Mùa đông năm Hi Bình thứ năm (năm 176), Tào Tháo mới hai mươi hai tuổi, bị hoạn quan hãm hại phải rời khỏi chức Lạc Dương Bắc bộ úy, đi nhận chức huyện lệnh huyện Đốn Khâu thuộc Đông quận, ở Duyện châu. Không rõ bọn Tào Tiết cố ý sắp đặt, hay trùng hợp ngẫu nhiên, thời điểm Tào Tháo rời khỏi kinh thành chính là những ngày đông giá lạnh rét buốt nhất.
Trước lúc xuất phát, Tào Tháo đã sơ ý làm một việc, đó là phái Tần Nghi Lộc ngay trong đêm phải về quê ở huyện Tiều để đón tỷ đệ Biện thị, cho nên những đồ đạc mang theo đến nơi nhận chức chuẩn bị không tốt. Tào Tháo từ nhỏ đã sống trong giàu sang phú quý, với mọi việc trong nhà xưa nay đều rất sơ sài, không bao giờ để ý. Đến khi ra khỏi cửa Đông thành Lạc Dương đi được mấy chục dặm đường rồi mới cảm thấy đường đi gian nan.
Xưa nay mỗi triều vua lại có một triều bề tôi, ngay đến chức huyện lệnh cỏn con, cũng có một loạt tùy tòng tâm phúc. Riêng Tào Mạnh Đức mang theo nỗi tức bực đi nhận chức, lại ra đi vội vàng, chỉ mang theo trưởng tùy Lâu Dị và bốn tên gia đinh tầm thường xuất hành. Suốt dọc đường, Lâu Dị cưỡi ngựa đi trước, Tào Tháo ngồi xe, hai tên gia đinh đánh xe, còn hai tên đi bộ theo sau.
Gió tây bắc rét buốt thổi mạnh, chẳng ngừng một phút nào. Tuy là thuận chiều gió đi về phía đông, nhưng phía sau gáy cuồng phong quất tới, thổi đến độ toàn thân cóng lạnh, đầu óc tê cứng, hoa mắt chóng mặt từng cơn. Đáng thương cho một vị chủ nhân cùng năm tên đầy tớ, ngoài Tào Tháo có một tấm áo cừu dày dặn ra, tất cả những người khác đều chỉ có áo bông, khoác thêm một chiếc áo choàng vải bông dày cộp nữa, thật giận là không thể quấn đủ cả thân hình trong đó. Lâu Dị cưỡi con ngựa mà Tào Tháo vẫn cưỡi, là con ngựa tốt mang từ Lương châu về, béo tốt khỏe mạnh, rất có sức chịu rét. Nhưng ngựa kéo xe là con ngựa mới mua khi chuẩn bị đi ở Mã thị Lạc Dương. Tuy không phải gầy gò xương xẩu, nhưng xét kỹ cũng chẳng phải ngựa tốt gì cho cam, kéo chiếc xe trong ngoài là ba người, lại cả hành lý nữa, thực sự đã quá sức. Trên càng xe lại còn gác đôi côn ngũ sắc không thể bỏ được ấy. Mỗi khi gặp phải chỗ lội, ngòi rãnh, đừng nói đến người đánh xe, ngay cả Tào Tháo cũng phải xuống giúp đẩy xe mới mong qua được. Mấy người cứ khổ sở như vậy tiến về phía trước, trọn một ngày mới đi gần đến huyện Yển Sư.
Tìm được dịch trạm vào nghỉ tạm rồi, Tào Tháo mới thấy phát rầu: Cứ tốc độ đi đường thế này, biết khi nào mới đến được Đốn Khâu? Nhưng nghĩ đi nghĩ lại cũng chẳng biết làm sao. Dù Tào Tháo đã có mấy bận đi lại, nhưng đều chỉ qua lại giữa huyện Tiều với Lạc Dương, chẳng những xe nhẹ đường quen, mà thường đều lựa khi trời thu mát mẻ mà đi, cho đến nay chưa từng phải trải qua hành trình nào gian nan thế này. Bây giờ còn phải đi tiếp qua một loạt các nơi trên đường: Củng huyện, Huỳnh Dương, Thành Cao, Trung Mâu nữa, không mất nửa tháng thì chắc chắn không thể đến nơi được. Đang lúc buồn bã, lại thấy Lâu Dị mặt mày ủ rũ đi vào.
— Sao thế? Sao ủ rũ như thế?
Lâu Dị than thở bảo:
— Trời lạnh quá, cỏ khô ở dịch trạm không nhiều, hầu như vẫn chưa được chuyển đến. Lại có mấy vị công sai lên kinh công cán cũng dẫn theo người vận chuyển, ngựa của mọi người đều không có gì ăn. Tiểu nhân đã sai mấy tên gia đinh đi quanh tìm cắt lấy ít cỏ khô. Con ngựa tồi kia thì cũng không vấn đề, nhưng ngựa của đại nhân ăn uống yêu cầu cao, nó không chịu ăn đâu!
“Ăn uống yêu cầu cao, không chịu ăn cỏ khô bình thường...” Tào Tháo nghĩ mãi câu nói ấy, phải chăng đó cũng là nói chính mình? Bình tĩnh mà xét, từ khi được chân hiếu liêm đến nay, bản thân mình đã từng gặp những nỗi vất vả như thế này bao giờ chưa? Lạc Dương bắc bộ úy, một công việc hay ho vừa dễ dàng vừa nhàn hạ, nực cười là khi có phúc mà không biết là phúc, lại còn xin làm Lạc Dương lệnh. Ăn ngon mặc đẹp nay ở đâu? Nha hoàn lão bộc lại ở đâu? Phải, ta đòi hỏi quá cao rồi. Nếu khi xưa làm huyện lệnh một địa phương nho nhỏ thì sao đến nỗi hôm nay phải thở than rét mướt ở đây?
— Lâu Dị, ta nghĩ kỹ rồi, tiếp tục thế này không được, chúng ta phải đi nhanh.
— Đi nhanh như thế nào ạ?
— Hai chúng ta đi trước, để bốn đứa bọn chúng mang theo đồ đạc đi chậm sau.
Lâu Dị cười:
— Đại nhân, ngài còn có đồ đạc gì nữa? Chúng ta đi từ Lạc Dương, ngay việc đem thêm chút lộ phí còn không mang, đồ đạc trong nhà tất cả đã mang về trong phủ, nếu nói đến đồ đạc thì chỉ còn lại mấy bộ y sam mang thêm và đôi côn kia thôi.
— Ôi... - Tào Tháo thở dài. - Thôi được rồi! Ngủ sớm đi, giữ sức ngày mai đi tiếp.
— Đại nhân hãy ngủ trước đi, người cai quản dịch trạm nói đến đêm có cỏ khô chuyển đến, tiểu nhân đợi lấy thêm chút cỏ khô rồi sẽ đi ngủ cũng chưa muộn.
— Bảo mấy tên gia đinh làm là được rồi.
— Đại nhân, tiểu nhân may mắn được ngồi trên ngựa, còn bọn họ đã phải đi bộ suốt một ngày rồi ạ!
Tào Tháo chợt thấy cảm động, Lâu Dị thật là kẻ biết thương người. Hắn theo ta đến giờ nào đã từng được hưởng phúc gì? Nói về miệng lưỡi thì hắn không bằng Tần Nghi Lộc, chỉ biết cúi đầu làm việc thôi. Mỗi lần đi dự tiệc đều là Tần Nghi Lộc theo ta hưởng hương hoa, còn hắn ở bên ngoài trông ngựa. Tại sao đến hôm nay ta mới phát hiện ra điểm đáng quý của hắn? Xem ra ta đã sai rồi, con mắt của Tào Mạnh Đức ta xưa nay chỉ biết nhìn lên trên, đã khi nào chú ý xem bên dưới ra sao?
— Châm đèn lên, hai chúng ta chuyện phiếm một chút. Cùng đợi cỏ khô đến vậy!
— Cứ như tiểu nhân thấy, đại nhân đi ngủ sớm chút đi! Người không có đầu thì không đi được, chim không có đầu thì không bay được. Thời tiết khắc nghiệt thế này, nếu ngài không ăn không ngủ mà ngã bệnh thì chúng tiểu nhân biết làm thế nào?
— Thôi được, ta ngủ...
Lâu Dị để lại một ngọn đèn rồi lặng lẽ trở ra. Tào Tháo vốn chẳng thể ngủ được, nằm giương hai mắt trân trân nhìn ngọn đèn dầu. Tao ngộ trong đời người ta thật kỳ lạ, hôm qua mới cùng ngồi uống rượu với Bào Tín, hôm nay đã trùm mảnh chăn mỏng trằn trọc ở đây.
Trong lúc mơ màng, dường nghe thấy từng hồi từng hồi những tiếng khóc than. Ban đầu còn nghĩ là ảo giác, nhưng tiếng khóc ngày càng to, sau đấy lại chen vào cả tiếng hò hét. Tào Tháo càng không ngủ được, trở dậy mặc y phục, đi ra ngoài cửa xem. Nhờ ánh trăng sáng lờ mờ, Tào Tháo nhìn thấy phía xa xa có mấy người y sam lam lũ, đứng trước cửa dịch trạm khóc lóc kêu than. Một tên lính của dịch quán đang vung roi da trong tay mắng mỏ đuổi họ đi.
— Dừng tay! Ngươi làm gì vậy? - Tào Tháo quát hắn dừng lại.
— Đây là mấy kẻ xin ăn, đại nhân không cần phải để mắt tới chúng, mau trở về nghỉ ngơi ạ. - Tên lính ấy tùy tiện nói một câu tắc trách.
Tào Tháo trông bọn họ người nào người nấy áo quần rách rưới, mặt mũi bụi bặm, đầu tóc bù xù, trời lạnh thế này mà có người đi chân đất, liền động lòng trắc ẩn, nói với tên lính:
— Trời lạnh quá, chớ để người ta bị chết cóng, hãy cho họ vào đây đi.
— Đại nhân, thế, thế này... không đúng quy củ ạ.
— Quy củ có thể lớn hơn mạng người ư? Hãy cho họ ít đồ ăn, rồi tìm một chỗ cho họ tạm qua đêm. Nếu không được, ta trả tiền cho các ngươi! - Tào Tháo trừng mắt nhìn hắn.
Trạm dịch công không phải cửa hiệu tư, dù có đưa tiền cũng là không đúng phép tắc. Nhưng tên lính ấy cũng đã biết về Tào Tháo. Tuy nay bị điều khỏi kinh thành, nhưng cành gãy gốc vẫn chưa đổ, nhi tử của Tào Tung, há lại có thể đắc tội được sao? Hắn nhẫn nại giải thích:
— Tào đại nhân thực có lòng tốt, người ta ai chả là da là thịt? Chẳng phải tiểu nhân là tên lính hung bạo, chỉ là những việc như thế này giờ nhiều vô số kể, ngài có muốn quan tâm cũng không xuể đâu ạ!
— Ta không gặp thì thôi, đã gặp rồi sẽ phải quan tâm! Hãy để bọn họ vào đây.
Được câu ấy của Tào Tháo, bảy, tám tên ăn mày tấp tểnh đi đến, rồi quỳ trước mặt Tào Tháo dập đầu tạ ơn. Căn phòng ấy cũng không đủ chỗ sắp xếp cho họ, Tào Tháo phải bảo Lâu Dị cùng toán lính đi lấy củi đốt một đống lửa, cho mọi người tùy ý ngồi ở trong sân. Tào Tháo cùng mấy thừa sai trong dịch trạm đều mang lương khô ra cho họ, nhưng vẫn không đủ, lại bảo Lâu Dị đến các phòng hỏi xin các vị quan nhân đang nghỉ ở đó.
Dẫu sao vẫn còn nhiều người tốt, chẳng lâu sau, những chiếc bánh to tướng đã được mang ra, mấy tên ăn mày thấy có đồ ăn như thấy được mạng sống, chớp mắt đã tranh nhau không còn tí nào.
Tào Tháo trông thấy hầu hết những người này đều chẳng phải già yếu gì, mà đều là thanh niên lớn nhỏ khoảng trên hai chục tuổi, trong số đó lại có một người đàn bà bế con và bọn họ đều nói giọng Ký Châu, trong lòng vô cùng ngạc nhiên, liền hỏi:
— Các ngươi đều còn trẻ, vì sao không ở nhà cày cấy, lại bỏ quê quán đến Hà Nam làm gì?
Không ai hỏi thì không sao, vừa thấy câu hỏi của Tào Tháo tức thì bọn chúng thi nhau than khóc, một tên đáp lời:
— Chúng con bị bắt đi tu sửa hoa viên cho hoàng thượng ạ.
Đó là chuyện của hai năm về trước, hoàng đế hạ lệnh tu sửa lại mấy ngự viên là: Thượng Lâm uyển, Linh Côn uyển và Tây uyển trong cấm cung. Sau khi hoàn thành, hoàng đế Lưu Hoành cảm thấy mấy ngự viên quá nhỏ và quá cũ kỹ, liền chuẩn bị cho khai khẩn đất hoang ở phía tây thành Lạc Dương, bỏ ra một số tiền lớn dựng một khu ngự viên to đẹp hơn - Tây Viên. Chiếu chỉ còn chưa chính thức ban ra, trong triều đã ầm ầm phản đối, nhất là Gián nghị đại phu Dương Tứ, còn đặc ý dâng sớ can gián.
Nhưng bọn nịnh thần vốn xuất thân từ đám Hồng Đô môn học sĩ nhãi nhép vẫn tiếp tục mê hoặc hoàng đế, Thị trung Nhậm Chi và Lạc Tùng thậm chí còn tát nước theo mưa đón ý nói: “Xưa kia Hựu viên của Văn Vương rộng trăm dặm, mà người ta vẫn cho là nhỏ; Ngự viên của Tề Tuyên vương rộng năm dặm, người ta vẫn cho là lớn. Nay hoàng thượng thuận lòng với trăm họ, không có chuyện hại đến chính sự vậy.” Đem so cả với Chu Văn Vương cơ đấy! Những lời như vậy, ai dám nói thẳng ra mà cự lại? Mục đích cuối cùng là để Lưu Hoành không nghe lời khuyên can của trung thần, tự làm theo ý mình. Sau khi vạch ranh giới lấy đất cho Tây Viên, nhà vua cho vời thợ giỏi khéo tay các nơi về cùng với dân phu ở kinh kỳ, vất vả khổ sở làm suốt hai năm, hao phí không biết bao nhiêu tiền của, nhưng khu ngự viên mới làm được có một nửa.
Tào Tháo trong lòng lấy làm lạ bảo:
— Các ngươi đã làm việc hai năm, mà không có chút tiền công nào sao?
— Dạ làm gì có tiền công gì ạ? Đại nhân không hiểu đâu, những tên giám công ấy đều chẳng phải giống người! - Tên đen đúa ấy gạt nước mắt nói. - Bọn họ bắt phải dẫn nước từ Nghị hà vào để làm hồ, quất roi xua hơn bốn trăm người đi đào kênh, đến lúc kênh đào vừa thông, nước lạnh ập vào, bao nhiêu người bị dìm chết đuối ở đấy. Đại nhân ngài nhìn mà xem đây ạ. - Hắn nói rồi cởi áo ra, chỉ thấy trên tấm thân gầy như que củi đầy những vết roi đánh, vệt dài nhất tới hơn hai thước, còn hằn vết máu thâm đỏ. - Ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, lại phải làm việc khổ sở, ăn đủ roi đòn, còn cố làm tiếp thì sớm muộn cũng sẽ bị chúng hành hạ đến chết, mấy người chúng con đều là phải trốn chạy ra đây!
Người đàn bà đang bế con lại khóc nói:
— Nô tì từ huyện Câu Thị đến. Phu quân cũng phải đi xây dựng ngự viên cho hoàng thượng, chàng ấy vốn chẳng có tài nghệ gì, nhưng người trong huyện vẫn cứ đến bắt lôi đi. Ra đi một bận đến nửa năm trời mà tuyệt không có tin tức gì, mẹ con nô tài không biết dựa vào đâu, mới đến Lạc Dương để tìm phu quân. Đâu có ngờ rằng chàng... đã bị bọn lính đánh chết từ bao giờ rồi! - Nói xong lại kêu trời than đất khóc rống lên, đứa con còn nhỏ, thấy mẫu thân khóc nó cũng oe óe khóc theo.
Người lớn khóc trẻ con hờn, khiến Tào Tháo càng thấy đau buồn:
— Đúng là sự hà khắc còn hơn cả hổ dữ! Không ngờ ở nơi ngay gần kinh thành thế này mà lại có sự bóc lột cướp đoạt hung tàn đến như vậy.
Một quan nhân từ Dương châu đến đang đứng bên cạnh, nghe thấy cũng tiếp lời:
— Chắc hẳn đại nhân cũng là quan ở kinh, không biết rõ tình hình hiện nay. Khu vực ba phía kinh kỳ còn khá, còn đến như trăm họ ở các châu bên ngoài không trực thuộc kinh thành, còn chẳng bằng bọn họ nữa cơ! Tại hạ từ Cối Kê đến đây, không những dân chúng ở đó không nộp nổi tô thuế, mà ngay cả mấy vị thổ hào ở đó cũng chỉ trơ mắt mà nhìn ruộng đất. Mấy năm trước có tên Hứa Thiều làm phản, hắn vốn chỉ là nhà nông dân làm thuê bình thường. Nói một câu không sợ mất đầu rằng, quan đã bức dân không còn cách nào khác phải làm phản vậy!
Vị quân quan nói giọng U châu bên kia cũng cảm thán bảo:
— Ở quận nơi biên ải càng không có cách nào gượng lên được. Đám người Tiên Ti nổi lên một tên là Đàn Thạch Hòe, suốt ngày dẫn quân quấy rối biên cương phía bắc của chúng ta, cướp lương thực, cướp gia súc, cướp đàn bà con gái, trăm họ vô cùng khốn khổ. Quan Thái thú Liêu Tây của chúng tôi vô cùng lo lắng, muốn chỉnh đốn lại biên phòng, bảo vệ cương thổ, mấy lần dâng thư lên triều đình, xin cấp tiền cho làm, mà đức hoàng thượng ngài cứ lờ đi như không nghe thấy. Bỏ tiền ra để dựng ngự hoa viên, mà không chịu chỉnh đốn chút thành trì phòng vệ!
— Kỳ thực Đàn Thạch Hòe cũng không có gì đáng kể, chẳng qua chỉ là một tên tướng giặc Hồ không có mưu lược gì. Năm xưa, Trương Hoán, Đoàn Quýnh trấn giữ ngoài biên, hắn không dám vào vùng Hà Sóc đến nửa bước chân. - Tào Tháo than thở nói. - Nhưng hiện nay Trương lão tướng quân ốm nằm liệt giường, Đoàn Quýnh thì chỉ sáng về lợi tối về trí, kết bè phái với Vương Phủ, không còn ai có thể khiến người Tiên Ti phải khiếp sợ cả.
Trong đêm gió bấc ù ù thổi ấy, mọi người cùng ngồi quanh đống lửa, ai nấy nói ra những lo lắng buồn khổ của mình, không biết phương đông trời đã hửng sáng từ khi nào. Tào Tháo về phòng, đắp manh áo chợp mắt được một lúc, rồi trở dậy chuẩn bị hành lý.
Lúc ấy chợt Lâu Dị đi vào:
— Bẩm đại nhân, mấy kẻ bỏ trốn việc xây dựng ngự viên người Ký châu, xin được cùng đi với đại nhân. Giờ tính ra sao ạ?
Dù gì Tào Tháo cũng là mệnh quan triều đình, giờ cùng đi với bọn ăn mày há lại chẳng mất thể diện nhà quan? Nhưng việc đến nước này, người tùy hành quá ít, chẳng may gặp chuyện nguy hiểm thì biết xử trí làm sao, thêm mấy người đồng hành cũng là chuyện tốt. Tào Tháo liền bằng lòng chấp thuận.
Vừa ra cửa lại thấy người đàn bà bế con hôm qua, đang đứng khóc lóc.
— Ngươi làm sao thế?
— Bẩm, đứa con của nô tỳ tối qua vẫn còn bình thường, vậy mà bây giờ gọi không thấy tỉnh lại nữa rồi.
Tào Tháo đích thân bế lên xem sao. Đứa bé đã hai, ba tuổi, nhưng bị đói ăn không đủ no, nên thấy rõ cái đầu to tướng mà cơ thể còi cọc. Sờ thử lên trán nó, thấy nóng sốt hầm hập. Tào Tháo quay lại bảo mấy người tùy tòng:
— Đứa trẻ này ốm rồi, đưa mẹ con họ đến huyện thành, tìm một thầy lang xem xem thế nào.
— Bẩm đại nhân, thời gian không sớm nữa, chúng ta còn phải đi ạ.
— Vậy... - Tào Tháo thực sự cảm thương cho số phận của người đàn bà. Phu quân thì đã chết, bản thân thì tha hương lại còn bế theo đứa con bệnh tật thế này, làm sao có thể về đến quê nhà được? Nghĩ ngợi một lúc, Tào Tháo nói với bọn tùy tòng, - Hai người các ngươi ở lại, dẫn họ đi thăm bệnh, sau đó đánh xe đưa họ về Câu Thị. Làm mọi việc xong xuôi, hãy đến huyện Đốn Khâu.
— Dạ! - Hai người trong đám tùy tòng nhận lời.
— Gượm đã. Khi đến Câu Thị rồi, nếu thấy gia cảnh của họ khó khăn thì bán xe ngựa đi, lấy tiền bạc mà chu tế cho họ qua ngày cũng được.
Người đàn bà ấy thấy Tào Tháo sắp đặt như vậy, quỳ sụp xuống đất:
— Đa tạ đại nhân đã ban ơn! Nô tỳ đời này kiếp này xin ghi nhớ đại ân đại đức của ngài! - Rồi lại dập đầu xuống đất như bổ củi.
Tào Tháo cũng không tiện nói nhiều với người đàn bà đó, dẫn những người còn lại tiếp tục lên đường. Đến giờ thiếu mất một cỗ xe ngựa, hai người hầu, chỉ còn cách để Tào Tháo cưỡi ngựa, Lâu Dị dẫn mấy kẻ tị nạn đi theo sau, chỉ khốn khổ hai tên tùy tòng còn lại, đường dài lặn lội lại phải khiêng đôi côn ngũ sắc nặng chình chịch. Trời đông đất giá, một hàng người bước đi chậm chạp trên dịch lộ, may là đông người còn có kẻ nói người cười. Hai kẻ tùy tòng khiêng đôi gậy ngũ sắc cứ trêu đùa mãi:
— Các quan trong thiên hạ muốn làm được như đại nhân thế này cũng không phải dễ, ra khỏi cửa một ngày đã không còn xe nữa rồi!
Tào Tháo ngồi trên lưng ngựa cười ha hả, cũng chẳng để tâm đến.
Qua sông gặp nguy
Tào Tháo cùng tùy tòng lặn lội gian nan, đến ngày thứ bảy mới đi qua Trung Mâu. Thấy đi tiếp ngay phía trước là địa phận quận Trần Lưu của Duyện châu, Lâu Dị xin vào dịch trạm sớm, sắp đặt lương khô túi nước, hôm nay nghỉ ngơi sớm để ngày mai qua sông Hoàng Hà đi lên phía bắc cho kịp.
Sắp đặt đâu đấy xong xuôi, thấy trời vẫn còn sớm, Tào Tháo liền cùng mọi người ra ngoài thành tản bộ một vòng. Đi rồi mới phát hiện ra nhiều điều mới mẻ. Hóa ra bên ngoài thành Trung Mâu này, chả hiểu sao lại có nhiều lưu dân đến thế. Mà đám lưu dân này không giống đám lưu dân bình thường. Tào Tháo từng được Kiều Huyền kể cho nghe về những kẻ lưu dân, nên trong ấn tượng, đám lưu dân nhất định là quần áo lam lũ, ăn không đủ no. Nhưng những kẻ lưu dân này không phải như thế, họ có cái ăn cái mặc, chẳng khác gì những người dân bình thường, thậm chí còn có một số dù trướng, gậy gộc để tự bảo vệ mình.
Tào Tháo đang lấy làm lạ trong lòng, chợt thấy một tên trong đám chạy nạn đi theo mình, đột nhiên gọi to:
— Mã lão tam! Tại sao huynh lại ở đây?
Theo tiếng gọi của hắn, trong đám lưu dân có một kẻ độ tuổi trung niên nhảy ra:
— Tiểu tứ, tiểu ngũ! Chúng bay vẫn còn sống ư!
Tào Tháo thấy bọn chúng quen nhau, lại ngạc nhiên có nhiều người thế này sống cảnh màn trời chiếu đất ở ngoài thành, nên cũng đứng bên cạnh nghe họ trò chuyện. Hóa ra chúng là đồng hương, đều là đám dân phu đi xây dựng Tây Viên. Tên Mã lão tam ấy bỏ trốn trước, cứ tưởng rằng đời này không có cơ hội gặp lại nữa, không ngờ vẫn còn có thể gặp nhau ở ngoài thành Trung Mâu. Đợi mấy tên chạy nạn kia kể hết những chuyện đã gặp suốt dọc đường, tên Mã lão tam ấy cũng biết lễ nghĩa, vội vàng quỳ xuống trước mặt Tào Tháo:
— Đại nhân, ngài thật là bậc quan tốt có lòng từ bi. Khi xưa tiểu dân một mình trốn ra, phụ lòng mấy tiểu huynh đệ này, không ngờ ngài có thể cứu mạng bọn chúng, tiểu dân xin dập đầu tạ ơn ngài.
— Thương người già kẻ khó, là chuyện thường tình của con người ta, lão mau đứng lên đi!
Mã lão tam lại nói với mấy người kia:
— Ta thiết nghĩ, mấy đứa chúng bay cũng không nên gây phiền cho đại nhân nữa, cứ đi theo ta đi.
— Huynh đang đi đâu thế?
— Ta hiện giờ theo Thái Bình đạo, giờ đang theo họ du hành truyền đạo đây! Chúng bay đi theo ta, có nhập đạo hay không nhập đạo chưa cần nói đến, ít ra cũng có cái ăn cái uống, không nên gây thêm phiền phức cho Tào đại nhân nữa.
— Mấy người bọn ta đang muốn về quê.
— Chớ nói đến chuyện về quê nữa. Bây giờ tô thuế đã tăng thêm, những nhà đại hộ lại ra sức chiếm đoạt ruộng đất, chúng bay có về cũng không được sống tử tế đâu. Hơn nữa, chúng ta đều trốn chạy từ chỗ xây dựng Tây Viên về, nha môn sẽ đến hỏi đấy! Dù chúng bay có trốn được nạn này, sau rồi hoàng thượng muốn dựng thêm những Đông Viên, Nam Viên, Bắc Viên gì gì nữa thì làm thế nào? Vẫn sẽ bắt chúng ta. Cứ đi theo ta đi, theo bậc Đại Hiền Lương Sư của Thái Bình đạo, cũng còn có miếng ăn. - Mã lão tam thao thao nói.
— Thái Bình đạo là cái gì? - Tào Tháo không đừng được hỏi chen vào.
— E là đại nhân làm quan ở Quan nội, chưa từng đi lại qua mạn Quan Đông? - Mã lão tam cười nói, - Hiện nay thế lực của Thái Bình đạo lớn lắm! Thái Bình đạo này là do Đại Hiền Lương Sư của chúng tôi là Trương Giác lập ra. Truyền chính đạo của Trung Hoàng Thái Nhất. Học đạo này rồi có thể không mắc tai mắc họa, ích thọ diên niên. Hiện nay người khắp tám châu: Thanh, Từ, U, Ký, Kinh, Dương, Duyện, Dự, chẳng ai không biết Thái Bình đạo. Đến giờ, tín đồ của đạo trong toàn thiên hạ chẳng dưới mười vạn, nhà nhà đều thờ cúng họa tượng của ngài Đại Hiền Lương Sư. Chúng tiểu dân là những người một lòng thành, được đi theo Đại Hiền Lương Sư chu du thiên hạ, truyền giáo khắp nơi. Nếu có thể được một lá bùa của ngài thì thật là phúc lớn bằng trời đấy!
— Tín đồ không dưới mười vạn! - Tào Tháo tấm tắc. - Ta cho là người đời ngu muội, Đại Hiền Lương Sư gì chứ, chẳng qua chỉ là một tên giang hồ lừa bịp biết chút phương thuật mà thôi.
— Ngài chớ nói vậy! Đại Hiền Lương Sư Trương Giác ấy thật là một bậc thần tiên sống. - Mã lão tam liến thoắng, thao thao bất tuyệt. - Ngài có thể điểm đá hóa vàng, rắc đậu thành binh, miệng nở hoa sen, đi mây về gió, xuống biển bắt rồng, vật đổ chín trâu, trộm nguyệt đổi nhật! - Lão ta vừa nói vừa làm điệu bộ mô phỏng.
— Lão kể rõ ràng như vậy, - Tào Tháo xua xua tay. - Những chuyện ấy lão đều đã từng chứng kiến chưa?
— Chưa từng chứng kiến. - Mã lão tam cúi đầu.
— Nếu chưa từng chứng kiến, sao còn nói hùng hồn thế?
— Đại Hiền Lương Sư sinh ra tướng mạo đã hùng vĩ, mình cao hơn trượng, mắt tựa sao sáng, mũi thẳng miệng rộng, răng trắng môi hồng, tai lớn buông rủ, râu đẹp mi dài, tiếng như chuông lớn... - Mã lão tam lại vừa nói vừa mô phỏng.
— Lão biết mặt ông ta?
— Không biết. - Mã lão tam lại cúi đầu.
Tào Tháo cảm thấy buồn cười:
— Nếu như lão chưa từng gặp ông ta, làm sao biết những điều ấy?
— Nghe nói thế thôi! Tiểu dân chưa từng gặp, nhưng trong chúng tiểu dân đã có người từng gặp. - Mã lão tam chỉ về phía đám lưu dân đằng sau lưng họ. - Đại Hiền Lương Sư đại ân đại đức, thương trời yêu người, hòa thiện với dân, cứu vớt dân đen...
— Lão đại ca! - Tào Tháo thấy lão ta khoa trương về Trương Giác mãi không thôi, vội cắt ngang. - Vị Đại Hiền Lương Sư này có ở trong đội ngũ kia không?
Mã lão tam lại cười bảo:
— Những đội truyền giáo thế này trong thiên hạ nhiều lắm, ngài làm sao lại có ở đây được?
— Thế sao lão lại tin điều này được?
— Tiểu dân đã được hưởng những điều tốt đẹp thiết thực từ Thái Bình đạo, không thể không tin theo! Năm ngoái tiểu dân từ Tây Viên trốn chạy ra ngoài, ăn mày dọc đường về được đến quê nhà, nào ngờ ruộng đất bị thổ hào chiếm mất. Nha môn lại sai người đến bắt, chỉ có cách lại chạy trốn khỏi gia hương, không có cái ăn, không có đồ uống, giữa đường lại bị dầm mưa một trận, thế là đổ bệnh nằm bên đường. Vừa hay đúng lúc vị đại truyền giáo Mã Nguyên Nghĩa của Thái Bình đạo dẫn đoàn truyền giáo đi qua, phát tâm từ bi cứu mạng của tiểu dân. Ông ấy còn viết mấy đạo bùa, đốt lên uống, chưa đến ba ngày bệnh quả nhiên tan hết. Ân đức cứu mạng đúng là bằng giời bằng bể, thế mà tiểu dân lại chẳng có tiền bạc cũng chẳng có tài cán gì, cầm bút không viết nổi tên mình, thế là liền bái ông ấy làm sư phụ, rồi sau này tiểu dân hiếu kính với ông ấy, cũng có thể coi là chút tâm ý của mình.
Tào Tháo chặc lưỡi nói:
— Ta thấy Thái Bình đạo này của mấy người không phải đơn giản đâu! Tự ý truyền giáo như thế, triều đình vẫn để mặc ư?
Mã lão tam trợn tròn mắt nhìn Tào Tháo:
— Chuyện này nào có phạm pháp gì! Nghe nói hoàng đế lão nhân gia đã biết từ lâu rồi, đại để cũng không sai người đến xem xét gì, lại còn nói Đại Hiền Lương Sư của chúng tiểu dân đã dẫn dắt người dân đi đến đường thiện thì còn có ai đến quản nữa? Ngay đến các hoạn quan trong cung cũng có người tin đạo này nữa là!
Câu nói ấy khiến Tào Tháo trầm tư suy nghĩ, lại thấy mấy người bọn họ bằng hữu cũ gặp nhau nói toàn thổ ngữ Ký châu, liền gọi Lâu Dị rồi hai người cùng về dịch trạm trước.
Lâu Dị thấy Tào Tháo suốt dọc đường cứ chau mày, buồn bã không nói gì, vội hỏi:
— Đại nhân, ngài có chuyện gì vậy?
— Ta đang nghĩ về chuyện của Thái Bình đạo này.
— Thái Bình đạo ấy, có lẽ cũng chẳng có gì là không tốt.
Tào Tháo lắc lắc đầu:
— Ngươi không hiểu hết lợi hại trong đó đâu. Chưa cần nói đến chuyện tên Trương Giác kia thực sự có tài cán hay chỉ dối trá, chỉ nghĩ về chuyện hắn có thể có nhiều tín đồ như vậy đã rất đáng sợ rồi. Tuy rằng họ đều là những người nghèo khổ không có tiền, nhưng người đông như vậy cũng sẽ có quyền lực. Quyền lực ấy càng lớn, càng không thể để mất được, tâm khí cũng theo đó mà nước lên thuyền lên. Năm xưa, vua Quang Vũ triều ta cũng chỉ là một người nghèo khổ, chí hướng chẳng qua chỉ muốn làm chức Chấp kim ngô, giành lấy một tước hầu mà thôi. Nhưng sau này thì sao? Làm Kinh lược Hà Bắc, thu gom ngựa đồng, cũng đã thỏa lòng lắm rồi! Lại quay lại chuyện này, bao nhiêu người dựa vào một người để có cơm ăn áo mặc, chỉ mong muốn người đó giàu sang phát đạt để người ta được vịn vây rồng, bám cánh phượng. Bốn chữ “Cưỡi hổ khó xuống” thật không sai chút nào, ngươi nói xem có phải là như vậy không?
Vẻ mặt hớn hở của Lâu Dị cũng trầm hẳn xuống.
— Ngươi thử nghĩ xem tên Trương Giác này. - Tào Tháo ý tứ sâu xa. - Kẻ bậc dưới thì dùng sức, kẻ bậc giữa thì dùng trí, kẻ bậc trên thì dùng người! Một tên dân đen rất bình thường mà có thể được lòng nhiều người như vậy, khắp một nẻo Quan Đông, các châu Thanh, Từ, U, Ký, Kinh, Dương, Duyện, Dự, bao nhiêu người như vậy mà đều tôn sùng hắn, cứ như vậy liệu có được không? Năm xưa Hứa Thiều ở Cối Kê, nhiều lắm cũng chỉ được lòng người một huyện, mà hắn còn dám làm phản, ta thấy sớm muộn cũng có ngày Thái Bình đạo trở thành mối họa trong lòng triều ta! Đáng buồn là đương kim thiên tử không nghe lời trung ngôn, vẫn chưa coi chuyện Trương Giác là việc lớn. Ngươi nhìn xem đội ngũ của những kẻ lưu dân kia xem, đều đã đến sát Duyện châu rồi, nếu bọn chúng thật sự muốn làm phản thì làm cách nào có thể dẹp yên?
Lâu Dị nói vẻ suy nghĩ:
— Tiểu nhân không rõ chuyện này, nhưng tiểu nhân hiểu rõ không dễ gì đánh được.
— Đúng vậy! Người Khương ở Tây Lương không ngừng gây rối, nay Tiên Ti lại quấy rối biên giới phía bắc, nếu trong Trung Nguyên lại có phản nghịch thì giang sơn Đại Hán sẽ nguy to! - Tào Tháo than thở nói. - Đáng tiếc giờ đây ta đang trên đường ra nhận chức ở bên ngoài, không thể dâng tấu lên triều đình về chuyện này. - Nói đến đó, Tào Tháo chợt cảm thấy mình quá tự phụ, nếu luận về tư cách, những vị đại thần chức vị cao hơn lẽ nào chưa từng nói đến chuyện này, nhưng lời họ nói hoàng thượng đều coi như gió thoảng ngoài tai, mình chỉ là một chức huyện lệnh cỏn con há có thể làm được?
— Đại nhân, lão bách tính đi theo Trương Giác chẳng qua chỉ vì miếng cơm ăn manh áo mặc, nếu mọi người có thể an cư lạc nghiệp thì ai còn theo ông ta bỏ quê quán, lang thang khắp nơi như thế?
— Phải rồi! - Tào Tháo cảm thấy có lý. - Đợi khi ta đến huyện Đốn Khâu, nhất định sẽ để cho dân chúng có được những ngày yên ổn. Cũng chỉ mong mấy kẻ xin ăn kia chưa dấn chân sâu vào vũng bùn, cứ theo ta đến huyện Đốn Khâu, lo gì ta không tìm được cho họ một kế sinh nhai ở trong nha môn chứ?
Lâu Dị lại không lạc quan lắm:
— Việc này cũng khó nói, họ đều là những người cùng khổ ở một nơi, vẫn có mong muốn được ở cùng nhau. Hơn nữa Thái Bình đạo hiện nay có thể cho họ cái ăn cái uống, cũng có thể cho họ sống cùng nhau ở một nơi, bách tính chẳng cần biết ai làm chúa! Chỉ cần ai cho họ đường sống, ai cho họ được sống những ngày tốt đẹp thì họ sẽ làm cho người đó thôi!
Tào Tháo không ngăn được, lắc lắc đầu:
— Ta ít phải chịu khổ, nên vẫn chưa hiểu hết lòng dân vậy!
Quả nhiên, đến tối mấy người chạy nạn ấy về đến dịch quán, đều nói muốn theo bọn Mã lão tam và cảm tạ Tào Tháo đã cho đi theo suốt dọc đường. Tào Tháo cũng không tiện ngăn cản, liền cho họ được tùy ý.
Sáng sớm hôm sau, những người chạy nạn đến trước mặt Tào Tháo dập đầu, rơi lệ mà từ biệt. Đoàn lưu dân đi xuống phía nam, Tào Tháo với ba tên tùy tòng tiếp tục đi lên phía bắc. Rời khỏi Trung Mâu, đi về phía tây bắc nửa ngày thì đến bến Cổ Độ ở sông Hoàng Hà.
Dòng sông tĩnh lặng như tờ hơi lạnh bốc lên nghi ngút, những chiếc thuyền nhỏ rải rác làm vỡ lớp băng mỏng, gió bắc thổi từng cơn nhưng sóng không hề gợn trên mặt sông, những người qua sông run rẩy kéo kín y sam bó sát lấy mình. Đây là lần đầu tiên Tào Tháo đi lên vùng đất Hà Sóc phía bắc, không biết rằng Hoàng Hà lại cũng có thể bị đóng băng, cảm thấy vô cùng lạ lùng.
Lâu Dị vội vàng giải thích:
— Đại nhân chưa từng qua Hà Bắc, vùng này bốn mùa rõ rệt, mùa đông lạnh hơn vùng Quan Trung rất nhiều. Đất đai đóng băng lại rắn cấc, ngay đến mũi cuốc chim cũng không cắm nổi xuống. Trời quá lạnh, hơn nữa sông ở khúc này lại chảy về phía tây bắc, cho nên năm nào dịp này cũng đều đóng băng. Năm nay như thế này vẫn còn tốt đấy, tiểu nhân nghe những người già trong nhà nói, những năm lạnh nhất, trên mặt băng đóng người ta còn có thể đi lại được.
Tào Tháo gật đầu mãi:
— Chưa đến chỗ nào u mê chỗ đó, mười chỗ chưa đến chín chỗ chẳng tường. Nếu chỉ ở kinh sư, làm sao có thể biết được phong tục ở chốn này? Chả trách khi ta nói từ Mạnh Tân đổi lên thuyền đi đường thủy, ngươi cứ can ngăn, hóa ra ngươi đã nghĩ đến chuyện sông Hoàng Hà bị đóng băng!
— Bẩm đại nhân, từ giờ trở đi chúng ta bắt đầu đi vào đất Hà Bắc rồi. Phong tục dân gian ở đó không như ở đây. Ít có những người quyền quý hay những kẻ đọc sách, chỉ có dân nghèo khổ cùng với bọn thổ hào là nhiều. Chúng ta có ít người, phải lưu tâm hơn mới được.
— Ha ha ha... - Tào Tháo ngửa mặt lên trời cười lớn, - Đã mang trọng trách trên người, ngại gì mà không xông pha một phen? Đất Yên, Triệu nhiều nghĩa sĩ, nhớ chuyện xưa Nhạc Nghị cầm quân phá thành nước Tề, Lý Mục quân ít mà chống lại giặc mạnh, Lạn Tương Như dọa Tần Vương ở Thằng Trì, Công Tôn Long giỏi biện luận vào được hùng quan. Những người đó chẳng phải đều là những kẻ hùng tài nghĩa hiệp ở Hà Bắc ư? Chúng ta qua sông nào!
Cổ Độ hoang vu, không có thuyền lớn, chỉ có thuyền nhỏ của những người qua sông bình thường, nên phải chia ra đi trên hai thuyền. Lâu Dị dắt ngựa, đeo theo đôi côn ngũ sắc lớn qua sông trước, hai người tùy tòng đi theo Tào Tháo phía sau. Con thuyền nhỏ chở theo Tào Tháo lắc lư chậm chạp xuyên màn hơi lạnh mà đi, trên mặt sông gió bắc thổi ù ù làm mui thuyền cuốn lên thật cao. Tào Mạnh Đức ngắm nhìn vùng đất Hà Bắc rộng lớn, chợt thấy hứng khởi, đứng lên mạn thuyền làm một bài thơ rằng:
Xóm thôn đã khác, Hà Bắc đông hàn.
Băng tan trôi nổi, thuyền bè khó khăn.
Đất cứng khôn dùi, cây cỏ tuyết tràn.
Nước ngưng chẳng chảy, băng cứng khó đi.
Sĩ ẩn nghèo hèn; dũng hiệp đáng gì.
Lòng thường oán than, buồn bực sầu bi.
Thực may biết bao! Ngâm vịnh chí khí.
Ngâm thơ vượt Hoàng Hà cũng được coi là nhã sự hàng đầu, tâm tư Tào Tháo vô cùng thư thái. Lâu Dị thấy hai tên tùy tòng cũng nhàn rỗi, liền đem hành lý giao cả cho họ, còn mình tự vác đôi côn lớn. Đoàn người không kịp dừng lại ăn uống gì, phải tranh thủ khi trời sáng nhanh chóng đến dịch trạm huyện Phong Khâu.
Hai tên tùy tòng ấy cũng lần đầu tiên vượt Hoàng Hà, lúc này không phải mang vác nặng nhọc gì, cũng được thoải mái nói đủ chuyện trên trời dưới biển với Tào Tháo.
Nào ngờ còn chưa đi được quá mười dặm, đến một con đường nhỏ trên đồi hoang, chợt nghe một loạt tiếng hò hét, từ sau đồi xông ra hơn hai chục gã đại hán, tên nào tên nấy mặc áo bông rách, tay cầm đao, cầm gậy.
— Mấy kẻ đi đường! Để tất cả hành lý tiền bạc lại! - Gã vai rộng eo tròn cầm đầu là một tên mặt mũi đen thui, tay cầm một cây gậy lớn.
— Các ngươi là ai, giữa ban ngày ban mặt cũng dám làm chuyện tày trời như vậy, không sợ vương pháp ư? - Tào Tháo quát hỏi.
— Vương pháp là cái gì? Luật lệ là cái gì? - Tên mặt đen cười nhạt. - Mảnh đồi này là của ta!
— To gan! Dám đe dọa đại nhân của ta, các ngươi không muốn giữ cái đầu nữa ư? - Lâu Dị cũng quát.
— Chớ ăn nói hàm hồ, kẻ làm quan dù chỉ một chân công tào xoàng cũng ngồi xe đi, có kẻ hầu người hạ, chứ có ai cưỡi ngựa đi không?
— Đại nhân của chúng ta là quan huyện lệnh huyện Đốn Khâu, trên đường nhận chức đi ngang qua đây. - Lâu Dị vốn xuất thân là kẻ cùng khổ ở quê, nên hiểu rất rõ quy tắc của những kẻ này. - Đại nhân của chúng ta là bậc quan thanh liêm, ta khuyên các ngươi nên nhanh chóng dẹp đường, tránh để mất đi hòa khí. Các ngươi nếu dám cướp đoạt, đến khi đại nhân ta nhận chức, sai quân binh về gông cổ các ngươi lên nha môn, đánh đàn phạt trượng, đến khi ấy các ngươi có nghĩ lại cũng không còn đường lui đâu!
— Ha ha ha... - Tên mặt đen cười lớn. - Khẩu khí lớn quá nhỉ, ngươi định dọa ai? Mặc cho là huyện lệnh thực hay giả thì Đốn Khâu, Phong Khâu cách nhau cũng rất xa, các ngươi không quản nổi ta đâu! Lũ nhạn lẻ, cừu bông các ngươi, muốn giết là ta giết! Thế nào? Muốn nộp tiền hay muốn mất mạng?
Tào Tháo thấy tên này vô cùng hung hãn, người hắn dẫn theo cũng không ít, chắc chắn không dễ gì đánh lại được. Quay nhìn xem những người đi cùng mình, chỉ có Lâu Dị có thể trông cậy được, còn hai người trưởng tùy kia, chân đã run như cầy sấy, biết rằng giặc đông mà mình ít không cân xứng, chắc chắn lành ít dữ nhiều. Lại nghe Lâu Dị nói một hồi mà không thuyết phục được tên kia, bèn lấy thế lực ra để đe nẹt chúng:
— Lũ giặc to gan! Bản quan là Tào Tháo, nhi tử của Tào đại nhân là quan cửu khanh đương triều, chúng bay đứa nào dám động vào? Nếu vẫn còn mê muội không biết, ta trở về bẩm báo lão gia, lập tức sẽ có đại binh đến bắt, giết hết cả nhà chúng bay!
Không ngờ tên kia càng nổi xung:
— Không nhắc đến lão Tào Tung ấy thì thôi, còn đã nói tới tên tham quan vô sỉ đó thì ta sẽ phải giết ngươi! Ta biết ngươi họ Tào, chứ đại côn trong tay ta không biết ngươi họ Tào. - Nói xong liền vung đại côn trong tay. - Không phí lời nữa, cướp lấy!
Hắn vừa ra lệnh, cả lũ bèn tên nào tên nấy vung khí giới trong tay mình mà xông cả lên. Hai người trưởng tùy thấy vậy, cũng không để ý đến Tào Tháo nữa, co cẳng chạy biến. Chỉ có Lâu Dị thấy tình hình như vậy, bèn lựa thế vung đôi côn ngũ sắc bảo vệ trước ngựa của Tào Tháo. Cũng nhờ Lâu Dị tay to, sức khỏe hơn người, hai cây côn gỗ mà mỗi tay cầm một cây múa tít lên. Bọn cướp mới đến gần phía trước liền bị đánh ngã luôn mấy tên, những tên còn lại không dám xông lên nữa, tay cầm vũ khí, đứng vây thành một vòng lớn, quây kín Tào Tháo và Lâu Dị ở trong.
Quân không có kẻ cầm đầu thì không có dũng khí, nhất là toán quân ô hợp như thế. Một tên cướp cầm đao thấy cả bọn sợ đánh nhau, bèn tự múa cây đao lớn nhảy ra trước tiên, giơ đao chém về phía Lâu Dị. Lâu Dị vội vung côn ngũ sắc đỡ lại, rốt cuộc cây côn dài nên tên ác tặc ấy không thể xông lên được, nhưng những tên cướp khác thấy thế liền nhất tề ra tay.
Hai cây đại côn của Lâu Dị múa lượn lên trên rồi lại xuống dưới. Tào Tháo cũng rút cây Thanh Cang kiếm cầm tay, không cần biết phải trái, cứ thế chém bừa. Toán cướp đó tuy đông, nhưng cũng đều là những tên chẳng có bản lĩnh gì. Nên nhờ cây đại côn của Lâu Dị múa kín đến gió không thấu mưa không lọt, lại có cây Thanh Cang kiếm của Tào Mạnh Đức là bảo kiếm xưa nay, nên chúng cũng không dễ dàng có được ưu thế gì. Bên này cây đại côn quật vào tên nào là tên ấy đổ gục, bên kia bảo kiếm xanh lóe chém vào đâu, dù gậy gỗ, hay đao kiếm cũng đều gãy, nên bọn chúng càng đánh càng nhọc sức.
Tên mặt đen cầm đầu thấy đánh Lâu Dị không nổi, bỗng quay đầu xông lại vung gậy đánh về phía Tào Tháo. Tào Tháo đã nóng mắt từ lâu, cũng không cần biết bọn giặc ấy ở đâu ra, giữ chắc cương ngựa, rút Thanh Cang kiếm, chém bừa khắp trên dưới phải trái, chỉ sợ bọn chúng làm ngựa bị thương. Cây côn của tên kia va chạm với kiếm của Tào Tháo liền bị gãy đôi, nhưng dư lực vẫn còn, nửa cây gậy quật mạnh vào đùi trái của Tào Tháo. Con ngựa chưa từng qua chiến trận, lúc này đã thấy sợ hãi, Tào Tháo đỡ chỗ bị đau, nên không giữ nổi nó nữa, bốn vó ngựa đạp lung tung, vừa chạy vừa nhảy lên.
Lâu Dị thấy chủ nhân gặp nguy hiểm, cũng không để ý đến sau lưng mình đang có bọn cầm gậy nghênh chiến, đánh thẳng một gậy vào lưng tên mặt đen. Cú đánh làm tên kia loạng choạng, còn chưa kịp ngẩng đầu lên thì thanh kiếm của Tào Tháo đã vụt tới nơi. Chớp mắt tối tăm mặt mũi, tai bên trái cùng một mảng tóc lớn cùng da đầu của hắn đã bị phạt mất!
— Á... - Tên mặt đen đau đớn kêu gào thảm thiết, bọn cướp cũng không dám đánh thêm nữa, vứt hết vũ khí trong tay xuống, đến bảo vệ cho tên kia rồi cùng kéo nhau chạy đi.
Tào Tháo, Lâu Dị thấy bọn chúng đi rồi cũng không dám chậm trễ, sợ rằng lát nữa bọn cướp sẽ kéo đến đông hơn, vội vàng người thúc ngựa, người chạy bộ, chạy gấp về phía tây bắc. Đến khi chạy được hai dặm, chủ tớ hai người đã mệt đứt hơi, mới dừng lại nghỉ một lát.
Tào Tháo thấy Lâu Dị mệt đến mồ hôi ướt đầm, mà trời lạnh quá, e rằng đổ bệnh mất, vội cởi áo ngoài cho Lâu Dị mặc. Khi đó mới phát hiện, áo ngoài đã bị chém rách một miếng lớn dài tới gần hai thước, bỗng nhiên sởn tóc gáy. Định xuống ngựa tự tay mặc cho Lâu Dị, lại thấy chân trái bị đánh đau quá, không thể nhấc lên nổi nữa.
— Xin đại nhân chớ xuống ngựa! - Lâu Dị nhận tấm áo khoác đã rách, choàng lấy. - Nếu đại nhân xuống ngựa, chẳng may bây giờ lũ cướp đuổi đến nơi thì chúng ta không xong đâu!
— Ôi cha! Hai tên tiểu tử kia chạy đi đâu rồi?
— Bọn chúng đã mang theo hành lý của đại nhân chạy từ lâu rồi.
— Chúng ta thử đi tìm chúng xem.
— Đại nhân thật tốt bụng. - Lâu Dị có vẻ bực tức. - Hai tên ấy thấy chúng ta bị vây, nào có nghĩ chúng ta có thể sống sót được? Trong túi hành trang lại có tiền bạc, bọn chúng chắc chắn đã lấy tiền bạc trốn về quê rồi, quan tâm gì chúng ta sống chết thế nào nữa!
— Ôi! - Tào Tháo buồn bã. - Tình người bạc bẽo như thế đấy!
— Đại nhân đúng là không hiểu nhân tình thế thái! Suốt dọc đường đi bao nhiêu vất vả, nhưng tiểu nhân trước sau vẫn tự mình khoác túi tiền, để cho chúng khiêng gậy, chỉ sợ bọn chúng giở trò này ra. Rốt cuộc nhất thời tốt bụng, thế là bị bọn chúng cuỗm mất, giờ chúng ta chẳng còn tiền bạc gì cả rồi!
— Cũng chẳng sao. - Tào Tháo vừa nói vừa lấy chiếc ấn huyện lệnh trong người ra. - Ấn quan vẫn còn đây, dù có sao cũng giải quyết được hết! Các trạm quan dịch căn cứ vào quan ấn và văn thư mà cung cấp lương ăn chỗ ở, chúng ta mau đến dịch trạm huyện Phong Khâu, rồi tính tiếp. Chỗ này không nên ở lại lâu, đi mau! Đi mau nào!
Chủ tớ hai người không kịp nghỉ cho lại sức, vội tiếp tục đi về hướng tây bắc. Cũng bởi lúc ấy trong lòng sợ hãi, không xem kỹ đường đi, thành thử đi vòng qua huyện Phong Khâu lúc nào mà không hề hay biết. Trông thấy khi nãy còn lác đác có nhà dân, thế mà giờ càng đi càng thấy hoang vu, đến lúc nhận ra sai đường thì đã muộn rồi. Trời chợt tối sầm, đen như mực, sấm nổi lên ì ầm, những bông tuyết trắng như lông ngỗng bắt đầu rơi xuống. Tiến về phía trước còn cách thành Trường Viên tám mươi dặm, ở sau lưng thì đã đi quá huyện Phong Khâu ba mươi dặm, quang cảnh hoang vu không có một làn khói, chỉ toàn một màu cỏ khô, thời giờ cứ ngày càng muộn, tương lai một đêm không có chỗ trú chân đã hiện ra trước mắt.
Tuyết càng rơi càng lớn, chẳng lâu sau đã ngập móng ngựa, trời vừa xẩm tối, gió bắc lại ù ù nổi lên, nếu phải qua đêm ở nơi đồng không mông quạnh này, tất sẽ chết cóng. Chủ tớ hai người không biết phải làm thế nào, một người vác gậy, một người chịu đau do vết thương cưỡi trên lưng ngựa, thật chẳng khác nào phải chịu hình phạt dưới địa ngục.
Từ sáng sớm Tào Tháo đã rời khỏi huyện Trung Mâu, dãi gió dầm tuyết vất vả đến canh khuya, cả ngày lại không có giọt nước hạt cơm nào vào bụng, đùi lại bị đánh một gậy, tất nhiên là mệt mỏi đến kiệt sức. Bỗng lại nhớ đến cảnh dân chúng phải hoạn nạn, bọn cướp chặn đường, tùy tòng bỏ đi, trong lòng vô cùng buồn bực. Miệng thấy khát, Tào Tháo đưa tay tìm túi nước cũng không thấy đâu cả, chỉ còn cách tiện tay bốc một nắm tuyết trên yên ngựa đưa lên miệng. Nhất thời, cảm thấy lạnh buốt tâm can, người chao đảo như sàng gạo, trời đất quay cuồng, chân bị thương vừa đau vừa buốt, mắt hoa lên đầy những sao, rồi mấy giây sau chợt ngã nhào từ trên lưng ngựa xuống đất, sau đó thì không còn biết gì nữa...
Gặp hiền nhân tại vườn dâu
Chẳng biết ngất đi đã bao lâu, lúc này Tào Tháo mới dần tỉnh lại. Trong lúc mơ mơ hồ hồ, Tào Tháo chập chờn nhớ lại mình đang cùng Lâu Dị chống chọi với đêm mưa tuyết giữa cánh đồng hoang vu:
— Lâu Dị...
— Tỉnh rồi! Tỉnh rồi! - Xuất hiện trước mặt không phải Lâu Dị mà là một ông lão mặt mũi nhăn nheo, râu tóc bạc trắng.
— Ông...
— Chớ động đậy! Ngài còn yếu lắm. Người đầy tớ kia của ngài không sao cả! - Vừa nói ông lão vừa chỉ ra phía sau lưng. - Người đầy tớ của ngài cũng gớm thật. Vừa vác hai cây đại côn, lại ôm theo ngài kêu khóc, thiếu chút nữa khiến cái nhà nát này của lão đổ sụp đấy!
Tào Tháo khi ấy mới dụi mắt định thần nhìn kỹ, chỉ thấy đây là một gian lều cỏ, nhưng sắp đặt vô cùng gọn gàng sạch sẽ. Do trời lạnh, nên các cửa sổ đều đóng kín, giữa nền đất đốt một chậu than, cách đó không xa còn một chiếc giường nữa, Lâu Dị đang nằm ngáy vang như sấm trên đó, ngay bên người vẫn là cặp đại côn ngũ sắc. Khi ấy Tào Tháo mới thở phào một hơi, nhưng đầu óc vẫn nặng như đá đeo, lại nằm vật ra giường, phì phò nói:
— Đa tạ ơn cứu mạng của lão trượng!
— Không cần nói nhiều như vậy, chỉ là ngài ngã ở mép vườn dâu nhà lão ấy mà. - Lão trượng cười. - Bệnh tình của ngài cần phải tĩnh dưỡng, ngài cứ nghỉ ngơi cho khỏe! Có chuyện gì đợi đến khi ngài khỏe rồi hãy nói.
Vừa lúc ấy, một tiểu nha đầu chừng bảy, tám tuổi bưng thuốc đi vào, trông thấy Tào Tháo đã tỉnh, nha đầu cười hớn hở nhìn nhìn rồi nói:
— Đại ca ca, huynh thật là gan, ngủ một giấc dài đến ba ngày rồi đấy!
— Ba ngày!? - Tào Tháo kinh ngạc.
— Hoàn nhi, con không được nói thế. - Ông lão thuận tay đón bát thuốc từ tay nha đầu, thổi qua cho nguội, bảo, - Tính cả tối hôm đó nữa thì ngài đã hôn mê ba ngày ba đêm rồi! Ngài mau uống thuốc đi.
Tào Tháo gắng gượng ngỏng đầu dậy, dốc hết bát thuốc vừa tanh vừa đắng vào miệng, nằm yên xuống rồi lại hỏi:
— Lão trượng, ngài tinh thông y thuật nữa ư?
— Cũng biết sơ sơ một ít! - Ông lão vuốt râu. - Lão thấy, bệnh tình của ngài không chỉ là do đói rét và bị thương mà dường như còn bởi từ khí mà ra.
Tào Tháo gật gật đầu.
— Thế này đi, trước hết ngài hãy tĩnh dưỡng cho khỏe lại, đợi sức khỏe khôi phục rồi, lão phu sẽ trò chuyện với ngài một phen. - Nói xong, ông lão cầm chiếc bát không, dắt theo nha đầu Hoàn nhi đi ra khỏi cửa.
Tĩnh dưỡng như vậy thêm một ngày nữa, hết thuốc thang, lại ăn uống, Tào Tháo dần khôi phục và có thêm được chút khí lực, đã có thể đứng dậy đi lại được. Thấy sức khỏe đã tốt lên, Tào Tháo trong lòng vui vẻ, khi đó mới cảm thấy đường đột, vội hỏi danh tính ông lão.
— Lão phu là Quách Cảnh Đồ. - Ông lão vuốt vuốt râu đáp.
— Ôi!? - Tào Tháo giật mình, vội vã hành lễ bái yết.
Vị tiên sinh Quách Cảnh Đồ này chính là bậc danh sĩ mà người người truyền tụng năm xưa. Luận về tiếng tăm hiển hách thì đã có từ thời Hiếu Thuận hoàng đế khi xưa. Giá như tổ phụ Tào Đằng còn sống, có lẽ cũng còn kém ông lão vài tuổi.
— Ngài biết lão phu ư? - Quách Cảnh Đồ đỡ Tào Tháo dậy.
— Vãn sinh từng nghe phụ thân nhắc đến tên ngài, lão ngài là bậc hiền sĩ tiếng tăm hiển hách ạ!
Quách Cảnh Đồ cười nói:
— Gần bốn mươi năm nay đã không còn ai nhắc đến nữa rồi. Nay ta chỉ là một ông lão quê mùa sống nhàn cư ở vườn dâu mà thôi.
— Lão ngài năm xưa từng được Hiếu Thuận hoàng đế cho vời ra, lại có tiếng là bậc hiền nhân, nếu ngài chịu ra làm quan, e là nhị vị Viên, Dương đều không sánh kịp. Ngài tuyệt không thể thua kém mấy vị lão thần Trần Phồn, Hồ Quảng, Văn Nhân Tập vậy.
— Đều chỉ là mây khói thoảng qua thôi mà! - Quách Cảnh Đồ lắc lắc đầu, lại cầm y phục mà Tào Tháo thay ra tới. - Ngài là Tào Tháo, làm huyện lệnh Đốn Khâu?
— Chính là kẻ bất tài này, nhưng vãn sinh còn chưa đến nhận chức. - Tào Tháo lại thi lễ lần nữa.
— Ừ. Trong đời này, lão phu có thể lại gặp được những vị quan thanh liêm như ngài, cũng xem như được an ủi ít nhiều.
— Chẳng dám giấu gì lão tiền bối. - Tào Tháo đỏ mặt. - Vãn sinh mang theo nỗi oán giận mà rời kinh, cho nên chưa kịp chiêu tập nhiều gia nhân hơn nữa, nhưng cũng có một chiếc xe và năm người hầu. Đến huyện Yển Sư đã đem xe ngựa ra tặng cho một người phụ nữ ly hương. Trên đường từ Củng huyện đến Huỳnh Dương lại đem quần áo lương thực ra chu tế cho những người chạy loạn. Vượt qua Hoàng Hà lại gặp bọn cướp chặn đường, hai tên tùy tòng mang theo hành lý chạy trốn mất, rồi bị nhầm đường không vào được dịch trạm Phong Khâu, vừa đói vừa rét lội tuyết mới rơi vào cơ sự thế này.
— Ha ha ha... Thật là ly kỳ.
— Vãn sinh thực chẳng hiểu thế sự, khiến lão tiền bối phải cười chê.
— Không hiểu thế sự thì có gì không tốt đâu? - Quách Cảnh Đồ xua tay. - Người trong thiên hạ đều tâm cơ thận trọng, nào biết rằng những người tâm địa thuần phác mới có thể làm được việc lớn. Khi xưa Chu Á Phu chặn vương giá ở doanh Tế Liễu, Đặng Vũ đuổi vua Quang Vũ ở Nghiệp Thành, những người tầm thường chẳng cũng cho rằng họ là ngốc nghếch ư? Cứ theo bẩm tính mà làm mới là bậc trượng phu thực sự!
“Câu nói này thật giống câu Kiều công nói”, Tào Tháo thầm nghĩ như thế.
Quách Cảnh Đồ lại hỏi:
— Ngài tuổi còn trẻ, không biết vì chuyện gì mà mang buồn bực trong lòng?
Tào Tháo thở dài, liền mang chuyện dâng sớ đàn hặc, rồi bị bọn Tào Tiết ngoài mặt thì khen, mà bên trong ngầm hại, giữa tiết đông hàn rét buốt bị buộc phải rời kinh, tất cả đều kể hết lại một lượt.
Quách Cảnh Đồ vừa nghe vừa không ngừng gật đầu, cuối cùng ông nói:
— Chàng trai trẻ, ngài việc gì phải khổ não về chuyện đó. Ở kinh thì làm sao? Ở ngoài thì làm sao? Đã là dấn thân vào đường sĩ hoạn, có chí tạo phúc cho dân thì việc gì phải so đo thân mình ở chốn nào?
— Lão tiền bối giáo huấn rất phải! Vãn bối làm quan vốn chỉ cầu được ở chức cao, mưu dành tiếng tăm một phen. Bây giờ nghĩ lại thật là sai lầm. Mấy ngày hôm nay, suốt dọc đường đi, mắt thấy tai nghe toàn những chuyện đáng sợ, mới hiểu rõ sự khốn khổ của muôn dân, nỗi sai lầm của nhân thế, hóa ra vãn bối xưa nay hiểu biết rất hạn hẹp! - Tào Tháo ngượng ngùng nói.
— Ngài có thể nhìn ra được điều đó là rất tốt rồi, ngày sau sửa chữa sai lầm làm lại từ đầu thì sẽ đúng thôi.
— Nhưng nỗi sầu khổ của vãn sinh thực sự không phải ở điều đó.
— Ồ?
— Lão tiền bối có biết thân thế của vãn sinh chăng? - Tào Tháo biết ông lão đã nhìn thấy con dấu huyện lệnh, nghĩ rằng ông nhất định cũng đã xem qua văn thư quan phòng.
— Lão phu vẫn chưa biết.
Phải rồi! Ông lão cả đời là kẻ sĩ hiền minh, làm sao có chuyện đọc vụng văn thư của người khác chứ? Tào Tháo nói gãy gọn:
— Tổ phụ của vãn sinh là quan Đại Trưởng thu tiền triều. - Tào Tháo không tiện nói thẳng tên húy của tổ phụ mình.
— Ngài họ Tào... À! Ta biết rồi... biết rồi... - Đôi mắt Quách Cảnh Đồ sáng lên, ông vốn là kẻ sĩ nổi danh dưới thời Hiếu Thuận hoàng đế, tất nhiên là biết rõ Tào Đằng. - Ngài là hậu duệ của Tào Quý Hưng.
— Vãn bối bất tài. Đó chính là tổ phụ của vãn bối ạ.
Quách Cảnh Đồ gật gật đầu, không ngăn được thở dài một tiếng.
— Gia phụ hiện giữ chức Đại hồng lô, trong tộc còn có hai vị thúc phụ, một người là Thượng thư đương triều, một người là Trường Thủy hiệu úy thuộc Bắc quân...
Quách Cảnh Đồ ẩn cư mấy chục năm, lại ở mãi quê nhà xa xôi, chỉ có thể nhớ được lão hoạn quan Tào Đằng, chứ không biết được Tào Tung, Tào Đỉnh, Tào Xí, nhưng nghe thấy gia thế như vậy đã biết được gốc rễ căn cơ sâu xa. Lại thấy Tào Tháo sắc mặt có vẻ khó xử, ông nghi hoặc hỏi:
— Ngài có chuyện gì khó nói ư?
Tào Tháo cắn răng thưa:
— Thật không dám giấu giếm tiền bối, gia phụ cùng các vị thúc phụ ở trong triều đều vào hùa với đám hoạn quan, bị các bậc sĩ nhân oán ghét. Gia tộc chấn hưng nhưng không giữ được chữ đức, thực là chuyện đáng sỉ nhục...
Quách Cảnh Đồ cười gượng một tiếng:
— Nhà ngài nhờ hoạn quan mà lên, nhưng ngược lại ngài lại đàn hặc hoạn quan, cũng có thể coi là làm ngược thói nhà!
— Quả vậy, nhưng... - Tào Tháo lại thở dài. - Từ khi vãn bối ra làm quan đến nay, tuy cũng có thể coi là trong sạch nhưng truy nguyên gốc rễ cũng đều là nhờ thế lực của hoạn quan. Làm Lạc Dương bắc bộ úy, đánh chết thúc thúc của sủng thần, nói lại cũng là nhờ được phụ thân, thúc thúc bảo vệ. Thực xấu hổ vô cùng! - Tào Tháo thuận miệng đem những lời giáo huấn của Tào Tung với mình trước khi rời khỏi kinh thành nói hết lại một lượt.
Nào hay sau khi nói xong những lời ấy, Quách Cảnh Đồ ngẩng đầu cười lớn:
— Ha ha ha... Ha ha ha...
— Phải chăng lão tiên sinh cười vãn bối là giống xấu xa nhà hoạn quan, những chuyện trên đường sĩ hoạn thối tha không thể ngửi được?
— Không phải! Không phải! Ha ha ha...
— Vậy ngài cười gì?
— Ta cười thời vận tốt mà ngài bẩm sinh đã có.
— Thời vận tốt? - Tào Tháo cảm thấy thật khó hiểu.
— Đúng! Thời vận tốt. - Quách Cảnh Đồ ngưng tiếng cười. - Nếu lão đầu ta có gia thế như ngài, hà tất còn ở nơi này trồng dâu qua ngày ư!
— Nếu lão tiền bối đã nói tốt, vãn sinh tất nhiên không dám tranh cãi, nhưng thực sự vãn sinh không hiểu vì sao, xin tiền bối nói cho được rõ ạ.
— Được! Ngài nghe ta nói đây. Khổng Tử nói: “Ba năm không đổi con đường của cha, có thể coi là có hiếu vậy.” Câu ấy thực ra chỉ đúng một nửa. - Quách Cảnh Đồ nghiêm sắc mặt nói. - Ấy là phải xem xem con đường của phụ thân mình có thuận theo lòng dân ý trời hay không. Tổ phụ của ngài vốn rất tốt, trừ chuyện có vết nhơ trong việc sách lập tiên đế ra, còn lại tất cả chuyện khác, tuy là hoạn quan nhưng ông ấy cũng có thể được coi là lương sĩ. Nhưng đời sau không thể nắm được chính đạo đó nữa, mới dẫn đến thanh danh mai một. Ngài nói trong hai năm ngài làm quan, không né tránh quyền quý, đánh cả quyền thần, là dựa vào sự bảo vệ của phụ thân, thúc thúc. Vậy tại sao ngài không thử nghĩ lại xem sao?
— Nghĩ lại?
— Nếu ngài đã được phụ thân, thúc thúc bảo vệ, vậy vì sao không nhân cơ hội tốt ấy, làm nhiều việc thiện nghĩa cử? Con người ta không thể thay đổi việc mình được sinh ra, nhưng vẫn có thể làm theo những gì mình muốn cơ mà! Ngài hãy mượn thế lực của phụ thân, thúc thúc, mà đấu tranh nhiều hơn nữa với bọn giặc thiến kia, tạo phúc hơn nữa cho muôn dân, há chẳng tốt lắm sao? Lại nữa, ngài có căn cơ, có chỗ dựa, ngài chỉ mới biết không thể mượn tay họ để làm điều ác, mà không biết có thể dựa vào họ để làm điều thiện. Trách nào ngài đi xa ngàn dặm vẫn còn phải mang theo đôi côn làm vất vả bao nhiêu người. Thật tối tăm, ngu độn!
Tào Tháo bỗng nhiên ngộ ra:
— Ôi... Ngày trước Kiều công vẫn thường giáo huấn vãn bối, nay được lão nhân gia khai ngộ, mới hiểu được thâm ý bên trong.
— Ồ? Ngài quen biết Kiều Huyền ư? - Quách Cảnh Đồ có vẻ hơi bất ngờ.
— Từ khi vãn bối làm quan đến nay, đội ơn giáo huấn của Kiều công đã nhiều.
— Ừ! Kiều Công Tổ quả nhiên có con mắt nhìn người đấy... Tiểu tử! Giờ ngươi hãy nghĩ xem, có phải là thời vận tốt không nào? Lão phu ta nếu có dòng dõi thân thích hoạn quan, ắt sẽ vỗ tay reo mừng! Nếu thực được như thế, ta có thể thi triển được chí nguyện của mình, chữa khỏi những nỗi thống khổ của lê dân vậy! Đâu đến nỗi ở vườn dâu làm công việc tẻ nhạt này?
— Lão tiền bối, ngài ở vườn trồng dâu làm gì?
— Quách Cảnh Đồ ta vốn có chí cứu vớt lê dân, đâu quản gian thần chặn đường, nhưng dù có làm quan cũng bị bọn tiểu nhân làm hại. Vì vậy mới từ bỏ cả gia tài, ở đây trồng dâu độ nhật, thu được bao nhiêu lá dâu, lại đem cho những nông hộ nuôi tằm dệt vải ở quanh đây giúp họ đỡ phải vất vả.
Hóa ra là vậy! Tào Tháo suy nghĩ kỹ càng: “Phân tán hết gia tài cho dân chúng, lại còn trồng dâu để bố thí, ông lão này thực là một bậc đại hiền.”
— Nghĩa cử cao đẹp của lão tiền bối, thật khiến người ta phải khâm phục.
— Có gì đáng khâm phục chứ? Chỉ là sức có thế nào thì bỏ ra bấy nhiêu thôi!
— Lão tiền bối có người nhà nào theo cùng không?
— Vốn có lão bà bầu bạn, nhưng nay đã mất. Phu thê ta không có nhi tử, ba năm trước, nhận một cô nhi của một nhà nông dân về nuôi dưỡng, chính là nha đầu Hoàn nhi khi nãy đó. - Quách Cảnh Đồ vân vê chòm râu bạc. - Đáng tiếc là ta tuổi tác đã cao, đứa bé này lại còn nhỏ quá, sau này lỡ ta có mệnh hệ gì, nó cũng lại thành đứa khốn khổ.
— Vãn bối không dám làm tổn thọ tiền bối, nhưng nếu chẳng may tiền bối có ngày tiên cảnh nhàn du, vãn bối xin nguyện sẽ nuôi dưỡng Hoàn nhi, để làm tròn tâm nguyện của tiền bối.
— Được... được... - Quách Cảnh Đồ lại liên tục gật đầu. - Tên tiểu tử của Tào gia này, nếu ngươi đã có chí khuông phù xã tắc, cứ tùy ý mình muốn mà làm.
— Tùy ý mình muốn ư? - Tào Tháo cười. - Vãn bối vẫn còn ít tuổi.
— Khà khà... Khổng Tử nói: “Mười lăm tuổi để chí vào việc học, ba mươi tuổi thì tự lập thân, bốn mươi tuổi không nghi hoặc điều gì, năm mươi tuổi biết mệnh trời, sáu mươi tuổi nghe lời người là hiểu được, bảy mươi tuổi tùy ý mình muốn mà không vượt qua khuôn phép quy củ” có phải không? Đời người xưa nay thất thập cổ lai hy, cho nên lão hủ không tin những điều đó. Chuyện của một mình Khổng Khâu không thể đem áp đặt cho tất cả người khác. - Đôi mắt Quách Cảnh Đồ sáng quắc lên. - Ta chỉ nói năm từ thôi: “ngoại hóa”, “nội bất hóa” (Bên ngoài thay đổi, bên trong không thay đổi)! Có năm từ này, có thể tùy ý mình muốn được rồi!
— Vãn sinh thật mở mang được không ít! - Tào Tháo đứng dậy, vái dài một vái...
Cứ như vậy, lại quyến luyến thêm hai ngày nữa, Tào Tháo, Lâu Dị sức khỏe đã hồi phục, mới bịn rịn từ biệt Quách Cảnh Đồ và Hoàn nhi. Khi ra đến quan lộ, mặt trời đã lên cao, tuyết đã tan hết, tâm tư Tào Tháo phấn chấn lên rất nhiều. Trông thấy một mình cưỡi ngựa và chỉ còn Lâu Dị đi theo, Tào Tháo không ngăn được cảm thán:
— Ôi! Khi trước ta thấy có năm người tùy tòng đã là ít lắm rồi, không ngờ việc đến nước này chỉ còn lại hai người ta với ngươi mà thôi.
Lâu Dị thì cười bảo:
— Dù chỉ có một mình, tiểu nhân cũng hầu hạ đại nhân đầy đủ không ngại gì cả.
— Đêm hôm trước ở vườn dâu, thật vất vả ngươi phải dốc sức cứu ta.
— Tiểu nhân chỉ là một tên canh cửa kiết xác, chẳng qua có chút sức lực. Khi trước nếu chẳng được đại nhân cất nhắc thì bây giờ vẫn lay lắt qua ngày ở cửa Bắc thành Lạc Dương. Đại nhân có hoạn nạn tất nhiên tiểu nhân sẽ tận lực.
Tào Tháo thấy hắn một mình vác đôi đại côn ngũ sắc, cười bảo:
— Một mình ngươi tự vác đôi đại côn này, có mệt không?
— Nói thực là, tiểu nhân rất mệt! - Lâu Dị chép miệng.
— Ha ha ha... - Tào Tháo ngửa mặt lên trời cười lớn. - Thế thì vứt nó đi.
— Không! Đó là vật chứng cho uy chấn kinh sư của đại nhân ngài. - Lâu Dị nói rất thành thực.
— Khi ấy cũng là ta hứng khởi nhất thời, thực ra cần chi phải có chứng cớ chứ? Chả trách mà Quách lão tiên sinh phải buồn cười.
— Những điều Quách lão tiên sinh nói, chưa hẳn đều đúng cả!
— Hả?
— Nếu lúc đầu chúng ta không mang theo đôi đại côn này đi thì đã bị bọn cướp ở Phong Khâu giết chết! Còn có thể sống được mà chạy đến đây không? Ai mà có con mắt biết trước được điều gì?
Tào Tháo giật mình: Câu nói này thật đúng!
— Thế sự khó dự liệu. - Lâu Dị xốc lại đôi côn trên vai.
— Thế thì thôi. Chúng ta cứ làm cho tốt đừng hỏi đến chuyện sau này nữa! Cứ tùy cảnh ngộ mà theo vậy! - Tào Tháo lắc nhẹ dây cương, con ngựa rảo những bước đi nhẹ nhàng về phía trước.
Ở Trường Viên nghỉ ngơi một đêm, ngày hôm sau lại đi suốt cả ngày, chỉ thấy ruộng đồng bờ luống ngay ngắn chỉnh tề, nghĩ rằng hẳn đã đến ranh giới huyện Đốn Khâu. Tào Tháo, Lâu Dị bụng đói cồn cào vào trong dịch trạm ăn mấy cái bánh, dịch thừa trông thấy vị quan này đi một mình một ngựa cảm thấy rất kỳ quặc, hỏi kỹ mới biết chính là quan huyện lệnh đến nhận chức! Vội vàng sai người đưa tin đến huyện nha, gọi người đến nghênh tiếp quan lớn.
Tào Tháo, Lâu Dị cũng chẳng quan tâm đến những chuyện ấy, ăn no bụng rồi, cũng không cho dịch thừa biết một tiếng, chủ tớ hai người liền lên đường đi luôn. Chớp mắt đã đi hết mười dặm đường vào trong thành Đốn Khâu. Tào Tháo thấy huyện thành tuy nhỏ, nhưng lại náo nhiệt khác thường, người buôn bán ồn ào tấp nập, băng qua hết phố nọ đến ngõ kia, cuối cùng cũng đến trước cửa huyện nha.
Lâu Dị trông thấy một người đội mũ, mặc áo xanh, đang nghển cổ ngóng về phía đầu phố, cười bảo:
— Huynh đang tìm gì thế?
Người ấy phẩy tay áo nói:
— Không có việc gì thì hãy tạm tránh ra. Ta đang đợi đón đại nhân nhà ta!
Lâu Dị càng cười lớn hơn:
— Đều đến trước mặt huynh cả rồi đấy, huynh còn chưa nhận ra ư?
— Gì cơ? - Người ấy khi đó mới chú ý đến Tào Tháo: chỉ thấy một người trẻ tuổi, thân hình ngũ đoản, đang ngồi trên một con ngựa gầy, tướng mạo trông cũng bình thường, sắc mặt lại vàng võ gầy còm, bộ dạng như mới ốm dậy, chỉ có đôi mắt là tinh anh sắc sảo. Bộ râu đã lâu ngày không cắt sửa, mình mặc chiếc áo dài đã bẩn lem nhem, bên ngoài khoác một chiếc áo bào lông cáo có một miếng rách dài. - Đấy là công tử của Tào Tung, là quan huyện Đốn Khâu đó ư?
Tào Tháo vội xuống ngựa, lấy ấn tín từ trong áo ra:
— Ta chính là Tào Tháo, dám hỏi các hạ là ai?
Người kia vội vàng quỳ xuống đất:
— Thuộc hạ Từ Đà, là công tào bản huyện, trong lúc gấp gáp chưa thể nhận ra đại nhân ngay, mong đại nhân thứ tội.
— Từ công tào mau đứng dậy đi! Trông bộ dạng ta thế này, đến ngay chính ta nhìn cũng còn không dám nhận là mình nữa là! Ha ha ha...
Từ Đà được ưu ái lấy làm kinh sợ:
— Vừa nãy thuộc hạ đã cho xe ngựa đi đón đại nhân, đại nhân không trông thấy ư?
Tào Tháo lấy làm ngạc nhiên:
— Không thấy!
— Chắc hẳn thấy đại nhân ăn vận thế này, bọn tiểu nhân danh lợi ấy không nhận ra rồi!
Bỗng nhiên lại có một người từ cổng huyện nha chạy ra.
— Nghi Lộc! Tiểu tử ngươi cũng đã đến rồi ư?
Tần Nghi Lộc quỳ xuống dập đầu:
— Kim đại gia! Ngân đại gia! Phỉ thúy trân châu lưu li mã não đại gia quý hóa của con! Cuối cùng ngài cũng đã đến rồi! Con đi huyện Tiều một chuyến, rồi lại chạy đến Đốn Khâu mà còn nhanh hơn ngài. Ngài đi đâu thế ạ? Làm con sốt ruột tưởng chết đi được.
— Một câu khó mà nói hết được! - Tào Tháo mỉm cười, cúi đầu xuống nhìn đôi tay nhăn nheo của mình.
Chợt lại nghe thấy tiếng sáo réo rắt, du dương bay đến, chợt vui tươi, lúc uyển chuyển. Từ trong huyện nha một thiếu niên vừa thổi sáo vừa đi ra, tiểu tử đó nghiêng đầu lắc lư chẳng để ý đến ai, chỉ chăm chú thổi hết khúc nhạc thật hay của mình.
— A Bỉnh, đệ cao lên nhiều rồi, cũng lớn nữa, lại rất khôi ngô. - Tào Tháo khen ngợi mãi.
— Tất nhiên rồi. - Biện Bỉnh đút cây sáo vào trong ống tay áo, cười ngây ra bảo. - Khốn kiếp, nhà đệ đúng là phúc tổ bảy mươi đời, mới gặp được tỷ phu tốt như huynh, bây giờ tỷ tỷ của đệ đã thành phu nhân quan huyện lệnh rồi. Đệ đây khác nào cây lúa đủ phân, khốn kiếp, làm sao có thể không lớn khôn lên chứ?
Tào Tháo nhăn mày, bảo:
— Này... nói toàn những lời bậy bạ thế, còn chưa khôn lớn lên đâu. Mọi người đến đây mấy ngày rồi?
— Từ hôm kia đã đến đây rồi. - Nói xong Biện Bỉnh ghé sát bên tai Tào Tháo nói, - Tỷ tỷ của đệ đang nhớ huynh lắm đấy!
Tào Tháo chợt đỏ mặt:
— Đừng nói những lời lung tung với ta! Phụ thân ta vẫn chưa biết đâu, đệ chớ nói lộ ra.
— Đệ không theo thế há lại chẳng phải là lừa dối ư? - Biện Bỉnh nói rành rọt.
— Đệ đã đến đây rồi, cũng nên có quy củ một chút. Một là không được ỷ thế khinh người, làm chuyện bậy bạ. Hai là phải sửa đổi kiểu ăn nói đầu đường xó chợ đi.
— Tiểu đệ nhớ rồi. Huynh còn chưa vào nha môn đã nói nhiều lời thế này, hãy mau vào trong nghỉ ngơi đã ạ. - Biện Bỉnh cười nói. - Đệ không ở trong nha môn này của huynh, mà đã bố trí một căn nhà nhỏ ở bên phố đối diện. Quan huyện lệnh đến nhận chức không thể mang theo đệ đệ của thê tử được.
— Tốt! - Tào Tháo gật đầu tán đồng.
— Đệ đâu có hiểu những điều ấy? Đều nhờ Từ công tào lo lắng cho đấy.
Tào Tháo khi đó mới nhìn kỹ lại Từ Đà một lượt, chỉ thấy hắn khoảng tầm ba mươi tuổi, mặt trắng râu dài, đầu mày khóe mắt lộ rõ vẻ thông minh tinh ý, trong lòng thầm nghĩ: Người này chưa thấy huyện lệnh, đã kết giao với thân quyến trước, chắc hẳn là loại giỏi luồn lọt! Bèn bảo:
— Từ công tào, chuyện mua bán nhà cửa có phải dùng tiền của nha môn không?
Từ Đà sợ giật nảy mình, vội đáp:
— Hạ quan không dám!
Biện Bỉnh cũng cười hi hi nói:
— Tỷ phu cũng thật hay nghĩ xa, bọn đệ từ huyện Tiều đi, toàn bộ chi phí ăn mặc tiêu dùng đều được nhị ca Tào Đức cấp cho khi lên đường.
Tào Tháo không ngăn được cảm thán nói:
— Đúng là đệ đệ của ta biết tính kỹ lo xa.
Bỗng nhiên từ cổng lớn có một cô nương xinh đẹp vụt chạy ra, nhìn về phía Tào Tháo đầy tình tứ. Con tim Tào Tháo chợt rộn lên... tiểu nương tử mà ta ngày nhớ đêm mong đây, cuối cùng chúng ta cũng đã có thể được ở bên nhau rồi...