Thời Khắc Gian Nan

Lượt đọc: 268 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
Tàn Sát Những Kẻ Ngây Thơ

❊ ❊ ❊

Thomas Gradgrind, thưa quý vị. Một con người của thực tế. Một con người của những dữ kiện khách quan và phép tính toán. Một con người hoạt động theo nguyên tắc hai cộng hai là bốn, không thừa không thiếu, và chẳng ai có thể thuyết phục ông chấp nhận bất kỳ điều gì vượt quá con số đó. Thomas Gradgrind, thưa quý vị — nhất quyết phải là Thomas — Thomas Gradgrind. Trong túi ông lúc nào cũng sẵn thước đo, cân đòn cùng bảng cửu chương, sẵn sàng đem ra cân đo đếm bất kỳ mảnh tính cách nào của con người để phán một câu xanh rờn xem nó trị giá bao nhiêu. Với ông, mọi thứ chỉ là vấn đề số liệu, một bài toán số học đơn giản. Bạn có thể hy vọng nhồi nhét vài niềm tin nhảm nhí vào đầu George Gradgrind, Augustus Gradgrind, John Gradgrind hay Joseph Gradgrind (toàn những nhân vật hư cấu không hề tồn tại), chứ còn nhồi vào đầu Thomas Gradgrind ư — không bao giờ, thưa quý vị!

Ông Gradgrind luôn tự giới thiệu bản thân trong đầu bằng những lời lẽ như thế, dù là trước bạn bè quen biết hay trước công chúng rộng rãi. Và không nghi ngờ gì nữa, giờ đây Thomas Gradgrind cũng đang tự giới thiệu mình trước những "bình gốm nhỏ" đứng phía dưới — những đứa trẻ sắp sửa được đổ đầy những dữ kiện thực tế — chỉ khác là ông thay từ "thưa quý vị" bằng "các cậu bé, cô bé".

Quả thực, khi đứng nhìn lũ trẻ từ vị trí thấp hơn như đã miêu tả ở trên, đôi mắt ông rực lên hào hứng khiến ông trông chẳng khác nào một khẩu đại bác đã nạp căng đạn thực tế, chỉ đợi phát hỏa là thổi tung lũ trẻ ra khỏi khoảng trời tuổi thơ trong một phát bắn. Ông cũng giống như một cỗ máy điện đàm, được tích đầy nguồn năng lượng cơ khí lạnh lùng để càn quét và đập tan những trí tưởng tượng non nõn, mỏng manh của lũ trẻ.

“Học sinh số hai mươi,” ông Gradgrind cất tiếng, ngón tay trỏ vuông vức chỉ thẳng về phía trước. “Tôi không biết học sinh đó. Học sinh đó là ai?”

“Thưa thầy, em là Sissy Jupe ạ,” số hai mươi ngượng ngùng đỏ mặt, đứng dậy khẽ nhún người chào.

“Sissy không phải là một cái tên,” ông Gradgrind cắt lời. “Đừng tự gọi mình là Sissy. Hãy gọi là Cecilia.”

“Tại cha em ở nhà toàn gọi em là Sissy ạ,” cô bé run run đáp và nhún người thêm lần nữa.

“Vậy thì cha trò chẳng có quyền gì mà gọi như thế cả,” ông Gradgrind phán. “Về bảo với ông ấy là không được gọi vậy nữa. Cecilia Jupe. Để xem nào. Cha trò làm nghề gì?”

“Dạ thưa thầy, cha em làm ở gánh xiếc ngựa ạ.”

Ông Gradgrind nhíu mày, xua tay như muốn gạt đi cái nghề nghiệp không mấy hay ho ấy.

“Ở đây chúng ta không muốn biết bất cứ điều gì về chuyện đó. Trò không được phép nhắc đến chuyện đó ở đây. Cha trò huấn luyện ngựa đúng không?”

“Dạ thưa thầy, hễ có ai mang ngựa đến nhờ thuần dưỡng trong rạp xiếc thì cha em và mọi người sẽ thuần dưỡng ạ.”

“Trò không được nói về rạp xiếc ở đây. Được rồi. Hãy miêu tả cha trò là một người thuần dưỡng ngựa. Cha trò cũng chữa bệnh cho ngựa nữa đúng không?”

“Dạ đúng ạ, thưa thầy.”

“Tốt lắm. Vậy ông ấy là một bác sĩ thú y, một thợ rèn móng ngựa và là người thuần dưỡng ngựa. Bây giờ hãy cho tôi biết định nghĩa về một con ngựa.”

(Sissy Jupe hoảng hốt vô cùng trước yêu cầu này.)

“Học sinh số hai mươi không thể định nghĩa được một con ngựa!” ông Gradgrind dõng dạc tuyên bố cho cả lớp cùng nghe. “Học sinh số hai mươi không nắm được chút kiến thức thực tế nào về một trong những loài vật phổ biến nhất! Một đứa con trai nào đó hãy cho biết định nghĩa về con ngựa xem. Bitzer, trò đi.”

Ngón tay vuông vức của ông rà soát một hồi rồi dừng lại ở Bitzer, có lẽ vì cậu học sinh này vô tình ngồi đúng vệt nắng chiếu qua ô cửa sổ trần trụi của phòng học quét vôi trắng xóa — vệt nắng cũng đang rọi vào Sissy. Học sinh nam và nữ ngồi trên một dãy ghế dốc chia làm hai khối gọn gàng, ngăn cách ở giữa bằng một lối đi hẹp. Sissy ngồi ở góc dãy ghế bên phía có nắng nên nhận được đoạn đầu của tia sáng, còn Bitzer ngồi ở góc dãy bên kia, phía trên vài hàng, nhận lấy đoạn cuối của tia sáng ấy. Tuy nhiên, nếu như cô bé sở hữu đôi mắt và mái tóc đen nhánh đến mức ánh mặt trời rọi vào chỉ càng làm tăng thêm vẻ thắm tươi, óng ả, thì cậu con trai lại có đôi mắt và mái tóc nhạt màu đến độ chính những tia nắng ấy dường như đã rút cạn chút sắc thái ít ỏi còn lại trên người cậu. Đôi mắt lạnh lẽo của cậu trông sẽ chẳng giống mắt người nếu không có những hàng lông mi ngắn ngủn giúp định hình nhờ sự tương phản với làn da còn nhợt nhạt hơn. Mái tóc cắt ngắn của cậu trông như thể một phần nối dài của những đốm tàn nhang màu cát trên trán và mặt. Làn da cậu thiếu sức sống và nhợt nhạt một cách bệnh tật, tưởng chừng như nếu bị rạch một đường, máu chảy ra cũng sẽ có màu trắng.

“Bitzer,” Thomas Gradgrind lên tiếng. “Nêu định nghĩa về con ngựa.”

“Loài thú bốn chân. Ăn cỏ. Có bốn mươi chiếc răng, gồm hai mươi tư răng hàm, bốn răng cẩu và mười hai răng cửa. Thay lông vào mùa xuân; ở những vùng đầm lầy thì thay cả móng. Móng cứng nhưng cần phải đóng móng sắt. Có thể biết tuổi qua vết răng.” Bitzer van van đọc một hơi như vậy (và còn nhiều chi tiết khác nữa).

“Đấy, học sinh số hai mươi,” ông Gradgrind nói. “Bây giờ trò đã biết thế nào là một con ngựa rồi nhé.”

Cô bé lại nhún người chào, gò má nếu còn đỏ hơn được nữa thì chắc cũng đã đỏ gắt lên rồi. Bitzer chớp chớp cả hai mắt cùng lúc thật nhanh về phía Thomas Gradgrind, ánh sáng phản chiếu vào đầu những sợi lông mi đang rung rinh khiến chúng trông như râu của mấy con công trùng bận rộn, rồi cậu giơ ngón tay lên chạm vào cái trán đầy tàn nhang của mình và ngồi xuống.

Vị khách thứ ba lúc này bước ra phía trước. Ông là một tay cự cỏi trong việc cắt gọt và sấy khô mọi lý thuyết; một quan chức chính phủ; theo cách của ông (và cũng là theo góc nhìn của hầu hết mọi người), ông là một tay đấm chuyên nghiệp chính hiệu; lúc nào cũng trong tư thế luyện tập, lúc nào cũng sẵn sàng nhồi nhét hệ thống lý thuyết của mình vào họng người khác như nhét một viên thuốc đắng, và lúc nào cũng hiện diện nơi công sở để sẵn sàng thách đấu với cả nước Anh. Dùng thuật ngữ quyền anh mà nói, ông có tài năng thiên bẩm trong việc sẵn sàng vào đài nghênh chiến dù đối thủ hay hoàn cảnh là gì, và luôn tỏ ra là một kẻ đối đầu khó nhằn. Ông sẽ lao vào dội đòn tả hữu, tung cú đấm tay phải làm suy yếu bất kỳ chủ đề nào, rồi bồi tiếp đòn tay trái, đỡ đòn, trao đổi đòn, phản công, dồn đối thủ (ông luôn coi đối thủ của mình là toàn thể nước Anh) vào dây đài và hạ gục một cách gọn gàng. Ông chắc chắn sẽ đấm cho cái gọi là "lẽ thường" phải hụt hơi và khiến đối thủ đen đủi đó hoàn toàn gục ngã không thể đứng dậy khi trọng tài đếm giờ. Ông mang trên mình trọng trách do cấp trên giao thịnh: hiện thực hóa thời kỳ hoàng kim công sở, nơi các Ủy viên Hội đồng sẽ trị vì thiên hạ.

“Tốt lắm,” vị quan chức nói, tươi cười nhanh nhảu và khoanh tay trước ngực. “Đó là con ngựa. Bây giờ, tôi muốn hỏi các cậu bé cô bé ở đây: Các cháu có dán tường phòng bằng giấy có in hình những con ngựa không?”

Sau một hồi im lặng, một nửa lớp đồng thanh reo lên: “Thưa không, thưa thầy!” — à không, “Thưa có, thưa thầy!” Nhưng rồi thấy nét mặt vị khách có vẻ không hài lòng với câu trả lời "Có", nửa còn lại vội vàng hô to: “Thưa không, thưa thầy!” — đúng theo thói quen thường thấy trong các buổi kiểm tra thế này.

“Dĩ nhiên là Không rồi. Tại sao lại không?”

Lại một khoảng nghỉ. Một cậu bé béo mập, chậm chạp với hơi thở khò khè đánh táo tợn trả lời rằng, vì cậu sẽ không dán giấy lên tường mà sẽ sơn tường.

“Cháu bắt buộc phải dán giấy,” vị quan chức nói có phần gay gắt.

“Cháu bắt buộc phải dán giấy,” Thomas Gradgrind nhắc lại, “dù cháu có thích hay không. Đừng có nói với chúng tôi là cháu không dán. Ý cháu là sao hả trò kia?”

“Vậy để tôi giải thích cho cháu hiểu,” vị quan chức lên tiếng sau một khoảng lặng ảm đạm khác, “tại sao cháu lại không dán tường bằng giấy in hình con ngựa. Trong thực tế — trong đời thực — cháu có bao giờ nhìn thấy những con ngựa đi lại ngược xuôi trên tường phòng không? Có không?”

“Thưa có!” một nửa lớp hô. “Thưa không!” nửa còn lại đáp.

“Dĩ nhiên là không,” vị quan chức lườm nửa lớp trả lời sai một cách giận dữ. “Vậy thì, cái gì cháu không thấy trong thực tế thì cháu không được phép nhìn thấy ở bất kỳ đâu; cái gì không có trong thực tế thì cháu không được sở hữu ở bất kỳ đâu. Cái gọi là 'Thẩm mỹ' chẳng qua chỉ là một tên gọi khác của 'Thực tế' mà thôi.” Thomas Gradgrind gật đầu đồng tình.

“Đây là một nguyên lý mới, một phát kiến, một phát kiến vĩ đại,” vị quan chức tiếp tục. “Giờ tôi thử lại các cháu nhé. Giả sử các cháu định trải thảm cho một chiếc phòng. Các cháu có dùng loại thảm in hình hoa lá không?”

Đến lúc này, nhận thức chung của cả lớp là cứ trả lời “Thưa không, thưa thầy!” thì kiểu gì cũng đúng, nên tiếng hô "Không" vang lên rất đồng thanh và áp đảo. Chỉ có vài giọng lạc điệu yếu ớt nói "Có", trong đó có Sissy Jupe.

“Học sinh số hai mươi,” vị quan chức mỉm cười tự tin với sức mạnh kiến thức của mình.

Sissy đỏ mặt đứng dậy.

“Vậy là cháu sẽ trải thảm cho phòng của cháu — hoặc phòng của chồng cháu sau này nếu cháu lớn lên và có chồng — bằng loại thảm in hình hoa lá, đúng không?” vị quan chức hỏi. “Tại sao cháu lại làm thế?”

“Dạ thưa thầy, tại em rất thích hoa ạ,” cô bé trả lời.

“Và đó là lý do cháu muốn đặt bàn ghế lên trên hoa, rồi để người ta mang những đôi ủng nặng trịch dẫm đạp lên chúng sao?”

“Thảm thì đâu có sao đâu thưa thầy. Hoa trên thảm đâu có bị dập nát hay héo hon đâu ạ. Đó chỉ là hình ảnh của những gì rất đẹp đẽ, dễ thương, và em tưởng tượng rằng...”

“Ấy ấy ấy! Cháu không được phép tưởng tượng,” vị quan chức reo lên đầy đắc ý vì đã bẫy được cô bé đúng như ý muốn. “Chính nó đấy! Các cháu tuyệt đối không bao giờ được tưởng tượng.”

“Cháu không được phép, Cecilia Jupe,” Thomas Gradgrind trang trọng nhắc lại, “làm bất cứ điều gì tương tự như thế.”

“Thực tế, thực tế, thực tế!” vị quan chức hô. Và “Thực tế, thực tế, thực tế!” Thomas Gradgrind họa theo.

“Mọi thứ của các cháu phải được quy định và chi phối,” vị quan chức nói, “bởi thực tế. Chúng tôi hy vọng không lâu nữa sẽ thành lập một ủy ban thực tế, gồm các ủy viên thực tế, những người sẽ bắt buộc dân chúng phải trở thành một cộng đồng sống bằng thực tế, và chỉ bằng thực tế mà thôi. Các cháu phải loại bỏ hoàn toàn từ 'Tưởng tượng' ra khỏi đầu. Các cháu không có việc gì phải dính dáng đến nó cả. Trong bất kỳ vật dụng hay đồ trang trí nào, các cháu không được phép xuất hiện những thứ mâu thuẫn với thực tế. Trong đời thực các cháu không đi trên hoa; vậy nên không thể cho phép các cháu đi trên hoa vẽ trên thảm. Các cháu không thấy chim trời hay bướm lạ đậu trên bát đĩa nhà mình; vậy nên không thể cho phép vẽ chim trời bướm lạ lên bát đĩa. Các cháu chẳng bao giờ thấy thú bốn chân bò ngược xuôi trên tường; vậy nên không được thể hiện thú bốn chân trên tường. Đối với tất cả những mục đích này,” vị quan chức nói tiếp, “các cháu phải sử dụng sự kết hợp và biến tấu (bằng các màu cơ bản) của các hình khối toán học vốn có thể chứng minh và thực nghiệm được. Đây là phát kiến mới. Đây là thực tế. Đây mới là thẩm mỹ.”

Cô bé nhún người chào rồi ngồi xuống. Cô còn quá nhỏ, và nét mặt trông vô cùng sợ hãi trước một tương lai trần trụi, đầy thực tế mà thế giới đang phô bày ra trước mắt.

“Bây giờ, nếu thầy M’Choakumchild sẵn sàng bắt đầu bài giảng đầu tiên ở đây,” vị quan chức quay sang, “thì thưa ông Gradgrind, tôi rất hân hạnh được quan sát phương pháp giảng dạy của thầy ấy theo yêu cầu của ông.”

Ông Gradgrind rất lấy làm cảm kích. “Thầy M’Choakumchild, chúng tôi chỉ còn đợi thầy thôi đấy.”

Thế là thầy M’Choakumchild bắt đầu thể hiện kỹ năng tốt nhất của mình. Thầy cùng khoảng một trăm bốn mươi giáo viên khác vừa mới ra lò cùng một lúc, từ cùng một nhà máy, theo cùng một nguyên tắc sản xuất hàng loạt, chẳng khác nào những chiếc chân đàn piano. Thầy đã trải qua đủ loại bài huấn luyện khắc nghiệt và đã trả lời hàng núi câu hỏi hại não. Chính tả, ngữ nguyên học, cú pháp và thi luật; tiểu sử, thiên văn học, địa lý và vũ trụ học đại cương; các phép toán tỉ lệ phức hợp, đại số, khảo sát địa hình và đo cao độ; thanh nhạc và vẽ theo mẫu — tất cả đều nằm trong tầm tay của mười đầu ngón tay lạnh giá của thầy. Thầy đã lặn lội qua những chặng đường đá sỏi để có tên trong Danh mục B của Hội đồng Cố vấn Hạ viện Tối cao Giáo hoàng, và đã vắt cạn tinh hoa của các ngành toán học cao cấp, khoa học tự nhiên, cùng tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng La-tinh và tiếng Hy Lạp. Thầy biết tường tận về mọi lưu vực sông trên toàn thế giới (dù chúng là cái gì đi nữa), thuộc lòng lịch sử của mọi dân tộc, tên của mọi dòng sông, ngọn núi, sản vật, phong tục tập quán của mọi quốc gia, cũng như ranh giới và tọa độ của chúng trên ba mươi hai hướng của la bàn. Ôi, e rằng thầy đã nạp quá tải rồi, M’Choakumchild ạ! Giá như thầy học ít đi một chút, thì biết đâu thầy lại có thể dạy dỗ tốt hơn biết bao nhiêu!

Thầy bắt đầu bài giảng chuẩn bị này bằng một phương cách chẳng khác nào Morgiana trong câuuyện *Alibaba và bốn mươi tên cướp*: dòm ngó vào từng hũ gốm xếp hàng trước mặt để xem bên trong chứa đựng những gì. Này M’Choakumchild tốt bụng! Khi thầy trút hết kho kiến thức sôi sục của mình để đong thật đầy từng chiếc hũ nhỏ ấy, thầy có nghĩ rằng mình sẽ tiêu diệt tận gốc tên trộm 'Tưởng tượng' đang ẩn nấp bên trong — hay đôi khi chỉ làm nó bị thương và biến dạng mà thôi?

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.