Có thể nói cuộc đời Tào Tung luôn phẳng lặng như tờ. Vì là con nuôi của đại hoạn quan Tào Đằng nên con đường làm quan của ông cũng bằng phẳng, yên ổn suốt đời. Mười năm trước nhân chuyện Tống hậu bị phế, đã khiến ông gặp phải chút trắc trở, nhưng bản thân ông cũng không bị tổn thất gì, ngược lại còn nhân họa mà được phúc với thân phận là kẻ bị hại đã tránh được sự thanh toán của Lưu Hoành đối với Vương Phủ.
Từ khi ông ra làm quan đến nay, luôn luôn làm quan ở kinh đô, được hưởng thụ xa hoa việc ấy chẳng cần nói tới, tiền lớn tiền nhỏ cũng đã kiếm được không ít. Sau đó đảm nhiệm chức tư lệ hiệu úy, rồi lại nhuốm tay vào ngôi cửu khanh lên làm đại tư nông, đại hồng lô nhiều năm. Tuy nói là ông nịnh bợ hoạn quan, lại không có công trạng gì lớn, nhưng không ai có thể phủ nhận sự từng trải lão luyện của ông trong quan trường, thậm chí không kém gì các danh thần Trương Ôn, Thôi Liệt. Huống chi ông lại có thêm tước vị Hán Phí Đình hầu, tuy đó chỉ là một hư hàm không có phong ấp thừa kế, nhưng cũng có thể xem là một niềm vinh dự. Cho nên cảm giác của không ít người trong triều đối với ông chỉ là coi thường hoặc không thể hiểu nổi, chứ không hề có sự oán hận.
Là đại nhân vật được tiểu nhân vật ngưỡng mộ, và là tiểu nhân vật bị đại nhân vật coi thường, đó là cảm giác của đại đa số đồng liêu đối với ông. Cho nên mong mỏi của Tào Tung là được lên vị trí tam công, để cho những kẻ đang coi thường ông phải coi trọng sự tồn tại của ông, và quan trọng hơn là để con cháu đời có được một thân phận vẻ vang.
Ông bỏ ra một ức tiền để mua được chức thái úy, nhưng điều đó chưa thay đổi được gì.
Chỉ có những người trước đây ngưỡng mộ ông thì càng thêm ngưỡng mộ, còn những người trước đây coi thường thì lại càng coi thường thêm. Bất luận thế nào, chức thái úy vinh dự hàng đầu cuối cùng cũng đã rơi vào tay ông, đó cũng là chức quan lớn nhất mà các con cháu hoạn quan có thể có được từ khi khai sáng ra nhà Hán đến nay.
Nhưng vận may của Tào Tung khi ông mua được chức thái úy đến nay cũng đã tận rồi.
Tháng Giêng năm Trung Bình thứ năm (188 SCN), bộ lạc Hưu Đồ Cách người tạp Hồ cướp phá Tịnh Châu, giết chết thái thú Tây Hà là Hình Kỷ. Tiếp ngay sau đó, dư đảng của quân khởi nghĩa Khăn Vàng ở Bạch Ba cốc, thuộc quận Tây Hà, Tịnh Châu lại một lần nữa tụ họp, làm nổi lên cuộc khởi nghĩa vũ trang quy mô lớn, chỉ mấy ngày ngắn ngủi đã đánh vào Thái Nguyên, và địa phận Hà Đông. Thời Hán, các vùng tư lệ (trực thuộc) có bảy quận: ba quận Kinh Triệu, Phùng Dực, Phù Phong lấy cựu đô Trường An làm trung tâm gọi là tam phụ; ba quận Hà Nam, Hà Nội, Hà Đông lấy tân đô Lạc Dương làm trung tâm gọi là tam hà; thêm một quận liên kết giữa hai vùng là quận Hoằng Nông, thành ra bảy quận tư lệ. Cho nên nghĩa quân đánh đến Hà Đông, cũng chính là đánh đến ngay dưới chân thiên tử.
Theo quy chế cũ của nhà Hán, nếu có quân phản loạn xâm nhập vào vùng đất tư lệ, thì thái úy sẽ phải bị bãi miễn vì không làm tròn chức trách. Nhưng suy cho cùng là Tào Tung đã bỏ ra một ức tiền mua quan, lại bị miễn chức một cách vô nghĩa như vậy chẳng những không hợp tình lý, mà những người về sau thấy tình hình ấy nhất định cũng không chịu bỏ tiền ra nữa. Cho nên Lưu Hoành với thập thường thị bàn bạc một hồi, quyết định bác trả lại tấu nghị của rất nhiều triều thần, để cho Tào Tung tiếp tục đảm nhiệm chức thái úy.
Nhưng những chuyện không may vẫn chưa chịu dừng lại. Phản loạn do Trương Thuần, Trương Cử câu kết với Ô Hoàn ở Ngư Dương gây ra, triều đình không vung roi tới được. Thứ sử U Châu là Lưu Ngu để khống chế cục diện, đã kiến nghị mời Hung Nô xuất binh tương trợ, Lưu Hoành đồng ý. Nhưng những năm gần đây Hung Nô liên tục có nội loạn, các vương trong bộ lạc ra sức phản đối xuất binh, đại thiền vu Hung Nô là Khương Cừ nhất quyết làm theo ý mình, kết cục là đã kích động phát sinh nội loạn. Khương Cừ chẳng những không cứu được loạn ở U Châu, mà bản thân lại còn phải quay sang cầu viện triều đình nhà Hán. Càng tồi tệ hơn là, cuộc khởi nghĩa Bạch Ba đánh lấn vào Hà Đông làm chặn đứng con đường đi lên phía bắc, triều đình căn bản không có cách nào cứu viện nổi. Cuối cùng Khương Cừ bị giết, phản quân Hung Nô lại cùng với phản quân của người tạp Hồ, Hưu Đồ Cách và quân Bạch Ba, ba nhóm quân phản loạn cùng dồn đến một nơi, khiến cục thế của Tịnh Châu ngày càng rối ren. Thậm chí bọn chúng đã giết chết thứ sử Tịnh Châu là Trương Ý, bức thiền vu mới của Hung Nô là Ư Phu La phải trốn đến Lạc Dương xin triều đình nhà Hán giúp quân để thu lại đất đã mất.
Đối diện với nguy cơ nghiêm trọng như vậy, Lưu Hoành đổi Đinh Nguyên đi làm thứ sử Tịnh Châu, hiệp đồng với tiền tướng quân Đổng Trác để trấn áp phản loạn. Một mặt khác, để hóa giải mối liên kết giữa quân Khăn Vàng ở Bạch Ba và quân Khăn Vàng ở Hắc Sơn lại phái sứ giả đến phong cho thủ lĩnh của quân Hắc Sơn là Dương Phượng làm Hắc Sơn hiệu úy. Tuy lần này vẫn chưa bãi miễn Tào Tung, nhưng theo tin mật báo của Tào Thuần từ trong cung ra, thì hoàng thượng đã bắt đầu oán than về ông với các hoạn quan bênh cạnh mình. Tào Tung đã ý thức được rằng, chức thái úy này của mình đang vô cùng nguy ngập, người ta nói chẳng để quá tam ba bận, nếu lại xảy ra việc phản loạn một lần nữa, vị trí của mình sẽ không còn giữ được nữa.
Tào Tháo thì không có nhiều thời gian để suy nghĩ về những phiền muộn của cha mình như vậy, toàn bộ tâm tư của Tào Tháo đang dồn vào việc chỉnh đốn lại quân đội. Mấy đội ngũ quân mã này của Hà Tiến, gặp phải vấn đề lớn nhất là lương thảo không đủ. Năm quân bảy thự của nhà Hán đều là con em của các gia tộc công khanh, hiệu lệnh nghiêm túc, quân dung chỉnh tề. Nhưng còn cánh quân này thì thực vô cùng rối loạn, trên lên đến con cháu nhà quan, dưới xuống đến bình dân bách tính, thậm chí có cả những tù nhân được ân xá ra, rồi giặc cướp xin đến đầu hàng. Khốn khổ nhất là người ở khắp mọi vùng đều có mặt, khi truyền lệnh cho binh sĩ có lúc phải dùng đến mấy loại khẩu âm tiếng nói. Chuyện đó cũng không trách được, thiên hạ làm phản khắp nơi, mà những người này đều là quân tinh nhuệ dẹp loạn nhiều năm. Hà Tiến lại không hiểu cách cầm quân, quân đội trước đây đều giao phó cho những kẻ thô lậu như Ngô Khuông, Trương Chương thống lĩnh, càng để thả lỏng đến độ đám quân này chẳng có quy củ gì hết. Vì thế việc đầu tiên của bọn bảy người Viên Thiệu, Bào Hồng, Tào Tháo sau khi nhận chức là phân biệt quê quán, điều chỉnh sắp đặt lại từ đầu.
Sáng sớm mỗi ngày, bảy hiệu úy lại ở Đô Đình thao luyện binh mã. Đến buổi chiều thì đến phủ đại tướng quân báo cáo. Nói là báo cáo, nhưng Hà Tiến chẳng hiểu việc gì cả, thực tế chỉ là bảy hiệu úy thảo luận với nhau những điều tâm đắc của mình. Sau khi hết hai tháng, Tào Tháo tựa hồ có cảm giác rằng mình đã sai, dường như chức vụ mình làm không phải là làm quan cho triều đình, mà giống như nắm một lực lượng vũ trang thuộc về đám sĩ nhân thì đúng hơn. Nhưng đằng sau cảm giác tự do ấy còn ẩn chứa một biến số, đó là đội ngự kỵ ở Tây Viên vốn trước đây đồng ý cùng gộp lại nhưng đến nay vẫn chưa gia nhập, chức vụ thượng quân hiệu úy quan trọng nhất trong tám hiệu úy vẫn còn để trống!
Đó là những ngày bận rộn nhất kể từ khi Tào Tháo ra làm quan đến nay, hằng ngày sau khi làm xong tất cả mọi việc, về đến phủ thì trời đều đã tối đen. Và thông thường việc đầu tiên sau khi về đến nhà là Tào Tháo chạy đến chỗ Biện thị nhìn ngắm đứa con trai đang ngủ say của mình.
Hôm ấy, Tào Tháo đang nhè nhẹ vuốt ve bàn tay nhỏ bé của con, thì Biện thị nói:
— Chiều nay lão gia đã về, nhất định không để cho thiếp qua hầu hạ.
— Sao? - Tào Tháo thấy hơi ngạc nhiên, từ khi Hung Nô làm loạn đến nay, dường như phụ thân chưa hề về qua nhà, mà ở luôn trong phủ thái úy để lo việc dân việc nước. Tất nhiên, ông cũng là lo chức thái úy không còn làm được lâu nữa, muốn cố hưởng hết những ngày còn được ở trong phủ.
— Vẫn chưa muộn lắm, chàng chạy sang thăm phụ thân đi! - Biện thị vừa vỗ vỗ cho con ngủ, vừa nói với Tào Tháo.
Tào Tháo thơm lên bên trán nàng, rồi khoác áo đi sang sân bên kia. Nào hay phụ thân không có trong phòng ngủ, liền thuận bước đi lên sảnh đường phía trước. Quả nhiên, trong sảnh đèn vẫn còn sáng. Tào Tháo đã chẳng còn lạ gì tình huống như thế nữa, từ khi còn nhỏ Tào Tháo đã thường nửa đêm lẻn ra ngoài chơi, và mỗi lần đi qua thư phòng của phụ thân, thì đèn đuốc đều vẫn còn sáng. Khi ấy ông làm chức tư lệ hiệu úy hằng ngày đều phải xử lý các công việc chính sự. Sau đó sự tình đã thay đổi trái ngược hẳn đi, phụ thân vẫn bận rộn đến tận khuya, nhưng chỉ là bận cầu cạnh hoạn quan, chèn ép người khác. Đêm nay là đêm gì mà ông lại bận rộn thế không biết?
Tào Tháo lặng lẽ đi đến cửa sảnh đường, đang định đẩy cửa đi vào, thì nghe thấy từ bên trong vẳng ra giọng một người khác:
— Cự Cao huynh, huynh hà tất phải như vậy? Tuổi tác huynh cũng đã thế này rồi, còn lo những việc không cần thiết như thế làm gì chứ?
Tào Tháo nhận ra, đó là Vĩnh Lạc thiếu phủ Phàn Lăng - người mà trong chốn quan trường đặt cho biệt hiệu là “Tiếu Diện Hổ”, cũng có thể coi bạn thân của cha mình. Chả trách mà tối nay cha phải về nhà, hóa ra là có việc cơ mật muốn bàn bạc với Phàn Lăng. Chuyện nghe trộm với Tào Tháo cũng chẳng phải là một hai lần, từ nhỏ đến lớn Tào Tháo vẫn thích nghe lén chuyện sau lưng người ta, tựa như chỉ có những tin tức nghe được như vậy mới là đáng tin cậy nhất.
— Ôi... Cả đời ta đều chỉ vì chính bản thân mình, mấy khi thực sự là ra sức vì triều đình? Nhưng mấy tháng nay, ta thực sự rất lưu tâm đến tin chiến sự ở Tịnh Châu. Ta thấy tên Đổng Trác kia đúng là cáo già, không thể để hắn tiếp tục làm loạn ở Tịnh Châu nữa. Hắn đã thu nạp tất cả người Hồ vào tay mình rồi!
Tào Tháo đứng ngoài cửa giật mình, phụ thân đã nhận ra vấn đề gì trong các tin báo chiến sự rồi ư?
— Huynh nói hắn muốn mưu phản, có chứng cứ gì không? - Phàn Lăng hỏi.
— Có phải là muốn tạo phản hay không ta không dám nói, nhưng chí ít cũng là nuôi binh lính tự vệ, chiêu nạp người Hồ tự lập quyền uy! Triều đình mới giao cho hắn bao nhiêu binh mã? Hắn hiện nay có bao nhiêu? Trừ đám quân nghĩa tòng ở Hoàng Trung, còn lại là Tây Khương tạp Hồ, nếu hắn đem số giặc phỉ này để đi dẹp giặc phỉ, há sẽ có kết quả tốt đẹp gì? Lâu dần lực lượng lớn lên không còn quản nổi nữa!
Phàn Lăng lặng lẽ hồi lâu, cuối cùng thở dài nói:
— Cự Cao huynh, ta biết huynh muốn lập chút công lao để giữ vững vị trí của mình. Ai cũng có thể hiểu được, nhưng... chúng ta đều già rồi, lúc nên buông tay tất phải buông tay thôi.
— Huynh nói vậy là ý gì?
— Ta còn có ý gì nữa? - Phàn Lăng vẫn cười ha hả, - Đại thiền vu chết rồi, hoàng thượng cũng chẳng nói gì huynh cả, lão huynh cũng nên biết điều một chút mới phải.
— Ta biết điều một chút ư? - Giọng Tào Tung có vẻ ngạc nhiên, - Lão Phàn, sao huynh lại nói giọng ấy với ta?
— Nhân tình sự lý đã bày hết ra đấy rồi! - Phàn Lăng cao giọng nói, - Huynh tuy đã bỏ ra một ức vạn tiền nhưng phàm việc gì cũng phải có hạn độ, huynh không thể chỉ trông vào một ức tiền này để giữ cho huynh có thể làm thái úy cả đời được. Hơn nữa cái oai phong cần có huynh cũng đã có được rồi, những người cần đến nói tốt cũng đã nói rồi, bất kể là họ có phục hay không phục huynh thì gặp huynh cũng phải làm đại lễ với huynh rồi. Thế là có thể được rồi!
Không biết là phụ thân còn đang suy nghĩ hay là bị Phàn Lăng làm cho tức giận lặng đi, mà rất lâu Tào Tháo không nghe thấy ông đáp lại.
— Thực ra chức thái úy này thì có gì hay? Nói là đứng đầu tam công, không làm việc của thượng thư, nhưng cũng chả để làm gì. - Phàn Lăng vẫn cứ nói một mình, - Chẳng nói riêng gì lão huynh, cả Trương Ôn, Trương Diên, Thôi Liệt cũng đã thế nào? Cần rời bỏ thì vẫn theo quy định phải rời bỏ, huynh cũng phải nghĩ thoáng một chút. Vì chuyện này mà ăn không ngon ngủ không yên thì cái được sẽ chẳng bù nổi cái mất. Chúng ta đều là những người tuổi cao cả rồi, còn có cái gì không thỏa mãn nữa chứ? Lại cần phải làm một việc kinh thiên động địa rồi mới chịu về nghỉ ư? Dù có cái tâm như vậy cũng không có đủ sức mà làm!
— Ai bảo huynh nói những lời ấy với ta? - Tào Tung giọng có vẻ tức giận, - Huynh đêm hôm đến đây tìm ta, phải chăng là muốn chuyển lời nói hộ ai?
Phàn Lăng cười hờ hờ:
— Ta chuyển lời hộ ai huynh không cần biết, tất cả cũng chỉ là muốn tốt cho huynh thôi.
Nào ngờ câu ấy vừa nói xong, Tào Tung liền cười nói:
— Huynh chớ có giở trò huyễn hoặc với ta. Căn bản chẳng có ai bảo huynh đến truyền lời cả, mà là chính huynh chưa tìm ra được mưu kế gì, nên muốn học Sái Trạch thuyết Phạm Thư, để ta nhường chỗ lại cho huynh thôi?
Phàn Lăng tựa hồ bị nhìn thấu tâm can, ấp úng nói:
— Huynh... huynh thật là đa nghi bừa.
— Ta đa nghi bừa? Ha ha... Chút thủ đoạn ấy của huynh ta còn không rõ hay sao. Nếu nói đến bản lĩnh hại người lừa người, thì ai có thể sánh được với Phàn Đức Vân huynh, tươi cười trước mặt giấu dao sau lưng, nổi tiếng là “Tiếu Diện Hổ” mà! - Tào Tung nói móc, - Ta biết huynh vốn muốn nhòm ngó vị trí này của ta, nhưng huynh hãy cứ đường hoàng mà đến, chứ chớ dở trò âm mưu ra với ta. Nếu không một khi đồn đại ra ngoài, chức thái úy của huynh từ tay không dùng mưu kế mà có được, há không làm hủy hoại danh vọng nhà họ Phàn huynh ư? Hủy hoại danh vọng của huynh cũng chỉ là việc nhỏ, nhưng ông nội huynh là Phàn Quý Tề là bậc cao hiền một thời, đến Trần Trọng Cung cũng là học trò của ông ấy. Khi còn sinh tiền ông cụ tinh thông phương thuật bí pháp, mà huynh đời này dựa dẫm vào hoạn quan đã đủ bôi tro trát trấu vào mặt ông cụ rồi, giờ nếu lại làm ô uế thanh danh nữa, hãy coi chừng ông cụ trên trời linh thiêng, sẽ cho một tiếng sét đánh phanh thây thứ vô dụng huynh ra đấy!
— Huynh... huynh... - Phàn Lăng tức điên lên.
— Phanh thây huynh cũng chưa vội, mà thiên nhân cảm ứng, lại còn làm liêm lụy đến tam công khác cũng phải từ chức. Đến khi ấy, huynh chết rồi còn bị người ta chửi rủa.
Tào Tháo nghe phụ thân nói móc ông ta thế, vừa tức vừa buồn cười: Đáng giận nhất là, cả đời ông cụ chỉ giỏi nhất là nói móc người khác. Chỉ vì cái tật ấy mà đã đắc tội với không biết bao nhiêu người. Đến nay ngồi ở vị trí tam công, vẫn chẳng để ý đến danh phận, vẫn còn nói kiểu ấy, đúng là làm mất thể diện. Nhưng cũng buồn cười là, Phàn Lăng rõ ràng là kẻ tiểu nhân, rất đáng bị moi móc tận tâm can cốt tủy như thế.
Phàn Lăng vốn nổi tiếng xưa này là “chan hòa thân thiện”, nhưng hôm nay bị chửi rủa xấu hổ quá hóa giận, hét lên:
— Tào Tung! Ta nói cho ông biết, ông chớ có không biết đâu là hay dở. Là ta muốn làm thái úy đấy! Thử lấy lương tâm ra mà nói, một kẻ như ông có đủ tư cách ngồi ở ngôi tam công không?
— Ta không đủ tư cách, lẽ nào ông đủ ư? - Tào Tung cười nhạt nói, - Nếu ông có thể làm, thì ta cũng có thể làm! Chẳng phải ông cũng là dựa vào đồng tiền mà nói chuyện ư? Ta cũng về nhà chuẩn bị tiền, chẳng phải là mua quan sao? Thời buổi này chẳng có ai chê cười ai đâu! Dựa vào ông ư? Ông có thể nộp ra được bao nhiêu tiền đây? - Tào Tung tiếp tục nói móc, - Kiếm được ra một ngàn vạn đã đủ khiến ông hộc máu mồm ra rồi.
— Ông không cần biết ta nộp bao nhiêu, một ngàn vạn thì làm sao? Hoàng thượng nhà ta ăn cá bất luận lớn nhỏ, tiền nộp hết rồi, sớm muộn cũng cho ông cuốn xéo!
Tào Tháo nghe xong, chợt thấy tức giận: “Tên chó già này làm sao lại có thể ăn nói hỗn hào với thái úy như vậy?”
— Cút ngay? Trước tiên ông hãy cút ngay cho ta! Ông có thể lên được như ngày hôm nay, chẳng phải đều nhờ ta và Hứa Tương nâng đỡ cho ư? Đây là nhà của ta, không đến lượt ông hô to quát lớn, còn dám chửi một câu nữa, ta sẽ gọi gia đinh vả vào miệng đấy. Ngày mai lên điện ta sẽ tâu lại tội nhục mạ tam công của ông. Còn cái chân Vĩnh Lạc thiếu phủ này ông cũng không cần phải làm nữa đâu, về nhà mà mơ giấc mộng thái úy của ông đi! - Tào Tung hạ lệnh tiễn khách.
— Ông, ông... - Nếu luận đến sự lợi hại của miệng lưỡi thì mười Phàn Lăng cũng không đỡ lại được một Tào Tung. Ông ta tức giận đến run người, - Được, ta cút! Chúng ta cứ đợi mà xem!
Tào Tháo đứng ở ngoài cửa, nghe thấy ông ta sắp đi, liền nấp vào bên cạnh cửa, lặng lẽ giơ một chân ra ngáng. Phàn Lăng hầm hầm tức giận mở cửa đi ra, không chú ý đến dưới chân, vấp phải chân Tào Tháo ngã sõng soài, lộn từ trên bậc thềm xuống, đất cát dính đầy mồm miệng, kêu ôi ối hồi lâu mới bò dậy được.
— Ôi! Là ai thế này? Ngã đau lắm hả? - Tào Tháo giả bộ chạy lại đỡ lên, - Phàn thúc phụ, sao lại là thúc thế này? Thật đúng là... tại cháu, tại cháu, đi đứng vội vàng! - Vừa nói vừa giả bộ vả vào miệng mình một cái.
Chiếc guốc gỗ của Phàn Lăng cũng bị gãy, quần áo thì rách, đèn đuốc tối tăm, cái trâm cài đầu cũng không tìm thấy đâu cả, đầu tóc xõa tung lại bê bết bùn đất. Ông ta lếch thếch đứng dậy đưa tay sờ, thì răng cửa cũng đã bị gãy mất, chỉ biết bưng lấy cái miệng bê bết máu, chỉ vào Tào Tháo:
— Ngươi... ngươi... cha con ngươi đều là đồ tồi! - Nói xong lão già ấy tức đến phát khóc, túm lấy cái guốc đã gãy, chân thấp chân cao đi khỏi.
Hai cha con họ Tào, một người trong nhà, một người ngoài cửa đều ôm bụng cười ha hả, dường như hai cha con họ chỉ khi trêu chọc người khác mới tâm đầu ý hợp. Tào Tung cười xong hồi lâu, sắc mặt chợt trở nên thật nặng nề:
— Nói thì nói, cười thì cười, chứ xem ra chức thái úy này của ta cũng không làm lâu hơn được nữa rồi.
Tào Tháo chợt thấy đau nhói trong lòng, dẫu sao đó cũng là cả một ức vạn tiền mà! Nhắn nhủ dặn dò bao nhiêu, vẫn cứ là bị vứt một cách phung phí, nhưng sợ cha mình buồn, Tào Tháo chỉ nói:
— Dù sao phụ thân cũng đã làm đến chức cao nhất rồi, còn có gì phải hối tiếc nữa? Không đến phủ thái úy ấy nữa càng hay, vắng vẻ lạnh lẽo chẳng có chút sinh khí nào cả. Sau này thanh nhàn, ngày ngày phụ thân có thể ở nhà ẵm cháu được rồi.
Tào Tung dựa cửa, than thở nói:
— Phải rồi... ngày ngày có thể ẵm cháu.
Sau bữa Phàn Lăng đi khỏi, quả nhiên sóng gió không ít. Ông ta và Hứa Tương, Tào Tung vốn cùng một phe cánh, nay vì chuyện nhỏ ấy mà bị mất mặt. Đầu tiên ông ta chạy đến chỗ tư đồ Hứa Tương bày chuyện thị phi, sau đó đến kể khổ với thập thường thị, cuối cùng cầm bán gia sản cố gắng gom được một ngàn vạn tiền, cung kính đưa đến Vạn Kim Đường ở Tây Viên, muôn việc đủ cả chỉ thiếu một trận đánh. Thật vừa khéo, đúng lúc ấy quân Khăn Vàng ở Nhữ Nam lại một lần nữa làm loạn, hoàng đế Lưu Hoành cuối cùng cũng đã có cớ, lập tức bãi miễn chức vụ của Tào Tung, chuyển xuống làm gián nghị đại phu.
Nửa tháng sau, Phàn Lăng được tiếp nhận chức thái úy đúng như mong muốn. Tào Tung nhận chức thái úy từ tháng Mười một năm Trung Bình thứ tư, đến tháng Năm năm Trung Bình thứ năm thì bị bãi chức, tất cả làm được bảy tháng. Người tiền nhiệm của ông là Thôi Liệt cũng đảm nhiệm chức thái úy trong bảy tháng, bỏ ra năm trăm vạn, nhưng Tào Tung thì phải bỏ ra nhiều gấp hai mươi lần!
Sau khi Phàn Lăng nhận chức, Tào Tháo nghĩ rằng trong lòng cha mình sẽ rất chán nản. Nhưng thật không ngờ, đúng là ông đã ngày ngày ngồi ở nhà bế cháu thật, ngay cả chuyện đến Đông Quán điểm danh cũng lười chẳng buồn đi. Mấy ngày hôm sau, Tào Tháo từ phủ đại tướng quân trở về, thấy phụ thân đang ngồi ở sảnh đường nói chuyện vui cười với Lâu Dị.
— Phụ thân, phụ thân có chuyện gì mà vui vẻ thế?
— Tử Hòa trở về báo cho ta biết, Phàn Lăng sắp bị bãi chức rồi.
— Hả? Còn chưa tới một tháng mà? - Tào Tháo cảm thấy rất bất ngờ.
— Phải, để cho lão già ấy tranh với ta! Làm không nổi một tháng ông ta đã đi đời rồi. - Tào Tung nói vẻ thích thú.
— Vì sao thế ạ?
— Hoàng đế muốn cử hành đại lễ diễu binh! Tự sách phong mình trước đại chúng là “Vô Thượng tướng quân”, đến khi ấy Phàn Lăng sao đảm đương nổi? Chưa cần nói đến danh vọng, ngay đến răng cửa ông ta cũng chẳng còn nữa. Hoàng thượng muốn dùng người có uy vọng nhất là Mã Mật Đê làm thái úy, để đại lễ này tiến hành được hoàn mỹ.
— Làm gì có chuyện hoàng đế tự sách phong cho mình làm tướng quân chứ?
— Là ông ta muốn tự lập uy nghiêm, trấn áp thế lực của Hà Tiến. Ngoài ra ông ấy còn muốn chính thức sách phong cho tám hiệu úy ở Tây Viên các ngươi trước mặt đại chúng, có thể còn có ban thưởng. - Nói đến đó, Tào Tung đột nhiên cất lại nụ cười trên môi, - Người làm thượng quân hiệu úy đã xác định lựa chọn được rồi.
— Ai vậy?
Tào Tung mặt sa sầm:
— Kiển Thạc.
— Kiển Thạc? Sao có thể dùng hoạn quan được? - Tào Tháo vô cùng bất bình.
— Không dùng ông ta thì còn có thể dùng ai? Bên cạnh hoàng đế cũng chỉ có người này là tuyệt đối trung thành thôi. - Tào Tung vung vẩy cây gậy chống, - Những câu này đều là của hoàng thượng bàn bạc với các thượng thư đấy, ngay cả hoàng hậu cũng không biết. Ngươi mau đến chỗ Hà Tiến nhắc nhở ông ta. Tay Kiển Thạc này là kẻ cứng đầu liễu lĩnh, dù là đại tướng quân, thập thường thị, hoàng hậu gì gì hắn cũng không theo ai đâu. Người này chỉ biết có hoàng thượng, không biết tới ai khác đâu. Sắp tới đây sẽ còn nhiều phiền phức đấy! Tây Viên hiệu úy là một công việc nguy hiểm. Tiểu tử ngươi phải chuẩn bị trước cho tốt. Nếu ngươi có thể vượt qua được cửa ải này, thì nhà họ Tào chúng ta từ đây sẽ đại hưng đại vượng. Còn nếu ngươi không vượt qua được, ôi... Thơ ấu mất cha, trung niên mất vợ, tuổi già mất con, cuộc đời này của ta sẽ phải nếm trải đủ!
Trong lòng Tào Tháo càng cảm thấy bất an: “Khi xưa mình giữ chức Lạc Dương bắc bộ úy, đã đích thân hạ lệnh đánh chết thúc thúc của Kiển Thạc đấy!”
Diễu võ dương oai
Việc chọn lựa người làm tám hiệu úy ở Tây Viên một khi đã xác định xong, thì đại lễ được khẩn trương chuẩn bị. Đại lễ diễu binh sẽ được cử hành ở Bình Lạc quán trong hoàng cung. Để buổi lễ càng thêm uy nghi nghiêm cẩn, Lưu Hoành đã đích thân tuần tra xem xét, hạ lệnh cho xây dựng Giảng Vũ đàn ở trước Bình Lạc quán, bên trên dựng lọng hoa năm sắc mười hai tầng cao tới mười trượng, Lưu Hoành sẽ đứng trên đó để quan sát ba quân. Căn cứ câu trong Lục thao viết: “Có thiên tử coi sóc việc quân, thì uy danh có thể lan đến bốn phương”, Lưu Hoành muốn tự xưng là “Vô Thượng tướng quân”. Mặt khác, ở phía đông nam của Giảng Vũ đài, lại dựng một đàn nhỏ cho đại tướng quân Hà Tiến, phía trên dựng lọng hoa chín tầng cao chín trượng, để làm rõ uy nghi của vị thống soái. Ai cũng có thể nhìn ra, địa vị của Hà Tiến bây giờ đã là ở dưới một người mà ở trên vạn người rồi.
Sắp đến ngày cử hành đại lễ thì Tướng tác đại tượng Chu Tuấn hồi triều. Từ sau khi bị tước mất danh hiệu Xa kị hữu tướng quân năm xưa, Chu Tuấn cảm thấy vô cùng bất an, vừa đúng khi ấy thì mẹ già tám mươi tuổi qua đời, ông xin từ quan về quê chịu tang. Nhưng thực tế thì cũng như Tào Tháo, chẳng qua là ông ta mượn cơ hội ấy trốn tránh sự bức hại của thập thường thị.
Đến nay đã hết ba năm, cục diện triều chính đã thay đổi, thập thường thị tự bảo toàn cho mình cũng chưa xong, không thể làm nguy hiểm đến mình nữa, vì thế ông lập tức về triều đảm nhiệm chức thái bộc.
Tào Tháo nghe tin thì vô cùng vui mừng, biết Chu Tuấn là người rất bận rộn, nên Tào Tháo đặc ý chọn một ngày trời mưa đến nhà thăm hỏi. Hai người từng cùng nhau hiệp đồng đánh giặc, lại đều có hành động về quê tránh nạn, nên gặp mặt rồi tự khắc có nhiều điều tâm sự.
Khi Tào Tháo nhắc đến chuyện chiến sự ở Tịnh Châu, Đổng Trác làm tướng, Chu Tuấn cười nói:
— Mạnh Đức, năm xưa cậu ra làm chức Tế Nam tướng, e là chưa được biết rõ. Đổng Trọng Dĩnh kia đi thảo phạt loạn người Khương rất phản phục bất định. Hơn nữa khi Trương Ôn làm soái, vời ông ta ra làm tướng, ông ta nói năng ngạo mạn, rất không bằng lòng đối địch với người Khương.
Tào Tháo nghe câu ấy hệt như phụ thân mình nói với Phàn Lăng:
— Tại hạ cũng có nghe được nhiều, Đổng Trác kia đúng là có lòng phản nghịch ư?
— Lòng phản nghịch thì không dám nói, nhưng thực sự ông ta có chiêu binh tự vệ. Triều ta, loạn lạc ở Tây Bắc đánh đã lâu mà không xong, trong khi những tướng được dùng lại là người Lương Châu, như Hoàng Phủ Quy, Đoàn Quýnh, Trương Hoán, Tang Mân, Hạ Dục, Châu Thận, còn cả Đổng Trác kia nữa, đều là danh tướng dẹp loạn, nhưng trong số họ không có một ai cao quý được như Hoàng Phủ Nghĩa Chân dẹp loạn Khăn Vàng. - Chu Tuấn nói đến đó tựa hồ có điều cảm khái, - Đổng Trọng Dĩnh kia vốn là đồng hương với Hoàng Phủ Nghĩa Chân, luận về kinh lịch thì từng theo Trương Hoán cầm quân, so với Hoàng Phủ Tung thì lão luyện hơn nhiều. Nhưng Hoàng Phủ Nghĩa Chân từng giữ chức vụ tả xa kỵ tướng quân cao sang, còn ông ta lại chỉ là một chân tiền tướng quân chẳng có gì đáng nói, đánh trận phải nghe theo sự điều khiển của người khác, nên trong lòng ông ta tất nhiên bất mãn. Vì thế khi ông ta đi đánh dẹp ở các nơi biên cương đã rộng ban ân đức, chiêu nạp một lượng lớn người Khương, người Hồ, lại thu nạp quân nghĩa tòng quy hàng ở Hoàng Trung vào dưới trướng của mình, nhờ chuyện ấy để tự lập danh vọng, làm kế tiến lui.
Tào Tháo biết ông ta cũng thích được khen, liền thán phục liên hồi:
— Tiểu nhân cứ cho rằng mình cũng có sự tiến bộ, nhưng nhìn nhận sự việc còn xa mới bằng được ngài.
— Chớ có khen xằng. - Chu Tuấn liên tục xua tay, - Ta ba năm nay ở nhà cư tang, không nghe chuyện chính sự. Thứ sử Tịnh Châu hiện do ai đảm nhiệm?
— Đinh Nguyên Đinh Kiến Dương ạ.
— Là ông ta ư... - Chu Tuấn lộ rõ vẻ lo lắng, - Đổng Trác và Đinh Nguyên hai người đều ở Tịnh Châu, lại có tính khí giống nhau, hai con hổ tranh nhau e là sẽ không thể dung tha cho nhau được.
— Từ đâu mà ngài thấy thế?
— Quân mà Đinh Kiến Dương dẫn theo là Hung Nô, Đồ Cách. Quân mã của Đổng Trác phần lớn lại là Tây Khương, và nghĩa tòng ở Hoàng Trung. Những người này phần lớn có mối thù truyền kiếp với nhau, sao có thể cùng đồng lòng dốc sức chiến đấu? Chỉ sợ là kéo dài như vậy lâu dần sẽ sinh ra vạ ngay trong tường vách.
Nghe ông ta nói như vậy, Tào Tháo cũng cảm thấy sự việc khó mà khả quan, vội nói:
— Nếu đã như vậy, ngày mai chúng ta đến chỗ đại tướng quân để bàn bạc đối sách, nếu có thể điều động một người về triều hoặc phái đi làm tướng nơi khác, thì sự việc có khả năng có cơ chuyển biến.
— Việc quan trọng như vậy há lại đợi đến ngày mai ư? - Nói xong Chu Tuấn đã đứng ngay dậy.
Tào Tháo gật gật đầu, cùng Chu Tuấn lập tức ra khỏi phủ lên xe đội mưa chạy đến mạc phủ để nghị sự.
Vì trời mưa, nên rất nhiều thường khách hằng ngày vẫn đến hôm nay đều không đến, ngay cả huynh đệ Viên Thiệu hôm nay cũng không có mặt, chỉ có một số mạc liêu như bọn Tuân Du, Khoái Việt... Tào Tháo thường qua lại nên đã quen thuộc cả, dẫn Chu Tuấn đi thẳng đến sảnh đường diện kiến Hà Tiến. Vừa bước vào cửa đã thấy nghị lang Đổng Phù tóc bạc phơ phơ đang cúi đầu từ biệt Hà Tiến:
— Lão hủ giờ đây được nhận lệnh đi làm đô úy thuộc quốc ở Thục quận, đó đều là nhờ phúc của đại tướng quân vậy!
— Ông à, ông khách sáo quá. Có việc gì có thể giúp được ta sẽ hết sức giúp cho. - Hà Tiến ưỡn cái bụng phệ to tướng, đứng xua tay mãi.
— Ta đã ngần này tuổi, đất vàng đã vùi đến cổ rồi, có lẽ chẳng có cơ hội về đến kinh sư để gặp mặt đại tướng quân mà cảm tạ nữa. - Đổng Phù than thở, - Quê ta ở Quảng Hán, cách nơi ấy rất gần, ngay khi còn sống có thể vinh quy về làng cũng coi như hoàn thành được một tâm nguyện lớn của lão hủ rồi, thế nên phải cảm tạ đại ân đại đức của đại tướng quân.
— Không phải cảm ơn, không phải cảm ơn. - Hà Tiến nói vẻ đã hơi sốt ruột, có thể thấy rằng lão Đổng Phù này có lẽ đã cảm ơn đi cảm ơn lại mấy lần rồi.
Tào Tháo bước lại trước Hà Tiến thi lễ, lại quay người sang nói với Đổng Phù:
— Đổng lão, dọc đường đi núi cao đường thẳm, lão ngài đã tám mươi tuổi rồi. Tuổi tác thế này bôn ba đường dài như vậy há chẳng phải tội ư. Ở kinh an hưởng tuổi già thì có gì mà không được?
— Ôi... lão hủ thực sự rất nhớ nhung quê cha đất tổ. - Đổng Phù vuốt chòm râu trắng như tuyết, dường như vô cùng cảm khái, - May mà Lưu Yên đại nhân chuyển đi nhận chức Ích Châu mục, chúng ta cùng nhau lên đường, nên trên đường đi cũng tiện có người giúp đỡ nhau.
Ông ta còn chưa nói dứt câu, bỗng phía sau có một người đứng dậy thi lễ nói:
— Đổng lão, vãn sinh có chuyện này chưa rõ xin được thỉnh giáo ngài!
Tào Tháo nhìn kỹ, thì ra đó là Tuân Du ở Dĩnh Xuyên.
Dường như Đổng Phù không quen biết Tuân Du, chống gậy cúi mình nói:
— Không dám, không dám. Ông cứ việc hỏi. - Đổng Phù nổi tiếng là tinh thông sấm vỹ, thiên văn, nên tưởng rằng Tuân Du nhất định muốn hỏi về chuyện ấy.
Nào ngờ Tuân Công Đạt chắp tay nói:
— Nếu như Đổng lão đã nhớ mong quê cũ, vì sao không cáo lão về quê, xin một chức quan để đi chẳng phải là vẽ vời thêm phiền ư? Hơn nữa quê nhà Đổng lão ở Quảng Hán, mà chức trách sắp tới lại ở Thục Quận, hai nơi đâu phải là một, thế thì làm sao coi là về quê được?
Cơ thịt hai bên má Đổng Phù hơi giật giật, ông ta ngượng ngùng cười nói:
— Chẳng phải ngại đám tuổi trẻ các ông chê cười, lão phu nhà nghèo không có của cải gì, người trong họ lại cơ hàn, không có một chút bổng lộc nào thì e là khó mà sống được đến hết đời... Để các ông phải chê cười rồi.
Tuân Du thấy ông ta nói như thế cũng chẳng biết nên hỏi thêm gì nữa. Đổng Phù cáo từ. Mọi người thấy ông ta đã già cả, đều tiễn ra đến tận bên ngoài. Ông lão chống gậy quyến luyến mọi người mãi, rồi mới run rẩy lên xe đi. Mọi người lục tục quay về, chỉ có Tuân Du đội mưa đứng dưới hiên nhìn theo mãi.
Tào Tháo vỗ vỗ vai anh ta nói:
— Công Đạt, khi nãy huynh hà tất phải hỏi nhiều. Ông ấy đã già lão như vậy, nói ra một câu rằng mình tham bổng lộc, há lại chẳng mất mặt lắm sao?
Tuân Du lắc đầu liên tục:
— Chuyện này cũng không hẳn thế... Đổng Mậu An cũng là lão nho một thời, không thể dễ dàng tự làm ô uế thanh danh mình. Hôm nay ông ấy chấp nhận làm như vậy, chắc chắn phía sau có ẩn giấu điều gì. Huynh chớ quên khi xưa Hàn Tín chịu nhục chui qua đũng quần kẻ khác, rồi sau mới thành sự nghiệp Tam Tề.
— Ồ? - Tào Tháo cảm thấy có lý, - Huynh thấy thế nào?
— Có thể chỉ là ta hay nghĩ... Quan tông chính Lưu Yên với Đổng Phù, cùng thái thương lệnh Triệu Vĩ, nghị lang Pháp Diễn, Mạnh Đà trước nay giao hảo với nhau. Lần này Lưu Yên tự xin đi làm thứ sử Ích Châu, dẹp loạn Khăn Vàng của Mã Tương. Lúc sắp đi ông ta lại dâng tờ điều trần xin đổi thứ sử làm châu mục, kiêm lĩnh việc chính sự, như vậy việc chính sự cùng quân đội ở Ích Châu đều nằm trong tay một mình Lưu Yên khống chế.
Tào Tháo tựa hồ đã nhận ra một chút vấn đề:
— Lần này Đổng Phù đi đảm nhiệm chức thuộc quốc đô úy ở Thục Quận. Mấy ngày trước thái thương lệnh Triệu Vĩ, nghị lang Pháp Diễn, Mạnh Đà cùng xin từ quan một ngày. Mấy người bọn họ muốn cùng đi Ích Châu cả!
Tuân Du cúi đầu trầm ngâm nói:
— Ta chỉ e bọn Lưu Yên đi lần này, Ích Châu từ đây sẽ không còn thuộc sở hữu của thiên tử nữa.
Dã tâm muốn cắt đất xưng bá của đám Lưu Yên... nhờ Tuân Du chỉ ra, Tào Tháo cũng dự cảm thấy không hay. Nhưng bây giờ đâu còn có thể can thiệp được vào bọn họ nữa, chỉ có thể nói:
— Chính sự không thể sáng ban ra chiều lại đổi, ngày mai họ đã xuất phát rồi!
— Mong rằng đó chỉ là ta suy nghĩ quá ra thế. - Tuân Du tự an ủi mình rồi quay về sảnh đường.
Tào Tháo đi theo sau vào, thấy Chu Tuấn đã trình bày sự việc ở Tịnh Châu với mọi người trong mạc phủ. Hà Tiến thì chẳng hiểu gì cả nhưng trưởng sử Vương Khiêm, chủ bạ Trần Lâm, đông tào duyện Khoái Việt đều rất lo lắng, lập tức cùng nhau soạn biểu dâng lên triều đình.
Ba ngày sau, triều đình truyền chiếu cho Đổng Trác về triều tấn thăng lên làm thiếu phủ, ra lệnh giao binh mã cho Hoàng Phủ Tung thống lĩnh, loạn ở Tịnh Châu giao cho Đinh Nguyên chịu trách nhiệm xử lý. Nhưng Đổng Trác lại không chịu phụng chỉ về triều làm cửu khanh, chỉ đưa đến một bản tấu nói: “Lương Châu rối loạn, đám kình nghê còn chưa diệt được, đó là lúc hạ thần phải dốc sức cố gắng. Quân sĩ đang phấn chấn, mong báo ơn vua, ai nấy đều giữ lấy xe của hạ thần, không muốn từ biệt, nên chưa thể lên đường được. Xin để cho thần trước lúc lên đường, đem việc quân tận lực thi hành, dồn sức ra trận tiền.”
Chu Tuấn hay được, chửi rủa Đổng Trác ngông cuồng, muốn lại được làm theo cách khác, bỗng có giặc Khăn Vàng ở Hắc Sơn nổi lên đánh lấn sang phía đông. Triều đình cho Chu Tuấn vốn có uy danh, ra làm Hà Nội thái thú, trấn áp Hắc Sơn. Chuyện Đổng Trác tạm thời phải gác lại. Sau đó lại phải cử hành đại lễ diễu binh, chuyện ấy cũng dần dần bị mọi người quên lãng...
Tuy hoàng đế Lưu Hoành đã bị nhiễm phong hàn từ lâu, nhưng đại lễ duyệt binh vẫn được tiến hành vào cuối tháng chín đúng như kế hoạch, văn võ bá quan không ai không đến Bình Lạc quán tham dự. Ngày hôm ấy tiết trời tạnh ráo ấm áp, mấy vạn bộ binh kỵ binh bày trận lập doanh ở trước hoàng cung. Lưu Hoành đích thân đăng đàn giám sát quân sĩ, khích lệ tướng sĩ bảo vệ bờ cõi, và đọc lớn lời văn trong sách Thái công Lục thao. Thái úy Mã Mật Đê hai tay trịnh trọng nâng tờ sách văn tuyên đọc:
— Lấy Kiển Thạc làm thượng quân hiệu úy; Viên Thiệu làm trung quân hiệu úy; Bào Hồng làm hạ quân hiệu úy; Tào Tháo làm điển quân hiệu úy; Hạ Mâu làm tả hiệu úy; Thuần Vu Quỳnh làm hữu hiệu úy; Triệu Dung làm trợ quân tả hiệu úy; Phùng Phương làm trợ quân hữu hiệu úy.
Sách văn tuyên đọc xong, Lưu Hoành tự mặc áo giáp, xưng làm “Vô thượng tướng quân”, dẫn theo tám hiệu úy cùng kỵ binh tâm phúc ở Tây Viên phóng ngựa ba vòng xung quanh quân doanh, để diễu võ dương oai. Khi chạy đến vòng cuối cùng, hoàng đế đột nhiên dừng lại trước đàn quan sát của đại tướng quân ở góc đông bắc của trận doanh, mọi người không hiểu là ý gì, đều lũ lượt ghì cương dừng ngựa.
Chỉ thấy trên gương mặt trắng trẻo của hoàng đế nở một nụ cười mỉm, không biết có phải là do nhiều năm buông thả vô độ hay là do mấy ngày nay ông đang ốm mà giọng nói có vẻ yếu ớt run rẩy:
— Liệt vị ái khanh, thiên hạ là thiên hạ của quả nhân. Trẫm sách phong cho các khanh là để mãi mãi bảo vệ giang sơn vững mạnh! Kiển Thạc là người tay chân tâm phúc của trẫm, hiện giờ đặc biệt đích thân giữ chức nguyên soái, đôn đốc binh mã các nơi từ tư lệ hiệu úy trở xuống.
Nói rồi, Lưu Hoành giơ roi chỉ lọng hoa chín tầng của Hà Tiến:
— Ngay cả đại tướng quân cũng thuộc quyền quản lý của nguyên soái. Các ngươi đã nghe rõ cả chưa?
— Rõ! - Tám người đồng thanh đáp lời, tiếng hô lớn, khiến ngay chính bản thân mình cũng sợ hãi giật mình.
— Hơn nữa hôm nay, trẫm lại có thêm một đạo sắc lệnh. Trẫm thăng cho vệ úy Đổng Trọng lên làm phiêu kỵ tướng quân!
Vệ úy khanh Đổng Trọng là cháu của Đổng thái hậu, là con trai của Đổng Sủng - em trai Đổng thái hậu, luận ra thì là anh em họ ngoại của hoàng thượng.
Hoàng thượng nói xong lại vung chiếc roi da, tiếp tục phi ngựa, giơ cao bội kiếm, đi thẳng đến giảng võ đàn. Mấy vạn quân binh cùng với văn võ bá quan đồng thanh hô lớn:
— Vạn tuế! Vạn tuế! Vạn vạn tuế! - Cả quảng trường hoàng cung chìm trong một không khí uy nghiêm.
Tào Tháo trộm nhìn sang phía Kiển Thạc, chỉ thấy ông ta diện mạo nghiêm trang, mắt không nhìn nghiêng. Còn trên đàn nhỏ ở góc đông bắc, tay Hà Tiến bám lấy lan can chỗ lọng hoa, vẻ mặt vẫn vui mừng hớn hở - ông ta vốn không ý thức được rằng cái họa mất đầu đã gần ngay trong gang tấc rồi. Mấy vạn quân vẫn giơ cao giáo dài hô vang không ngớt, đứng rợp một khoảng trời nhìn không thấy hết được. Tuy rằng như vậy, vẫn còn mấy cánh quân mã vì đang đi dẹp loạn nên không đến đủ. Bao nhiêu người như vậy, lẽ nào lại giao cho một hoạn quan thống lĩnh?
Tào Tháo không ngăn được chợt lo sợ, lại thấy bọn Viên Thiệu sáu người mặt đã nặng như chì. Vang vọng không thôi trên Giảng Vũ đàn, chỉ có tiếng cười điên cuồng không còn sợ hãi gì nữa của hoàng đế Lưu Hoành...
Tranh đoạt binh quyền
Ngày thứ ba sau lễ duyệt binh, có sắc lệnh chuyển nơi nghị sự của tám hiệu úy từ Đô Đình về Tây Viên. Như vậy mối liên hệ giữa bảy người Viên Thiệu, Bào Hồng, Tào Tháo với Hà Tiến đã bị cắt đứt. Nơi hội họp được đặt trong trướng kỵ binh ở Tây Viên, các hiệu úy vào chỗ ngồi, trong khi những thân binh tâm phúc của của Kiển Thạc tay cầm bội đao đứng sau lưng!
Kiển Thạc vóc người cao lớn to khỏe, tuy là hoạn quan nhưng lại vô cùng uy vũ có sức khỏe. Nếu đem so sánh với ông ta thì bảy sĩ nhân rõ ràng là thấp bé nhỏ con hơn. Ông ta không hề khách sáo, ngồi trên chính tọa mà ban ra mệnh lệnh. Giọng nói âm dương quái khí thật không phù hợp với vóc dáng uy vũ của ông ta chút nào:
— Hiện nay trong thiên hạ binh đao nổi lên khắp nơi. Quân Khăn Vàng ở Ích Châu do Ích Châu mục Lưu Yên tiễu phạt. Phản loạn ở Tây bắc do hữu tướng quân Hoàng Phủ Tung, tiền tướng quân Đổng Trác ngăn chặn. Loạn ở Tịnh Châu do thứ sử Tịnh Châu là Đinh Nguyên đánh dẹp. Loạn ở Hắc Sơn do thái thú Hà Nội Chu Tuấn đối địch. Loạn ở U Châu do U Châu mục Lưu Ngu, kỵ đô úy Công Tôn Toản phụ trách. Các nơi chiến sự, chỗ nào chịu trách nhiệm ở chỗ ấy, đều có phân công. - Nói đến đó ông ta cố ý dừng lại một chút, cầm lên hai bản báo tin chiến sự, - Nhưng hiện nay có bọn dư đảng Khăn Vàng ở Nhữ Nam và bọn người Man ở Ba Quận làm phản. Các vị hiệu úy đại nhân, ai trong số các vị bằng lòng xin lệnh đi quét sạch chiến hỏa ở hai nơi này?
Bảy người không ai chịu nói một lời, rõ ràng là ông ta cố ý tìm cớ, ai không cẩn thận xin lệnh đi, khó tránh khỏi ông ta sẽ cắt bớt quân lương, lương thảo làm cho phải binh bại. Như vậy thì tính mệnh của kẻ cầm quân sẽ gặp phải nguy hiểm.
— Ai bằng lòng xin lệnh? - Kiển Thạc lại hỏi lại lần nữa.
Vẫn không có ai cất lời.
Kiển Thạc trợn hai mắt kỳ quái tròn xoe, quét qua lần lượt từng người với ánh nhìn ép buộc, cuối cùng dừng lại ở chỗ Tào Tháo:
— Tào hiệu úy, có phải lệnh tôn đại nhân vì việc phản loạn ở Nhữ Nam này mới bị bãi miễn không?
Tào Tháo linh tính mách bảo, chợt thấy lạnh run, thầm nhủ: “Ông ta muốn báo mối thù giết chú khi xưa đây mà!”
— Hơn nữa, ta nhớ rằng, khi ông làm kỵ đô úy, đã từng theo Chu Công Vĩ bình định Nhữ Nam, không sai chứ? - Kiển Thạc khanh khách cười mãi, âm thanh chói tai ấy khiến người ta không lạnh mà run, - Cho nên lần phản loạn này, phải chăng là để ông...
— Khoan đã! - Ngoài sự tưởng tượng của mọi người, Bào Hồng ngồi cạnh Tào Tháo bỗng nhiên cắt ngang lời ông ta.
— Bào hiệu úy có gì muốn nói chăng? - Kiển Thạc đưa mắt nhìn Bào Hồng.
— Thượng quân hiệu úy đại nhân, ngài đã có thể thống lĩnh bảy chúng ta và đại tướng quân, nhất định là dụng binh như thần, thao lược hơn người. - Bào Hồng cười nhạt nói, - Mấy người chúng ta đây đều đã từng đánh giết ở nơi sa trường, nhưng vẫn chưa được lĩnh giáo bản lĩnh của ngài. Nên chăng ngài hãy dẫn quân dẹp loạn trước, cũng là để làm gương cho chúng ta? Bào mỗ ta cũng muốn được thưởng thức cái vẻ vũ dũng của ngài đấy!
Kiển Thạc không giận không tức, vỗ tay nói:
— Hay lắm! Trận đầu tiên này doanh thượng quân của ta sẽ đi đánh!
— Có thực vậy không?
— Nhưng có câu này ta phải nói trước. Ta còn phải đảm nhiệm công việc của hoàng môn, không thể rời kinh. Ta sẽ sai biệt bộ tư mã của ta là Triệu Cẩn dẫn theo bản doanh thay ta xuất chinh.
— Hừ! Một vị tư mã thay ông...
Kiển Thạc không đợi Bào Hồng nói xong, đã nói thêm:
— Ta muốn ông ta dẫn theo toàn bộ binh mã của ta xuất chinh!
Mọi người không khỏi giật mình: “Tất cả quân đều sai đi cả, chỉ còn lại một mình ông hiệu úy tay không ở lại đấu với chúng ta, có phải là quá tự phụ không?”
— Thế nào? Ai còn có ý kiến gì khác? - Kiển Thạc nhìn bên trái lại bên phải, vẻ nắm chắc phần thắng trong tay.
Bào Hồng vỗ đùi:
— Được! Nếu ngài đã dám đi đầu, loạn Khăn Vàng ở Nhữ Nam ta sẽ đi dẹp!”
— Vậy chúng ta cứ quyết như thế. Hi hi hi... giải tán! - Kiển Thạc cười nhạt một thôi rồi đứng dậy đi.
Lần giao chiến đầu tiên đã kết thúc như vậy. Bảy người ra khỏi đại trướng rất xa, tận đến khi không còn trông thấy tên lính nào của Tây Viên, mới dám cất lời bàn bạc.
— Bào Hồng, huynh không nên xin lệnh này đâu! - Viên Thiệu than thở nói.
— Không xin thì làm thế nào? Ông ta đi đánh một nơi, còn một nơi sẽ rơi vào đầu chúng ta. Đại tướng quân không ở đây, huynh là người cầm đầu. Nếu tính lần lượt thì là đến lượt huynh, nếu huynh đi thì chúng ta há chẳng phải là càng không có biện pháp gì đối phó ư? - Bào Hồng hét lên nói.
Tào Tháo không thể không nói:
— Kỳ thực khi nãy ông ta muốn sai ta đi.
— Huynh càng không thể đi được. - Phùng Phương nói chen vào, - Năm xưa huynh đánh chết chú của ông ta, nếu đi há lại có thể toàn mạng trở về?
— Khốn kiếp! Ta đúng là hận không thể mổ bụng tên chó thiến này! - Thuần Vu Quỳnh giận đến nghiến răng.
— Trọng Giản, không được manh động. Ông ta có hoàng thượng đứng sau lưng đấy. - Viên Thiệu ngoái đầu lại nhìn, thấy Hạ Mâu, Triệu Dung sắc mặt sợ hãi, sợ ý chí bọn họ không kiên định, vội nói, - Hiện giờ bảy người chúng ta, chỉ có thể tiến, không thể lùi! Nếu có ai rụt tay lại, bị tên hoạn ấy nắm lấy binh quyền, thì bảy người chúng ta, lại còn đại tướng quân và các bằng hữu trong mạc phủ, đều sẽ thành ma không đầu dưới lưỡi đao mà thôi.
Bào Hồng tiếp lời nói:
— Đúng! Phải đấu với hắn!
Tào Tháo thấy thế vội đề nghị:
— Bảy người chúng ta cùng ăn thề với nhau, tuyệt không bỏ binh quyền, tuyệt không phản bội đại tướng quân, phản bội các bằng hữu của chúng ta. Bảo vệ được cho họ, cũng là bảo vệ được giang sơn đại Hán chúng ta, bảo vệ được lực lượng này, thì thập thường thị mới không dám chuyên quyền loạn chính, giết hại trung lương.
— Đúng! - Mọi người cùng vây lại thành một vòng, bảy cánh tay cùng nắm lại với nhau.
Nhưng bọn họ đang ở Tây Viên và không biết rằng, khi Kiển Thạc triệu tập mình đến Tây Viên hội họp thì phiêu kỵ tướng quân Đổng Trọng đã đến Đô Đình, phụng thánh chỉ tiếp quản bộ phận quân mã của huynh đệ Hà Tiến, Hà Miêu, tình thế ngày càng trở nên bất lợi.
Từ đó về sau, buổi hội họp cứ mười ngày tổ chức một lần dường như trở thành một cuộc đấu chọi. Kiển Thạc lấy lý do thượng quân không có binh lính, yêu cầu các hiệu úy mỗi người cắt một phần quân lính cho ông ta. Nhưng bọn Viên Thiệu, Tào Tháo lấy lý tranh cãi, không chịu lùi một phân nào. Trong quân trướng Tây Viên, người kêu kẻ hét ầm ĩ một góc trời. Nhưng chỉ cần không đi đánh nữa, cuối cùng Kiển Thạc cũng không tìm được bất kỳ lý do nào. Ngay cả hoàng đế Lưu Hoành sau lưng ông ta cũng không dám tự tiện cắt bớt quân số của tám hiệu úy. Vì dẫu sao vẫn có mấy vạn quân mã ở kinh sư, nếu như có kẻ nào vì Hà Tiến, đứng lên hô to một tiếng, kêu cho nỗi oan tày trời của ông ta, thì hoàng đế có lẽ sẽ phải thoái vị sớm!
Hai bên cùng cố giữ không chịu buông tay, cho đến tháng Mười, ở hai châu Thanh, Từ phản loạn lại nổi lên. Xem ra lại phải có người mạo hiểm với tính mạng của mình mà xuất chinh rồi. Mọi người không hẹn mà cùng nhau đến phủ đại tướng quân, Hà Tiến dù ngu ngốc đến đâu, tới lúc này cũng đã nhìn ra mối quan hệ lợi hại của sự việc, ông ta thậm chí đã nghĩ đến việc có nên từ quan về nhà hay không.
Viên Thiệu sợ giật nảy mình:
— Đại tướng quân, việc đã đến nước này, một khi từ quan, thì có muốn làm một ông phú hộ cũng không được đâu! - Hà Tiến cúi đầu nói, - Tiểu muội của ta đã có hai đứa con trai với hoàng thượng, cháu ta rồi sau này sẽ là hoàng thượng, ông ấy há có thể ra tay giết thân thích ư?
Mọi người không ai không quay ra nhìn, Vương Khiêm nhẫn nại nói:
— Thưa đại tướng quân, nếu ông đi rồi, chỉ e là đến cả hoàng hậu và đại hoàng tử cũng không bảo toàn được đâu! Đổng Trọng hiện đã là phiêu kỵ tướng quân, bọn họ đã bày mưu phế trưởng lập ấu rồi!
— Hoàng thượng yêu đứa con nào là chuyện của ngài, dù có lập Lưu Hiệp đi nữa, thì hoàng tử thấy ta cũng phải gọi ta một tiếng là cữu cữu chứ? Con người ta gặp gỡ rồi ai chả có chút tình?
Đúng lúc ấy, một tên gia đinh đột nhiên chạy vào, không nói không rằng, dúi vào tay Vương Khiêm một mảnh lụa. Vương Khiêm xem qua, kinh hãi nói:
— Mọi người mau nghĩ cách đi, Kiển Thạc đã bàn bạc với đội quân kỵ Tây Viên, muốn sai đại tướng quân dẫn binh dẹp loạn Khăn Vàng ở hai châu Thanh, Từ đấy!
Hà Tiến khi ấy vẫn chẳng sợ hãi gì:
— Được thôi! Ta đi thì đi, chẳng qua cũng chỉ là đánh nhau chứ gì?
Mọi người khi ấy mới thấy Hà Tiến thật đáng ghét, kẻ thật thà cũng có cái dở của thật thà. Tào Tháo thì lo lắng đến ù đầu, nói:
— Đại tướng quân, bất luận thế nào ngài cũng không thể đi được! Đến lúc ấy chẳng cần đem quân đi bắt ngài nữa, chỉ cần sai một tên hoạn quan, truyền xuống một đạo chiếu thư, viết: “Ban cho đại tướng quân phải chết” gì đó. Khi ấy ngài có phụng chiếu hay không? Ngài đi rồi, những người trong mạc phủ này, đám mấy ông Vương Khiêm há lại chẳng hết đường sống sao?
Viên Thiệu bỗng ngẩng mặt lên trời than dài:
— Mệnh trời như vậy! Mệnh trời như vậy rồi! Để ta đi...
— Ngài?! - Mọi người đều giật mình.
— Chỉ cần ta dẫn quân đi rồi, hắn sẽ không còn lý do gì sai đại tướng quân đi nữa.
Mọi người đến lúc ấy cũng chưa nghĩ ra được cách nào khác. Tối ấy, Viên Thiệu liền đến Đô Đình điểm quân, lập tức xuất quan đến Từ Châu ngay trong đêm.
Hôm sau, Kiển Thạc hay tin giậm chân hét lên như sấm:
— Ai bảo Viên Bản Sơ dẫn quân đi?
— Đại tướng quân. - Tào Tháo bình tĩnh đáp.
— Đại tướng quân có quyền gì mà điều động Tây viên hiệu úy?
— Đại tướng quân tất nhiên có quyền.
— Nói láo, ta mới là người được hoàng thượng nhận mệnh cho thống soái các hiệu úy ở Tây Viên. - Kiển Thạc trừng mắt nhìn Tào Tháo quát.
— Hoàng thượng ra lệnh cho ngài thống soái Tây Viên hiệu úy, hơn nữa còn nói ngay đại tướng quân ngài cũng có thể quản. Nhưng hoàng thượng chưa bao giờ nói là đại tướng quân không thể sai khiến chúng ta. - Tào Tháo bắt bẻ câu chữ tranh biện với Kiển Thạc.
Kiển Thạc nhất thời im lặng không nói được gì.
— Chúng ta lại không phải là hiệu úy bắc quân, chúng ta trước đây vốn do đại tướng quân thống lĩnh. - Phùng Phương vội vàng bổ sung thêm.
Triệu Dung và Hạ Mâu không dám nói gì, hai người cúi đầu nắm lấy hai tay của Thuần Vu Quỳnh, sợ rằng hắn trực tính không khéo gây tai họa.
Kiển Thạc quét ánh mắt nhìn một lượt năm người, nghiến răng nói:
— Hừ! Nói giỏi lắm, nhưng bắt đầu từ ngày mai, Hà Tiến sẽ không còn quyền hạn này nữa.
Quả nhiên, hôm sau Hà Tiến bị tước mất luôn quyền quản lý đối với các hiệu úy Tây Viên. Phủ đại tướng quân bỗng chốc trở nên vắng vẻ như tờ, trừ những tay chân thuộc quyền, còn những người khác không ai dám tự tiện đến đó nữa.
Hai bên lại âm thầm chống đối nhau hai tháng. Biệt bộ Tư mã Triệu Cẩn của thượng quân thắng trận trở về, khí thế của Kiển Thạc lại dâng cao ngùn ngụt. Lão ta ra sức chửi rủa Bào Hồng kém cỏi, ở Ba Quận xa xôi đã chiến thắng trở về, mà ngay Nhữ Nam lại vẫn chưa thu phục được. Mọi người cúi đầu không nói năng gì, bất luận lão ta nói gì cũng chỉ miệng nói tai nghe thôi. Nhưng lão ta còn chưa trách mắng xong thì đã có người chạy đến báo tin: Bào Hồng đã dẹp yên được loạn ở Nhữ Nam rồi, khiến cho Kiển Thạc phải nghẹn họng không nói được gì nữa. Chính trong bầu không khí đáng sợ đó, sự việc kinh hãi cuối cùng cũng đã kịch liệt xảy ra!
Sau khi Bào Hồng dẫn quân về đến Đô Đình, đột nhiên bị đội quân kỵ Tây Viên bắt giữ, chụp cho tội danh là: vì trễ nải làm lỡ cơ hội chiến đấu! Đúng thật là, muốn gán cho có tội thì nào thiếu lý do. Mọi người tìm đủ các mối quan hệ để mong giải cứu. Lần huy động lực lượng khắp nơi này, Mã Mật Đê, Viên Ngỗi, thậm chí cả Tào Tung cũng đều dâng sớ bão lãnh. Nhưng ngày hôm sau đã có tin đưa ra: Bào Hồng ngay trong đêm đã được ban cho rượu độc mà chết!
Bào lão đại kiêu dũng trượng nghĩa đã phải chết như vậy. Khi Bào Tín, Bào Thao, Bào Trung đưa được tử thi từ trong ngục Bắc tự ra, ba huynh đệ đều khóc than thảm thiết. Bào Tín phái tứ đệ hộ tống quan tài về quê, còn mình với tam đệ thì đều từ quan, từ đó ngày đêm bảo vệ đại tướng quân, dứt khoát cùng tồn vong với những sĩ nhân trung nghĩa.
Tào Tháo về đến phủ, cảm thấy cuộc sống của mình mấy tháng nay thật là mơ hồ. Khi xưa, ở trên chiến trường cũng chưa bao giờ cảm thấy sợ hãi, thế mà nay, ở trong đô thành của Đại Hán, ngay dưới chân thiên tử thì...
— Phụ thân, nhi tử e là không thể ở dưới gối người mà tận hiếu được nữa rồi.
Tào Tung ngẩng đầu nhìn con trai:
— Sao thế? Sao lại nói gở như vậy?
— Bào Hồng chết rồi, Viên Thiệu tương lai chưa biết thế nào, Thuần Vu Quỳnh lỗ mãng vô dụng, Hạ Mâu, Triệu Dung hai người này căn bản không có hy vọng gì, chỉ còn lại nhi tử và Phùng Phương chống đỡ cục diện thôi. - Tào Tháo lau mặt vẻ mệt mỏi, - E là người tiếp theo bị Kiển Thạc khai đao sẽ là con.
— Hừ! E là hắn ta vui mừng quá sớm đấy. - Tào Tung vỗ vỗ vai Tào Tháo, - Hôm nay Thuần nhi lại đưa tin đến rồi.
— Có chuyện gì không ạ?
— Hoàng thượng bị bệnh rồi.
— Bệnh rồi? - Tào Tháo vẻ không tin.
— Hoàng thượng nằm mộng trông thấy tiên đế, hốt hoảng chạy ra bị ngã, nếu không có Vũ lâm Tả giám Hứa Vĩnh kịp thời đỡ dậy, thì tối hôm qua e là đã... - Tuy ở nhà mình nhưng Tào Tung vẫn có thói quen nhìn ngó hết trước sau, - Có quan thái y ở chỗ kín đáo đã bàn riêng rằng, e là sẽ không giữ được mấy ngày nữa đâu. Một khi hoàng thượng đã nằm xuống, thì mây mù khắp trời sẽ tan hết!
— Hoàng thượng thực sự sẽ... - Tào Tháo dường như đã nhìn thấy một tia hy vọng.
Tào Tung ngày ngày hỏi thăm tin tức khắp nơi, thực ra ông ta cũng lo lắng không kém nhi tử mình, ông ta bóp bóp vai than thở nói:
— Chỉ vì muốn phế trưởng lập ấu mà đắc tội với tất cả nhân sĩ trong thiên hạ, như vậy có đáng không?
Tào Tháo lắc đầu nói:
— Quang Vũ đế cũng từng phế trưởng lập ấu, nhưng Quang Vũ đế có đức, cho nên không ai phản đối. Còn đương kim vạn tuế có gì?
— Ngài chẳng có cái gì cả... Tống hậu là người thực tâm trung thành thì đã bị ngài phế rồi, thập thường thị cũng quay lưng xa cách, bách tính oán hận, sĩ nhân cũng chỉ mong ngài chết, ngài chỉ còn lại một Kiển Thạc thôi. Làm hoàng đế mà đến mức thế này thì cũng đủ để thất bại rồi.
— Con đường do mình đi dần từng bước mà thành, ngài cũng chả oán ai được.
Tào Tung nắm tay đấm xuống vai nhi tử:
— Kiên trì thêm mấy ngày, mấy ngày cuối cùng nữa thôi! Chỉ cần có thể tiếp tục kiên trì, sau này cơ hội làm quan của con nhất định sẽ hanh thông! Vì tương lai của Tào gia chúng ta, con phải vững vàng cho ta!
— Hiện nhi tử sợ nhất là Kiển Thạc chó cùng rứt giậu... - Tào Tháo thực sự quá mệt mỏi, không nói thêm gì nữa, uể oải ngáp dài, rồi tập tễnh rời khỏi chính đường.
Vừa vào đến hậu viện, đã nghe thấy tiếng sáo thổi vi vu. Trong màn đêm tĩnh lặng, âm thanh ấy uyển chuyển u hoài, phảng phất như mang theo bao nhiêu sầu khổ. Tào Tháo chưa về phòng vội, mà mệt mỏi tựa vào gốc cây lặng nghe khúc nhạc. Tào Tháo đã phải chịu sức ép quá lớn rồi, có thể được một mình yên tĩnh một chút cũng tốt. Nhưng mới được một lát, tiếng sáo đã ngừng, Tào Tháo nhờ ánh trăng đứa mắt nhìn khắp bốn bề tìm kiếm, hóa ra là Hoàn nhi đang cầm một cây sáo thẫn thờ đứng trước dàn hoa đồ mi.
Đến chính Tào Tháo cũng không hiểu được, bản thân y bắt đầu thích Hoàn nhi từ khi nào. Khi xưa Tào Tháo nhận lời ủy thác của lão ẩn sĩ Quách Cảnh Đồ, bảo phải nuôi nấng cho Hoàn nhi khôn lớn và gả chồng cho tiểu cô nương ấy. Nhưng Tào Tháo không ngờ rằng, tiểu cô nương khóc than trước mộ gia gia ngày nào, đến nay đã trở thành một thiếu nữ xinh đẹp khiến người khác phải động tâm rồi.
Giờ phút này đây, trong lòng Tào Tháo đang rối bời, thực sự không thể cưỡng lại được vẻ mỹ lệ của Hoàn nhi, biết rõ rằng cô nương ấy với Biện Bỉnh có tình ý với nhau, nhưng vẫn không nhịn nổi phải đưa đao đoạt tình.
Lúc này trong lòng Hoàn nhi đang nhớ nhung ý trung nhân của mình ở quê nhà, cúi đầu ve vuốt cây sáo, hoàn toàn không biết Tào Tháo đã bước đến phía sau lưng mình khi nào. Hoàn nhi đang còn nghĩ đến tâm sự của mình, bỗng nhiên một cánh tay từ phía sau đã ôm chặt lấy mình.
— Ai?! - Hoàn nhi ra sức vùng vẫy ra.
Tào Tháo vừa hôn lên mái tóc của nàng, vừa nói gấp gáp:
— Hoàn nhi, theo ta nào.
Hoàn nhi từ lâu đã dự cảm rằng sẽ có một ngày như thế này, nhưng nàng vẫn không muốn khuất phục số phận, run run rẩy rẩy gỡ tay người nam tử ấy ra:
— Đừng... đừng...
— Nghe lời nào, Hoàn nhi. - Tào Tháo đưa tay sờ nắn khắp người Hoàn nhi, phát hiện trong tay Hoàn nhi vẫn cầm chặt cây sáo ấy, định đoạt lấy.
Hoàn nhi nắm chặt lấy nó, không buông tay:
— Đó là của A Bỉnh cho muội.
— Đừng nghĩ đến nó nữa. Nó chẳng qua chỉ là một tên tiểu tử hát rong. Muội về với ta há chẳng tốt hơn sao? - Vừa nói, Tào Tháo đã vừa quàng lấy eo Hoàn nhi bế thốc lên.
Trong lúc hốt hoảng, Hoàn nhi trông thấy trong căn phòng của Biện thị ở cuối sân vẫn còn đèn sáng, bèn vội lấy giọng quay về phía ấy kêu thật lớn. Đêm tối tĩnh mịch, tiếng kêu của Hoàn nhi càng thêm vang to hơn, tỷ tỷ nhất định sẽ nghe thấy.
Nào hay kêu mấy tiếng rồi, Biện thị không những không ra ngăn cản, mà ngược lại ánh đèn trong phòng của nàng còn tắt ngấm. Chính nàng cũng chỉ là một người thiếp, hơn nữa lại xuất thân ca kỹ, dù cho trong lòng có thấy chua chát, cũng nào dám nói gì...
Tào Tháo bịt miệng Hoàn nhi, cười gian giảo nói:
— Nàng thấy chưa? Nàng sớm muộn gì cũng sẽ là người của ta.
Hoàn nhi đau đớn thở dài một tiếng, không ngăn được hai hàng nước mắt trào ra, chỉ còn cách để mặc cho Tào Tháo bế mình về phòng. Hai tay Hoàn nhi buông thõng không còn sức lực nữa. Một tiếng “keng” vang lên, cây sáo trong tay nàng đã rơi xuống đất.