Thiên tử cùng triều thần bá quan văn võ dưới sự “hộ vệ” của đại quân Tào Tháo cuối cùng cũng về được đến Hứa huyện đất Dĩnh Xuyên. Hoàng đế Lưu Hiệp vừa về đến Hứa huyện đã đích thân qua đại doanh Tào Tháo, trước mặt tất thảy chúng nhân, quần thần phong cho Tào Tháo làm Đại tướng quân, tước Vũ Bình hầu, ban cho cờ tiết, lại phong làm Lục thượng thư sự[1]. Tào Mạnh Đức từ năm hai mươi tuổi theo đường sĩ hoạn, bốn mươi hai tuổi đã làm đến chức Đại tướng quân, dưới một người mà trên vạn người, được quyền mở phủ lập ấp. Tuy thiên hạ phân chia loạn lạc, quần hùng cát cứ mỗi phương, nhưng trên danh nghĩa, Tào Tháo vẫn là kẻ có ưu thế, từ đó mà có thể đủ lý do để công nhiên mượn cớ mà “phụng theo thiên tử, tiêu diệt kẻ không thần phục”, bởi thế mà việc chinh phạt đánh chiếm coi như đều danh chính ngôn thuận.
Cùng với việc thiên tử định đô tại Hứa huyện, triều đình tông miếu cũng được xây dựng lại, đền đài cung điện cũng được khẩn trương sửa sang.
Viên Thiệu biết tin, ngoài mặt vui mừng nhưng trong lòng vẫn đố kỵ và cũng đành phải ngó mắt làm ngơ nên đã phái bộ hạ là Từ Huân dâng lên cho vua rất nhiều tài vật; Vương tử Phục cũng có nhiều cống hiến, cho phép Tào Tháo tháo dỡ gỗ tốt có nhiều ở khu lăng tẩm của Lương tiết vương thờ phụng tiên tổ ra mà xây dựng tân đô. Không ít quan lại, nhân sĩ lưu vong nghe tin cũng rục rịch có ý về triều gắng sức phò vua. Mới ngày thứ ba sau khi Tào Tháo lĩnh chức Đại tướng quân, liền đã có hai nhân vật vốn mong chờ đã lâu nay đến đầu quân xin theo.
— Tại hạ Quách Gia ở Dĩnh Xuyên bái kiến Đại tướng quân!
— Quách Phụng Hiếu dưới trướng Viên Bản Sơ ngày trước rơi kiếm mà kinh động chúng nhân, cuối cùng ngươi cũng đến rồi đây! - Tào Tháo biết Gia bản tính vốn khôi hài vui vẻ mới cố ý trêu đùa như vậy, còn tự tay dìu vào, - Ngày trước, khi Hi Chí Tài vì bệnh mà mất chưa lâu, ta có hỏi Tuân Văn Nhược nhân sĩ đất Dĩnh Xuyên còn ai tài trí xuất chúng hơn người có thể trọng dụng, Văn Nhược liền tiến cử ngươi đó!
Quách Gia ngoái đầu nhìn Tuân Úc cười khà khà mà rằng:
— Văn Nhược huynh thực đã khách khí mà quá khen rồi, nghĩ Quách Gia ta dưới trướng Viên Thiệu vô danh tiểu tốt tiếng tăm chẳng có gì, chỉ là một tên thư tá nhỏ mọn, ông không đoái bà không thương, đâu dám mang lấy danh trí sĩ?
Tào Tháo khẽ xua tay mà rằng:
— Phụng Hiếu hà tất phải quá khiêm nhường như vậy, có thể lọt vào mắt Văn Nhược cũng phải là bậc phi phàm hoặc hàng thượng phẩm, mau ngồi mau ngồi đi.
Quách Gia cung kính thi lễ rồi ung dung ngồi xuống. Tuổi trẻ mới hai mươi bảy, nhưng đã để lại cho Tào Tháo ấn tượng rất đặc biệt: Mày lá liễu, mắt hạt hạnh, dưới mắt trái có nốt ruồi nhỏ, mũi cao miệng nhỏ, chòm râu cũng nhỏ nhắn cắt tỉa chỉn chu, đúng là trời sinh nam nhi nữ tướng, trông đẹp tựa thiếu nữ, tướng mạo thần thái trông rất mực phong lưu tiêu sái. Tuy Quách Gia mới đến nhưng ngồi trên ghế tự nhiên thoải mái, người nghiêng nghiêng, hai tay vòng ra trước ôm lấy gối trái, khí chất vô cùng phong độ.
Nhưng cũng đến cùng Quách Gia là Tuân Diễn lại có vẻ giữ ý tứ, không được tự nhiên cho lắm. Với khuôn mặt hơi dài, mang vẻ trầm tư, râu để cũng dài, Tuân Diễn ngồi kiểu quỳ, vạt áo phủ ngay ngắn, mắt không nhìn nghiêng ra dáng nghiêm túc. Họ Tuân ở Dĩnh Xuyên là danh môn vọng tộc, họ hàng thảy đều tuân theo quy củ, Tuân Úc vốn đã rất đoan chính, mà vị tam ca này chỉ hơn có năm tuổi thôi nhưng lại trông già dặn, gò bó đến mức trông chẳng khác nào ông cụ non, hoàn toàn trái ngược nếu đem so với Quách Gia phong lưu.
Tào Tháo vừa nói đùa Quách Gia, nhưng lại sợ thất lễ với Tuân Diễn mới vội bổ sung rằng:
— Nay được Phụng Hiếu đã mừng, có được Hưu Nhược lại càng vui hơn, huynh đệ họ Tuân đã cùng trong trướng phủ ta, lo gì đại nghiệp không thành?
Tuân Diễn ngại ngùng vòng tay thưa:
— Đại tướng quân không cần quá khen, tam đệ tại hạ Hữu Nhược hãy còn ở Hà Bắc chưa chịu tới phò tá tướng quân, thực lấy làm hổ thẹn.
Trong huynh đệ họ Tuân, Tuân Diễn tự là Hưu Nhược, Tuân Thầm tự Hữu Nhược, Tuân Úc tự Văn Nhược, ba người trước vốn đều ở Hà Bắc. Trong đó, Tuân Thầm từng đi du thuyết để Hàn Phức nhượng Ký Châu nên rất được Viên Thiệu trọng dụng, cùng với bọn Điền Phong, Thư Thụ, Phùng Kỷ cùng nắm quân cơ Ký Châu. Đến nay Tuân Úc, Tuân Diễn đều đã về với Tào Tháo, chỉ còn một mình Tuân Thẩm chưa chịu về, âu vẫn muốn toàn tâm toàn ý gắng sức cùng Viên Thiệu.
— Ai có chí hướng người nấy, khó có thể cưỡng cầu. - Tháo tỏ ra khá đại lượng, - Hữu Nhược được Viên Thiệu hậu đãi, cảm tình tri ngộ mà ra sức báo đáp, âu cũng là chuyện thường tình. Khi xưa Vi Tử bỏ nhà Ân mà về với nhà Chu, Cơ Tử bị tù mà chí chẳng đổi, cả hai vị ấy đều là những bậc đại hiền đại đức, chẳng qua mọi người chẳng ai giống ai nhau mà thôi.
Đem huynh đệ họ Tuân mà sánh với Vi Tử, Cơ Tử là đã đánh giá rất cao rồi, Tuân Úc, Tuân Diễn tuy biết Tào Thào chỉ nói mấy lời lấy lòng song cũng vội vòng tay khiêm nhượng đáp lễ. Quách Gia thì cười khà khà vỗ tay mà rằng:
— Đại tướng quân so sánh hay lắm, Vi Tử bỏ nhà Ân về với nhà Chu mà phò tá Vũ vương, khai mở cương thổ cho nước Tống[2], còn Cơ Tử can gián Trụ vương không nghe mà chịu khổ nạn tù đày cùng cực, ai ngu tối, ai sáng suốt thấy đã rõ rồi đó!
Tào Tháo cười thầm một mình, Tháo chẳng qua tiện miệng đưa ra ví dụ thế thôi chứ chưa có ý tứ gì, nhưng tự nhiên thành ra lại đem tiếng hôn quân vô đạo mà đổ lên đầu Viên Thiệu. Việc này cố nhiên lại rất hợp ý Tào Tháo, song như lúc này, Tào Tháo vẫn chưa đủ sức để có thể trở mặt với Viên Thiệu.
Quách Gia lại chẳng để ý nhiều đến vậy, mới thong thả mà rằng:
— Viên Bản Sơ ngoài thì được tiếng khoan hòa mà bên trong đố kị, ngoài mặt thì nhân từ đức hạnh mà bên trong thì lòng lang dạ sói, hẳn mọi người ở đây ai nấy đã rõ. Khi xưa Trương Đạo cắt máu mà thề đi du thuyết, khiến Hàn Phức phải nhượng đất Ký Châu, nhưng lại vì nhận chiếu vời từ Tây kinh, cớ truyền ban tước mà bị đồ sát; Lưu Huân trung hiếu lưỡng toàn, nhưng lại vì đi sứ mà bị sát hại; Lã Bố lập công phá giặc Hắc Sơn, buông lỏng quản thúc sĩ tốt, lúc thỉnh binh cũng chẳng thể tự mình đi thì cũng đành thôi, Viên Thiệu lại còn cho người hành thích. Đủ gương tày liếp soi ra đếm không hết, đối đãi với nhân sĩ thiên hạ như thế, há ai còn dám lập công dựng nghiệp? Chỉ mấy câu ấy thôi mà từng lời từng lời như cứa vào cổ Viên Thiệu, xưa nay thảy đều là hắn hành sự nhưng không che giấu được nhưng điểm yếu chí mạng này.
Tuân Diễn cũng phụ họa thêm:
— Dùng người, cao hay thấp là có thể thấy ngay ở điểm đó. Đại tướng quân dùng những người như Trình Trọng Đức, Mao Hiếu Tiên, Mãn Bá Ninh, Tiết Hiếu Uy thảy đều xuất thân bần hàn, xét tài trí mà tuyển, không phân biệt sang hèn quý tiện là vậy. Trong khi Viên Bản Sơ bốn đời tam công, những người mà Bản Sơ dùng vốn đều là cường hào thế gia, chỉ xem xuất thân mà xét người nên khó tránh khỏi thiên kiến. Trong khi lại chuyên dùng người Hà Bắc, không xót kẻ đường xa đến quy phụ, nên càng khó lấy được lòng người. - Câu cuối cùng cũng thực là tự đáy lòng mà ra. Bắt đầu từ khi Viên Thiệu vào Ký Châu liền giao kết, bắt tay hợp tác với các nhân sĩ địa phương, thay thế dần những nhân vật trong bè đảng cũ. Chính vì thế đám nhân sĩ ngoại tịch từ bên ngoài đến như Quách Đồ, Tân Bình, Tuân Thầm, được trọng dụng giờ cũng chỉ còn như lông phượng vảy lân mà thôi, phần lớn những chức vị trọng yếu hơn đều đã bị người Hà Bắc bản địa nắm giữ. Nay Tuân Diễn đến đây, danh nghĩa là về với triều đình phò tá thiên tử, nhưng kỳ thực là xét thấy Hà Bắc đã không còn tiềm lực để phát triển tiền đồ, không còn đất dụng võ, chẳng còn nơi tiến thủ, nên mới coi đây như thay đổi môn đình mà đi theo và dựa vào Tào Tháo.
Tào Tháo nghe đám mưu sĩ nói về Viên Thiệu như vậy, trong lòng lại vô cùng cao hứng nên cũng cố ý giễu rằng:
— Ta và Viên Bản Sơ đã là đồng liêu, lại là bằng hữu cũ. Khi xưa cùng dấy cử nghĩa binh thảo phạt nghịch thần, mấy năm nay cùng nương dựa, cùng tương trợ lẫn nhau thì hà cớ gì lại phải phân biệt vậy?
Quách Gia biết Tào Tháo đang ngầm tỏ ý còn chưa thực sự tín nhiệm mình và Tuân Diễn, mới nghiêng người cười mà rằng:
— Tại hạ xin được hỏi Đại tướng quân, Viên Thiệu nhân khi Trần Cung, Lã Bố làm loạn mà đòi gia quyến tướng quân làm con tin, sau lại chiếm đất Đông quận của Duyện Châu, đây có phải là tương trợ dựa vào nhau đó chăng?
Tào Tháo đỏ mặt, bấy giờ mới ý thức được rằng những lời mình nói cũng mang vài phần giả dối. Quách Gia thấy Tháo mặt mày biến sắc, liền đứng dậy vòng tay thi lễ, cười khà khà, lại cố ý hỏi tiếp rằng:
— Tại hạ còn có một chuyện chưa rõ, tướng quân tuy là nhân sĩ Dự Châu, nhưng cử sự ở Duyện Châu, binh mã quan viên lớn nhỏ đa phần xuất thân từ đây, như nay phụng nghênh thiên tử, không chịu đưa hoàng đế dời đô đến Trần Lưu mà đi sang Hứa huyện dựng lại triều đình, vậy rốt cuộc là cớ chi đây?
“Tránh xa đao kiếm của Viên Thiệu mà thôi!” Tào Tháo luôn chôn sâu giấu kỹ lý do này trong lòng, cũng chưa có ai dám công nhiên thẳng thắn hỏi Tháo như thế, không ngờ Quách Gia hôm nay vừa đến đã khơi ra.
Tuân Diễn thấy Tào Tháo không nói, liền vuốt râu mà rằng:
— Đại tướng quân dấy cử đại nghĩa vì thiên hạ, phụng mệnh thiên tử mà đem quân chinh phạt, tất yếu phải tận thu thiên hạ cát cứ, quét trừ khói lửa bốn phương. Nhưng Viên Thiệu nay đã chiếm được đất Ký, Thanh, Kinh cả ba châu, duy chỉ có Công Tôn Toản tạm coi còn đang thoi thóp, Hắc Sơn Trương Yên gàn dở dựa vào chút địa thế hiểm trở, nhưng đều không thể tranh phong được với Viên Thiệu. Tướng quân thử nghĩ, nhiều thì ba năm, ít thì hai năm, đất U Châu cũng sẽ thuộc cả về hắn, đến lúc đó Viên Thiệu ngồi ôm cả đất bốn châu, liệu rằng chỉ cần thiên tử ra một đạo chiếu lệnh thì có thể khiến hắn cởi giáp quy hàng, vào triều giao hết binh quyền chăng? Tướng quân cùng Viên Thiệu sớm muộn tất sẽ phải đánh một trận đó!
— Ài dà... - Tào Tháo thở dài, - Ta tuy đã có hai châu Duyện, Dự, nhưng từ khi họa loạn tới nay lại chịu tổn hại nặng nề nhất, đã thế còn luôn ở trong đất bốn bề thọ địch. Nào là Tây Lương lăm le cướp đất, nào là Viên Thuật xâm chiếm luôn luôn, nào là nạn châu chấu hoành hành, trăm họ mười nhà đến chín nhà trống, lương thực thất thu, quân binh không đủ, thành trì hư hại, khí giới thô sơ, dựa vào thực lực như vậy sao có thể đấu cùng Viên Thiệu một trận đây?
Quách Gia vẫn bụm miệng cười mà rằng:
— Đại tướng quân chớ lo, khi tướng quân còn chưa theo phụng thiên tử thì thực sánh không nổi một hai với Viên Thiệu, nhưng nay có được thiên tử coi như đã có được một nửa rồi. - Quách Gia đi đi lại lại, - Công Tôn Toản như con hổ mệt mỏi nhưng cố cắn càn, dẫu sao vẫn còn lại chút uy danh; Trương Yên đảng Hắc Sơn chui lủi đánh lén cũng đã nhiều năm nên giảo hoạt dị thường. Nhưng hai kẻ địch này chẳng cần đến một sớm một chiều Viên Thiệu cũng có thể phá, tướng quân nhân cơ hội này phải chăng nên nam diệt Viên Thuật, đông lấy Từ Châu, tây định Quan Trung, hình thành thế bốn châu, đến lúc đó thời có thể cùng Viên Thiệu đối trận mà quyết một phen sống mái rồi!
Quách Gia vân vê chòm râu, lại cười khà khà:
— Trước tiên nên dẹp yên Nam Dương Trương Tú.
Trương Tú là cháu Trương Tế, bộ tướng cũ của Tây Lương, làm quan đến chức Kiến Trung tướng quân, ban đầu vốn theo thúc phụ lĩnh quân đóng ở Hoằng Nông. Khi thiên tử về đông, Trương Tế nửa thiện nửa ác lại do dự không quyết đoán, ý muốn điều đình, hòa giải bên trong, kết quả là triều đình không đếm xỉa đến những gì tốt đẹp của hắn khi trước, bọn Lý Thôi, Quách Dĩ cũng oán hắn chẳng đồng tâm, lại thêm quận Hoằng Nông thiên tai liên tiếp thiếu thốn lương thảo, quân binh ngày càng suy yếu nên hắn đành phải dẫn quân xuống phía nam cướp bóc lương thực. Chỉ vì đất kinh kỳ hoang lương tàn phá không còn gì, Trương Tế mới dẫn quân ra khỏi Quảng Thành quan, đánh giết cướp phá đến tận Nhương huyện ở Nam Dương trên địa bàn của Lưu Biểu, kết quả là bị tên lạc bắn chết trong đám loạn quân. Cháu của hắn là Trương Tú bấy giờ mới thành chủ soái của đám tàn quân ấy. Lưu Biểu không những không đuổi Trương Tú đi, còn cho phép hắn dẫn quân đóng ở một dải Uyển Thành làm bình phong phòng ngự phương bắc đánh xuống.
— Ngươi nói là thằng nhãi con Trương Tú đó chăng? - Tào Tháo vốn không coi hắn ra gì, - Dấy cử đại quân thảo phạt nghịch thần diệt trừ đại ác, sao phải so đo với thằng địch nhãi nhép ấy?
— Tướng quân nói sai rồi... Cát cứ Quan Trung có bọn Lý Thôi, Quách Dĩ, Đoàn Ổi không dưới mười tên, Tây Lương còn có bọn Mã Đằng, Hàn Toại, Tống Kiến, thời động đến là chúng kéo cả ổ, trong khi đó Tam Phụ hoang phế, không phải là nơi có thể lấy được. Lưu Bị ở Từ Châu lực mỏng thế yếu, thêm cả Lã Bố đóng trong đất Hạ Phì, hai nhà vẫn ngấm ngầm đấu đá, lại thêm Viên Thuật lúc nào cũng chực đánh chiếm, ba nhà ấy vẫn đương chế ước mà giằng co, tạm thời không phải suy nghĩ. Tướng quân nhân cơ hội nên bình định Nam Dương trước để trừ đi mối họa về sau. - Quách Gia xòe ba ngón tay rồi tiếp, - Thứ nhất, cát cứ Trung Nguyên duy có Trương Tú thế lực yếu nhất, chọn hồng nên chọn quả bấm mềm nhất; Thứ hai, Trương Tú vào đóng ở Uyển Thành chưa lâu, căn cơ không chắc sẽ đứng không vững; Thứ ba, Nam Dương gần Hứa huyện nhất, nếu không đánh lấy, tật nhỏ sẽ khó tránh dưỡng thành bệnh nặng vậy.
— Được! - Tào Tháo nghe đoạn mừng rỡ, tỏ vẻ khâm phục, - Ta thấy hãy còn điểm thứ tư, nay mới nắm chiếu mệnh triều đình, thử vâng mệnh trời mà thảo phạt bọn bất nghĩa, coi như đem thằng nhãi con Trương Tú ra thử đao xem có bén... - Tháo còn chưa nói xong liền tỏ vẻ nghĩ ra điều gì đó, - Có điều, trước khi dẹp Trương Tú, thì phải trừ khử bọn Hàn Tiêm, Dương Phụng, hai tên này đóng tại Lương huyện, gần Hứa Đô trong tấc gang. Nếu không tiêu diệt bọn chúng, ta không an tâm mà xuất binh.
— Việc này tướng quân hà tất phải lao tâm. Dương Phụng, Hàn Tiêm vốn xuất thân là giặc Bạch Ba, thảo khấu cướp bóc lâu ngày quen thói, không thạo đồn trú một chỗ mà tự cung tự cấp, tướng quân chỉ cần phát binh phô trương thanh thế, một trận có thể làm chúng sợ mà chạy. -Quách Gia cười khoan khoái, - Hạ được Trương Tú xong, chúng ta có thể quay sang tính sổ với Viên Thuật.
— Viên Thuật cũng là một tay kình địch, - Tuân Diễn nói xen vào, - Đất Hoài Nam người đông vật nhiều, của cải giàu có, lại thêm bộ hạ hắn là Tôn Sách dũng mãnh thiện chiến. Tên Tôn Sách đó trước từng đánh bại Lưu Do, rồi lại thắng Vương Lãng ở Cối Kê, Thái thú Dự Chương là Hoa Hâm cũng đã nguy cấp lắm rồi!
Quách Gia liếc mắt:
— Hưu Nhược huynh nói sai rồi. Tôn thị và Viên gia vốn không phải là một. Tuy Viên Công Lộ coi hắn như con, nhưng tên Tôn Sách đó một mình mở cõi Giang Đông, tâm chí ngày càng lớn, đâu có thể cứ ngồi mãi dưới trướng Viên Thuật? Ta liệu rằng hai tên này ắt sẽ đường ai nấy đi.
Tuân Diễn gật gật đầu:
— Hổ thẹn hổ thẹn, ta quả biết không bằng Phụng Hiếu rồi!
Quách Gia lại phẩy tay:
— Quân tử để tâm đến cái đức, tiểu nhân mong nhận được cái lợi. Hữu Nhược huynh coi việc vong ân phụ nghĩa kia không đáng để tâm, đã đủ thấy huynh đường đường quân tử rồi vậy!
Tào Tháo không nhịn được cười: “Tên tiểu tử này thật miệng lưỡi, rõ là bác lời Tuấn Diễn, lại còn chọc khéo người ta nữa.”
— Huống hồ... - Quách Gia bất ngờ trở nên đĩnh đạc mà nói, - Viên Thuật ngầm giấu ngọc tỷ truyền quốc, lòng đã ôm sẵn mưu muốn tự lập triều đình, thiên hạ không ai không biết, không ai không hiểu. Kẻ âm mưu đại phản nghịch chính là kẻ địch chung, chính đạo chính nghĩa thì ai ai cũng giúp, phi đạo bất nghĩa thì không ai theo giúp, đường đi của hắn ngày càng thu hẹp. Chưa biết chừng ngày sau còn suy đồi cùng cực, đại tướng quân bất tất phải thân chinh xuất mã, cũng chưa biết được, chỉ cần bọn tỳ tướng dẫn quân đi đã có thể phá được rồi.
Tào Tháo chợt cảm thấy họ như đang nói hùa theo mình, mới vuốt râu cười mà rằng:
— Ta đã phụng mệnh thiên tử mà dựng lại triều đường, xã tắc nhà Hán từ nay về sau không phải lo lắng nữa, xem Viên Công Lộ hắn còn dám đi ngược chính đạo muốn tự lập nữa hay không?
— Dám! - Quách Gia nói chắc như đinh đóng cột, rồi lại hạ giọng vẻ thần bí mà rằng, - Tướng quân còn chưa rõ sao? Tên Viên Công Lộ cũng thuộc loại phi phàm đó.
— Ủa? - Lời vừa nói ra lập tức thu hút sự chú ý của mọi người, Tào Tháo vội hỏi, - Ta và Viên Thuật cũng xem như là chỗ qua lại cũ, nhưng không biết hắn có chỗ nào phi phàm?
Quách Gia lắc đầu tỏ vẻ trịnh trọng mà rằng:
— Người và súc sinh trên thế gian có sự khác biệt rất lớn. Người thì biết xấu hổ nhưng không biết thế nào là đủ, còn súc sinh thì biết thế nào là đủ nhưng lại không biết xấu hổ, còn như Viên Công Lộ, vừa không biết thế nào là đủ vừa không biết xấu hổ là gì!
— Ha ha ha... - Tào Tháo, Tuân Úc, Tuân Diễn không nhịn được cùng cười lớn. “Rốt cuộc tên tiểu tử này lại quay sang mắng người ta, như thế chẳng phải nói Viên Thuật chẳng bằng loài súc sinh đó ư!”
Tào Tháo xoa xoa bụng rồi chỉ Quách Gia khẽ cười mà rằng:
— Khiến Tháo thành được đại nghiệp ắt là người này!
Quách Gia chọc cười cả đám trong khi bản thân lại không cười gì, nghe thấy Tào Tháo mở lời khen như vậy mới cung kính vòng tay mà nói:
— Đại tướng quân là chủ của tại hạ vậy!
Tào Tháo vỗ đùi cười lớn:
— Được! Thảy đều theo lời của Phụng Hiếu, trước hết sẽ dẹp Trương Tú, sau đó đánh với Viên Thuật, kế đến bình Lã Bố, sau cùng sẽ thôn tính đất Hà Bắc.
— Đại tướng quân nói thế hơi sớm. Dẹp Trương Tú, đánh Viên Thuật, bình Lã Bố chẳng qua cũng là kế hoạch chúng ta xác định nhất thời, kế hoạch thì chẳng bao giờ theo kịp được trước sự biến hóa thay đổi khôn lường. Chưa biết chừng ngày sau, những việc chúng ta đang nói đang làm đây lại chẳng phải như vậy. Cũng chưa biết được. - Quách Gia nói lời này rồi cười đẩy ẩn ý, đoạn lại tiếp rằng, - Cái gọi là “binh vô thường thế, thủy vô thường hình” tức là gì? Binh lực có lúc mạnh lúc yếu, thế thời lực lượng khác nhau, nước tùy theo địa hình địa thế hoặc vật chứa đựng mà có hình dạng khác nhau, chúng ta chính là tùy cơ ứng biến ở chỗ đó vậy.
— Còn một chuyện nữa Đại tướng quân chớ có bỏ qua. - Tuân Diễn lại nói thêm, - Bất luận thế nào, tướng quân và Viên Thiệu cùng là dấy cử nghĩa binh, giờ mé nam chưa yên ổn, không thể cùng hắn tranh phong, cần phải xin triều đình ban cho hắn quan cao lộc hậu để vỗ về, lại tiện bề phủ dụ.
Tào Tháo trầm ngâm không nói. Trước sau Viên Thiệu vẫn là mối lo lớn nhất trong lòng Tháo. Lúc này tuyệt đối chưa thể rước phiền phức, tuy đã rời Duyện Châu về gây dựng triều đường, nhưng sự uy hiếp từ những mối lo xung quanh lại không nhẹ đi chút nào!
Bấy giờ Trình Dục, Từ Đà ôm rất nhiều trúc giản đi vào. Quách Gia, Tuân Diễn thấy vậy lập tức đứng dậy cáo từ:
— Đại tướng quân vẫn còn công vụ bên mình, chúng tại hạ không tiện làm phiền nữa, xin tạm cáo lui.
— Nhị vị đường xa mà tới, xin hãy tạm nghỉ trước, việc ăn nghỉ đã sắp đặt đâu đấy, rồi ta sẽ giao trọng trách! - Tào Tháo nói đoạn đích thân tiễn ra tận ngoài sảnh, thấy Tuân Úc cũng muốn giúp huynh trưởng việc nhà, liền vội kêu lại, - Văn Nhược, ngươi tạm lưu lại, ta còn có việc muốn bàn với ngươi... Từ Đà, đem thư giao cho Văn Nhược, rồi giúp Phụng Hiếu, Hữu Nhược hai người xử lý việc gia tư.
Từ Đà nghe Tào Tháo nói vậy thì trong lòng không vui. Thời gian Từ Đà theo Tào Tháo cũng đã lâu, thế mà cả ngày chỉ giúp Văn Tông làm những việc vặt chứ không được trọng thị như bọn Tuân Úc, Mao Giới, Trình Dục, đến cả đám sau này mới được đề bạt tiến cử như bọn Mãn Sủng, Tiết Đễ, Vương Tư cũng không bằng. Nay Quách Gia, Tuân Diễn mới vừa từ Hà Bắc đến, chưa có chút công tích gì thế mà bản thân mình đã phải phục dịch cho bọn chúng, hỏi sao Từ Đà tâm phục cho được? Dẫu biết không vui vẫn là không vui, Từ Đà cũng không dám trái ý, đành đưa đống thư sang cho Tuân Úc rồi dẫn hai người đi mau.
Trình Dục ôm đống trúc giản là danh sách các quan, Tào Tháo lệnh cho Trình Dục cùng Đổng Chiêu xem xét ai công ai tội trong triều, muốn “thưởng người có công, phạt kẻ có tội, trọng người tiết tháo”. Trình Dục lĩnh mệnh liền vất vả ba ngày, hỏi thăm không ít kẻ mới kê ra được danh sách chi tiết như thế.
— Đây là những người có công lớn trên đường cứu giá? - Tào Tháo đón lấy danh sách rồi đặt lên trên án, - Văn Nhược, theo ngươi nên phong thưởng thế nào?
— Tấn phong liệt hầu là được.
Tào Tháo cúi đầu xem kỹ danh sách: Vệ tướng quân Đổng Thừa, Phụ quốc tướng quân Phục Hoàn, Thị trung Chủng Tập, Thượng thư bộc xạ Chung Do, Thượng thư Quách Phổ, Ngự sử trung thừa Đổng Phân, Bành Thành tướng Lưu Ngải[3], Tả bằng dực Hàn Bân, Đông Lai Thái thú Dương Chúng, Nghị lang La Thiệu, Phục Đức, Triệu Nhuy.
Tào Tháo xem xong không nói năng gì, cầm bút lên viết thêm đằng sau hai chữ “Đinh Xung”, đoạn mới gật đầu mà rằng:
— Là mười ba người này đó!
Tuân Úc thấy Tháo thêm tư đảng của mình mới nói chen vào:
— Đinh Ấu Dương tuy một lòng bảo vệ thánh giá, nhưng vẫn chưa lập được đại công, cùng hàng với những vị trên có hợp chăng?
— Sao lại không có công? - Tào Tháo hỏi ngược lại, - Đinh Xung gửi thư cho ta, thủ xướng việc đón vua. Nay lập triều tại Hứa Huyện cũng vốn là kế sách của hắn, những việc này không tính là công lao sao?
“Với tướng quân thì đương nhiên là có công...” Tuân Úc thấy Tháo cưỡng từ đoạt lý, định tiếp song lại thôi không nói gì nữa.
Tào Tháo lại cho rằng mình có lý:
— Chung Do đã ở trong thì coi như thôi, nếu không phải Đổng Chiêu từ Hà Nội tới, tư cách và lịch duyệt còn quá mỏng, ta còn muốn cho hắn một chức hầu nữa cơ.
Trình Dục không giống Tuân Úc mà nói lý, chỉ nhắc nhở:
— Phải chăng cũng nên thêm lão Lưu Mạc?
Tào Tháo phẩy tay:
— Thôi... Lưu lão đại nhân sau khi được phong Lang Nha cũng đã đủ tôn quý rồi. Hơn nữa, ông ta tính khí ương ngạnh, ta biểu tấu công lao ông ta không tốt, có khi còn gậy ông đập lưng ông ấy chứ. - Đây là lý do có thể công khai, còn một lý do không thể công khai. Đó là đã có một Vương tử Phục làm Thiên tướng quân rồi, Tào Tháo hẳn không muốn để thế lực tông thất tiếp tục bành trướng.
— Vậy nên chăng chúng ta tặng ông ta ít đồ quý? - Trình Dục lại đề xuất.
— Đường đường là tông thất, thứ gì quý mà chưa từng thấy qua? Ông ta chẳng những không để mắt lại còn cho rằng chúng ta thường tục... Ta thấy thế này, chúng ta phong thưởng cho tam công một ít cống lễ, tiên táo, sau đó cũng dành một phần tương tự cho ông ta. - Tào Tháo lim dim mắt vẻ đắc ý, - Ông ấy trọng danh tiết, nếu biết mình cũng được đãi ngộ như tam công, hẳn còn thích hơn được mười xe vàng ấy chứ!
Trình Dục và Tuân Úc nhìn nhau, thầm phục. Tào Mạnh Đức bắt mạch cho mấy ông già đó thật chuẩn. Chợt lại nghe Tào Tháo hỏi:
— Có công tạm gác sang một bên, còn tru sát kẻ có tội nữa, có tìm được người nào thích hợp không?
Nói đến chuyện tru sát kẻ có tội, việc này có vẻ hơi khó khăn. Xét cho cùng thì trong triều văn võ bá quan đều là những người cùng thiên tử vào sinh ra tử, ai không được coi là trung can nghĩa đảm chứ? Trình Dục hỏi khắp quần thần mới miễn cưỡng tìm ra một người:
— Người có tội là Vũ lâm lang Hầu Chiết. Quân nhà vua khi thua ở Hoằng Nông, Xạ thanh hiệu úy Thư Tuấn cùng Hầu Chiết thọ thương mà bị bắt, Thư Tuấn thà chết chứ không chịu khuất phục, mắng Lý Thôi nên bị giết. Hầu Chiết lại quỳ xin tha mạng để an thân, sau nhân loạn mà chạy trốn. Tội danh của người này có đáng giết chăng?
Kỳ thực định người này tội chết cũng khá khiên cưỡng. Tuy Hầu Chiết cầu xin Lý Thôi tha mạng, nhưng là bảo toàn tính mạng để quay về tiếp tục bảo vệ thiên tử, nếu vì điểm này mà xử tử người ta thời tựa như cố bẻ cong cho thẳng nhưng cong lại hoàn cong. Nhưng không ngờ Tào Tháo lại không vừa ý:
— Hầu Chiết chẳng qua quanh quẩn một chân Vũ lâm lang, giết hắn thì lập được uy gì chứ?
— Theo Đại tướng quân thì thế nào?
Tào Tháo chắp tay sau lưng đi đi lại lại:
— Lấy danh sách các quan ra đây.
Không biết kẻ nào sẽ gặp xui đây, Trình Dục bưng mấy cuộn danh sách các quan lại, Tào Tháo liền cầm hạng sáu trăm thạch trở lên, mở ra xem một nửa, cuối cùng nở nụ cười:
— Có hai kẻ dâng đến cửa rồi. Thượng thư Phùng Thạc, Thị trung Đài Sủng, hai tên gian nịnh tiểu nhân này còn chưa chết? Đúng lúc để giết bọn chúng để làm gương.
Thượng thư Phùng Thạc, Thị trung Đài Sủng đều xuất thân từ Hồng Đô Môn[4] từ thời Linh đế, ngày trước từng kết bè kéo cánh với hoạn quan. Tính kỹ ra, cha của Tào Tháo là Tào Tung đã phải mất một ức tiền mới mua được chức Thái úy, ngại vì gia quyến thân thích của thánh thượng mà tránh chưa dùng tới hai tên này. Sau đó Hà Tiến bị giết, Đổng Trác quay lại vào kinh, bọn Viên Thiệu, Tào Tháo còn chưa kịp tính sổ với bọn họ thì thiên hạ đã đại loạn. Như nay bá quan ở Tây kinh theo thánh giá mà về đông, hai người này vẫn còn trong đó.
— Bọn chúng có tội sao? - Trình Dục chưa từng trải, chưa rõ ẩn tình.
— Hai tên này đáng phải chết từ sáu năm trước rồi, giết bọn chúng thì nhất cử lưỡng đắc, còn có thể giúp được đám danh sĩ trong sạch đòi được nợ cũ, nhân đó lại chỉnh đốn được phong khí. - Tào Tháo gom trúc giản lại, - Chính là ba người này, một Thượng thư, một Thị trung, thêm một Vũ lâm lang, đủ để lập uy rồi.
— Vâng. - Trình Dục lĩnh mệnh.
— Thư Tuấn mà phải chết thì đúng là đáng tiếc. - Tào Tháo nhắc đến người này thì mặt có nét cảm động. - Thư Tuấn xuất thân thấp kém, mười mấy tuổi đã làm binh lính, đúng là từ một tên tiểu tư mã trong bắc quân mà đi lên vậy, đánh Khăn Vàng dẹp phản loạn đều ra trận không ít, chết đi cũng là đáng tiếc. Đã bị hại ở Hoằng Nông, vậy nay truy tặng là Hoằng Nông thái thú, vỗ về an ủi gia quyến hắn. Khởi thảo biểu chương các công việc đó ngươi hãy cùng Đổng Chiêu bàn bạc mà làm.
Thấy Trình Dục đi rồi, Tuân Úc mới hỏi:
— Đại tướng quân giữ tại hạ lại có việc chi dạy bảo?
— Ta muốn ngươi nhận chức Thượng thư lệnh.
— Hả?! - Tuân Úc giật mình.
Thượng thư lệnh tuy là quan ở mức ngàn thạch, nhưng thực tế chức vị quyền hành còn lớn hơn cả tam công, chủ việc tham tấu những việc cơ yếu, tổng quản các việc giềng mối, là chức quan đứng đầu Lục thượng thư, ngang với tay phó của Tào Tháo vậy. Nhưng thường nói, quan chẳng bằng quản, Thượng thư lệnh cùng Tư lệ hiệu úy và Ngự sử trung thừa gọi chung là “tam độc tọa”[5], phải xử lý với hầu hết mọi việc trong triều, Tào Tháo tiếng vậy song còn phải ra ngoài đánh trận, nói thế có nghĩa rằng Tuân Úc chính là kẻ chủ quản thực sự chốn triều đường.
— Ngươi nhất quyết không được chối từ. - Tào Tháo lim dim mắt, - Nay triều đình lập lại còn chưa ổn định, khi ta xuất binh thì bắt buộc phải có người để còn thống quản mọi việc triều chính mới đặng. Ngươi xuất thân danh môn chính phái, xử sự từng trải, làm người có nhã lượng, lại ở Dự, Duyện hai châu có uy vọng cao, Thượng thư lệnh chức ấy không ngươi thì ai kham đặng?
Tuân Úc chắp tay mà rằng:
— Tại hạ đã lâu không làm quan trong triều, kinh nghiệm không mấy, gánh lấy chức ấy sao để tâm được!
Tào Tháo dự là Úc sẽ chối từ mới hỏi nhỏ rằng:
— Văn Nhược, đã rước thiên tử về đây, chúng ta không thể bỏ đó. Văn Nhược không đương nổi chức Thượng thư lệnh ấy, vậy theo Văn Nhược, ngươi thấy ai có thể phù hợp mà đảm đương được?
Câu hỏi ấy đã làm khó Tuân Úc, nếu Úc không nhận, sẽ không ngoại trừ hai kết quả: Một là những nhân vật trong phe cánh cũ của triều đình sẽ ra nhận, đến lúc đó sẽ triệt hết binh quyền của Tào Tháo, chư tướng tuyệt chẳng cam tâm; hoặc là Tào Tháo sẽ cử người khác dưới trướng, có thể là bọn Trình Dục, cũng có thể là cánh Đổng Chiêu, bọn chúng tâm địa khó lường mà chiếm giữ lấy chức ấy, thiên tử liệu còn có những ngày yên ổn nữa không?
— Thế nào? - Tào Tháo cười ha hả nhìn Tuân Úc, - Ngươi có thể tìm được người thích hợp hơn chăng?
Tuân Úc đành lắc đầu.
— Nếu đã không có ý gì nữa, vậy ngày mai ta sẽ chính thức dâng biểu tấu lên hoàng thượng cho ngươi làm Thị trung, lĩnh chức Thượng thư lệnh, chuyên việc theo giá.
Đây cũng là việc khác thường, Thị trung tuy không có mấy thực quyền, nhưng được ăn bổng lộc hai ngàn thạch, chuyên việc bố trí các sủng thần giúp nhà vua, có thể tùy theo xa giá hầu cận. Điều đặc biệt nhất chính là cái “chuyên việc tham thừa”, thiên tử mà xuất hành có xa giá hầu đoàn đâu đấy, lại chọn trong số các Thị trung ra một vị học vấn uyên bác để ngồi cùng giảng giải địa lý, hầu chuyện thiên tử.
Thường thì chức tham thừa người không cố định, tùy theo ý thích, tâm trạng của nhà vua mà định, vua muốn để bất kỳ vị thị trung nào theo giá cũng được. Nhưng từ Tuân Úc được “chuyên việc tham thừa”, tức từ nay về sau, ngoài Úc ra, các Thị trung khác không còn với được tới cơ hội ấy nữa. Kỳ thực, Tào Tháo sắp đặt như vậy, ngoài việc đã ban cho Úc đủ vinh sủng, là còn có ý muốn Úc giám sát thiên tử vậy.
Chức vị đã có, bổng lộc cũng có, mặt mày cũng có, nhưng không hiểu sao Tuân Úc vẫn không vui nổi, chỉ thở dài vòng tay mà rằng:
— Tạ ơn tướng quân vun vén.
— Không phải tự làm khó mình như thế, ta biết có những việc vượt quá cương thường lễ pháp, ngươi làm không được. - Nói đoạn Tào Tháo cầm một quyển biểu chương trên án lên, - Ta tấu xin Đinh Xung thay ta làm Tư lệ hiệu úy, Chung Do làm Ngự sử trung thừa, “tam độc tọa” này trách nhiệm hai bọn họ sẽ thay ta gánh vác phần nào.
— Tạ ơn tướng quân.
Tuân Úc trong lòng đã rõ, Tào Tháo đã nghênh rước thiên tử thì tất sẽ phải chuyên quyền. Ngự sử trung thừa trông coi các việc giám sát, Tư lệ hiệu úy quản các việc công tội, thêm Thượng thư lệnh nay sẽ thống quản các việc hành chính. Ba chức vị trọng yếu này đều đổi thành người của Tào Tháo, e sau này các quan lại địa phương rồi cũng sẽ phải thay đổi một loạt.
Quả như sở liệu, Tào Tháo lại hỏi:
— Chỉ duy còn khuyết một chân Hứa Đô lệnh, thiên hạ đệ nhất huyện này ai đương nổi đây?
— Hiếu Tiên thế nào? - Tuân Úc nghĩ đến Mao Giới là người đầu tiên.
— Không được! - Tào Tháo phẩy tay, - Hiếu Tiên đã được bổ làm Đông tào duyện trong mạc phủ, chuyên quản các việc tuyển lựa quan lại, nhân tài, gánh này quá nặng, ngoại trừ hắn người khác không gánh nổi, không động vào hắn được.
— Vậy điều động Vạn Tiềm đảm đương thì thế nào? - Tuân Úc lại đề cử một người có đức độ.
Tào Tháo vẫn lắc đầu:
— Vạn Tiềm có nhiều kinh nghiệm lịch duyệt ở Duyện châu, dựa vào hắn có thể an lòng dân ở đó, hắn cũng không thể động đến được... Ta thấy thế này, Mãn Bá Ninh, Tiết Hiếu Uy, hai người chọn bổ nhiệm một người!
Tuân Úc suýt toát mồ hôi, Mãn Sủng và Tiết Đễ đều là người làm việc hà khắc gần như quan lại tàn ác. Người như thế mà đảm đương chức thiên hạ đệ nhất huyện lệnh, nếu đánh bọn quyền quý thì cố nhiên là tốt, nhưng khó tránh khỏi làm việc nóng nảy thiên lệch. Tào Tháo đoán được Úc sẽ không mấy tán đồng, mới giải thích mà rằng:
— Ngày trước ta còn làm Bắc bộ úy ở Lạc Dương, từng có quyền dùng trượng đánh chết Kiển Thạc, nên hồi ấy kinh sư trị an tốt hẳn. Ta nghĩ đất kinh sư, cần có một nhân vật thuộc dạng cứng rắn kiểu mặt sắt vô tư thì mới trấn trụ được.
Tuân Úc biết tâm ý Tào Tháo đã quyết, dứt khoát lựa lấy một trong hai, vậy chọn một người có thiện tâm hơn chút, liền nói:
— Mãn Bá Ninh có thể kham nổi chức này.
— Được, vậy thì dùng hắn.
— Đã phân rõ quyền hành chức trách, vậy thì lệnh của triều đình mà hoàng thượng ban bố cũng nên có khống chế.
Tào Tháo lạnh lùng mà rằng:
— Điều Đổng Chiêu lĩnh nhậm lấy Phù tiết lệnh!
Phù tiết lệnh tuy chỉ là quan ở hàng sáu trăm thạch, nhưng lại không tòng thuộc bất kỳ ai, chưởng quản tất thảy ấn tỷ, sứ tiết, hổ phù, là cửa cuối cùng khi triều đình ban bố chính lệnh và lại cũng là người thay thiên tử cất giữ ngọc tỷ.
Tuân Úc phân vân chưa quyết, lại nghe Tào Tháo nói tiếp:
— Các chức Lang thất thử thảy đều tử thương hay bị thương nặng cả, sót lại còn không quá mười người, ta xem vị trí Quang lộc huân chúng ta không cần tranh nữa, để lại cho cựu thần của Tây kinh là Hoàn Công Nhã!
Quang lộc huân là chưởng quản việc bảo vệ thiên tử, nhưng mà nay chức Nam quân thất thử, danh thì còn mà thực quyết không có, Tào Tháo có cố lôi kéo về cũng không có ý nghĩa gì. Hoàn Công Nhã tên là Hoàn Điển, ngày trước đấu tranh phản đối bọn hoạn quan, hiệu gọi “Thông mã ngự sử”, khá có danh vọng, Tào Tháo dùng hắn chẳng qua cũng là trang sức tô điểm bề ngoài mà thôi.
Vậy là đến lúc này, Tuân Úc làm Thượng thư lệnh, Đinh Xung làm Tư lệ hiệu úy, Chung Do làm Ngự sử trung thừa, Đổng Chiêu làm Phù tiết lệnh, Mãn Sủng làm Hứa Đô lệnh, từ triều đình đến địa phương, toàn bộ các quan lại đều thay bằng người của Tào Tháo. Tháo vỗ vai Tuân Úc mà rằng:
— Văn Nhược à, sau này e là hai chúng ta gần ít xa nhiều rồi. Nhớ là trong quân mà thiếu ngươi là thiếu đi người mưu chủ đó.
— Chẳng phải Phụng Hiếu đã đến rồi sao?
Tào Tháo lắc lắc đầu:
— Quách Phụng Hiếu còn trẻ quá, trong quân vẫn cần dựa vào uy vọng. Ta muốn nhờ ngươi giúp ta thỉnh một người.
— Ai?
— Lệnh điệt Tuân Công Đạt. - Tào Tháo vẫn nhớ đến Tuân Du.
Tuân Úc thoáng đỏ mặt:
— Tướng quân nói vậy chứ, Công Đạt còn nhiều hơn tại hạ hai tuổi.
Tào Tháo mỉm cười, ánh mắt lộ vẻ ngưỡng mộ:
— Ngày trước ta chỉ là thường khách của Đại tướng quân Hà Tiến, lúc đó phủ Hà Tiến tân khách nườm nượp. Trong đó, Tuân Công Đạt, Khoái Dị Độ, Điền Nguyên Hạo đều xứng bậc mưu trí kiệt xuất. Như nay Khoái Việt giúp cho Lưu Biểu, Điền Phong phụ tá Viên Thiệu, ta hy vọng có thể tranh thủ được Công Đạt tới, thay ngươi nghĩ mưu trong quân. Hiện nghe nói hắn đang lánh nạn ở Kinh Châu, chưa chịu phục theo Lưu Biểu, ta đã cho thảo sẵn một phong thư, mong ngươi cùng huynh đệ Hữu Nhược lại viết thư xem như thư nhà mà thỉnh hắn đến giúp ta.
— Việc này không có gì khó. Tướng quân không nhắc thì tại hạ cũng có ý ấy, ngoài Công Đạt ra, tại hạ còn muốn thỉnh Trọng Dự cùng tới nữa. Đương kim thiên tử cũng thích văn chương thơ phú. Trọng Dự tới bầu bạn được cùng hoàng thượng hoặc tùy tùng theo thánh giá cũng là rất thích hợp.
— Ủa? Đúng là cầu còn không được! - Tào Tháo khá tán đồng.
Tuân Trọng Dự tên gọi Tuân Duyệt, kể ra còn là tộc thúc của Tuân Úc, tuổi tác cũng chưa nhiều. Duyệt mười hai tuổi đã biết làm văn, tinh thông Xuân Thu, là người giỏi văn học hiếm thấy.
Tào Tháo càng nghĩ chuyện này lại càng thấy buồn cười:
— Ta bảo Văn Nhược này, Trọng Dự luận về thân phận thì là tộc thúc của ngươi, ngươi lại là tộc thúc của công Đạt, ba người các ngươi trên dưới cách nhau không quá mười một mười hai tuổi, danh phận thì là người của ba đời. Thảng hoặc Công Đạt mà gặp Trọng Dự, không lẽ mở miệng lại phải gọi thúc gia sao?
— Chúng tại hạ lấy tên tự mà xưng hô, không kể thân phận tôn ty. - Tuân Úc cũng cười, - Nay các ban bệ trong triều đình đều bắt đầu cần rường mối, nên cần kêu gọi đám danh sĩ về để làm lớn mạnh danh tiếng mới là chuyện phải.
— Việc này ta cũng nghĩ qua rồi, ban đầu ở Duyện Châu ta đã nghĩ đến việc vời Trương Kiệm ở Sơn Dương, nhưng lúc đó tiếng nói của ta còn chưa có trọng lượng, giờ thì có thể kêu hắn vào triều được rồi.
Trương Kiệm chính là thủ lĩnh của đảng địa phương ở đó. Ngày trước, trong phe đảng ở Sơn Dương, có chia ra là tam quân, bát tuấn, bát cố, bát cập, bát trù. Ba mươi bảy vị danh sỹ này đã kinh qua họa thanh trừ, phản loạn Khăn Vàng, loạn cát cứ, nay chỉ còn lại Trương Kiệm và Lưu Biểu là còn sống. Lưu Biểu đang còn tráng niên, mà Trương Kiệm tuổi đã bảy mươi, Tào Tháo vẫn muốn vời Trương Kiệm về để nâng cao thể diện.
— Lão nhân gia tuổi tác đã cao, hay để tại hạ tiến cử mấy vị. - Tuân Úc cứ lắc đầu, - Ngày trước Thái thú Cối Kê là Vương Lãng, Dự Chương Thái thú là Hoa Hâm, huynh đệ Hứa Thiệu, Hứa Tĩnh ở Nhữ Nam.
— Khó đấy! Tôn Sách đang hoành hành làm loạn Giang Đông, Vương Lãng thì chiến bại, Hoa Hâm đang bị vây khốn, dù có gửi chiếu thư vị tất đã có thể đến được. Còn Hứa Thiệu, Hứa Tĩnh hai huynh đệ ấy thì... - Tào Tháo như có điều gì khó nói. Năm xưa Tào Tháo đánh lừa uy hiếp Hứa Thiệu để đổi lấy cái tiếng rằng “Tôi giỏi thời trị, gian hùng thời loạn”, chỉ sợ là Hứa Thiệu đã căm tức Tháo đến cực độ.
Ánh mắt Tuân Úc chợt sáng lên:
— Hôm qua Khổng Dung ở Bắc Hải về triều, từ lâu ông ta đã nổi tiếng là hiền sĩ, sao không viện dẫn gánh vác việc chung mà trọng dụng?
Tháo có vẻ không vui: Khổng Dung và Biên Nhượng cùng nổi một thời, quan hệ giữa hai người khá tốt, mà Biên Nhượng đã bị mình giết, nếu vời được Khổng Dung nhất định ông ta cũng sẽ khó chịu, hơn nữa hắn là hậu duệ của Khổng Tử, thanh danh quá lớn, biết đâu lại khách quát át chủ... Nghĩ đến đây Tào Tháo chỉ thuận miệng mà rằng:
— Trước hết bổ làm Tướng tác đại tượng[6], sau lại bổ nhiệm thêm cũng không muộn. - Nói rồi Tháo vội lảng sang chuyện khác, lôi một cuộn trong đống trúc giản chất cao trên án, - Đây là biểu chương từ chối nhậm tước phong Vũ Bình hầu, ngươi xem giúp ta có chỗ nào chưa ổn.
Vũ Bình hầu mà Tào Tháo được thụ phong lần này chính là huyện hầu, cao hơn Phí Đình hầu khi trước một bậc. Tuân Úc nghe được vài lời ong tiếng ve, nói lần này gia phong là Tào Tháo ngầm xúi Đổng Chiêu thực hiện kế hoạch và muốn để tỏ rõ uy danh, nên mới đặc ý mà chọn ra huyện Vũ Bình trong nước Trần, lấy ý rằng dùng võ lực để bình định thiên hạ. Nếu quả thật như vậy, Tào Tháo lại viết biểu từ chối nhận, nhường chức gì gì đó, kỳ thực là làm bộ làm tịch mà tự phong tự nhường.
Tuân Úc bấy giờ cũng không nói gì nhiều, mới cầm lại thì thấy: Thần dập đầu tự kiểm điểm thấy mình tư chất ngu muội chất phác, tài chí nhỏ bé hèn mọn, tiến không có công khuông phò, lui có được cũng do nhặt nhạnh. Tuy có chút vất vả khuyển mã, nhưng cũng không phải sức của riêng thần, thảy đều nhờ binh tướng ra sức hỗ trợ. Bệ hạ trước đã truy niệm đến công lao nhỏ mọn của tiên phụ, cho thần được tập ấm nhận đất theo tước cũ, tổ khảo được soi rọi chút vinh hoa, thần nhận chút ơn huệ không dám tính kể, nay lại chưa có chút tơ tóc báo đền. Xưa vua Tề muốn đổi nhà cho Án Anh, Án Anh rằng: “Bề tôi của nhà vua đời trước và tổ phụ của thần còn ở đây, thần đâu dám được nhận thừa kế ấy”. Vậy cuối cùng trái với mệnh vua, lại thành có ý riêng. Thần dập đầu tự xét, không gánh vác được trọng trách thì ăn lộc cũ cũng đã là may mắn rồi. Trên phải làm cho lớn cái đức, dưới mang cái lợi ra mà chia, thần nay đã ba đời liên tiếp được ân sủng, đều chức ngồi chỗ cao, nhưng giữ được hay không mới là quan trọng. Mấy lời ngắn ngủi, chẳng dám đơn sai.
Tuân Úc đọc rất cẩn thận, “Tuy có chút vất vả khuyển mã, nhưng cũng không phải sức của riêng thần, thảy đều nhờ binh tướng ra sức hỗ trợ”. Đây không phải là muốn từ chối thụ phong, rõ ràng là lấy lùi làm tiến, còn đòi ân điển cho cả bọn bộ hạ. “Bề tôi của nhà vua đời trước và tổ phụ của thần còn ở đây, thần đâu dám được nhận thừa kế ấy”. Tổ phụ Tào Tháo thì có đức hạnh gì đáng kể? Chương biểu này từ đầu đến cuối rặt là hư ngụy giả dối, Tuân Úc thật không biết nên phải bình phẩm thế nào cho phải, đành đưa lại chương biểu rồi nói vui rằng:
— Án Anh điển này dùng cũng thật khéo.
— Thật sao? - Tào Tháo cũng tự cho là vậy, rồi cầm lên xem kỹ lại hồi lâu mới gật gật đầu, - Ừ, cũng tạm được đấy chứ... Ta phải ủ sẵn hai bài biểu sau. Trong sách Chu lễ có nói rằng “nhượng ba lần rồi vào miếu môn”, từ chối ba lần rồi mới nhận, người khác sẽ không thể lời ra tiếng vào gì được!
Tuân Úc biết qua mỗi lần từ chối như thế Tào Tháo sẽ làm cho công lao của mình được lộ dần ra, nhân đó cũng nâng tầm giá trị bản thân, có điều làm như vậy thực là vô cùng giả dối, cực kỳ gian xảo, chẳng có chút ý nghĩa gì cả.
— Chúa công hiện đã được thụ phong Đại tướng quân rồi, vậy tính phong cho Viên Thiệu chức quan gì?
Tuân Úc hỏi khéo nhưng cũng rất có lý, nhà Đại Hán từ khi ngoại thích là Đậu Hiến bình Hung Nô phương bắc được thụ phong Đại tướng quân đến nay, vị trí này luôn đứng đầu trong hàng ngũ bá quan, tam công dẫu tôn quý nhưng không có thực quyền, hơn nữa về mặt quan chức lại không bằng Đại tướng quân. Mà Viên Thiệu từ Hà Bắc dấy cử nghĩa binh đến nay vẫn luôn đứng đầu quần hùng thiên hạ, lại tự xưng là Xa Kỵ tướng quân, thay thiên tử viết chiếu thư, nhưng thật ra thế lực của Viên Thiệu mới thực là mạnh nhất. Giờ Tào Tháo đã chễm trệ chiếm lấy ghế Đại tướng quân, vậy thì cho Viên Thiệu làm quan gì bây giờ?
Tào Tháo trầm ngâm:
— Đại tư mã Trương Dương chiếm, Vệ tướng quân thì Đổng Thừa nắm, Xa kỵ tướng quân thì Dương Phụng giữ rồi. Ta thấy nên cho Viên Thiệu một chân Thái úy, lại lĩnh làm Ký Châu mục vậy.
— Thái úy?! - Tuân Úc lấy làm ngạc nhiên hỏi lại, -Thái úy chẳng phải là Dương Bưu rồi sao?
— Chẳng mấy mà sẽ không phải nữa. - Tào Tháo cười lạnh một tiếng, - Tên này ở Lạc Dương mời ta dùng yến tiệc, e là bụng dạ quỷ quyệt. Ta không đi hắn sẽ nghi ngờ, hôm qua đã dâng biểu triều đình, nói tuổi cao sức yếu, chủ động cáo bệnh mà miễn đi.
Tuân Úc nhắc nhở:
— Dương Chấn, Dương Bỉnh, Dương Tứ, Dương Bưu, họ Dương ở Hoằng Nông là bốn đời tam công. Huống hồ lần này Dương Bưu cũng một lòng hộ giá, lúc vất vả lăn lộn nguy nan mấy lần không tránh khỏi bị thương, nên không dễ tùy tiện mà bãi miễn quan chức của ông ta.
— Việc này không ngại, tạm chuyển ông ta sang làm Gián nghị đại phu, qua dăm bữa rồi tính tiếp... Việc này ta đã có tính toán đâu đấy. - Tào Tháo tỏ vẻ thủng thẳng.
Người đã có tính toán, nhưng không hiểu tính toán thế nào? Tuân Úc vẫn muốn khuyên giải thì chợt Mãn Sủng đi vào.
— Thiên hạ đệ nhất huyện lệnh đến rồi đây! - Tào Tháo cười khà khà châm chọc.
Tào Tháo cho rằng Mãn Sủng hẳn sẽ lấy làm lạ mà hỏi, nào ngờ Mãn Sủng cứ như cố tình không nghe, không chú ý Tháo nói gì, vội khom người vòng tay thi lễ:
— Khởi bẩm tướng quân, nay có Tòng sự là Tôn Càn, Chủ bạ Giản Ung ở Từ Châu cầu kiến!
— Cái gì?! - Tào Tháo ngỡ mình nghe nhầm, - Chẳng phải là người của Lưu Bị đó sao?
— Đúng thế. - Mãn Sủng lại cúi người, - Chúc mừng đại tướng quân, Lưu Bị đến xin theo!
Lưỡng hùng sơ hội
Trong lúc đang bận rộn khống chế quyền lực triều đình, Tào Tháo không ngờ rằng tình thế ở Từ Châu đã có những thay đổi có thể coi là long trời lở đất như thế.
Lưu Bị vốn là bộ hạ dưới trướng Công Tôn Toản ở U Châu, từng được bổ làm Bình nguyên tướng phái đến Thanh Châu. Về sau Tào Tháo lấy danh nghĩa báo thù cho phụ thân mà xâm phạm Từ Châu, bất chấp tất cả công thành đoạt đất, tàn sát trăm họ, rồi binh lực tiến thẳng đến Đàm huyện là nơi Đào Khiêm trấn giữ. Trong lúc Từ Châu đang tồn vong sinh tử, Lưu Bị lại đem một vạn quân chặn Tào Tháo tiến đến, dù bị đánh tan tác như nước chảy hoa trôi, nhưng vẫn được Đào Khiêm vô cùng tín nhiệm, biểu tấu cho làm Thứ sử Dự Châu. Tào Tháo sau vì biến loạn Trần Cung làm phản, Lã Bố xâm nhập nên đành phải quay về ứng cứu, Từ Châu cũng vì thế nên được giải nguy. Không lâu sau Đào Khiêm bệnh nặng, trước khi mất đã đem Từ Châu ủy thác cho Lưu Bị, Biệt giá Mi Chúc, Tòng sự Tôn Càn, Thái thú Quảng Lăng là Trần Đăng cùng Bắc Hải tướng Khổng Dung cùng phù Lưu Bị tiếp quản Từ Châu. Cùng lúc đó Lã Bố, Trần Cung cũng bị Tào Tháo đánh bại, chạy tới địa giới Từ Châu. Vì đều là địch nhân của Tào Tháo nên Lưu Bị khẳng khái thu nhận Lã Bố, cho phép Lã Bố ở lại đồn trú trong địa giới Hạ Phì. Trước tình thế thay đổi, đối thủ chính của họ đang từ Tào Tháo lại biến thành Viên Thuật đang tọa trấn ở Thọ Xuân tự xưng là “Từ Châu bá”.
Ba tháng trước, Viên Thuật phát đại binh đến tranh đoạt Từ Châu. Lưu Bị dẫn quân cùng Viên Thuật đối chiến ở hai huyện Hu Di và Hoài Âm, hai bên binh lực đối địch hơn một tháng bất phân thắng bại. Viên Thuật thấy không thể thủ thắng mới gửi thư cho Lã Bố, hứa đem hai vạn hộc lương để thù tạ sau khi Bố đột kích Lưu Bị. Chính lúc ấy, quân Đan Dương của Lưu Bị giữ thành Hạ Phì phản loạn, nên Lã Bố đưa quân vào thành, tình thế bỗng chốc biến thành phản khách vi chủ, Bố chiếm luôn thành Hạ Phì. Lưu Bị quân tư lương thảo mất sạch, gia quyến cũng rơi vào tay Lã Bố, nhất thời lòng quân hỗn loạn, tiếp đó liên tục bị Viên Thuật đánh cho thua to, bỏ chạy đến huyện Hải Tây, rồi hết sạch lương thảo mà đành chịu khuất nhục quay đầu xin hàng Lã Bố. Lại thêm Viên Thuật qua cầu rút ván, không đếm xỉa gì đến lời hứa hai vạn hộc lương. Lã Bố giận lắm, lập thức tiếp nhận Lưu Bị đầu hàng, không những phóng thích gia quyến mà còn đường đường chính chính đón Lưu Bị đúng theo quy chế đón Thứ sử và cho ra đóng quân ở Tiểu Bái. Hai nhà lại hòa hợp như trước và cùng dựa lưng chống lại Viên Thuật.
Chỉ vẻn vẹn hai tháng sau, Viên Thuật lệnh cho bộ tướng là Kỷ Linh thống lĩnh ba vạn nhân mã chinh phạt Lưu Bị. Lã Bố sợ Viên Thuật diệt xong Lưu Bị sẽ quay sang thôn tính mình, lại lo đắc tội với Viên Thuật mà rước họa, mới dẫn quân đến thành Tiểu Bái cùng hai nhà giảng hòa. Với tuyệt kỹ bắn kích ở viên môn, Bố đã khiến hai nhà tự bãi binh. Nhưng từ đó về sau, để tự bảo vệ mình Lưu Bị phải tự tăng cường binh mã đồn trú ở đó, việc này lại khiến Lã Bố nghi kị. Hai nhà lần thứ hai trở mặt, Lã Bố dẫn quân đột kích Tiểu Bái, lần nữa Lưu Bị lại chiến bại, lần này thực đã hết đường, chỉ còn cách muối mặt chạy sang theo Tào Tháo.
Hay tin Lưu Bị đến Hứa huyện, cảm giác trong lòng Tào Tháo lúc ấy thật khó tả. Tào Tháo ôm bụng hiếu kỳ ra tiếp đón tiền trạm là Tôn Càn, Giản Ung, cho phép mấy trăm tàn quân của Lưu Bị đóng lại phía đông thành Hứa Đô, cấp cho lương thảo vừa đủ và hẹn ngày thứ hai sẽ tiếp kiến Lưu Bị cùng thuộc hạ tại đại doanh trung quân của Tào Tháo.
Sau khi Tào Tháo biết Lưu Bị tự xưng là dòng dõi Trung Sơn Tĩnh Vương, chiếm đóng Từ Châu nhất thời, nhưng lực lượng bất quá vai diễn cũng chỉ như bọn Trương Siêu, Vương Khuông, thậm chí còn chưa được như đám Dương Phụng, Hàn Tiêm vì cứu giá nhất thời mà hiển hách. Nhưng cũng chính nhờ vai diễn này đã khiến hắn có thể dùng roi đánh Đốc Bưu phải bỏ quan mà chạy, lại dám chặn cả đại quân tinh nhuệ chỉ bằng một vạn quân binh ô hợp, có thể dám quay lại đầu hàng kẻ bội phản là Lã Bố. Còn một việc mà Tào Tháo mãi vẫn chưa rõ, một kẻ thư sinh hèn kém, dệt chiếu đánh giày, trăm trận trăm bại nhưng vì sao vẫn có thể thu hút bao nhiêu nhân vật lớn hết lòng vì hắn như thế? Lư Thực là đại nho một đời nhận hắn làm đệ tử; Công Tôn Toản là dũng tướng ở Bắc Châu cho hắn làm Quận quốc; Đào Khiêm làm chủ đất Từ Châu vậy mà khi lâm chung còn đem ủy thác đất đai lại cho hắn, Khổng Dung là danh sĩ đương thời lại chịu biểu tấu cho hắn quan chức; Mi Chúc là cường hào địa chủ nổi danh Từ Châu lại cam tâm tình nguyện vì hắn mà bôn tẩu... Ngoài ra, dưới trướng Lưu Bị vị tướng quân bắp vế này lại còn có mấy viên dũng tướng, đặc biệt là đại hán mặt đỏ dám dẫn hơn chục quân kỵ đột phá vòng vây, mà hai năm nay luôn cứ quẩn quanh trong đầu Tào Tháo.
Sớm ngày thứ hai, Tào Tháo chải đầu thay áo, ăn vận nghiêm túc khác thường, ngồi xe ngựa đỏ ra khỏi thành đến tận cửa trướng trung quân bên ngoài. Để tỏ chút uy phong trước địch nhân ngày trước, Tào Tháo lệnh cho quân binh cuốn cao rèm trướng, mưu sĩ các tướng đều đứng cả bên ngoài, lại điểm hai mươi tên thân binh lực lưỡng tinh thông võ nghệ sắp hàng đôi tay nắm trường đao chĩa lên lạnh ngắt đứng bên ngoài, còn mình ngồi ngay ngắn giữa đại trướng. Điển Vi, Hứa Chử cầm khí giới hộ vệ sát bên cạnh. Trận thế này thực đủ để dọa người!
Mọi việc cắt đặt đâu đấy, Tào Tháo mới truyền lệnh thỉnh mời Lưu Bị vào doanh. Không lâu sau đã thấy viên quan trong trướng trung quân dẫn hai người của Lưu Bị vào trước là Tòng sự Tôn Càn và Chủ bạ Giản Ung. Hai người này Tào Tháo đã gặp mặt hôm qua, cực kỳ ấn tượng: Tôn Công Hựu là danh môn Bắc Hải, đoan trang nhã lượng, phong thái ung dung tự tại; Giản Hiến Hòa tuy xuất thân tiểu lại, vừa hùng biện đâu đấy lại không thiếu sự hài hước. Lưu Bị dùng hai người này đi tiền trạm, như một chính một tà tung hoành miệng lưỡi, là một cặp đôi rất thích hợp.
Tôn Càn, Giản Ung đi đến hàng đao liền dừng lại không bước tiếp, thì thầm với nhau mấy câu rồi cùng lui sang hai bên tả hữu đứng chờ sứ quân của họ. Tào Tháo cười thầm hai tên nhát gan nhưng khéo giở giò, rồi tỳ trên soái án mà nhướng mắt nhìn ra xem Lưu Bị này rốt cuộc là nhân vật thế nào. Đợi một hồi lâu mới thấy ngoài viên môn tiến lại mấy người, người đi đầu ăn vận khá đặc biệt:
Người này mình cao bảy thước năm tấc, không đội bì biện mà đội chiếc kiến hoa quan như trang sức của nhạc nhân, miện cao bảy tấc, trụ sắt rường sắt, trên có đeo chín dải châu bằng đồng; tuy là đội miện nhưng người này chỉ chải gọn tóc tai phía trước và cài thêm cây trâm sơn đen, tóc phía sau buông không chải, mỗi khi gió thổi lại phất phơ trông rất tiêu sái phiêu dật; mình mặc y sam cổ mở chữ điền màu vàng hạnh, viền chạy kim tuyến, trên có thêu hoa chùm, bên trong mặc màu trắng tuyết, y phục trên rộng dưới buông, đường kim mũi chỉ nuột nà càng làm cho dáng người cân đối. Điều khác hẳn với mọi người nữa là ống tay áo dài rộng đến ba thước phất qua phất lại vô cùng phiêu dật điển nhã; lưng đeo một túi vải đen rộng chừng nửa thước, người thường khi đeo đều buộc rất chặt, nhưng người này bên hông lại cài khuy hồ điệp, chùm tua rủ dài đến gối, trang phục thật vô cùng kỳ lạ!
Lẽ nào đấy chính là Lưu Bị Lưu Huyền Đức sao? Tào Tháo chợt thấy ngờ ngợ, bất giác đứng dậy, vòng qua soái án chạy ra ngoài cửa đại trướng, Điển Vi, Hứa Chử thấy thế vội vã chạy theo. Đây coi như là ra trướng nghênh tiếp rồi đây!
Nhưng bỗng thấy người này thong thả bước đến trước hai hàng đao liền dừng lại không đi tiếp mà quỳ xuống đất thi lễ, cao giọng mà rằng:
— Tại hạ Lưu Bị, bái kiến Đại tướng quân. - Âm thanh rõ ràng trong trẻo nhưng dứt khoát dễ nghe, tiếng nói vang đi rất xa.
Bấy giờ Tào Tháo cũng chẳng bận tâm đến việc tỏ uy phong nữa, chỉ muốn xem người mà phục sức kỳ dị này rốt cuộc diện mạo ra sao, liền vẫy tay ra hiệu cho hai hàng võ sĩ chấp đao lui ra rồi tiến đến đón khách. Như thế là đã để Lưu Bị qua được cửa gươm đao thứ nhất!
— Lưu Huyền Đức, mời đứng dậy!
— Vâng. – Huyền Đức đáp rồi liền đứng dậy, để Tào Tháo nhìn cho kỹ.
Lưu Huyền Đức mặt đẹp như ngọc, da dẻ trắng trẻo, cặp mày đen dài mà sáng sủa, lại đậm như màu mực, mày thanh mắt tú, mắt phượng long lanh, sáng tựa như sao; sống mũi cao thẳng, đặc biệt ngay ngắn; trán cao miệng rộng, môi tựa thoa son; chòm râu cắt tỉa gọn gàng chỉn chu, chải chuốt nuột nà ngay ngắn, hơi vểnh về trước, hai chòm râu dưới tóc mai dài trông rất phiêu dật, rủ xuống tự nhiên; đặc biệt thu hút người khác là đôi tai to dài, dái tai rủ gần xuống vai, ẩn sau dưới hàng tóc mai vô cùng ấn tượng.
Tào Tháo nửa đời bôn tẩu, từng gặp không ít kẻ anh hùng hào kiệt tướng mạo xuất chúng như Viên Thiệu, Tôn Kiên, Bào Tín, Lã Bố... nhưng thực không kẻ nào sánh được với Lưu Bị. Tháo ngắm nghía hồi lâu mới cười cười:
— Lưu sứ quân mau mau đứng dậy!
Khi xưa, Lưu Bị mới được Từ Châu, Tháo cũng chỉ coi như phường cỏ rác, căn bản không thừa nhận địa vị của Lưu Bị. Lúc này biết Lưu Bị không một tấc đất cắm dùi, mới cố ý đổi xưng hô mà gọi thành sứ quân, cũng là có ý trào lộng.
Lưu Bị đương nhiên hiểu được, chưa vội đứng dậy ngay, vẫn cúi đầu mà vái rằng:
— Tại hạ không biết trời cao đất dày, mạo phạm tới vương sư của Đại tướng quân. Ngặt vì Đào Khiêm sớm mất, trăm họ ở Từ Châu lầm than đói khổ, lại thêm bọn hung thần Viên Thuật mang lòng phản nghịch, mấy lần hưng binh tàn sát lê dân. Lưu Bị đã tự không lượng sức mình miễn cưỡng nhận sự ủy thác của Đào Cung Tổ mà tạm quyền coi sóc đất ấy, nhất cử nhất động đều vì giữ đất an dân một lòng với xã tắc, không hề có lòng khác. Nay bọn tiểu nhân Lã Bố, Trần Cung phản phúc, tại hạ binh bại mà thành trì thì mất nên thực lòng đến xin theo, về với triều đình để chịu nghe sai khiến, cúi mong Đại tướng quân rộng lòng thu nạp!
“Dù ngươi có bao nhiêu dã tâm, gan có lớn tày đình, chẳng phải nay vẫn ngoan ngoãn mà thỉnh tội với ta sao?” Tào Tháo vẻ đắc ý:
— Huyền Đức chớ nhắc chuyện cũ nữa, nay Hứa Đô mới khôi phục lại còn ngổn ngang trăm bề, triều đình đang lúc muốn dùng người, đệ đã thành tâm theo về, bản tướng quân sao nỡ chối từ cho được? - Nói đoạn đưa tay ra muốn đỡ lấy Lưu Bị.
Lưu Bị khách khí mà rằng:
— Không dám phiền đến Đại tướng quân. - Nói xong tự đứng dậy rồi quay sang giới thiệu một người tướng mạo đoan trang đứng theo sau, - Người này là Biệt giá ở Từ châu, Mi Chúc Mi Tử Trọng ở Đông Hải.
Tiếng tăm của Mi Chúc có khi còn vang xa hơn cả Lưu Bị. Chúc là người Cù huyện ở Đông Hải, tổ tiên mấy đời doanh thương, trong nhà nô bộc ngót vạn người, gia tư điền sản ước tính mấy ức, hơn nữa lại giỏi cưỡi ngựa bắn cung, luôn hành hiệp trượng nghĩa, hay đem vàng bạc mà cứu khó, tân khách giao hữu lúc nào cũng nườm nượp. Lưu Bị là người Trác Châu ở Hà Bắc, ở Từ Châu thiếu mất căn cơ, thảy đều dựa vào huynh đệ Mi Chúc bỏ tiền bạc chiêu tập binh mã, ổn định nhân tâm, vì thế mà đối đãi, coi huynh đệ họ Mi như thượng khách. Tào Tháo nghe danh họ Mi đã lâu, nay gặp mặt thấy Mi Chúc mặt mũi sáng sủa, tướng mạo tuấn nhã, có phong thái dòng dõi trưởng giả, nên cũng vòng tay mà rằng:
— Ngưỡng mộ đã lâu, ngưỡng mộ đã lâu.
— Đâu dám, đâu dám! - Mi Chúc không nói nhiều thêm, chỉ cung kính vòng tay cúi đầu.
— Xin mời vào trướng nói chuyện. - Tào Tháo nói rồi liền đi vào trong.
Lưu Bị, Mi Chúc lập tức theo sau. Vừa bước vào trong trướng, chợt nghe Điển Vi quát lớn:
— Đứng lại! Các ngươi là ai? Doanh trướng Đại tướng quân há dám tùy tiện vào ư?
Tào Tháo quay đầu nhìn lại phía sau, bấy giờ mới chú ý theo sau Lưu Bị còn hai người nữa. Hai người này mình mang giáp mềm, đầu đội võ biện, lưng giắt theo đao trông giống bộ dạng thân binh. Nhưng hiếm có là cả hai đều lưng tròn eo gọn, vai xuôi rắn chắc, mày thanh mắt tú, môi đỏ răng trắng, mặt mũi hao hao giống nhau, tuổi tác vẻ đều chưa nhiều, trông như một cặp sinh đôi, trông đầu mày đuôi mắt rất ra dáng con nhà võ.
— Doanh trướng đại tướng quân không được tùy tiện ra vào, các người còn chưa lui ra! - Lưu Bị vội hắng giọng.
— Hãy khoan, - Tào Tháo tò mò quay người lại, - Hai người là thế nào?
Lưu Bị vội vòng tay mà rằng:
— Đây là hai viên tiểu tướng vô danh trong trướng tại hạ, nay không binh không mã tạm sung làm thị vệ. Vốn không định kêu họ tới, nhưng vì lo lắng nên một mực xin theo, đã mạo phạm đến hổ uy của Đại tướng quân, xin được muôn lần thứ tội... Còn chưa chịu đi mau!
— Huyền Đức hãy khoan, - Tào Tháo biết Lưu Bị không muốn mình nghe ngóng hỏi han được nhiều, nhưng càng không muốn, Tào Tháo lại càng muốn biết, - Hai vị tướng quân xưng hô thế nào?
— Tại hạ Triệu Vân ở Thường Sơn.
Người kia đáp rằng:
— Tại hạ Trần Đáo ở Nhữ Nam.
Hai người một nam một bắc, giọng có khác biệt.
— Quỳ xuống nói! - Lưu Bị lại làm bộ đằng hắng, - Một chút quy củ cũng không có.
Hai người vội vàng quỳ xuống.
Tào Tháo liếc nhìn hai viên tiểu tướng một nam một bắc nhưng anh tuấn sáng sủa, lại nhìn sang Điển Vi, Hứa Chử rồi bất giác cảm khái: “Tướng mạo tốt vị tất đã có bản lĩnh, nhưng sao những người đẹp đẽ dưới gầm trời này đều về tay Lưu Bị cả thế này. Mi Chúc, Tôn Càn, Giản Ung là dạng phú hào quan lại thì thôi, nhưng ngay đến cả cặp hộ vệ theo ngươi tướng mạo cũng đường đường...” Nghĩ đến đấy, Tào Tháo có ý tiếc nuối, nên mới cố ý nghiêm mặt nói:
— Viên môn chỗ bản tướng quân đây các ngươi cũng dám tới, gan thật cũng không phải vừa! Có điều các ngươi chớ xem thường Tào mỗ này, ta đường đường là Đại tướng quân há lại để các ngươi trong trướng ta bị khi dễ sao?
— Vâng, hẳn là vậy rồi, - Lưu Bị mỉm cười đáp, - Bọn họ chỉ là tiểu nhân kiến thức nông cạn.
— Cũng không thể nói thế được. - Tào Tháo phẩy tay, - Trung thành vì chủ tướng, hai người cũng là hết lòng bảo vệ chủ nhân, chí ấy đáng khen vậy... Triệu Vân, Trần Đáo! - Tháo đã nhớ tên của hai viên tiểu tướng, - Các ngươi khải giáp cũ kỹ sơ sài, bản tướng quân biếu hai ngươi mỗi người một bộ thiết giáp, trợ thêm uy lang hổ.
Lưu Bị biết Tào Tháo đang muốn lôi kéo người của mình, nhưng nay đang yếu thế nên cũng không dám trái nửa lời, chỉ giục rằng:
— Các người còn chưa cảm tạ Đại tướng quân!
— Tạ ơn Đại tướng quân ban thưởng. - Hai người cùng vòng tay đáp tạ.
Tào Tháo cười ha hả kéo tay Lưu Bị, mời hai người ngồi. Trong khi đó các mưu sĩ tướng lĩnh trong Tào doanh thảy vẫn còn phải đứng, nhất là bọn Hạ Hầu Uyên, Nhạc Tiến, Chu Linh tính khí nóng nảy đang trợn trừng mắt beo chòng chọc nhìn hai người. Lưu Bị vờ như không thấy, thần thái ung dung, Mi Chúc nhã nhặn chỉ cúi nhìn xuống.
— Huyền Đức lão đệ... - Tào Tháo đổi cách xưng hô gần gũi hơn, - Đệ ở Từ Châu đã lâu, từng cùng bọn Lã Bố, Viên Thuật giao tranh, đệ cho rằng hai bọn chúng thế nào?
Lưu Bị không ngờ Tào Tháo vừa gặp đã hỏi việc này, mới chậm rãi đáp rằng:
— Lã Phụng Tiên là hổ tướng đời nay, người trên ngựa, kích trên tay xứng là thiên hạ vô địch, Cao Thuận, Trương Liêu theo Lã Bố đầu tiên, lại đang kiêm Kiêu kỵ Tịnh Châu, trong vòng trăm dặm chọn ra, Lã Bố vẫn là kẻ địch mạnh. Viên Công Lộ thân mang danh bốn đời tam công, ngồi giữ đất Hoài Nam phì nhiêu nhưng mang lòng phản nghịch, thực sự là giặc của thiên hạ Đại Hán.
Lần này Lưu Bị ứng đối rất khéo, nghĩ đến Viên Thuật và Lã Bố từng đều bị Tào Tháo đánh bại, đánh giá bọn chúng cao một chút cũng có nghĩa là nâng vị thế của Tháo cao thêm một bậc.
Tào Tháo thực chưa nghĩ đến điều ấy, Tháo cảm giác Lưu Bị là kẻ thường bại trận, nói người khác tài cao cũng là lẽ thường, mới cười mà bảo:
— Huyền Đức nói cũng có lý, có điều Lã Bố hữu dũng vô mưu, Viên Thuật chí lớn tài sơ, hai người này đều chưa phải hùng tài bậc nhất.
— Đúng vậy! - Lưu Bị cảm khái, mắt nhìn xuống vẻ đầy hàm ý, - Nếu có thể cứu được lê dân qua cơn nước lửa, yên ổn được xã tắc cho thiên hạ, phò thiên tử qua cơn hoạn nạn, phục dựng lại uy quyền của triều đình, đó mới thực sự là bậc hùng tài đại lược, mới xứng là trụ cột ở đời.
Cái gọi là bậc đại trí mà như ngu, cực khéo mà như vụng, việc lấy lòng, bợ đỡ cũng đều có phân cao thấp. Lưu Bị không nói Tào Tháo tài giỏi, nhưng thảy đem công lao phụng rước thiên tử, phục dựng triều đình vào cả trong lời đánh giá hùng tài, lại còn cố ý biểu lộ sự ngưỡng vọng trong đó, việc này kỳ thực còn hơn cả ngàn lời tán thưởng hoa mỹ.
Tào Tháo cũng không phải kẻ hồ đồ, nhất là khi đối diện với người đã nhiều lần đổi chủ, thành ra cũng có đôi phần cảnh giác. Nhưng hôm nay tất thảy hoài nghi đều bị khuôn mặt anh tuấn đầy vẻ thành thực, lại thêm thái độ một lòng ngưỡng vọng của Lưu Bị làm cho tiêu tan mất cả. Tào Tháo cảm giác hắn hoặc là có ý lấy lòng, nhưng lòng hướng về triều đình, sự trung thành đối với thiên tử, cùng với khát vọng trên con đường hoạn lộ thực sự là có thật. Hắn chẳng qua cũng chỉ xuất thân bán giày, mà mất bao thời gian mới leo lên làm chủ một châu, hoặc là hắn có được Từ Châu quá dễ nên mới dễ dàng từ bỏ. Tào Tháo không tiếp lời Lưu Bị mà gặng hỏi:
— Lã Bố vì sao lại đoạt được Từ Châu của đệ, không ngại đệ nói thử ta nghe xem.
— Ai dà... - Lưu Bị chưa nói mà thở dài, - Khi xưa Thứ sử Đào Cung Tổ là nhân sĩ Đan Dương, ở đó có không ít binh lính là người Đan Dương. Đám binh mã ấy ỷ vào Tào Báo là tướng Hạ Phì mà hoành hành hống hách, không chịu nghe theo sai khiến. Viên Thuật đột nhiên dẫn quân tới đánh, tại hạ gượng đem quân chống cự, bọn Tào Báo, Hứa Đam vốn không ở lại giữ lấy Hạ Phì đột nhiên làm loạn, tuy Tào Báo đã bị người của đệ giết chết nhưng binh lính Đan Dương đã dẫn Lã Bố vào thành, vậy là mất đất Từ Châu.
Quân lính ở Đan Dương chiến đấu thế nào Tào Tháo đã từng lĩnh giáo. Ngày trước khi Tháo đánh Từ Châu, Đào Khiêm từng đem quân Đan Dương ra kháng cự, quân không ý chí không chịu nổi một trận, nhưng bọn chúng ỷ vào thế lực quan lại đồng hương với Đào Khiêm mà ép người ở Từ Châu. Đào Khiêm chống Tào Tháo thất bại không phải bởi tác chiến không cố sức, mà căn nguyên ở chỗ không cân bằng được quan hệ giữa thế lực bên ngoài và thế lực tại chỗ. Đào Khiêm lặng lẽ qua đời, để lại cho Lưu Bị một đống đổ nát, Lưu Bị lại đối mặt với cả hai phe phái trước, không những thế còn gặp phải nhiều phiền phức hơn cả Đào Khiêm trước đây.
Tào Tháo nghe Lưu Bị kể nguyên do như thế trong lòng lại bất giác tỏ ý đồng tình, ngày trước chính Tháo cũng vì bọn Trần Cung, Trương Mạc ở Duyện Châu phản loạn mà sứt đầu mẻ trán, chỉ là vận may có khá hơn Lưu Bị một chút. Nếu không phải nhờ bọn Tuân Úc, Trình Dục ra sức bảo vệ, e rằng đã chẳng khác Lưu Bị bây giờ, chạy sang mà đi theo Viên Thiệu. Vậy nên mới cười khổ mà rằng:
— Huyền Đức, việc của đệ cũng đáng để được người thông cảm.
Lưu Bị nghiến răng:
— Quân Đan Dương phản loạn cũng coi như thôi, nhưng Lã Bố lấy oán báo đức, mượn gió bẻ măng, mượn lửa đốt nhà, thực là đáng ghét.
— Không sai. - Tào Tháo lại liên tưởng đến hận cũ, - Ngày trước là hắn câu kết bè đảng với phản loạn Duyện Châu cướp lấy Bộc Dương, những gì mà đệ và ta trải qua như cùng một vết bánh xe! - Nói đến đoạn này, thực như có chung một kẻ địch vậy.
Lưu Bị đột nhiên đứng dậy vái rồi nói:
— Tại hạ đã chịu khổ nhiều với Lã Bố, Viên Thuật, nguyện xin trước yên sau ngựa mà theo Đại tướng quân, tiễu trừ bọn giặc này.
Mi Chúc cũng quỳ theo xuống.
— Ha ha ha... Tào Tháo buông tiếng cười lớn, - Huyền Đức không cần đa lễ, chúng ta đều ra sức tận trung với triều đình cả! - Lúc này chưa rõ đầu đuôi không thể dễ dàng hứa hẹn được, Tào Tháo lấp lửng mập mờ không rõ được chăng mà lôi việc triều đình ra nói khéo, - Nửa năm nay chỉ cùng với hai tên giặc ấy chinh chiến, không biết quân binh còn lại của đệ thế nào? - Còn bao nhiêu vốn liếng, đó mới là điều Tào Tháo quan tâm.
Lưu Bị đứng dậy tỏ vẻ xấu hổ:
— Không sợ Đại tướng quân chê cười, Lã Bố đánh úp Hạ Phì, khiến lương thảo khí giới quân bị của tại hạ thảy đều mất sạch, gia quyến cũng rơi vào tay Lã Bố. - Nói đoạn chỉ sang Mi Chúc, - May có Tử Trọng khẳng khái mở bao cứu giúp, cấp cho hai ngàn nô khách mà tạm sung làm quân binh, còn mối mai cho cả muội muội làm thê tử, mới miễn cưỡng chống đỡ được ở đất Hải Tây. Sau khi Lã Bố đón tại hạ về Tiểu Bái, cũng là nhờ huynh đệ Tử Trọng kim ngân tương trợ, chinh binh ước có vạn người, nhưng lại bị Lã bố một lần nữa đánh tan. Một số ít bị bức phải đầu hàng, phần lớn lưu lạc ở Từ Châu, Dự Châu các nơi, nhất thời khó có thể tụ tập lại được.
Tào Tháo nhìn Mi Chúc vẻ dò xét. Nếu nói Lưu Bị tự không lượng sức, thì Mi Chúc chính là một tay chơi đại tài dám đổ bạc ra cược. Hắn đem ức vạn gia sản ra đặt cược vào Lưu Bị, thậm chí còn kết thành thân gia cọc chèo, vậy hắn gặt hái thu lợi được bao nhiêu đây? E chí ít là muốn giành về được tước vị công hầu mới thỏa nguyện chăng?
Tào Tháo chợt ý thức được điểm thiếu sót lớn nhất của Lưu Bị. Lưu Bị hoặc là tài nghệ có chỗ hơn người, nhưng lại thiếu nhận thức tổng thể về “thiên hạ”, lại không có được những nhân sĩ mưu trí như bọn Tuân Văn Nhược, Quách Phụng Hiếu, Hý Chí Tài, chỉ là dựa vào một hoặc vài người đóng góp giúp đỡ bạt mạng mà đi tranh đoạt. Cho dù hao tổn tâm tư tìm đủ mọi cách lấy lòng hoặc bợ đỡ người khác, hai mắt mù mịt thì có thể dậy được bao nhiêu sóng lớn đây? Người giúp đỡ này có gan liều nhưng hình như đã biết nhau từ trước, hoặc đó lại chính là cái bóng của Tào Tháo mười năm trước đang liều mạng trong chốn quan trường chăng?
— Huyền Đức đệ bao nhiêu tuổi rồi?
— Ồ? - Lưu Bị ngạc nhiên, liền cười đáp, - Tại hạ quá tuổi nhi lập sáu năm rồi[7].
Người ngạc nhiên lần này lại là Tào Tháo. Ba mươi sáu tuổi, cũng chỉ nhỏ hơn ta sáu tuổi, nhưng trông cứ như hơn hai mươi tuổi vậy. Tháo ngẩn ra giây lát đến khi cảm giác đã nhìn rõ con người này, mới cười mà rằng:
— Huyền Đức, trước tiên đệ hãy ở Bàn Hoàn của Hứa huyện vài ngày, đợi ta tấu rõ với thiên tử rồi sẽ phong thưởng và thu dụng. Từ Bái huyện đến chắc cũng mệt rồi, hãy về doanh nghỉ ngơi đã.
Kết quả lần đầu gặp mặt này Lưu Bị tựa hồ khá vừa ý, cũng ra vẻ thành thực:
— Tạ ơn Đại tướng quân chiếu cố, Bị hôm nay đến đây được như về nhà vậy!
Miệng lưỡi cũng thật khéo. Tào Tháo vòng qua soái án, đích thân tiễn Lưu Bị, Mi Chúc ra ngoài trướng, lại đặc biệt dặn dò:
— Nay triều đình mới lập lại, còn nhiều bất tiện, mong chớ câu nệ mà bỏ quá cho. Trong doanh có việc gì cần cứ nói chớ ngại, có thể trực tiếp đến mạc phủ tìm ta.
— Vậy bọn tại hạ tạm xin cáo từ. - Lưu Bị vái dài, chợt trông thấy áo choàng còn mới của Tào Tháo đuôi quét đất bẩn một vết nhỏ liền tiện tay búng bụi đất đi rồi mới đứng dậy lịch duyệt cười dẫn bọn Mi Chúc, Tôn Càn đi ra.
Chỉ một cử động nhỏ trong giây lát không ai để ý nhưng lại khiến Tào Tháo thêm nhiều thiện cảm. Cử động nhỏ nhặt ấy chỉ diễn ra trong nháy mắt, nếu không phải Tào Tháo đang trân trân nhìn Lưu Bị thì tuyệt không nhận ra Lưu Bị búng bụi đất, thậm chí Điển Vi, Hứa Chử đứng ngay bên cạnh cũng không hề chú ý. Đây tuyệt đối không phải việc làm hay hành động lấy lòng, mà là thói quen từ cuộc sống thường nhật. Điều kỳ lạ là, một kẻ xuất thân buôn bán hèn kém sao lại có thể chú ý được đến như thế? Nếu nhìn trang phục tướng mạo mà nói, Tào Tháo chẳng bằng được Lưu Bị, dù là khoác áo choàng tua gấm của Đại tướng quân cũng không có vẻ gì xuất chúng. Lưu Bị - Lưu Huyền Đức, một nhân vật như một câu đố, trước khi chưa gặp là một câu đố, sau khi gặp rồi vẫn là một câu đố. Tào Tháo đứng ngây người ra hồi lâu mới dặn dò chuẩn bị xe về thành.
Lễ chế của triều đình nghiêm ngặt, quan gì dùng xe gì đều phải tuân thủ. Đại tướng quân, tam công ngồi là xe ngựa song giá lọng đen, bánh xe sơn son, hai bên phướn đỏ, tay vịn hươu vàng, đó ngang vân gấu. Tào Tung từng nhận chức Thái úy, nhưng là bỏ tiền ra mua quan nên không khỏi khiến người đời xì xào bàn tán, việc ấy khiến Tào Tháo cũng chẳng dám hé răng nửa lời, nhưng xa mã trong tâm trí Tào Tháo bấy giờ vẫn là thứ gì đó hết sức thần thánh, hồi ấy cha thậm chí còn không cho phép Tháo chạm vào xe. Nay Tháo đã có xe ngựa riêng như thế này, mà trước mặt còn có bao nhiêu bạch mao[8], kim việt[9], là đại diện cho sứ mệnh của thiên tử và quyền sinh quyền sát. Tuy thiên hạ vẫn chưa yên, nhưng chỉ cần Tháo được ngồi trên cỗ xe này thì mọi ưu sầu phiền não đều tạm quên đi hết, như tìm được cảm giác uy quyền chí cao vô thượng vậy.
Tào Tháo mạnh bước lên xe trỏ tay gọi lớn:
— Văn Nhược, Phụng Hiếu, các ngươi cũng lên ngồi cùng đi.
— Đa tạ Đại tướng quân ân tứ. - Quách Gia lạ vì được ưu ái đến vậy liền mừng rỡ vui vẻ nhảy lên.
Tuân Úc thì đáp rằng:
— Đại tướng quân cứ ngồi yên trên xe, tại hạ không dám tiếm[10] vượt.
— Văn Nhược chớ từ chối, ngươi hiện đã là chức Thị trung, xa giá của thiên tử còn có thể được phép ngồi cùng, huống hồ là cỗ xa mã này của ta? - Tào Tháo tự tay đỡ Quách Gia, lại cười mà rằng, - Xem Phụng Hiếu thống khoái thế này, ngươi cũng mau lên đi, ta có lời muốn nói với hai ngươi. - Tuân Úc thấy không tiện từ chối nữa mới rảo bước lên từ sau xe rồi chậm rãi bước vào chỗ ngồi.
Cỗ xe ngựa bắt đầu chạy, Tào Tháo không ngó nghiêng cũng không nói năng gì, tựa hồ cố ý để cho hai bọn họ cũng cảm nhận được sự vinh quang và hãnh diện của cái gọi là chí cao vô thượng. Quách Gia nhìn trái ngó phải sờ chỗ nọ chạm chỗ kia, Tuân Úc thì hai mắt nhìn xuống vẻ nghiêm túc giữ ý. Đi được một hồi, thấy chừng sắp đến cổng thành Hứa huyện, Tào Tháo đột nhiên quay đầu hỏi:
— Các ngươi thấy con người Huyền Đức này thế nào? Liệu ta có thể trọng dụng hắn không?
Tuân Úc chỉ cúi mặt nhìn chăm chăm vào càng xe:
— Tại hạ thấy Lưu Bị là kẻ có hùng tài, mà lại thu phục được nhân tâm, sau sẽ không đứng dưới người khác, chi bằng nên sớm trừ đi.
— Văn Nhược khuyên ta giết người, đây đúng là từ thuở khai thiên lập địa lần đầu mới thấy! - Tào Tháo nhẹ cười quay sang hỏi Quách Gia, - Phụng Hiếu thấy thế nào?
— Được lắm! Tại hạ xem Lưu Bị là kẻ có chí anh hùng. - Quách Gia thẳng thắn nói ngay.
— Vậy phải chăng nên giết phắt hắn đi, để trừ hậu hoạ?
— Tuyệt đối không được! - Quách Gia như đoán được hết cả ruột gan Tào Tháo, - Lưu Bị tuy có chí khác, nhưng tướng quân mang gươm khởi nghĩa, vì trăm họ mà trừ gian diệt bạo, dựa vào tín nghĩa mà chiêu mộ tuấn kiệt còn lo anh hùng không tới. Nay Lưu Bị có tiếng anh hùng, nhất thời lâm khốn mà theo về, nếu khinh suất mà hại lẫn nhau, há chẳng phải tướng quân sẽ mang tiếng là kẻ ác hại người hiền. Lúc đó trí sĩ nghi ngờ không phục, mà sinh lòng quay đi tìm chủ khác, tướng quân sẽ cùng ai bình định thiên hạ? Ôi, trừ được mối lo từ một người, mà chặn cả bốn bể ngóng trông, lẽ an nguy, không thể không xét.
— Ha ha ha... - Tào Tháo vuốt râu cười lớn, - Lời Phụng Hiếu chính hợp ý ta, nay thu nạp anh hùng, giết một người mà mất lòng thiên hạ, việc ấy không đáng vậy!
— Có điều... - Quách Gia cười cười như muốn rút lại lời nói, mân mê tay vịn thếp vàng chạm hươu, - Lưu Bị người này phản phúc khó lường, tướng quân tuy dùng được song vẫn phải cẩn thận.
— Ta đã có liệu sẵn.
Quách Gia biện luận rành rọt:
— Lưu Bị vốn dưới trướng Công Tôn Toản ở U Châu, giả bộ chối từ chức Bình Nguyên tướng ở Thanh Châu mà về theo Điền Khải sai khiến. Tướng quân đánh Từ Châu, Lưu Bị tuy lĩnh binh đến cứu song lại bỏ Công Tôn Toản cùng Điền Khải mà sang theo Đào Khiêm, ấy là điểm thứ nhất. Lưu Bị từng giải nguy cho Bắc Hải Khổng Dung phá Khăn Vàng Thanh Châu ngày trước, sau khi vào Từ Châu, nhờ Khổng Dung phù trì cũng miễn cưỡng kế lấy vị trí của Đào Khiêm, từ đó hai nhà qua lại thân mật. Sau đó Viên Thuật cho con trai là Viên Đàm ra làm Thứ sử Thanh Châu, tấn công mạnh vào các quận huyện Bắc Hải, tình thế ấy Lưu Bị lại bỏ tốt đẹp cũ, không dám đắc tội với Viên Thiệu mà tọa quan thành bại, dẫn đến Khổng Dung không cách nào chống lại liền quay về với triều đình, ấy chính là điểm thứ hai.
Mấy lời thôi nhưng đã khiến Tào Tháo lo lắng, nhưng Quách Gia vẫn chưa dừng:
— Mà không chỉ có như thế! Năm ngoái, Đại tướng quân đuổi Lã Bố, Lã Bố chạy sang Từ Châu, lại nhân Lưu Bị, Viên Thuật cũng đương giằng kéo mà đoạt lấy Hạ Phì, Lưu Bị không những không nhớ mối thù cướp đất, mà còn mặt dày vô sỉ, bỏ chủ làm khách chạy sang đầu theo, ấy là điểm thứ ba. Lưu Bị đã sang với Lã Bố, lại dựa ơn Lã Bố bắn kích viên môn mới giữ được Tiểu Bái, cũng là có đi có lại, nhưng hắn lại dựa vào gia tư tài sản của Mi Chúc mà ngầm trù bị binh mã, sau bị Lã Bố phát giác, đến nỗi mất cả tấc đất cắm dùi, ấy là điểm thứ tư. Chắc hẳn tướng quân cũng đã nghĩ tới, còn có Đàm Thành ngày trước ngăn cản, nếu không Lưu Bị trở thành kẻ địch của ngài rồi, nay lại khom người chịu đến xin theo, lời lẽ siểm nịnh ti tiện, ấy là điểm thứ năm!
Quách Gia nói một mạch năm hành động phản phúc của Lưu Bị, ngôn từ không hề khoa trương, Tuân Úc lại bổ sung:
— Lưu Huyền Đức binh bại chán nản, gia quyến rơi vào tay Lã Bố, nhưng vẫn không bỏ được phục sức kiểu cách, đủ thấy thê tử kết tóc cùng hắn cũng không bằng một bộ trang phục! Huống hồ kỳ trang dị phục đó không những đã vượt khỏi lễ pháp, lại không gần với thế tục, có thể thấy tâm chí của hắn thế nào, vật trái lẽ thường ấy là yêu quái vậy!
Tào Tháo im như ngậm hạt thị, bụng như đánh bạc một hồi, rồi mới thong thả mà rằng:
— Đành là như vậy, nhưng vẫn không thể dễ dàng mà giết đi, đã thu nhận mà lại quay sang giết hại, há chẳng phải khiến ta lại mang danh phản phúc ư?
Quách Gia vẫn cười khà khà:
— Tuy tại hạ đã nói không ít, nhưng với tài của tướng quân, cùng tình thế lúc này, đủ để sai khiến hắn. Theo tại hạ thấy, chẳng phải hắn vẫn mang danh Thứ sử Dự Châu đó sao? Tướng quân không ngại thì thăng cho hắn một cấp, dâng biểu xin chức Dự Châu mục, tướng quân xem thấy thế nào?
Vì đô thành hiện đang ở Dự Châu Hứa huyện, nên quan viên các nơi có quân binh đồn trú đều trực tiếp chịu sự điều khiển của Tào Tháo. Cho dù Lưu Bị được thăng chức Dự Châu mục cũng chỉ là đặt cho có lệ vậy thôi, căn bản không thể điều động được quân đội. Đã không để cho có thực quyền, lại được tiếng hậu đãi kẻ xin hàng. Tào Tháo nhìn Quách Gia tán thưởng:
— Được lắm, ta hãy để cho hắn chức Dự Châu mục này. Nhưng chỉ riêng Dự Châu mục vẫn chưa đủ, lại trao cả Trấn Đông tướng quân mà ta từng làm cho hắn, để hắn an lòng. Cấp cho hắn chút lương thảo nhưng không cấp binh mã, để hắn quay lại Bái huyện mà gọi quân cũ. Chúng ta roi dài với cũng không tới, binh lực còn có hạn, dù sao Lưu Bị với Lã Bố và Viên Thuật hai nhà ấy đang kết thù chuốc oán, ta muốn để hắn ở đó đấu tiếp. Chỉ cần ba bọn chúng giao tranh một mất một còn bất phân bất định, ta sẽ rảnh tay mà dẹp Trương Tú, rồi quay lại thu thập tất thảy bọn chúng cũng chưa muộn.
— Lưu Bị có thể thả về, nhưng cần cắt bỏ Mi Chúc. - Quách Gia lại nhắc, - Phòng hắn dựa dẫm mà sau lại mạnh.
— Ừ. - Tào Tháo gật đầu, - Hai ngày nữa thảo phạt Dương Phụng, Hàn Tiêm, ta muốn để Lưu Bị dẫn quân theo cùng, nhân tiện xem tướng lĩnh dưới trướng hắn ra sao? - Tào Tháo sở dĩ cắt đặt như thế cũng là vì muốn nối một đoạn tâm sự, vị đại hán mặt đỏ oai phong lẫm liệt vẫn chưa thấy xuất hiện đâu!
❀ ❀ ❀
[1] Lễ thái lao là lễ tế tông miếu xã tắc của đế vương thời xưa, dùng ba vật tế là trâu, dê, lợn. Do khác nhau về người tế và đối tượng tế mà có sự khu biệt trong quy cách dùng vật tế: thiên tử tế xã tắc dùng thái lao, còn chư hầu dùng thiếu lao (chỉ có dê và lợn, không có trâu).
[2] Một đao đến hội: Tôn Quyền muốn lấy lại Kinh Châu, Lỗ Túc bày mưu dụ Quan Vũ đến hội ở Lục Khẩu và cho phục binh, nếu ông ta không đồng ý trả Kinh Châu thì sẽ giết chết. Nhưng vì Quan Vũ quá uy dũng, vừa thủ thanh long đao trong tay, vừa nắm lấy Lỗ Túc khiến quân Ngô không thể động thủ. Quan Vũ trở về an toàn.
[3] Chỉ việc Chu Bình Vương dời đô sang Lạc Ấp ở phía đông, để tránh giặc Khuyển Nhung. Từ đó, uy tín của nhà Chu bắt đầu suy giảm, các nước chư hầu ngày càng tỏ ra coi thường thiên tử nhà Chu và gây chiến tranh với nhau.
[4] Chỉ cuốn Tam Quốc Chí Bùi Tùng Chi chú giải. Bùi Tùng Chi, tự Thế Kỷ, là một nhà sử học nổi tiếng thời Nam Bắc triều. Sau khi được nhận mệnh làm Trung thư thị lang dưới triều nhà Tống, ông thừa lệnh Tống Văn Đế làm bản chú giải cho Tam Quốc Chí của Trần Thọ. Theo thống kê, Bùi Tùng Chi đã thu thập hơn một trăm năm mươi loại sử liệu bắt đầu từ thời Tam quốc, trích dẫn nhiều đoạn văn trong các tác phẩm nổi tiếng, nên bản chú giải có độ dài khoảng gấp ba lần so với nguyên bản Tam Quốc Chí.
[5] Sao biết được trong tương lai họ sẽ chẳng bằng mình bây giờ.
[6] Ý chỉ Tuyển bộ Thượng thư Lương Hộc. Khi đó Tư Mã Phòng làm thượng thư hữu thừa, phó quan của Lương Hộc. Tào Tung nhờ vả Lương Hộc cho nhi tử của mình là Tào Tháo làm Lạc Dương lệnh, Tào Tháo cũng xin bái yết Lương Hộc, nhưng đều bị từ chối. Lương Hộc và Tư Mã Phòng bàn nhau chỉ cho Tào Tháo chức Bắc bộ uý Lạc Dương. Tào Tháo vì chuyện này mà ghi hận hai người họ.
[7] Điếu Vương Trọng Tuyên luy, Tào Thực.
[8] Chỉ từ mười lăm đến hai mươi tuổi. Theo thiên Nội tắc sách Lễ ký, con trai ngoài mười lăm tuổi bắt đầu được dạy múa tượng, rồi học cưỡi ngựa, bắn cung.
[9] Chỉ khi đế vương xuất hành có thị vệ canh gác dẹp đường.
[10] Tên quan, chỉ những người chuyên chú vào một chức nghiệp, kỹ nghệ nào đó, thường là kinh sách. Thời Hán Vũ Đế có đặt ra chức Bác sĩ ngũ kinh, chuyên khảo cứu, truyền dạy năm kinh (Kinh dịch, Thượng thư, Kinh thi, Kinh lễ, Kinh Xuân Thu), đôi khi còn phụng mệnh đi sứ, hoặc tham gia nghị bàn chính sự.