Thời Khắc Gian Nan

Lượt đọc: 268 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4
Ông Bounderby

❊ ❊ ❊

Nếu không phải là bà Grundy, vậy thì ông Bounderby là ai?

Ồ, ông Bounderby là người thân thiết với ông Gradgrind đến mức tối đa mà một kẻ hoàn toàn trơ lỳ cảm xúc có thể đạt tới trong mối quan hệ tinh thần với một kẻ hoàn toàn trơ lỳ cảm xúc khác. Ông Bounderby ở rất gần mức ấy—hoặc, nếu độc giả muốn hiểu theo cách ngược lại, thì là ở rất xa.

Ông là một người giàu có: chủ ngân hàng, thương gia, chủ xưởng sản xuất, và đủ thứ nghề khác. Một người đàn ông to lớn, oang oang, sở hữu cái nhìn chòng chọc cùng tiếng cười chói tai như kim loại va vào nhau. Một con người như được đúc ra từ thứ chất liệu thô ráp, kéo dãn hết cỡ để tạo nên một thân hình đồ sộ. Một người có cái đầu cùng vầng trán phồng to, thái dương nổi đầy gân máu, và da mặt căng cứng đến mức tưởng như lúc nào cũng giữ cho đôi mắt mở to và lông mày nhướng cao. Tướng mạo ông toát lên vẻ phồng rợp như một quả bóng bay chực nổ. Một kẻ chẳng bao giờ thấy đủ khi tự hão huyễn về bản thân như một tấm gương tự thân lập nghiệp. Một kẻ luôn dùng cái giọng nói như tiếng loa đồng để rêu rao về quá khứ dốt nát và nghèo khổ của mình. Một kẻ đích thực là tên trùm hách dịch núp bóng sự khiêm nhường.

Kém người bạn thực tế vô cùng của mình một hai tuổi, nhưng trông ông Bounderby lại già hơn; nếu cộng thêm bảy hay tám tuổi nữa vào cái tuổi bốn mươi bảy hay bốn mươi tám của ông, cũng chẳng ai lấy làm kinh ngạc. Tóc ông chẳng còn bao nhiêu. Người ta có thể tưởng tượng rằng ông đã nói nhiều đến mức làm tóc rụng bớt; còn chút tóc ít ỏi còn lại, cứ dựng ngược lên rối bời, như thể liên tục bị những trận gió khoác hác từ cái miệng ông thổi tung.

Tại phòng khách trang trọng của Tòa nhà Stone, đứng trên tấm thảm trước lò sưởi để sưởi ấm, ông Bounderby đang thao thao bất tuyệt với bà Gradgrind vài nhận xét nhân dịp sinh nhật của mình. Ông đứng trước lò sưởi, một phần vì tuy nắng chiếu nhưng buổi chiều xuân này trời vẫn se lạnh; một phần vì bóng râm của Tòa nhà Stone lúc nào cũng như bị ám bởi thứ hơi ẩm của vữa chưa khô; và một phần vì đứng ở đó, ông chiếm được vị trí áp đảo để át vía bà Gradgrind.

“Thậm chí tôi còn chẳng có lấy một chiếc giày mà đi. Còn tất chân ư, tôi còn chẳng biết cái tên đó là gì. Bắn cả ngày tôi nằm dưới rãnh nước, tối đến thì rúc trong chuồng lợn. Đó là cách tôi trải qua sinh nhật mười tuổi của mình đấy. Mà rãnh nước thì có lạ gì với tôi đâu, vì chính tôi được sinh ra ở dưới rãnh nước mà.”

Bà Gradgrind—một bọc khăn quàng nhỏ bé, gầy gò, xanh xao, đôi mắt hồng nhạt, yếu ớt vô cùng cả về thể xác lẫn tinh thần; một người lúc nào cũng uống thuốc mà chẳng có tác dụng gì, và mỗi khi có dấu hiệu tỉnh táo đôi chút thì ngay lập tức lại bị một thực tế nặng nề nào đó đè cho choáng váng—bà Gradgrind khẽ hy vọng đó là một cái rãnh khô ráo?

“Không! Ẩm ướt như sũng nước. Nước ngập sâu cả thước ấy chứ,” ông Bounderby nói.

“Thế thì đủ khiến một đứa trẻ bị cảm lạnh rồi,” bà Gradgrind suy ngẫm.

“Cảm lạnh ư? Tôi sinh ra đã bị viêm phổi, và tôi tin là viêm cả mọi thứ khác có thể viêm trên đời này,” ông Bounderby đáp lại. “Thưa bà, trong nhiều năm trời, tôi là một trong những đứa trẻ đáng thương và khốn khổ nhất từng tồn tại. Tôi ốm yếu đến mức lúc nào cũng rên rỉ than van. Tôi rách rưới và bẩn thỉu đến mức bà có dùng kẹp gắp than cũng chẳng buồn chạm vào tôi.”

Bà Gradgrind yếu ớt nhìn vào chiếc kẹp gắp than, như thể đó là điều thích hợp nhất mà cái trí óc đẫn đờ của bà có thể nghĩ ra vào lúc ấy.

“Tôi đã vượt qua điều đó như thế nào, chính tôi cũng chẳng rõ,” Bounderby nói. “Tôi đoán là nhờ lòng kiên định. Sau này tôi là một người kiên định, và tôi đoán hồi đó tôi cũng vậy. Dù sao thì giờ đây tôi đang ở đây, thưa bà Gradgrind, và chẳng có ai để tôi phải cảm ơn cho sự hiện diện này ngoài chính bản thân tôi.”

Bà Gradgrind ngoan ngoãn và yếu ớt hy vọng rằng mẹ ông—

“Mẹ tôi ư? Trốn mất dạng rồi, thưa bà!” Bounderby ngắt lời.

Bà Gradgrind, lại choáng váng như thường lệ, sụp xuống và chịu thua.

“Mẹ tôi vứt tôi lại cho bà ngoại,” Bounderby tiếp tục; “và theo những gì tôi nhớ rõ nhất, bà ngoại tôi là người bà già độc ác và tồi tệ nhất từng tồn tại trên đời. Nếu may mắn tôi có được một đôi giày nhỏ, bà ta sẽ lột ra đem bán lấy tiền uống rượu. Ôi chao, tôi từng chứng kiến bà ngoại tôi nằm trên giường ừng ực nốc hết mười bốn ly rượu mạnh trước cả bữa sáng đấy!”

Bà Gradgrind gượng cười yếu ớt, không tỏ ra một dấu hiệu sức sống nào khác, trông bà (như mọi khi) chẳng khác nào một bức tranh kính mờ nhạt vẽ hình người phụ nữ nhỏ bé, thiếu mất ánh sáng chiếu từ phía sau.

“Bà ta mở một cửa hàng tạp hóa,” Bounderby nói tiếp, “và nhốt tôi trong một cái thùng đựng trứng. Đó là chiếc nôi thời thơ ấu của tôi đấy; một cái thùng đựng trứng cũ kỹ. Ngay khi đủ lớn để bỏ trốn, dĩ nhiên là tôi trốn ngay. Thế rồi tôi trở thành một đứa trẻ lang thang; và thay vì chỉ có một mụ già đánh đập và bắt tôi nhịn đói, thì mọi người đủ mọi lứa tuổi đều đánh đập và bắt tôi nhịn đói. Họ làm thế là đúng; họ việc gì phải làm khác đi. Tôi là một gánh nặng, một kẻ quấy rầy và một tai họa. Tôi biết quá rõ điều đó chứ.”

Lòng tự hào của ông khi từng đạt tới một vị thế xã hội “vinh quang” đến mức trở thành gánh nặng, kẻ quấy rầy và tai họa chỉ được thỏa mãn sau khi ông nhắc lại lời khoác hác đó tới ba lần bằng giọng vang như chuông.

“Tôi phải tự mình vượt qua thôi, thưa bà Gradgrind. Dù có vượt qua được hay không, thưa bà, thì tôi cũng đã làm được. Tôi đã vượt qua, dù chẳng ai quăng cho tôi một sợi dây thừng cứu mạng. Kẻ lang thang, chú bé sai vặt, lại lang thang, gã lao động chân tay, culi bốc vác, thư ký, quản lý trưởng, cổ đông nhỏ, rồi trở thành Josiah Bounderby của Coketown. Đó là quá khứ và là đỉnh cao hiện tại đấy. Josiah Bounderby của Coketown học chữ từ những biển hiệu bên ngoài cửa hàng, thưa bà Gradgrind, và lần đầu tiên biết xem giờ trên mặt đồng hồ là nhờ nhìn vào tháp đồng hồ của Nhà thờ St. Giles ở London, dưới sự chỉ bảo của một gã thọt tàn tật suốt ngày say khướt, vốn là một tên trộm từng đi tù và một gã lang thang không thể cải tạo. Cứ việc kể với Josiah Bounderby của Coketown về những trường học quận, trường học kiểu mẫu, trường đào tạo, cùng toàn bộ cái đống trường học hỗn tạp của các người đi; Josiah Bounderby của Coketown sẽ nói thẳng cho mà biết, được thôi, đúng hết đấy—ông ta chẳng có được những ưu thế như vậy—nhưng hãy cho chúng tôi những con người cứng cỏi, nắm đấm sắt đá—sự giáo dục đã làm nên ông ta không phải dành cho tất cả mọi người, ông ta biết rõ điều đó—tuy nhiên sự giáo dục của ông ta là như thế đấy, và các người có thể ép ông ta nuốt mỡ sôi, chứ quyết không bao giờ ép ông ta giấu đi những sự thật về đời mình.”

Vì quá sục sôi khi nói tới đoạn cao trào này, Josiah Bounderby của Coketown dừng lại. Ông dừng lại đúng lúc người bạn thực tế vô cùng của mình, vẫn dẫn theo hai kẻ phạm tội nhỏ tuổi, bước vào phòng. Người bạn thực tế vô cùng nhìn thấy ông cũng dừng bước, rồi trao cho Louisa một ánh mắt trách móc như muốn nói rõ: “Hãy nhìn ông Bounderby của con kìa!”

“Chà!” ông Bounderby oang oang. “Có chuyện gì thế? Cậu Thomas trẻ tuổi làm sao mà ủ rũ thế kia?”

Ông nói về Thomas trẻ tuổi, nhưng mắt lại nhìn Louisa.

“Chúng con lén nhìn vào rạp xiếc,” Louisa thì thầm vẻ kiêu kỳ, không chịu ngẩng mắt lên, “và cha đã bắt gặp.”

“Và, bà Gradgrind này,” người chồng nói với giọng kiêu ngạo, “tôi thà thấy bọn trẻ đọc thơ còn ít ngạc nhiên hơn.”

“Trời ơi,” bà Gradgrind thút thít. “Cơ sao hai con lại làm thế hỡi Louisa và Thomas! Mẹ thật không hiểu nổi các con. Mẹ phải tuyên bố rằng các con đủ sức khiến người ta hối hận vì đã lập gia đình đấy. Mẹ thực sự muốn nói ước gì mình chưa từng có con. Khi đó các con sẽ làm sao, mẹ muốn biết lắm đấy?”

Ông Gradgrind có vẻ chẳng mấy ấn tượng với những lời nhận xét đĩnh đạc này. Ông thiếu kiên nhẫn nhăn mặt.

“Như thể là, với cái đầu đang nhức bối bối của mẹ lúc này, các con không thể đi ngắm vỏ giáp xác, khoáng vật hay những thứ đã được chuẩn bị sẵn cho các con, mà lại phải mò đi xem rạp xiếc!” bà Gradgrind nói. “Các con cũng biết rõ như mẹ thôi, chẳng có người trẻ tuổi nào lại có ông chủ rạp xiếc, hay cất rạp xiếc trong tủ kính, hoặc đi nghe bài giảng về rạp xiếc cả. Thế thì các con còn muốn biết gì về rạp xiếc cơ chứ? Mẹ chắc chắn các con có đủ việc để làm rồi, nếu đó là điều các con muốn. Với cái đầu thế này, mẹ thậm chí chẳng nhớ nổi tên của một nửa các dữ kiện mà các con phải học nữa là.”

“Đó chính là lý do đấy ạ!” Louisa bĩu môi.

“Đừng có bảo mẹ đó là lý do, vì tuyệt đối không thể nào như thế được,” bà Gradgrind nói. “Đi học cái môn gì-học-đó ngay đi.” Bà Gradgrind không phải là một người có óc khoa học, và thường đuổi các con đi học bằng câu mệnh lệnh chung chung ấy để chúng tự chọn môn đuổi theo.

Trên thực tế, vốn dữ kiện tổng quát của bà Gradgrind vô cùng thiếu hụt; nhưng khi nâng bà lên vị trí hôn nhân cao quý này, ông Gradgrind đã bị chi phối bởi hai lý do. Thứ nhất, bà là một đáp án rất hài lòng về mặt con số; và thứ hai, bà “chẳng có chút vớ vẩn nào”. Khi nói “vớ vẩn”, ông có ý chỉ trí tưởng tượng; và quả thực, có lẽ bà hoàn toàn không hề pha tạp chút đặc tính nào thuộc bản chất ấy, giống như bất kỳ con người nào chưa đạt tới độ hoàn hảo của một kẻ ngốc nghếch tuyệt đối.

Chỉ riêng việc bị để lại một mình với chồng và ông Bounderby cũng đủ làm cho quý bà đáng kính này choáng váng trở lại mà chẳng cần đến sự va chạm với bất kỳ sự thật nào khác. Thế là bà lại chìm dần vào im lặng, và chẳng ai buồn bận tâm đến bà nữa.

“Bounderby này,” ông Gradgrind nói, kéo một chiếc ghế lại gần lò sưởi, “ông lúc nào cũng quan tâm đến bọn trẻ nhà tôi—đặc biệt là Louisa—nên tôi chẳng cần phải xin lỗi khi nói với ông rằng tôi vô cùng phiền lòng vì phát hiện này. Tôi đã dành trọn tâm huyết một cách có hệ thống (như ông đã biết) cho việc giáo dục lý trí của gia đình tôi. Lý trí (như ông đã biết) là năng lực duy nhất mà giáo dục cần hướng tới. Thế mà Bounderby này, từ sự việc bất ngờ hôm nay, dù bản thân nó chỉ là chuyện nhỏ nhặt, dường như có một cái gì đó đã len lỏi vào tâm trí của Thomas và Louisa—hoặc đúng hơn là một cái gì đó không—tôi không biết phải diễn đạt sao cho tốt hơn ngoài việc nói rằng—một cái gì đó vốn chưa từng được dự định phát triển, và lý trí của chúng hoàn toàn không hề có phần trong đó.”

“Rõ ràng là chẳng có chút lý trí nào trong việc thích thú nhìn ngắm một lũ lang thang,” Bounderby đáp lại. “Chính tôi hồi còn là gã lang thang, chẳng ai buồn nhìn tôi với chút hứng thú nào; tôi biết quá rõ điều đó.”

“Thế thì câu hỏi đặt ra là,” người cha thực tế vô cùng nói, mắt dán vào đống lửa, “sự tò mò tầm thường này bắt nguồn từ đâu?”

“Tôi sẽ nói cho ông biết nó bắt nguồn từ đâu. Từ trí tưởng tượng nhàn rỗi.”

“Tôi hy vọng là không phải,” người cha thực tế vô cùng nói; “tuy nhiên tôi phải thú nhận rằng mối nghi ngại ấy đã thoáng qua trong đầu tôi trên đường về nhà.”

“Từ trí tưởng tượng nhàn rỗi đấy, Gradgrind ạ,” Bounderby nhắc lại. “Một điều rất tồi tệ đối với bất kỳ ai, nhưng lại là điều tồi tệ tai hại đối với một cô gái như Louisa. Tôi đáng ra phải xin lỗi bà Gradgrind vì dùng từ ngữ mạnh mẽ, nhưng bà ấy biết quá rõ tôi đâu phải là một người thanh lịch. Ai mong đợi sự thanh lịch ở tôi thì chỉ có thất vọng thôi. Tôi đâu có được nuôi dưỡng một cách thanh lịch.”

“Liệu rằng,” Gradgrind suy ngẫm, hai tay đút túi quần, đôi mắt sâu hoắm nhìn vào ngọn lửa, “liệu có người gia sư hay người làm nào gợi ý điều gì chăng? Liệu Louisa hay Thomas có đọc thứ gì không? Liệu rằng, mặc cho mọi biện pháp phòng ngừa, có cuốn truyện phiếm nào lọt được vào nhà không? Bởi vì, đối với những tâm trí đã được rèn luyện thực tế theo đúng khuôn thước từ trong nôi trở đi, điều này thật kỳ lạ, thật không thể nào hiểu nổi.”

“Khoan đã!” Bounderby kêu lên, người từ nãy đến giờ vẫn đứng trên tấm thảm trước lò sưởi như trước, phồng rợp lên trước cả đồ đạc trong phòng với sự khiêm nhường chực nổ tung. “Ông có đứa con của gánh hát lang thang trong trường đấy thôi.”

“Tên là Cecilia Jupe,” ông Gradgrind nói, nhìn người bạn với vẻ hơi bàng hoàng.

“Đấy, khoan đã nào!” Bounderby lại hô lên. “Thế làm sao nó lại vào được đó?”

“Ồ, thực ra là, chính tôi vừa mới nhìn thấy đứa trẻ đó lần đầu tiên lúc nãy. Nó đã đặc biệt đến tận nhà xin nhập học vì không thuộc về thị trấn của chúng ta một cách chính thức, và—phải rồi, ông nói đúng, Bounderby, ông nói đúng rồi.”

“Đấy, khoan đã!” Bounderby lại hô lên một lần nữa. “Louisa có nhìn thấy nó khi nó đến không?”

“Louisa chắc chắn có thấy, vì nó có nhắc đến đơn xin đó với tôi. Nhưng Louisa thấy nó, tôi không nghi ngờ gì, là trước sự có mặt của bà Gradgrind.”

“Xin hỏi bà Gradgrind,” Bounderby nói, “chuyện gì đã xảy ra?”

“Ôi, sức khỏe tội nghiệp của tôi!” bà Gradgrind đáp. “Đứa con gái đó muốn đến trường, và ông Gradgrind thì muốn học sinh nữ đến trường, rồi cả Louisa lẫn Thomas đều nói đứa con gái đó muốn đến và ông Gradgrind muốn học sinh nữ đến, vậy thì làm sao mà phản đối được khi sự thật đúng là như thế!”

“Giờ tôi bảo ông cái này, Gradgrind!” ông Bounderby nói. “Đuổi thẳng cổ đứa con gái đó đi, thế là xong chuyện.”

“Tôi cũng đồng ý với ông.”

“Làm ngay lập tức,” Bounderby nói, “luôn là châm ngôn của tôi từ hồi còn nhỏ. Khi tôi nghĩ mình sẽ trốn khỏi cái thùng đựng trứng và mụ bà ngoại, tôi làm ngay lập tức. Ông cũng làm thế đi. Làm việc này ngay lập tức!”

“Ông có đi dạo không?” người bạn hỏi. “Tôi có địa chỉ của người cha. Hay là ông không phiền đi bộ vào thị trấn với tôi chứ?”

“Chẳng phiền chút nào cả,” ông Bounderby nói, “miễn là ông làm việc đó ngay lập tức!”

Thế là, ông Bounderby chụp lấy chiếc mũ—ông luôn chụp lấy nó như thể thể hiện mình là một người quá bận rộn với việc tự lập nghiệp nên chẳng buồn học cách đội mũ sao cho lịch sự—rồi đút hai tay vào túi quần, thong thả bước ra sảnh. “Tôi chẳng bao giờ đeo găng tay,” thói quen của ông là luôn nói vậy. “Tôi đâu có đeo găng tay mà leo lên được nấc thang sự nghiệp.—Nếu mà đeo thì đã chẳng leo cao được thế này.”

Được để lại thong thả ở sảnh một hai phút trong khi ông Gradgrind lên tầng lấy địa chỉ, ông mở cửa phòng học của bọn trẻ và nhìn vào căn phòng trải thảm êm đềm ấy—căn phòng mà dù có tủ sách, tủ kính cùng đủ loại dụng cụ học thuật lẫn triết học, trông vẫn mang nhiều vẻ thoải mái giống như một tiệm cắt tóc. Louisa uể uả tựa vào cửa sổ nhìn ra ngoài, chẳng chú tâm vào cái gì, trong khi Thomas trẻ tuổi đứng hếch mũi hậm hực trước lò sưởi. Adam Smith và Malthus, hai đứa con nhỏ hơn của nhà Gradgrind, đang đi nghe giảng dưới sự giám sát; còn bé Jane, sau khi nhào nặn một đống đất sét ẩm trên mặt bằng bút đá và nước mắt, đã thiếp đi bên bài toán phân số đơn giản.

“Mọi chuyện ổn rồi, Louisa; ổn cả rồi, Thomas trẻ tuổi,” ông Bounderby nói; “các cháu sẽ không làm thế nữa đâu. Ta bảo đảm chuyện với cha các cháu coi như xong xuôi rồi. Nào, Louisa, thế thì đáng nhận một nụ hôn rồi chứ nhỉ?”

“Ông có thể hôn, thưa ông Bounderby,” Louisa đáp lại sau khi lạnh lùng khựng lại, rồi chậm rãi bước qua phòng, kém duyên dáng ghé gò má về phía ông trong khi ngoảnh mặt đi chỗ khác.

“Lúc nào cũng là cún cưng của ta, phải không Louisa?” ông Bounderby nói. “Tạm biệt cháu, Louisa!”

Ông bước đi, nhưng cô vẫn đứng nguyên tại chỗ cũ, dùng khăn tay lau đi lau lại gò má ông vừa hôn cho đến khi nó đỏ rực và nóng bừng lên. Năm phút sau, cô vẫn còn đang làm thế.

“Chị làm cái gì thế hả, chị Loo?” em trai cô hờn dỗi cằn nhằn. “Chị sắp chà thủng gò má rồi đấy.”

“Em có thể lấy dao rọc giấy cắt cả miếng thịt đó ra nếu em thích, Tom ạ. Chị cũng chẳng khóc đâu!”

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.