹ ta, bọn họ có tham lam một chút cũng có đáng là bao?
Đường đường là bậc thiên tử mà lại nói ra những lời như vậy, thì đám hoạn quan kia còn biết nể nang gì nữa? Thập thường thị càng ra sức điên cuồng vơ vét tài sản, nhận của hối lộ, mua quan bán tước. Phủ đệ dinh thự, dựng khắp kinh đô như rải quân cờ, của cải đệ tử dâng tặng, hơn cả một nửa tài sản của nhà nước. Vàng bạc, châu báu, tơ lụa, lương thực được tích trữ, đầy ắp kho đụn. Gái đẹp, người hầu, con hát, kỹ nữ chơi bời, đứng chật trong nhà. Chó ngựa cũng được trang sức, nhà cửa cùng phủ gấm thêu. Đầy nhân dân vào lầm than, thả sức xa hoa dục vọng, làm hại kẻ trung lương, kết lập bè đảng riêng, cơ hồ chúng đã bán hết các quan viên từ quận huyện trở xuống. Những kẻ bỏ tiền ra để được làm quan, để lấy lại vốn, liền áp bức dân chúng, tự ý nâng cao tô thuế.
Trước tình thế bị bức bách như vậy, ngày càng nhiều người dân gia nhập Thái Bình đạo hơn, để đi theo đại hiền lương sư Trương Giác chu du khắp bốn phương thiên hạ để truyền giáo. Dương Tứ lại dâng sớ lần nữa, yêu cầu phải tróc nã Trương Giác, đưa những lưu dân trở về quê hương bản quán của mình. Nhưng tấu chương lại bị ém đi không báo lên vua, ngược lại Dương Tứ bị chuyển xuống làm Gián nghị Đại phu.
Đông Quán khi ấy cơ hồ đã trở thành một viện dưỡng lão. Tất cả các lão thần bị chèn ép đều tụ tập đến đấy cùng Dương Tứ, Mã Mật Đê bàn luận chính sự. Chuyện ấy cũng khiến cho lớp tiểu bối như Tào Tháo, Trần Ôn phải khốn khổ, vốn là bổ sung vào để biên tu Hán kỷ, nay lại thành ra tạp dịch, cả ngày hầu hạ các ông già ấy.
Một hôm, mọi người đang tụ tập ở Đông Quán bàn luận xôn xao, thì có Thị ngự sử Lưu Đào và Thượng thư Dương Toản mặt mày buồn bã đi đến.
Dương Tứ trông thấy liền hỏi:
— Lưu Tử Kỳ, thế nào rồi? Thuyết phục được hoàng thượng không?
— Lại còn phải hỏi, ngài nhìn bộ dạng kia là biết lại đàn gảy tai trâu thôi! - Tư đồ Trần Đam vừa nhìn đã biết.
Tào Tháo vội vàng tìm một cái ghế cho Lưu Đào ngồi, ông ta ngồi xuống thở dài:
— Tôi và Phụng xa đô úy Lạc Tùng, Nghị lang Viên Cống cùng kiến giá, hy vọng có thể thuyết phục hoàng đế cấm tuyệt Thái Bình đạo. Ai ngờ...
— Thế nào?
— Hoàng thượng đang uống rượu ở trong ngự viên, lại chơi đùa với chó làm vui, chẳng thèm nói câu nào đã lập tức đuổi chúng tôi ra. Lúc sắp đi lại nói chuyện Thái Bình đạo không đáng lo, điều tôi vào Đông Quán biên tu điều lệ Xuân Thu. - Lưu Đào nhấc cao ngực áo, than thở mãi không thôi. - Tu thư có phải là chuyện gì gấp đâu, chẳng lẽ lại đáng lo hơn việc cấm tuyệt Thái Bình đạo?
Lão già Trần Đam vỗ vỗ vai ông ta:
— Ông vẫn chưa hiểu ư? Đấy là hoàng thượng sợ ông làm phiền, mới giao bừa cho ông một công việc khiến ông tốn công tốn sức vào đấy mà thôi, để ông không còn thời gian đâu mà đến tìm ngài nói lung tung nữa. Ôi... chẳng những không nghe lời trung ngôn, mà còn không cho chúng ta nói nữa đấy.
— Hoàng thượng không còn coi mấy lão già chúng ta ra gì nữa rồi. - Lưu Khoan tính ham rượu, hôm nay đến đây đã hơi say. - Ta thân là thầy của vua, sao lại dạy đương kim hoàng đế thành ra thế này chứ? Ta nói phải trị nước cho tốt, hoàng thượng làm sao lại không nghe chứ? Ta tuổi tác đã cao thế này rồi, rồi đây chôn xuống dưới đất, còn mặt mũi nào mà đi gặp Quang Vũ đế nữa! - Ông ta nói mãi nói mãi đến chực khóc.
— Không phải lỗi ở ngài, - Mã Mật Đê cũng nói chen vào. - Đều là do đám hoạn quan tiểu nhân kia xúi giục cả, nghe nói hoàng thượng còn muốn dựng lại nhà cũ ở Hà Gian. Làm gì có chuyện hoàng thượng tu sửa nhà ở ngoài, những chủ ý thế này, lại chẳng phải là do bọn thập thường thị nghĩ ra để kiếm tiền hay sao?
— Chớ nói đến bọn thập thường thị, nói đến chỉ thêm tức đến vỡ gan nổ phổi. - Lưu Đào giận dữ nói. - Vừa nãy bọn chúng lại đang tiến cử quan lại với hoàng thượng, đều là bọn tiểu nhân xiểm nịnh Phùng Thạc, Đài Sùng của Hồng đô môn.
— Nếu không có chuyện cấm cố đảng nhân khi xưa, thì nay làm gì đến nông nỗi thế này. Hiện giờ làm gì còn kẻ có đức có tài nào bằng lòng chủ động ra làm quan nữa? Họ đều coi triều đình, quan phủ là chốn ô uế. Mấy ngày trước hoàng thượng còn hạ chiếu cho vời Hướng Hủ người Hà Nội. Tên Hướng Hủ ấy là kẻ giang hồ lừa lọc, cả ngày tu đạo như một tên điên, thật không biết hoàng thượng coi trọng hắn ở điểm nào? - Mã Mật Đê quay lại chỉ vào Tào Tháo, Trần Ôn. - Ngài nhìn những người trẻ tuổi kia, luận tài cán có tài cán, luận đức hạnh có đức hạnh, thế mà lại đem bọn họ đặt vào một chức suông! Nếu cho ra ngoài làm một chân quận thú, tốt hơn những kẻ mua quan kia biết bao nhiêu!
Tào Tháo nhìn các vị lão thần thảy đều già cả tuổi tác, mà vẫn tranh luận đầy nghĩa khí trong lòng, vừa thấy buồn cười, vừa thấy đau xót. Đáng cười là, chỉ e bọn họ bỏ mũ ra thì đếm trên đầu tất cả cũng không có đủ mười sợi tóc đen. Đau lòng là, chẳng lẽ những trung thần của nhà đại Hán chỉ còn lại mấy ông già này sao?
Đúng lúc mấy người ấy đang bàn luận sôi nổi, bỗng nghe thấy một loạt những âm thanh kỳ lạ:
Gâu gâu gâu! Gâu gâu gâu! - Đó là tiếng chó sủa. Đông Quán là nơi học thuật của hoàng gia, làm sao lại có chó ở đâu chạy vào đây? Mọi người đều lấy làm lạ, mấy vị lão thần đều cầm gậy chống đứng lên, bám song cửa sổ nhìn ra ngoài. Nhưng không thấy thì thôi, thấy rồi chợt giận đến run người.
Hóa ra là một con chó của hoàng thượng nuôi từ ngự viên chạy ra. Con chó ấy lông vàng, tai lớn, chẳng khác gì một con chó giữ nhà bình thường của dân chúng. Nhưng điểm nó không giống những con chó kia là, hoàng thượng đội lên đầu nó một cái mũ tiến hiền của quan viên, trên thân nó thì buộc một dải dây đeo ấn màu tía hoa văn trắng, đó là phục sắc mà bậc tam công mới được mặc đội!
Ở đây có năm vị lão thần: Dương Tứ, Mã Mật Đê, Lưu Khoan, Trần Đam, Lưu Đào, đều từng giữ vị trí tam công, trông thấy chuyện như vậy làm sao không tức giận cho được? Con chó đó vẫn cứ xông vào trước cửa lớn sủa ông ổng. Một lúc sau thì Tiểu hoàng môn Kiển Thạc vội vã hốt hoảng chạy đến nơi. Ông ta ôm lấy con chó, trông thấy các vị lão thần đều đang bám trên cửa sổ đứng nhìn, liền vội quỳ xuống thi lễ:
— Tiểu nhân xin vấn an các vị minh công. Chó trong ngự viên của hoàng thượng chạy xổ ra đây, mong các vị đại nhân không trách mắng, tiểu nhân xin ôm nó về ngay. - Kiển Thạc nói xong quay đầu định đi, chợt trông thấy Thượng thư Dương Toản cũng đang đứng bên cửa sổ, liền nói, - Dương thượng thư cũng có mặt ở đây ạ! Vậy may quá nô tài không phải đến tận chỗ ngài. Hoàng thượng vừa mới ban lệnh đại xá thiên hạ. Thượng thư Lương Hộc thì đã đến phủ Trương Nhượng viết hoành phi rồi. Việc này ngài làm giúp cho vậy. Vẫn theo lệ cũ, những người phạm tội có thể thả hết, duy có những người đảng cố là không tha bất kỳ ai hết. - Nói xong ông ta ôm con chó đi luôn.
Dương Tứ nhiều tuổi hơn cả, trông thấy vậy giận quá, ôm lấy ngực ngồi bệt xuống đất:
— Trong mắt hoàng thượng, chúng ta cũng giống như con chó thôi! Đảng nhân không tha bất kỳ ai, thật là u mê!
— Hu hu... - Lưu Khoan thực sự không chịu nổi nữa, bật khóc, - Ôi tiên đế Quang Vũ ôi! Tiên đế hãy mở mắt thử nhìn xem... Cứ như thế này, Đại Hán chúng ta sẽ phải mất nước thôi...
Vẫn là Mã Mật Đê tuổi già mà còn tinh anh, nắm chắc cây gậy, quay sang nhìn Tào Tháo, Trần Ôn bảo:
— Mất nước hay không mất nước, ta đã ngần này tuổi rồi cũng chẳng làm sao, chỉ có những người trẻ tuổi các ngươi là đáng thương thôi, những ngày khốn khổ vẫn còn trước mắt đấy!
Tào Tháo mỉm cười:
— Cứ như tại hạ nói, con chó ấy đến lại hay.
— Hả? - Mấy vị lão thần đều đổ dồn ánh mắt giận dữ lại nhìn.
Tào Tháo vội vàng giải thích:
— Các vị lão đại nhân, vãn sinh không có ác ý gì. Là vãn sinh nói, nhân chuyện này chúng ta có thể viết nên thành văn chương. -
Mã Mật Đê vỗ vỗ cái sập ngồi bên cạnh mình, bảo:
— Tiểu tử ngươi lắm trò ma mãnh, hãy ngồi xuống nói xem sao.
— Chư vị công đài đang ở trước mặt, tiểu nhân há lại dám...
— Bảo ngươi ngồi, ngươi cứ ngồi, sao phải nói lôi thôi lắm thế! Nhanh lên nào! - Mã Mật Đê nói vẻ không nghi ngờ gì.
Tào Tháo cười ha ha ngồi xuống, nói:
— Hoàng thượng của chúng ta tuy... dốt kém... - Tào Tháo dùng một từ không hay ho gì như thế, thấy mọi người không có ý kiến gì cả, lại tiếp tục nói, - Nhưng ngài rất yêu chuộng kinh điển văn chương, nếu chẳng phải như thế, sao hoàng thượng lại bảo Sái Ung hiệu đính Lục kinh chứ? Làm sao ông ta lại lập ra Hồng đô môn để học chứ?
Lưu Khoan tạm ngưng tiếng khóc:
— Phải rồi! Hoàng thượng chỉ khi nghe giảng kinh sách mới có thái độ tốt với ta.
— Cho nên, chúng ta nhắm vào cái hoàng thượng yêu thích. - Tào Tháo nói tiếp, - Xin phiền chư công thử nghĩ xem, có câu sấm vĩ hay kinh tịch nào liên quan đến chó không, tốt nhất là những câu nói xấu ấy ạ.
Lưu Khoan một bụng kinh luân, dù đã uống rượu rồi cũng không nhầm lẫn, lắc đầu đọc to:
— Trong Dịch của họ Kinh có câu: “Quân bất chính, thần dục thoán, quyết yêu cẩu quan xuất”[1].
— Đúng vậy! Chúng ta hãy dùng câu này viết một bài văn dài đưa lên cho hoàng thượng.
Trần Đam mắt sáng ngời lên:
— Người khác thì không nói, ta cùng với ông trong bản tấu chương này, trước hết hãy đánh đổ lão nô tài không biết liêm sỉ Hứa Vực, tố cáo hắn ta xu nịnh hoạn quan, ăn không ngồi rồi.
Quả nhiên, Tào Tháo và Trần Đam lấy đề là “Cẩu đới quan đới”[2], cùng viết một bài văn, nói về chuyện sủng thần kết đảng kiếm chác riêng, Hứa Vực ăn không ngồi rỗi ở ngôi vị để dâng lên. Nói ra cũng thật lạ, giảng giải đạo lý một cách đàng hoàng thì Lưu Hoành không nghe, đem bài văn không chính thức dẫn cứ sách vở rồi khiên cưỡng phụ họa thêm vào thì Lưu Hoành lại gật đầu như búa bổ. Cuối cùng đem bản tấu ấy truyền xuống cho ba phủ xem, rồi trong buổi triều hội lôi Thái úy Hứa Vực xiểm nịnh hoạn quan ra mắng một trận té tát, và lập tức bãi miễn chức vị.
Tào Mạnh Đức nhờ vào danh tiếng của Trần Đam, nhất thời cũng trở nên uy danh hiển hách. Nhưng chuyện ấy cũng chỉ xuất hiện một lần hiếm hoi, chưa được bao lâu, Lưu Hoành lại tự làm theo ý mình như cũ, vứt bản tấu chương cảnh tỉnh ấy sang một bên từ khi nào. Tào Tháo vẫn là một chân nghị lang bình thường không ai biết đến... Làm thế nào mới có thể thăng quan được? Tào Tháo bắt đầu động tâm suy nghĩ.
Dần thấy xa cách
Tào Tháo ngẩng đầu lên nhìn cổng phủ to cao của nhà Viên Phùng, nhà công hầu thế gia quả nhiên là sang trọng. Trong lòng Tào Tháo chợt thấy cảm động - Viên Thiệu thủ hiếu tang mẹ cuối cùng đã trở về.
Đã đến Viên phủ không phải một hai lần, nhưng mỗi lần đến Tào Tháo đều thấy chúng không hề giống nhau. Lần này Viên gia xây sửa lại sân ngõ, tất cả đều dùng loại gỗ thông thượng hạng, cột kèo chạm vẽ. Dưới đất, bậc thang lát toàn bộ bằng đá bạch ngọc, càng lộ rõ vẻ xa hoa điển nhã. Nhìn thật kỹ, đến áo bào vải đen của bọn gia đinh canh cửa hạng hai mặc cũng đều được may bằng đoạn. Sự giàu sang như vậy, trong triều không ai có thể sánh được.
Công bằng mà nói, Viên Phùng cũng không phải là người có tài cán siêu phàm gì. Nhưng vì ông ta tinh thông Dịch học, lại dựa vào danh tiếng của cha ông nên làm quan từ rất sớm, suốt mấy chục năm yên ổn trong chốn quan trường, có thể nói là từng trải, nên được bá quan văn võ, thậm chí hoàng thượng rất tôn kính. Đặc biệt là sau khi Trần Phồn bị hại, Hồ Quảng qua đời, Kiều Huyền cáo lão, chu sa không đủ đất đỏ lên ngôi, Viên Phùng càng là một lão thành quan trọng. So với ông ta, thì Dương Tứ là người cương trực mạnh mẽ, nên bị hoàng đế ghét bỏ, còn Lưu Khoan là người nho nhã cao thượng nhưng quá khiêm cung, Trần Đam thì sáng suốt mạnh bạo nhưng lại cô độc không hòa đồng, Mã Mật Đê thì học thức uyên thâm nhưng là nhà thế gia ngoại thích. Những vị lão thần này đều không trung dung hòa thuận được hoàng đế tin dùng như Viên Phùng. Cho nên ông ta được Lưu Hoành kính trọng liệt vào hàng tam lão, hằng năm đều thưởng cho rất nhiều đồ ngự dụng quý báu.
Tào Tháo được biết Viên Thiệu về kinh, đã đặc ý xin Mã Mật Đê cho nghỉ một buổi để đến Viên gia thăm hỏi. Đưa danh thiếp rồi, được dẫn vào cửa phủ, Tào Tháo chợt nhớ lại chuyện khi xưa vượt tường xông vào để cứu Hà Ngung, không ngăn được bất giác mỉm cười.
Khi xưa từng đi lại nhiều lần, cũng không cần người đi thưa bẩm, đang nhẹ bước đến thư phòng của Viên Thiệu, Tào Tháo chợt nghe thấy Viên Thiệu đang cao hứng trò chuyện với khách. Tào Tháo giật mình, hóa ra là Hứa Du và Thôi Quân, cảm thấy vừa bất ngờ lại vừa không vui: Hứa Du khi xưa rời khỏi chỗ Kiều Huyền, lúc đi cũng không thèm chào mình một tiếng, ngày xưa cùng nhau thân mật, vậy mà khi về kinh cũng không thèm đến gặp mình. Còn Thôi Quân thì càng chẳng ra sao, cha hắn là Thôi Liệt với cha mình rất thân thiết, thậm chí có thể nói là thế giao, nghe nói hắn được điều nhậm về kinh, chẳng đến thăm mình thì thôi, sao ngay cha mình cũng không thèm đến thăm?
— Mạnh Đức, huynh đến rồi ư! - Thôi Quân đứng lên trước tiên.
— A Man huynh! - Hứa Du vẫn thế, mở miệng là gọi tiểu danh của Tào Tháo. - Bao năm không gặp, gần đây huynh vẫn được tốt chứ?
— Tốt, tốt. - Tào Tháo gật gật đầu. - Nghe nói Bản Sơ huynh về kinh, tại hạ tính đến thăm rồi hôm khác xin được mời một tiệc rượu nhỏ, không ngờ các huynh cũng đã về kinh cả, mọi người cùng tụ tập.
Thôi Quân, Hứa Du tự biết đã sơ suất, đều thấy hơi khó xử, chỉ chắp tay nói:
— Chúng tôi cũng vừa mới về tới, đang tính hôm nào sẽ tới thăm huynh, thật thất lễ, thất lễ!
— Hà hà... - Viên Thiệu cười lớn, đứng lên. - Mạnh Đức, ba năm không gặp thật khiến ngu huynh nhớ đến chết mất! - Viên Thiệu tuy đã hết tang, nhưng ăn mặc vẫn rất giản dị, râu tóc đã được cắt tỉa một cách kỹ lưỡng, càng lộ rõ khuôn mặt trắng trẻo đứng đắn.
Đúng là dung mạo khiến nhiều người phải hâm mộ! Tào Tháo thầm nghĩ trong lòng. Hai người vái chào nhau xong, Tào Tháo vội nắm chặt lấy tay Viên Thiệu, hai mắt ngân ngấn lệ:
— Bản Sơ, hơn ba năm qua, Tào gia đệ gặp cơn nguy hiểm trời nghiêng đất sụp, từ lâu đã muốn tâm sự nỗi niềm buồn khổ với huynh trưởng rồi.
— Ngồi xuống rồi nói! Ngồi xuống rồi nói!
Ba người thấy Tào Tháo chân tình cảm động, người lấy ghế ngồi, người lấy nước uống. Từ khi Tào Tháo đắc tội với sủng thần, bị điều đi làm Đốn Khâu lệnh, rất ít khi gặp được những bằng hữu cũ, từ lâu đã ôm ấp trong lòng bao nhiêu chuyện muốn nói. Liền đem một loạt những chuyện khổ sở của mình từ ngày mùa đông rời kinh sư, qua Hoàng hà gặp nguy hiểm, làm quan kháng chiếu, đến chôn hiền sĩ ở vườn dâu dốc hết ra nói, đến chuyện cả nhà phải bãi quan, hai vị thúc phụ gặp nạn, thì thực sự không cầm nổi nước mắt tuôn trào.
Ba người ai cũng than thở, Hứa Du nói:
— Thật không ngờ, chỉ có ba năm ngắn ngủi mà Mạnh Đức đã gặp phải bao nhiêu nguy nan như thế.
Tào Tháo lau nước mắt:
— Ôi... thật may là có Kiều công lão ngài giúp đỡ, đệ mới có thể được trở lại làm quan. Tử Viễn, Kiều công hiện sức khỏe có được tốt?
Hứa Du chợt đỏ mặt. Kể từ sau khi không chào hỏi mà đi năm xưa, sau đó Hứa Du chưa bao giờ gặp lại sư phụ Kiều Huyền nữa. Ngày ngày đều bận rộn đi khắp tứ xứ luồn lọt, thậm chí còn không nghĩ đến chuyện viết một phong thư cho Kiều Huyền. Tào Tháo hỏi câu ấy, thực sự là không đúng đối tượng. Tào Tháo thấy vậy thì hiểu ngay, chỉ thở dài một tiếng, ngại ngần không hỏi thêm nhiều nữa.
Viên Thiệu vỗ vỗ tay Tào Tháo:
— Không nên buồn, mọi việc đã qua cả rồi. Trải qua nhiều hoạn nạn chưa hẳn đã là chuyện không hay. Ngu huynh thì cư tang ở nhà, bây giờ lại thành ra ếch ngồi đáy giếng, huynh không bằng đệ rồi.
Tào Tháo cảm thấy hơi buồn, cứ tưởng Viên Thiệu sẽ có mấy câu an ủi chân tình, ai ngờ Viên Thiệu chỉ nói một câu cho qua như thế, và trên mặt vẫn nở một nụ cười. Rõ ràng là qua loa cho xong chuyện, chẳng hề quan tâm gì với mấy chuyện ấy.
— Nghe nói Hà Tiến đã đến thăm phủ nhà ta? - Hiện giờ Viên Thiệu quan tâm đến chuyện này hơn.
— À, mấy tháng trước có qua chơi vài bận, thăm hỏi cha đệ, mấy ngày nay không đến nữa rồi.
— Khi ông ta đến đệ có gặp ông ấy không?
— Có gặp một lần, chẳng nói mấy câu.
— Mạnh Đức, thế thì đệ không phải rồi.
— Sao?
— Hà Tiến đến phủ nhà đệ, không phải là để thăm hỏi phụ thân đệ đâu, mà là để gặp đệ đấy!
— Làm gì có chuyện đó? - Tào Tháo không tin.
Viên Thiệu không nói gì, Thôi Quân liền tiếp lời:
— Xem ra Hà Toại Cao này chẳng có chủ tâm gì cả, chẳng phải chỉ đến nhà Mạnh Đức, nhà cha tôi ông ta cũng đến. Nghe nói ông ta còn đến thăm Lưu Khoan, Trần Đam, Khổng Dung, Vương Doãn, Lưu Đào, các phủ ông ta đều thăm hết một lượt.
Tào Tháo vừa nghe liền hiểu ngay, những người ấy tuy tuổi tác lớn nhỏ, quan chức khác nhau, nhưng họ đều có một điểm chung giống mình, đó là cùng chủ trương hạn chế hoạn quan, trả tự do cho những đảng nhân bị cầm tù. Khi ấy Tào Tháo mới hiểu rằng, hóa ra Hà Tiến đến nhà mình chỉ là lấy danh nghĩa đến thăm phụ thân để tìm mình mà thôi, chắc hẳn người này hạ quyết tâm lo liệu cho việc đảng nhân rồi.
Viên Thiệu lắc lắc đầu vẻ không làm gì được:
— Đại quốc cữu tưởng ngây mà chẳng ngốc này của chúng ta, trong tay nắm một chữ “Đảng” đi khắp Lạc Dương. Làm chút việc cỏn con mà do dự như thế, thật là phiền phức.
Tào Tháo đã nghe ra được đôi chút đầu mối rồi: Từ lâu đã hoài nghi có người đứng sau Hà Tiến, hóa ra người nấp trong màn chính là Viên Thiệu. Tào Tháo cười thử thăm dò:
— Tôi thấy chính là các huynh ngu ngốc, lật lại vụ án là việc lớn như vậy há lại là người như ông ta có thể làm nổi? Hà Tiến không được, còn Hà Miêu nữa, người này lại rất tinh ranh, huynh đi tìm ông ta ra cáng đáng đi.
Viên Thiệu cười nhạt một tiếng:
— Ông ta đúng là tinh ranh, nhưng tinh ranh quá. Nếu chuyện đảng cố thành công, sẽ là ngôi sao cứu mệnh cho tất cả kẻ sĩ anh tài trong thiên hạ. Hà Miêu vốn chẳng có quan hệ gì với hoàng hậu cả, một tên vô lại đầu đường xó chợ mà có thể luồn lọt đến như ngày hôm nay, há lại là việc dễ dàng ư? Đệ thử nghĩ xem, dù ông ta không có thân phận là quốc cữu, thì sự tinh ranh của người này cũng khiến ông ta hơn hẳn người khác. Hà Miêu nếu thực sự làm được đại sự này, thì ngay tức khắc ông ta còn cao giá hơn hàng trăm lần, không khéo được đưa lên đến tận mây xanh. Đến lúc ấy sẽ ở dưới một người, ở trên vạn người, há lại không đi vào lối mòn cũ ngoại thích can thiệp chính sự của đám Đậu, Đặng, Diêm, Lương ư? - Đúng là nói dài nói dại, Viên Thiệu không hay biết rằng đã tự thừa nhận đó là chủ ý của mình.
Tào Tháo lập tức cất bỏ khuôn mặt tươi cười:
— Bản Sơ, dụng tâm của huynh tuy tốt nhưng họ Hà nhúng tay vào chuyện riêng của hoàng gia, bắt tay với ông ta e là không thỏa đáng.
— Mạnh Đức đệ cẩn thận quá, Hà Tiến tuy vô mưu nhưng làm việc rất nghiêm túc, là người thật thà, cũng rất trượng nghĩa, sẽ không làm loạn gì đâu.
Hứa Du liên tục nháy mắt biểu thị sự tán đồng:
— So sánh giữa hai người nên lấy kẻ nhẹ hơn. Thà rằng kích động Hà Tiến liều mạng cá chết thì lưới cũng rách, chứ không thể bỏ qua cơ hội. Suy đến cùng vẫn là đương kim hoàng thượng không thể phấn chấn tâm chí lên được. Nhớ lại năm xưa khi Đinh Hồng dâng sớ lên Túc Tông hoàng đế, có câu: “Trời không thể không cương kiện, không cương kiện thì mặt trời, mặt trăng, sao không sáng; Vua không thể không mạnh mẽ, không mạnh mẽ thì quan lại hoành hành.” Thật là danh ngôn chí lý!
Viên Thiệu lại cắt ngang lời Hứa Du:
— Tử Viễn, huynh nhìn nhận hủ lậu quá! Câu nói ấy của Đinh Hồng đâu còn phù hợp với đương kin hoàng thượng chứ.
— Vậy huynh có cao kiến gì?
— Đương kim hoàng đế không phải là không mạnh mẽ, mà là cái mạnh của nhà vua không dùng vào đúng chỗ cần. Nói đến chuyện này, mười hai tuổi một mình ông ta vào cung phải trải qua cơn biến loạn lớn, diệt Bột Hải vương là người trong họ, giết Tống thị, lẳng lặng diệt trừ hoạn quan quyền lực Vương Phủ, lại rõ thơ văn, hiểu thư họa, thông hiểu điển tịch các đời, còn chuyện gì mà ông ta chưa từng trải qua? Có đạo lý nào mà ông ta không hiểu rõ? Các bậc tiên vương trong đời trước của triều ta hỏi có mấy người được tài năng thiên bẩm như thế?
Hứa Du, Thôi Quân quay sang nhìn nhau, nhưng không thể không thừa nhận những chuyện đó là thật.
Tào Tháo tiếp lời nói:
— Nhưng tâm tư của hoàng thượng đều gửi cả ở nơi thái bình được tô vẽ, lại xây dựng cung điện to lớn, rồi viễn chinh Tiên Ti, mà không thử nghĩ đến hậu quả làm hao sức dân tốn tiền của ấy. Hoàng thượng lại không chịu nghe những lời trung ngôn, không tiếp thu sự can gián của đại thần, nhà vua chỉ thích những người không nói năng gì chỉ răm rắp tuân theo mệnh lệnh như Hứa Vực, Lương Hộc. Hoàng thượng tuy thông minh, nhưng chỉ tự làm theo ý mình, coi việc trị thiên hạ quá ư đơn giản...
— Đó là do những quan viên đang tại vị hiện nay đã quá dung túng hoàng thượng! - Viên Thiệu dửng dưng nói.
Câu ấy khiến Tào Tháo nghe mà nhói lòng! Hiện nay là thời buổi nào? Giữ một chức quan tuy chẳng thể vực được xã tắc lên, nhưng ít nhất cũng có thể tạo phúc cho muôn dân, chỉ nhăm nhăm những ân oán cũ mà chẳng quan tâm đến nỗi thống khổ của nhân dân giống Viên Thiệu hiện nay, thì có ích gì? Tào Tháo cố nhẫn nại, nói:
— Thế nhân phần lớn đem bộ mặt tươi cười mà qua lại với đời, nhưng trong lòng ai mà chẳng buồn khổ? Ai là kẻ thực sự chỉ nghĩ đến bản thân mình mà không có lòng ái quốc chứ? Nhưng thói đời như vậy ai biết làm sao được, kẻ làm quan suốt ngày cẩn trọng lo sợ, còn kẻ làm dân thì giữ mạng sống cho mình còn khó, vậy ai là người có thể không nghĩ đến thực tế quên cả tính mạng mình vì xã tắc mà đứng lên cao hô to một tiếng chứ? Hơn nữa, khúc nhạc cao thì ít có điệu hòa theo, rốt cuộc chẳng những không được thừa nhận, ngược lại còn bị thế tục quyền quý chê cười. Tình đời như hơi thu, nhân tính như cỏ nội, hơi thu diệt tàn cỏ nội, cỏ nội không kham nổi, tàn tạ mà chết. - Nhưng mấy câu nói rút từ gan ruột ra ấy của Tào Tháo lại không thấy có người nào hưởng ứng.
Thôi Quân trầm mặc hồi lâu, rồi nói:
— Việc đã đến nước này, chuyện lật lại vụ án cho đảng nhân xem ra cũng chỉ là nói suông thôi. Hà Tiến cố nhiên thật thà ngốc nghếch, cũng không thể không nghĩ đến chuyện an nguy của bản thân. Tin tức Bá Cầu huynh đem đến, thì đại đa số hào kiệt đảng nhân vẫn không dám trông mong vào nhà họ Hà. Xem ra tâm tư hai phía đều lạnh nhạt, còn nhiệt tâm thì chỉ có mấy người chúng ta mà thôi.
Tào Tháo bỗng nhiên nghe thấy ba chữ “Bá Cầu huynh”, thì vô cùng kinh ngạc và mừng rỡ:
— Bá Cầu huynh về kinh rồi ư?
Thôi Quân chưa kịp đáp lời, Viên Thiệu đã cất lời trước:
— Không! Hiện nay huynh ấy vẫn đang ở chỗ Trương Mạc, chỉ là nhờ Tử Viễn hiền đệ chuyển lời như thế.
Hứa Du giật mình, vội vàng gật đầu:
— Đúng vậy đúng vậy! Mấy ngày trước tôi đi Nhữ Nam có gặp huynh ấy.
Tào Tháo rất tinh ý, nghe qua liền biết bọn họ đang cố ý giấu giếm mình, Trương Mạc đâu có ở Nhữ Nam, ba người bọn họ đến nói dối cũng không biết đường nói.
Hứa Du cũng biết trong lúc gấp gáp đã lỡ lời, vội vàng chuyển chủ đề hỏi:
— Thôi huynh, lần này huynh về kinh nhận chức quan gì?
— Tôi vào làm ở Quang Lộc thự, làm hộ viện cho hoàng gia.
Thôi Quân không để cho Tào Tháo nói chen vào, lại quay sang Viên Thiệu bảo:
— Bản Sơ huynh, huynh cũng tính làm một chức quan đi.
Viên Thiệu lắc lắc đầu nói:
— Thôi. Mấy hôm trước, Trần Đam muốn vời tôi ra làm duyện thuộc[3] dưới trướng ông ấy, tôi đã cung kính chối từ. Khi xưa tôi và Vương Tuấn chuyện phiếm với nhau, huynh ấy nói, gặp phải đời nhơ bẩn, chẳng bằng lui về ẩn ở Nam Sơn, tôi thấy lời huynh ấy nói thực chẳng sai chút nào.
Tào Tháo càng nghe càng thấy buồn bực, mọi người như vậy là sao? Lại đề phòng mình như đề phòng kẻ trộm vậy... Thử nghe xem huynh nói gì? Viên Bản Sơ huynh sao có thể đem so với Vương Tử Văn mà nói chứ! Vương Tuấn là con nhà hàn sĩ, qua bao nhiêu gian khó mới được đến dưới cửa Kiều Huyền, còn Viên Thiệu huynh sinh ra đã là nhà thế gia tam công, dù có ngồi trong nhà mà đợi, cũng có thể được làm quan to, đúng là thân ở trong phúc mà không biết phúc. Thế mà lại tự so mình với Vương Tuấn thì thật không có lý gì. Huống chi huynh lại nói là “gặp đời nhơ bẩn”, chưa cần nói là bất kính với cha ta và cha Thôi Quân, há lại chẳng phải là coi hai vị thúc phụ đã dưỡng dục huynh cũng là trong đám nhơ bẩn sao?
Tào Tháo muốn phản bác lại mấy câu, nhưng gắng dằn lòng không phát ra, thì lại nghe Viên Thiệu nói tiếp:
— Gần đây tôi có đọc Luận hành của Vương Sung, trong ấy có nói: “Đức hạnh thường có bậc hiền, mà sĩ hoạn không thường gặp được. Hiền hay không hiền, bởi tài vậy. Gặp hay không gặp, bởi thời vậy. Tài cao hạnh khiết, cũng không thể chắc chắn sẽ được tôn quý, tài hèn đức mỏng, cũng không thể chắc chắn sẽ là ti tiện. Cũng có khi tài cao hạnh khiết, mà không gặp thời thì cũng lùi xuống bậc hạ lưu. Tài hèn đức mỏng, mà gặp thời thì vẫn ở trên muôn người. Mỗi đời có một cách để chọn kẻ sĩ, mà kẻ sĩ cũng mỗi kẻ có một cách để tiến thân.” Tôi không muốn học bọn Lương Hộc, chỉ muốn an tâm mình để tu thân dưỡng tính! Vương Sung lại nói: “Tiến là bởi gặp thời, lui là bởi chẳng gặp thời. Ở ngôi tôn quý hiển hách, chưa hẳn đã hiền, ấy là gặp thời vậy. Ở chỗ thấp kém ti tiện, chưa hẳn đã ngu, ấy là không gặp thời vậy. Cho nên gặp thời, hoặc ôm đức hạnh, có thể được tôn ở triều vua Kiệt; Không gặp thời, hoặc giữ tiết sạch, có thể thấp kém, ngay dưới triều vua Nghiêu. Cho nên, gặp thời hay không gặp thời cũng khó xác định: có khi hiền mà phù tá ác; có khi lấy đại tài mà theo giúp tiểu tài; có khi đều là đại tài, nhưng đạo có trong có đục; có khi không có đạo đức mà đem kết hợp với nhau; có khi không có tài năng mà nói đến sắc hạnh.” Cho nên quan viên trong triều đình ngày nay, chẳng qua chỉ là...
Tào Tháo thực sự không có tâm tư nào nói chuyện sách vở nữa, cuộc gặp gỡ ngày hôm nay thật chẳng ra sao. Nhân lúc Viên Thiệu còn chưa nghĩ ra câu nói, Tào Tháo liền vội đứng lên:
— Bản Sơ, Nguyên Trường, hai vị huynh trưởng, Tử Viễn hiền đệ! Tôi còn có chút việc bận phải làm, xin được cáo từ trước.
— Huynh bận việc gì chứ? - Thôi Quân kéo Tào Tháo lại. - Huynh nhất định phải ở lại đã, lát nữa chúng ta cùng uống chén rượu.
— Chuyện ấy thực không thể chối từ. Nhưng hôm qua gia phụ có dặn dò tôi làm mấy việc, hơn nữa trong Đông Quán cũng còn có công vụ, tôi cũng muốn kiếm cơ hội đến thăm Chu Tuấn một chút.
— Chu Tuấn? Khi nãy lúc tôi vào phủ hình như có trông thấy ông ấy đấy, có lẽ là đến thăm Viên công chăng. - Hứa Du vô tình kể lại.
Mắt Tào Tháo chợt sáng lên, dường như quét sạch hết những mây mù u ám, trong lòng mừng rỡ: “Mình với Chu Tuấn mới có duyên gặp gỡ một lần, nếu qua phủ thăm hỏi tất nhiên là đường đột, nếu như có thể “may mắn gặp gỡ” ở đây thì chẳng phải tự nhiên hơn nhiều sao?”
— Ở lại đây một chút nữa đã, lát nữa không biết chừng còn có thêm bằng hữu đến nữa? - Hứa Du vẫn cố ý giữ Tào Tháo lại.
— Thôi không dám làm phiền nữa, tôi cũng còn việc bận mà!
Viên Thiệu và Thôi Quân quay sang nhìn nhau, rồi nói:
— Thế thì thôi vậy, nếu trưởng bối đã có lời dặn dò, tôi xin không giữ nữa, hôm khác có được rảnh rang, Tào đệ nhất định lại đến chơi nhé.
— Tất nhiên thế rồi, xin mọi người không phải tiễn... không phải tiễn...
Tào Tháo thi lễ lui ra, cũng không để ý đến nghi lễ cho đúng đắn, vừa đi vừa chạy ra phía cổng ngoài. Khoảnh khắc ra tới lớp cửa thứ hai, Tào Tháo vẫy tay gọi tên gia đinh canh cửa hỏi:
— Chu Tuấn, Chu đại nhân đã đi ra chưa?
Người giữ cửa cúi đầu nói:
— Bẩm đại nhân, ông ấy vẫn chưa ra đâu ạ.
Tào Tháo liếc mắt nhìn quanh, thuận tay móc trong người ra mấy quan tiền, bảo:
— Ta nấp sau cửa này, ngươi để ý giúp ta, trông thấy Chu đại nhân đi ra đây thì báo ngay cho ta biết.
Tên gia đinh nhìn quan tiền:
— Vị đại nhân đây, ông muốn làm gì vậy? Tìm kẻ thù để ra tay báo phục thì đừng làm trong phủ đệ, tiểu nhân không gánh vác nổi đâu.
— Xời! Ngươi nghĩ đi đâu đâu thế hả? Ta chỉ muốn tìm cơ hội gặp mặt Chu đại nhân thôi.
Nói rồi Tào Tháo cầm tiền dúi vào tay hắn. Rượu trong dễ đỏ mặt ai, Bạc trắng lại dễ khiến người động tâm, tên gia đinh thấy xung quanh không có ai, vội đút tiền vào trong áo, cũng không cần để ý đến quy định trong công phủ nữa:
— Đại nhân chịu khó một chút, tốt nhất là ngồi sau cánh cửa này. Ở ngoài ấy không nấp được, hơn nữa nếu để quản gia trông thấy, thì phiền cho tiểu nhân lắm.
— Được, được.
Tào Tháo nghe theo lời hắn, vén áo gọn đai, ngồi vào phía sau cánh cửa, nấp vào đúng sau tên canh cửa. Tên gia đinh thỉnh thoảng lại ngoài đầu lại nhìn, rồi chợt cười nói:
— Tiểu nhân mắt mờ, bây giờ mới nhận ra, đại nhân là Tào nghị lang phải không ạ?
— Ồ! Tiểu tử ngươi biết ta ư?
— Không nhận ra ai thì thôi, chứ ông thì phải nhận ra chứ! Năm xưa ông xông vào phủ, tát cho tiểu nhân một tát ở ngay cửa chính, đến nỗi tiểu nhân lung lay cả răng...
— Ha ha ha... - Tào Tháo không ngờ lại chính là tên tiểu tử ấy. - Lần trước ta trót nặng tay với ngươi, lát nữa ta sẽ cho thêm mấy quan tiền.
— Tiểu nhân không dám, lát nữa mấy quan tiền này cũng xin hoàn lại cho ngài ạ!
— Cầm lấy đi, coi như là ta đền quà cho ngươi.
Tên gia đinh ấy cũng khôi hài, nhịn cười không quay lại, chỉ nói lẩm bẩm:
— Đại nhân cầm gạch đánh nhau, đúng là đại tài! Lần trước thì vung nắm đấm xông vào trong, lần này thì là nghị lang nấp cửa tam công, không biết là có chủ ý gì đây?
— Chẳng có cách nào khác, làm quan đâu được tự do, đều bắt buộc phải thế thôi. - Tào Tháo cố tìm mấy câu trò chuyện với hắn cho gần gũi. - Lần trước ta xông vào phủ đến nay cũng đã mấy năm, ngươi tuổi tác cũng còn trẻ, thế thời gian làm sai nha ở đây cũng không ngắn nhỉ! Ở đây có lẽ cũng có quyền hành không nhỏ chứ?
— Chuyện ấy đương nhiên rồi. - Tên gia đinh thấy Tào Tháo nịnh mấy câu, nói nhiều hẳn lên. - Tiểu nhân được sinh ra ngay trong Viên phủ, từ sáu tuổi đã giúp việc bếp nước ở nhà sau, bảy tuổi thì gấp chăn chiếu cho thiếu gia Bản Sơ, tám tuổi thì dắt ngựa cho thiếu gia Công Lộ, chín tuổi thì bưng trà rót nước cho đại thái thái, lại đổ bô cho lão gia nữa! Tiểu nhân trước thì đứng ngoài cổng ngoài, sau thì đứng ở cổng trong, ấy là bởi tiểu nhân có trí nhớ tốt nên mới được thăng lên thế. Nếu không làm sao nhận ra ông chứ? Chẳng phải tiểu nhân khoe khoang đâu, chớ cho rằng tiểu nhân ít tuổi, trong phủ này chả có mấy người đầy tớ nào có thâm niên hơn tiểu nhân đâu... - Vừa nói, hắn vừa đứng né một chân ra. - Đại nhân nhìn xem tên người ở đang bê đồ kia, chớ tưởng là tuổi tác cao, ông ta mới đến thôi đấy! Còn phải nghe tiểu nhân dặn dò.
Tào Tháo thật thà hơi ngẩng đầu lên. Không trông thì thôi, vừa trông xong anh chợt vô cùng kinh ngạc - Đó không phải là Hà Ngung sao? Không thể sai được, dáng người kia, tướng mạo kia... Ôi chao, Bá Cầu huynh đầu tóc đã bạc trắng quá nửa rồi! Định bụng gọi lại chào, nhưng không thể để tên canh cửa này biết thân phận của huynh ấy. Lúc sau, Hà Ngung đã ôm một cái bọc đi qua lớp cửa thứ hai vào trong, căn bản không chú ý đến phía sau cánh cửa có người ngồi.
Tào Tháo chợt tức giận, rõ ràng là Bá Cầu huynh đã cải trang vào kinh, và đang ẩn nấp trong phủ, vậy mà tại sao bọn Viên Thiệu vẫn giấu giếm mình? Dù cho mình là con của Tào Tung, là giống xấu xa của hoạn quan đi nữa, nhưng rốt cuộc chính mình đã từng cứu Bá Cầu huynh, đem cả tấm lòng tính mạng ra giao lưu với huynh ấy, ngay cả điều ấy cũng không nhận được sự tin tưởng của Viên Bản Sơ kia ư? Xem ra trong con mắt mấy người, ta cũng vẫn chỉ là giống xấu xa của hoạn quan mà thôi... Chính từ giờ khắc ấy, tình bạn giữa Tào Tháo và Viên Thiệu đã xuất hiện sự rạn nứt đầu tiên.
— Đến rồi! Đến rồi! - Tên gia đinh hấp tấp nói nhỏ.
Tào Tháo mừng lắm, đứng dậy sửa lại áo mũ chỉnh tề, đằng hắng một tiếng, lấy điệu bộ từ phía sau cánh cửa lướt ra, đón trước mặt Chu Tuấn:
— Ôi chao! Chẳng phải là Chu đại nhân đó sao? Ngài cũng tới Viên phủ chơi ạ?
— Phải, thật khéo quá! Lại được gặp cậu!
— Vâng đúng vậy.
Thấy Chu Tuần chắp tay sau lưng đang đi ra, Tào Tháo liền theo sau bên cạnh. Dáng vóc Tào Tháo vốn cũng không cao, Chu Tuấn so với Tào Tháo lại còn thấp hơn nửa đầu, Tào Tháo phải cúi mình ngẩng lên nhìn mới tỏ được vẻ cung kính:
— Chu đại nhân, hôm trước thật được ơn ngài chỉ giáo cho ạ!
— Ồ? - Chu Tuấn ngạc nhiên. - Ta chỉ giáo gì cho cậu đâu nhỉ?
— Ngài nói lão Thái phó Hồ Quảng đủ nét anh tài, vãn sinh mới hiểu ra được. - Tào Tháo đã chuẩn bị sẵn câu chuyện để nói. - Tuy rằng ông ấy không giữ được chính trực, nhưng sự nhũng loạn của Lương Ký, sự ác độc của Vương Phủ, trên dưới trong triều đều hoảng loạn, nếu không phải là nhờ ông ấy giữ sự trung dung mà thay lo chính sự trong nước, thì triều đình to lớn này liệu còn có ai lo việc nữa chứ?
— Ờ, đúng vậy.
— Kỳ thực kẻ làm bề tôi, cũng có lúc phải có những việc đáng trách, nhưng đều là vì bức bách không còn cách nào khác. Nhưng phàm là có lợi cho nước nhà, thì cần chi phải đắn đo xem hành vi như thế nào chứ? - Tào Tháo cố ý nói thật rành mạch rõ ràng mấy câu này. Thực ra từ sau hôm gặp được Chu Tuấn, Tào Tháo luôn ngầm hỏi thăm tìm hiểu về lý lịch và những chuyện đã qua của Chu Tuấn, được biết bản thân Chu Tuấn có một điểm yếu, đó là khi xưa lúc còn làm tòng sự ở Cối Kê, khi ấy chính là lúc danh tướng Doãn Đoan làm thái thú, gặp lúc Hứa Thiều tạo phản, Doãn Đoan đã không thể trấn áp được bị định phải tội chết.
Thực ra đó là lỗi ở việc điều động của triều đình, chứ không phải lỗi của lão tướng quân. Chu Tuấn vì để cứu Doãn Đoan, đã hối lộ rất nhiều cho khắp trên dưới để vận động, mua chuộc được hoạn quan và đốc bưu ém chuyện này đi. Người đã cứu được, nhưng cách làm không chính đáng, nên bị các đồng liêu rất trách cứ, rốt cuộc trở thành một điểm đen lớn nhất trong cuộc đời của ông. Tào Tháo liền đem điểm này, thầm sắp đặt màn chuyện trò đó, và đã tự luyện tập nhiều lần ở nhà rồi, bề ngoài thì là nói Hồ Quảng, thực tế là muốn nịnh mấy câu mà Chu Tuấn thích nghe.
Chu Tuấn nghe xong quả nhiên vui lắm, vân vê chòm râu lởm chởm, bảy sợi giương lên, tám sợi chúc xuống, bảo:
— Đúng vậy, đúng vậy! Tiểu tử ngươi rất có kiến thức, câu này rất hợp ý ta không sai!
Vừa nói chuyện, hai người đã ra khỏi Viên phủ, Tào Tháo cưỡi ngựa đến, thấy Chu Tuấn lên xe, không kịp để ý đến chuyện lên ngựa, vội vàng chạy lên trước vén rèm xe cho Chu Tuấn.
— Ôi chao, cậu chu đáo quá! - Chu Tuấn vui vẻ lên xe, quay đầu lại bảo, - Tiểu tử ngươi rất hợp tâm ý ta, rảnh rỗi hãy đến nhà ta chơi, chúng ta cùng nói chuyện.
Đó chính là câu mà Tào Tháo muốn nghe, nên vội nhận lời ngay:
— Vãn sinh nhất định sẽ tới. Vãn sinh còn muốn hỏi ngài về đạo dụng binh đó ạ.
Chu Tuấn xua tay:
— Chuyện học đâu có phân kẻ trước người sau, người đạt sẽ làm thầy. Nói hai chữ “thỉnh giáo” ta không dám nhận đâu!
— Ngài thật khiêm nhường! - Tào Tháo lại nịnh tiếp.
— Thôi không nói nữa, ta phải vội đi bây giờ! Dương công vừa mới có đứa cháu đích tôn, đặt tên là Dương Tu. Mời ta đến uống rượu mừng! Hôm khác cậu rảnh rỗi nhất định đến chỗ ta chơi đấy, chúng ta sẽ nói chuyện nhiều hơn. - Chu Tuấn nói xong ra hiệu cho phu xe đi mau.
— Kính tiễn Chu đại nhân! - Tào Tháo chắp tay tiễn.
Mấy câu ấy thực sự đã nói tốt cho Chu Tuấn, xe ngựa đã đi rất xa rồi, ông ấy vẫn còn đưa tay ra vẫy tạm biệt Tào Tháo. Đợi đến tận lúc chiếc xe đi khuất vào đoạn đường cong, Tào Tháo mới đứng thẳng dậy, cởi dây buộc ngựa của mình, sung sướng nhảy lên lưng ngựa. Mưu kế được thành, thuận buồm xuôi gió, chỉ mấy câu nói đã tạo được mối quan hệ bền chặt với Chu Tuấn, xem ra cơ hội phải do tự bản thân mình giành lấy! Nhưng khi mới đi được chưa lâu, nghĩ đến sự tình của Hà Ngung, Tào Tháo lại chợt buồn lòng.
Tục ngữ có câu, “thất ý chớ cúi đầu”, nhưng Tào Tháo vẫn cúi đầu để mặc con ngựa đưa mình đi về phía trước.
Nhưng chẳng phải một mình mình như thế, đúng lúc ấy từ phía trước cũng có một người ôm đống sách thẻ tre đi lại, cũng đang cúi đầu như mất hồn lạc phách. Hai người đi lại phía nhau, chẳng ai để ý đến ai, thành thử đâm xầm vào nhau. Tào Tháo và người kia cùng nói xin lỗi, rồi lại né người đi tiếp. Có lẽ lúc ấy Tào Tháo không thể ngờ được rằng, người đâm xầm vào mình kia lại chính là mồi châm gây ra cuộc đại loạn của thiên hạ.
Tên ông ta là Đường Châu, chồng văn thư ông ta ôm đi chính là văn thư mật báo Thái Bình đạo mưu phản. Tuy các đại thần Dương Tứ, Lưu Đào đều dồn hết nỗ lực để đề phòng họa hoạn từ khi chưa xảy ra, nhưng hôn quân Lưu Hoành không chịu nghe lời trung ngôn thì biết làm sao được.
Chuyện gì đến đã đến, tháng Hai năm Quang Hòa thứ bảy (năm 184), loạn giặc Khăn Vàng đã chính thức mở màn.
❀ ❀ ❀
[1] Chỉ một cách thi cử thời xưa, lấy một câu trong kinh sách làm đề, để người dự thi tự xiển phát nghĩa lý của câu nói đó.
[2] Không có của cải nhưng tư tưởng ổn định, chỉ có kẻ sĩ mới làm được. Còn bách tính, nếu không có của cải thì tư tưởng cũng không ổn định. Mà tư tưởng không ổn định, họ thường buông thả, làm liều.
[3] Từ thứ tử và gia thừa ở đây đều chỉ quan giúp việc cho thái tử và chư hầu. Gia thừa cai quản việc nhà, còn thứ tử giống như bằng hữu bầu bạn với các tử điệt của nhà vua.