Tôn Tử Truyện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 39 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Xxxv Hạp Lư Ngang Ngược – Tôn Vũ Lẩn Trốn
Chương Xxxv Hạp Lư Ngang Ngược – Tôn Vũ Lẩn Trốn

❊ ❊ ❊

Lại nói Thẩm Chương Lương thay mặt nước Sở, ký với Tôn Tử và Ngũ Tử Tư bản hiệp định đình chiến, cuộc đại chiến kéo dài hai năm giữa hai nước Ngô – Sở coi như tạm chấm chút. Các trọng thần, tướng tài của nước Sở như Tử Tây, Tử Kỳ vv.. lại vào Sính đô, một mặt thu nhặt chôn cất hài cốt của Bình vương, tu sửa lại tông miếu lăng mộ, một mặt sai Thẩm Bao Tư mang chiến thuyền đi đón Chiêu vương ở nước Tùy. Chiêu vương với vua nước Tùy đã minh ước với nhau, thề không xâm phạm nhau. Vua Tùy thân chinh tiễn Chiêu vương xuống thuyền, giờ tay lưu luyến vẫy chào. Dọc đường, đi tới Thành Cựu, trời bỗng sập tối, đành phải dừng nghỉ lại bên bờ Hán Thủy. Đêm ấy lòng dạ Chiêu vương ngổn ngang trăm mối không tài nào chợp mắt, nửa đêm vùng dậy đi dạo dọc trên bờ sông, bỗng thấy giữa sông ánh hồng rực chiếu, như lửa, như ráng chiều, xán lạn loá mắt. Chiêu vương lệnh cho quân lính xuống nước tìm xem cái gì và họ đã thu được một vật to như cái đấu, đỏ như tô son, hình thù kỳ dị, hoa văn rất cầu kỳ, bóng bảy tươi đẹp đến loá mắt, thì ra đó là một đoá san hô đỏ. Quân thần nghe tin lũ lượt chen tới để chúc mừng và kinh ngạc thốt lên:

– Ôi! Đây thật là một vật báo điềm lành, rằng đại Sở chúng ta sẽ chiếu dọi ánh sáng trong thiên hạ!

Chiêu vương nghe tin cả mừng, vội lệnh cho vệ sĩ đi theo giữ gìn cẩn thận, mang về kinh đô nước Sở để làm vật báu giữ nước.

Một ngày khác, nhân đi đến đầm Vân Mộng, Chiêu vương thốt lên:

– Đây chính là nơi quả nhân gặp cướp, không thể quên được – Nói thế xong bèn để Đấu Tần ở lại, đôn đốc dân phu xây đắp một tòa thành nhỏ để làm kỷ niệm (ngày nay vẫn gọi là thành Sở vương ở huyện Vân Mộng tỉnh Hồ Bắc). Đoàn người của Chiêu vương đi tới gần Sính đô. Tử Tây, Từ Kỳ vv… ra cách kinh thành mười lăm dặm đón đợi. Vua tôi gặp nhau, buồn vui lẫn lộn, hỏi han an ủi lẫn nhau… Vào tới đô thành, thấy ở ngoài thì xương trắng chất thành đống, trong thành thì cung quyết đổ nát ngổn ngang… lòng bỗng nhói lên niềm thương cảm. Chiêu vương vào cung, bái kiến thái hậu Bá Doanh, mẹ con xa nhau lâu ngày mới gặp, vô cùng cảm động, ôm nhau mà khóc, nghẹn ngào nói chẳng nên lời, Chiêu vương nức nở trong nước mắt:

– Nước nhà thì bất hạnh, con đây là kẻ bất nhân, nên mới gặp nạn lớn này khiên cho tông miếu bị xâm phạm, lăng mộ bị làm nhục, hận thù này biết bao giờ mới rửa sạch đây?…

Thái hậu Bá Doanh vội lựa lời dịu dàng an ủi:

– Con đã được bình yên trở lại, thật là điều rất may trong cái không may! Quân thần với đại vương từng chung sức chốn sa trường, nay trở lại, trước hết hãy thưởng phạt cho rõ ràng, sau đó đi phủ dụ an ủi cho trăm họ, chuyện rửa hận báo thù là chuyện lớn, để sau sẽ bàn kế lâu dài.

Theo lời chỉ thị của mẫu hậu, Chiêu vương đã sai mở tiệc úy lạo tướng Tần và khao quân Tần rất hậu, để họ về nước. Tiếp đó đã cho kể công để ban thưởng, phong cho Tử Tây làm lệnh doãn, Tử Kỳ làm tả doãn. Thân Bao Tư vì có công lớn khi than khóc ở triều đình nước Tần, được phong làm hữu doãn. Thân Bao Tư cố tình từ chối không nhận và nói:

– Thần sang Tần xin quân, thì phải mang hết mình vì nước vì chúa công, không phải mưu cầu danh dự, hiển đạt cho riêng mình. Nay vua được về nước, thế là chí nguyện của thần đã toại, không dám tham tước lộc công danh.

Chiêu vương vẫn cố tình giao chức tước, Thân Bao Tư mang vợ con trốn biệt vào rừng sâu, ở đó suốt đời không ra.

Những người khác như Thẩm Chư Lương, Vương Tôn Do, Vương Tôn Ngữ, Tống Mộc, Đấu Tân, Đấu Sào, Vĩ Diên vv… đều được phong thưởng và tiến tước; còn những kẻ trong khi đất nước lâm nguy, hèn nhát thụt lùi hoặc bán nước, kẻ thì bị chém đầu, kẻ thì bị tống giam, kẻ thì bị cách quan về làm thường dân. Công chúa Quý Hoa theo Chiêu vương về Sính đô, nghĩ đến nàng cũng chia sẻ với mình mọi khó khăn trong hoạn nạn, Chiêu vương muốn chọn và gả nàng cho một chư hầu là nước láng giềng. Công chúa Quý Hoa nghe tin, nói với thái hậu Bá Doanh và Chiêu vương rằng không lấy được Chung Kiến thì chẳng lấy ai, vì muốn để báo ơn cứu mạng. Chiêu vương cũng thấy Chung Kiến là người có công với vương thất, hơn nữa tướng mạo lại đường hoàng khôi ngô, cho nên đã vui vẻ gật đầu, gia phong Chung Kiến là tư nhạc đại phu, chọn ngày lành làm lễ cưới.

Lại nói Tôn Tử và Ngũ Tử Tư, sau khi ký với Sở bản hiệp định đình chiến, ngay hôm đó đã mang quân về nước. Toàn quân chia làm hai đường, Tôn Tử dẫn thủy quân, theo dòng sông đi về hướng đông, Ngũ Tử Tư dẫn quân trên bộ đi qua núi Lịch Dương, muốn tìm Đông Cao công để báo ơn cứu mạng, nhưng nhà cửa của Đông Cao công đều đã không còn, hàng xóm có người cho biết, mười lăm năm trước, Đông Cao công đã mang cả nhà rời khỏi đây, không biết đi đâu. Ngũ Tử Tư lại sai người đến núi Long Động hỏi tin Hoàng Phủ Nột, cũng không thấy tăm tích ở đâu, có thể họ đã kết bạn mà đi với nhau. Ngũ Tử Tư nghẹn ngào cảm động, hết lời ca ngợi hai người “thật là bậc cao sĩ vậy”. Chiêu quan ngày nay đã không còn có quân Sở đóng giữ nữa, Ngũ Tử Tư lệnh cho tướng sĩ của mình phá ải đi. Đến Lật Dương, đứng trên dòng nước xoáy nơi mười sáu năm trước, Ngũ Tử Tư lánh nạn từng qua nơi này, người không một xu dính túi, bụng réo ùng ục, đói đến nỗi trời đất quay cuồng mà đi đến đâu cũng thấy quan binh treo thưởng bắt sống, hoàn cảnh cực kỳ nguy hiểm. Đúng lúc ấy, tình cờ gặp một người con gái giặt lụa, đã cho ông ăn uống, cứu ông thoát chết, sau đó để bày tỏ rằng sẽ quyết không tiết lộ với ai, nàng đã ôm đá nhảy xuống sông mà chết. Ngũ Tử Tư đến bến sông, trước hết cho lập đàn tế bái, sau gọi người cho xây một ngôi từ đường ở bên sông để dân chúng bốn mùa tế lễ, ca ngợi mãi gương trinh liệt của nàng…

Mười sáu năm lưu lạc quê người, Ngũ Tử Tư gặp ân nhân cũng nhiều, song kẻ thù cũng không phải ít. Năm ấy chạy sang nước Sở, rồi ty nạn ở nước Trịnh với Thái tử Kiến, Trịnh Định Công đã giết hại Thái tử Kiến, buộc Ngũ Tử Tư mang theo Công tử Thắng chạy trốn suốt đêm, dọc đường nếm đủ mùi, cay đắng, nhiều phen xuýt chết, thập tử nhất sinh trốn được sang đến nước Ngô. Mỗi lần nghĩ đến đó, trong lòng Ngũ Tử Tư lại dâng lên một niềm căm giận, như muốn nổ tung cả ruột gan. Hôm nay trên đường về nước, Ngũ Tử Tư đang dẫn một đội binh hùng tướng mạnh, tại sao không đi một quãng đường vòng sang diệt nước Trịnh, để báo thù rửa hận. Ngũ Tử Tư nghĩ như vậy và cho quân chuyển hướng sang nước Trịnh, trước hết gửi chiến thư, sau sẽ vây kinh đô nước Trịnh. Vốn là một nước nhỏ, chiến xa chưa đầy trăm cỗ, nước Trịnh làm sao có thể chịu nổi một đòn tấn công với mấy vạn binh hùng tướng mạnh của Ngũ Tử Tư. Ấy thế mà trên đời này đúng là không có chuyện lạ gì không thể xảy ra, nước Trịnh như thế mà không tốn một mũi tên người lính vẫn đánh lui được quân Ngô. Nguyên là khi nhận được thư khiêu chiến của Ngũ Tử Tư, Trịnh Hiến công run sợ mặt như chàm đổ, quân thần cũng đành chịu bó tay. Đang giữa lúc vua tôi nước Trịnh lo lắng bồn chồn như ngồi trên đống lửa, có một chàng trai vốn làm nghề chài lưới đến xin gặp Trịnh vương, tự xưng là có thể làm cho quân Ngô rút đi mà không cần binh mã lương thảo chi hết, mà chỉ bằng hai mái chèo sẵn có trong tay. Lời lẽ của chàng trai làng chài, gần như điên rồ, ai mà tin được. Thế nhưng đã đến lúc hết mọi cách, thì cứ để cho anh ta thử sức xem sao. Chàng trai cầm hai mái chèo trong tay, đi đến doanh trại quân Ngô, nhìn thấy Ngũ Tử Tư liền quỳ xuống đất và hát:

Người trong sậy, người trong lau

Qua sông buổi ấy nhớ nhau chăng là?

Kiên thất tinh tân tay ta

Trao người buổi ấy, chắc là vẫn mang.

Cơm trắng canh cá thơm lừng

Lão chài buổi ấy nhớ chăng hỡi người?…

Thật đúng là đi vẹt gót giày tìm chẳng thấy, không ngờ, giờ đây lại đang ở trước mặt mình! Trên đường rút quân chuyến này, Ngũ Tử Tư đã sắp xếp hẳn một chuyến đi, đến các vạn chài, mong tìm được lão chài “buổi ấy” để đền ơn cứu mạng, thế nhưng không tìm thấy, không ngờ lại có chàng trai làng chài này đến tận nơi, mà tại sao chàng lại hiểu câu chuyện lịch sử đó tường tận đến thế, khỏi phải nói, đây hẳn là con cháu gì đó của “lão chài buổi ấy”! Ngũ Tử Tư vội vàng bước tới cúi xuống đỡ chàng trai dậy và nói:

– Ân công ngày ấy, ai nào dám quên! Chàng là…

Chàng trai đáp:

– Lão chài ấy chính là cha tôi, mang họ kép Lư Khâu tên là Lượng, tại hạ là Lư Khâu Thành, nối nghiệp cha, làm nghề chài lưới trên sông. Hai mái chèo này là chính của thân phụ tại hạ năm nào đùng để chèo đò đưa tướng quân qua sông, nay đã truyền tới tay tại hạ.

Ngũ Tử Tư vội cho mở tiệc khoản đãi. Trong khi ăn tiệc Lư Khâu Thành nói với Ngũ Tử Tư:

– Người làm nghề chài lưới xưa nay vốn chẳng ở chỗ nào cố định. Sau thời gian ấy, cả nhà tại hạ đã phiêu bạt đến đất Trịnh, thân phụ mới qua đời năm kia. Nay thây tướng quân đem binh lính đến đây định diệt Trịnh, không thể nhẫn tâm ngồi nhìn muôn dân vô tội phải sống cảnh lầm than, cho nên cất công đến đây xin tướng quân hãy thể tình cho thân phụ của tại hạ ngày đó mà cho rút quân ngay.

Nghe nói vậy, Ngũ Tử Tư vô cùng xúc động, ngày nào lão chài đã quên mình cứu sống ta, cũng chỉ vì một chữ “nghĩa” trên đời, hơn nữa đã thành thực khuyên ta, chớ có quên lê dân trăm họ; ngày nay con ông ta đã liều chết đến tận nơi để xin cho lui quân, cũng là vì một chữ “nghĩa”. Sao ta có thể vô tình vô nghĩa được? Nghĩ đến đây, Ngũ Tử Tư khảng khái nhận lời, truyền lệnh cho lui quân.

Tôn Tử và Ngũ Tử Tư đã lần lượt về đến Cô Tô, Hạp Lư hai lần thân chinh dẫn các quan xếp hàng ra đón. Tất cả các cánh quân đánh Sở đều đã về nước, Ngô vương sai bày quốc tiệc, long trọng chúc mừng, khao lạo ba quân, kể công ban thưởng, phong Tôn Tử làm đại tư khấu, Ngũ Tử Tư là tướng quốc, Bá Bỉ làm thái tể. Công lao đánh Sở, Tôn Tử đứng hàng đầu, tuy nhiên Ngũ Tử Tư lại có công trước đó đã phò tá Hạp Lư giết Vương Liêu, trừ Khánh Ky cho nên thứ vị lại được xếp trên Tôn Tử. Bá Bỉ tuy trong cuộc chống lại liên quân Tần Sở mắc phải tội chết, nhưng trong cả quá trình Hạp Lư từ nước Sở về nước Ngô, trong khi đánh đuổi Phu Khái, phục hồi ngôi vua tất cả đều nhờ ở sự trù bị và chỉ huy chiến đấu của Bá Bỉ, qua đó cũng đã lập nên những chiến công không thể phai mờ, cho nên đã được phong thái tể.

Tôn Tử từ khi đánh Sở quay về, nước Ngô mọi sự thăng bình, tuy mang tiếng là đại tư khấu, nhưng tướng quốc Ngũ Tử Tư phò tá Ngô vương bao biện hết việc lớn việc nhỏ, Tôn Tử chẳng còn việc gì làm, ngày một ngày hai, bèn không ngó ngàng gì đến chính sự, suốt ngày vùi đầu trong phòng đọc sách, căn cứ kinh nghiệm thực tế nhiều năm, ông sửa chữa lại “mười ba bài binh pháp”. Một hôm, xen giữa giờ làm việc, Tôn Tử đang gửi lòng mình trong tiếng đàn, bày tỏ nỗi khổ đau sầu muộn không biết nên đi hay nên ở, lưỡng lự trước một nước cờ. Tiếng đàn bay ra khỏi những tường cao của phủ nguyên soái, lay động đến cõi lòng khiến một cụ già xa quê đừng chân lại lắng nghe. Cụ già ấy mình cao chưa đầy năm thước, mình mặc áo vải, gân cốt còn quắc thước, ánh mắt sáng ngời ngời, tinh thần rất tỉnh táo. Nghe tiếng đàn lúc bổng lúc trầm khi khoan khi nhặt, cụ già mỗi chốc lại lắc đầu thở dài, từ trong tiếng đàn, cụ cảm nhận hết được nỗi lòng của người đang gảy đàn. Cụ thầm đoán, phải chăng tiếng đàn này vang ra từ tay Tôn Vũ? Nếu như thế thật, thì chuyến này từ xa đến đây, sẽ không đến nỗi mất công đi về. Tiếng đàn bỗng nhiên ngừng bặt, hẳn là người gảy đàn lại phải tiếp tục vùi đầu vào công việc. Cụ già rảo bước leo lên những bậc thềm cao của soái phủ, nói rõ với người vệ sĩ cầm kích đứng canh về thân phận của mình cũng như ý định đến đây. Người khách phương xa ấy không phải ai khác, mà là Yến Anh, tướng quốc của nước Tề.

Yến Tử và Tôn Vũ gặp nhau, họ ôm nhau, quay cuồng, nhảy tâng tâng, rơi nước mắt, xụt xịt, rồi lại cười trong nước mắt, cứ y như hai đứa trẻ thơ. Sau khoảnh khắc hồ hởi ban đầu, hai người họ ngồi lại với nhau dốc bầu tâm sự, hàng trăm thứ tình cảm đan xen trào lên từng câu nói. Tôn Tử cho mở tiệc để khoản đãi Yến Anh như một người thân từ quê cũ của mình sang, hai người cùng vui và ăn uống rất thoải mái. Đến khi rượu đã ngà say, Tôn Vũ bỗng thấy thổn thức trong lòng nỗi nhớ quê hương nên đã vồn vã hỏi Yến Anh hết câu này sang câu khác về tin tức ở quê nhà.

Yến Anh đã lần lượt cho Tôn Vũ biết, ông nội của Tôn Vũ là Tôn Thư đã mất năm năm rồi, cha ông là Tôn Bằng, tước là thượng khanh, đang thống soái quân đội nước Tề, rất được Cảnh công khen ngợi, mẹ ông Phạm Thị, người yếu bệnh nhiều, suốt ngày mong con về.

Nghe những lời giới thiệu đó của Yến Tử, Tôn Vũ nghe trong dạ bồi hồi, tựa hồ như có một dòng chảy đang sôi sục với bao nhiều nỗi niềm chua chát đắng cay. Ông nội suốt một đời chinh chiến, đê xây dựng một nước Tề giàu mạnh, đã lập nên bao nhiêu công lao hiển hách trên đời. Ông có một tấm lòng rộng mở, khoan dung và hiền lành, đối với ta, ông luôn tỏ ra hết mực thân ái yêu thương, gửi gắm biết bao nhiêu hy vọng thiết tha, thế nhưng kết quả thì sao? Đang giữa lúc người sợ cô đơn thì ta lại sống xa ông, bôn ba bận rộn nơi đất khách quê người. Khi ông nội hấp hối, nhất định thế nào cũng gọi tên ta, mong hạt ngọc trên tay mình sẽ giữ quạt che tàn, để tiễn người một chuyến đi xa, kết quả ông cháu cũng chẳng hề được thấy mặt nhau, ông đã đột ngột ra đi mãi mãi, mang theo niềm nuối tiếc vĩnh hằng, rời xa cái thế giới tàn khốc mà ông đã phải chinh yên vất vả suốt một đời. Còn mẹ ta, vì khó đẻ, sau khi sinh ra ta đã mắc một chứng bệnh oái oăm, hết ho lại đến chân tay bải hoải, hơn chục năm nay, mẹ đã quằn quại trong tật bệnh như thế nào mà gắng gượng sống được đến giờ? Tuổi mẹ bây giờ cũng đã ngoại sáu mươi, bệnh tình ắt là mỗi ngày một thêm trầm trọng, mẹ đang mong đợi biết bao đứa con trai duy nhất của mình có thể về túc trực ở bên mình không rời nửa bước để dâng nước bón cơm, pha trà sắc thuốc, di dưỡng lúc cuối đời. Thế như ta đang còn biền biệt xa quê, sống đã không hầu hạ, chết lại chẳng tiễn đưa, đúng là kẻ vô cùng bất hiếu. Tôn Vũ vừa nghĩ như thế, mà không hiểu nước mắt đã tuôn rơi tự lúc nào…

Yến Tử lần này đến đây, thực ra là đi du thuyết, khuyên Tôn Tử hãy mau mau về nước. Mấy năm gần đây, thế nước Tấn ngày càng lớn mạnh, không ngừng xâm lấn, bắt nạt nước Tề, lần nào nước Tề cũng phải im hơi nín nhịn, không dám ra mặt đối kháng. Hơn nữa, nước Ngô lúc này, văn thì có Tôn Vũ mưu sâu nghĩ xa, võ thì có Ngũ Viên tung hoành ngang dọc, nước Sở lớn mạnh thế cũng bị họ đánh bại, đủ thấy sự lớn mạnh của họ không phải là tầm thường, đến một ngày nào đó, họ ắt sẽ cưỡi lên đầu lên cổ nước Tề, là mối họa mất nước diệt chủng của nước Tề. Đề phòng mối họa từ khi nó mới hình thành, Yến Tử đã chẳng nề đường sá xa xôi đến nước Ngô, mời Tôn Vũ về nước, cùng bàn kế sách làm cho nước mạnh dân giàu, phòng ngoại xâm và chống lại kẻ địch. Sau khi nghe Yến Tử nói rõ mục đích chuyến đi của mình. Tôn Tử trầm ngâm hồi lâu mãi sau nói với tấm lòng tha thiết:

– Nước Tề là nơi đã sinh ra ta và nuôi ta lớn khôn. Hơn chục năm nay, ta không có một phút giây nào là không nhớ tới nước Tề và thấy lòng luôn quyến luyến. Ở đó có lăng mộ tiền nhân của ta, có cha mẹ ngày đêm đang mong nhớ ta, đó là một miền đất phì nhiêu và nóng bỏng, hun đúc nên nền văn hóa Tề xán lạn ánh vinh quang, là cái nôi ấm hình thành mười ba bài “Binh pháp” của ta. Ở đó có Thái Sơn và núi Nghi Mông nguy nga hùng vĩ, có Bột Hải mênh mông và những dòng sông rì rào cuộn sóng như Tri Thủy, Hoàng Hà, có giải bình nguyên bao la ngút mắt, có những dòng sữa ngọt và những giọt sương mai thấm đượm khí thiêng sông núi, như bà mẹ nuôi ta lớn khôn. Ở đó đã chôn vùi những ảo tưởng thời thơ ấu của ta và nảy nở lên niềm khát vọng tuổi thanh xuân của ta. Dù ngày hay đêm, ta đều muốn ngã vào cõi lòng ấm áp của Người. Ôi! lá rụng rồi lại rơi về cội… Thế nhưng, hơn chục năm nay Ngô vương rất tin tưởng và gắn bó với ta, ta lại cùng Ngô vương chung lưng đấu cật chăm lo việc quân sự, tiến cùng tiến, lui cùng lui, hoạn nạn có nhau, giữa hai người tình nồng ý hợp. Nay muốn về Tề, cần phải chờ có dịp, để làm sao danh chính ngôn thuận, đâu có thể nói đi là đi được ngay.

Yến Tử rất thông cảm với tình cảm đó của Tôn Tử, đồng ý với quan điềm của. ông, mong ông hãy sớm trở về Tổ quốc, Yến Tử tự về nước trước và sẽ bền lòng trông đợi.

Sau khi Yến Tử về Tề, nỗi nhớ quê hương trong lòng Tôn Tử càng ngày càng như lửa đốt, ông bỗng cảm thấy thắng bại chỉ như giấc mộng, công danh lợi lộc chỉ như áng mây trôi, và thế là ý nghĩ ở ẩn ngày thêm nung nấu…

Với ba vạn tinh binh, quân Ngô đã đánh bại hai mươi vạn đại quân nước Sở, đánh năm trận chiếm được Sính đô, phá tông miếu, đào mồ mả, ép nước Sở cắt đất bồi thường, tiến cống nộp thuế, sau đó ca khúc khải hoàn, điều đó gây một sự chấn động không nhỏ trong các nước chư hầu, những nước lớn xa xôi cũng lũ lượt đến chúc mừng, các nước nhỏ ở xung quanh cũng lần lượt xưng thần, đúng như câu người ta thường nói là “phía tây xâm lăng nước Sở lớn mạnh, phía bắc ra oai được với nước Tấn nước Tề, tiếng tăm hiển hách trong các nước chư hầu”. Tuy nhiên Ngô vương Hạp Lư cũng vì thế mà trở nên ngang ngược tàn bạo, hắn tỏ ra khí thế hung hăng, cho rằng không ai bằng mình, tự xưng “phóng tầm mắt ra nhìn hiện nay, các nước trung nguyên, có thể ra lệnh được cho thiên hạ, không ta thì còn ai nữa”. Ông suốt ngày say sưa với quyền thế, chìm đắm trong tửu sắc, phóng túng buông thả Bọn quan lại tùy tùng ra sức a dua xu nịnh, Tôn Tử vì thế ngày càng xa lánh Hạp Lư.

Ngô vương hưởng lạc bừa bãi, ngày ngày sênh phách, đêm đêm mây mưa, dần dần không hỏi han gì đến việc triều chính. Vì thấy quanh mình gái đẹp cả bầy, phi tần hàng lũ, hậu cung sớm đã không đủ đáp ứng nhu cầu, Hạp Lư đã cho mở công trường, xây chính cung Kiến hoa ở cạnh đài Cô Tô. Tôn Tử tuy cảm thấy mình là phận bề tôi, thì phải dốc một lòng một dạ, thế là đã không hề đo dự, vào triều khuyên can Ngô vương, ngăn cản việc xây dựng chính cung Kiến hoa nói rằng, từ thượng cổ đến giờ, những tấm gương về các bậc vua chúa ham mê tửu sắc, mở công trường xây cung điện, rượu thịt ê chề, tiêu pha không chừng mực, rồi do đó mà triều chính lơ là… nhiều không biết đâu mà kể như vua Kiệt đời Hạ, vua Trụ đời Ân, đời Chu v~v… đều bởi thế mà tự chuốc lấy diệt vong. Sau cùng Tôn Tử nói:

– Bài học về nhà Ân còn chưa xa, đại vương chớ đi vào vết xe đổ của người khác. Thần nghe nói đại vương muốn mở công trường, xây chính cung Kiến Hoa, việc ấy không nên làm chút nào. Xây dựng cung điện sẽ làm cho kho tàng nhà nước trống rỗng, nhân dân oán thán, tiếp đó dẫn tới việc kẻ thù nhòm ngó, bới chuyện gây rối loạn, cho nên tha thiết mong đại vương hãy bỏ ngay ý định xây dựng chính cung Kiến Hoa đi.

Nghe những lời chối tai vừa rồi của Tôn Tử. Hạp Lư không hề thấy hổ thẹn và đỏ mặt, mà lại nhíu mày nhăn mũi, hậm hực nói:

– Kể công xét thưởng, nguyên soái là bề đệ nhất công thần trong triều đình ta, bài binh bố trận, nguyên soái cũng có công hơn quần thần. Tuy nhiên mở công trường, xây cung điện, không liên quan gì đến nguyên soái, tư khấu thì lo chức tư, xin đừng có quản quá rộng, lại càng không tiện nói những chuyện giật gân!…

Bị chạm vào nọc ong, Tôn Tử bỗng thấy cụt hứng, thốt lên vì ngạc nhiên, nghĩ bụng rằng Ngô vương từ lâu hám sắc nên lòng nghĩ thế, nếu khuyên ngăn nhiều, lại tổ rước họa chết người vào thân mà thôi.

Ý định rời bỏ nước Ngô của Tôn Tử vì thế mà ngày càng nung nấu, suốt ngày rầu rĩ ủ ê, cờ không đánh, đàn không gảy, kiếm cũng không múa nữa, thường thường đi vơ đi vẩn ra bờ sông bờ hồ, phố lớn ngõ nhỏ, trước hoa dưới liễu, trên mặt luôn thể hiện ra dáng vẻ bồn chôn như lửa đốt.

Một hôm, Tôn Tử đang buông câu bên bờ Thái Hồ, bỗng có nội thị đến gọi về, Tôn Tử theo chân nội thị về cung bái kiến Ngô vương. Ngô vương ôn tồn dịu dàng bảo:

– Quả nhân từ lâu đã nghe nói Tề Cảnh công có một nàng con gái, tuổi vừa mười tám, xinh đẹp như ngà như ngọc, như phù dung đọng sương, chẳng hay nguyên soái có hay tin đó không?

Tôn Tử không hề đắn đó suy nghĩ, trả lời luôn:

– Thần xa nước Tề đã mười năm có lẻ, lại chẳng có thư từ qua lại, cho nên tình hình trong nước thế nào, tai điếc mắt mù, không hề hay biết.

Trên mặt Ngô vương chợt toát lên vẻ như vừa chợt tỉnh, vội vàng nói:

– Nguyên soái đến Ngô hơn mười năm, đương nhiên khó hiểu hết tình hình trong nước. Đó chính là công chúa Bá Khương, tài mạo song toàn, thông minh lanh lợi, vốn rất nổi tiếng.

Tôn Tử liền hỏi dồn:

– Đại vương làm sao có thể hiểu kỹ như thế về công chúa Bá Khương của nước Tề. Có cảm tình tốt như thế phải chăng…

– Chẳng giấu gì nguyên soái – Hạp Lư cướp lời – Thái tử Phá Tần tuổi đã hai mươi rồi, quả nhân muốn chọn mối lương duyên, để tác thành đôi lứa, thấy công chúa Bá Khương, là người vừa ý nhất, không hiểu ý muốn nguyên soái ra sao?

Tôn Tử thấy rất khó trả lời, thầm nghĩ: Từ khi đánh Sở đến giở, Hạp Lư quen thói tự cho mình là vua thiên hạ, coi các nước chư hầu đều bé nhỏ tẹp nhẹp. Thực ra, các nước Trung nguyên đều coi Ngô là Nam man, ngày nay lại muốn cưới công chúa Bá Khương, con gái yêu của Tề Cảnh công cho con, chỉ e nước Tề sẽ từ chối. Ông thầm lo trong bụng, nhưng không tiện nói thẳng ra, im lặng suy nghĩ hồi lâu, sau mới chậm rãi trả lời:

– Nếu đại vương có ý như vậy, chi bằng sai sứ giả sang Tề dạm hỏi, xem ý tứ của họ ra sao, rồi sẽ liệu sau.

Hạp Lư nghe nói thế, đột nhiên nổi cáu:

– Quả nhân muốn lấy công chúa Bá Khương về làm Thái tử phi, như thế là sự nâng đỡ với Tề vương, nếu như hắn dám từ chối, ta sẽ mang quân đánh tận Lâm Tri, phá tông miếu của hắn, đào mồ mả nhà hắn, giết thần dân của hắn!

Rất rõ ràng, Hạp Lư đã không còn coi nước Tề lớn mạnh là cái gì nữa. Thấy Ngô vương ỷ thắng mà kiêu căng, ngang ngược càn dỡ như vậy, Tôn Tử buồn bã và thất vọng. ông nghĩ, ngày trở lại quê hương đã gần lại rồi, đây có lẽ cung do trời dun dủi chăng?…

Hạp Lư đã hơi bình tĩnh lại, hỏi tiếp Tôn Tử:

– Theo ý nguyên soái, ta nên sai người đi để dạm hỏi, hay là chính nguyên soái chịu khó ra đi một chuyến được không?

Nếu nói Hạp Lư hoàn toàn coi thường sự lớn mạnh của nước Tề, thì cũng không đúng, sở dĩ ông ta muốn kết thông gia với nước Tề, cưới công chúa Bá Khương làm Thái tử phi, cố nhiên một lẽ là công chúa Bá Khương tài sắc vẹn toàn “như phù dung trong sương sớm”, nhưng một lẽ chủ yếu hơn là muốn liên hợp với nước Tề lớn mạnh, để kìm chân Tôn Tử. Dụng ý chính ấy của Hạp Lư, Tôn Tử không phải là không biết hết cả, ông lắc đầu nói:

– Theo ý thần, cử người khác đi thì hay hơn. Bởi thần vẫn là người nước Tề, nay lại đang thành tâm phục vụ Ngô vương, nếu đến nước Tề với tư cách là sứ giả của nước Ngô, về vị trí của mình, quả là khó ăn khó nói. Đại vương cử người khác đi, đứng trên lập trường của người thứ ba, từ trong đó mà tác thành gắn bó cho mối nhân duyên mỹ mãn này, có vẻ là hợp lý thuận tình hơn.

Hạp Lư thấy Tôn Tử nói rất có lý, thế là cử tướng quân Bá Bỉ đi sứ. Bá Bỉ phụng mệnh sang Tề đưa công hàm cho Tề vương xin dạm hỏi, trong đó viết: “Nước Ngô muốn liên hôn với quý quốc, cưới công chúa Bá Khương làm thái tử phi, tha thiết mong Tề vương tác thành, nếu không, tức là có ý thù địch với nước Ngô, hai nước sẽ có chuyện binh lửa xảy ra”.

Đây đâu còn là giống điệu cầu thân nữa, mà là một chuyện tát cạn bắt lấy, là hành động dùng vũ lực để đe dọa người khác. Tề Cảnh công đọc công hàm, bất giác lửa giận bốc lên ngùn ngụt, cùng quần thần bàn bạc việc này. Yến Tử nói:

– Ngô là nước Nam man, nước Tề ta làm sao có thể đem công chúa Bá Khương mà đại vương hằng sủng ái cho Thái tử Nam man được kia chứ?

Yến Anh cực lực chủ trương chối từ, nhưng đại phu Lương Khâu Cứ lại nói:

– Những lời Yến thái tể nói ra không sát với thực tế, trong công hàm Ngô vương đã nói rất rõ, nếu chúng ta không kết nhân duyên với họ, nước Ngô ắt sẽ dùng vũ lực xâm phạm chúng ta, gặp nhau bằng binh đao. Hiện nay nói về tình thế của quân ta, có đánh nhau với nước Ngô, cũng khó mà giành được phần thắng, nếu nghĩ đến nỗi an nguy của cả nước, coi việc tiếp thu lời cầu hôn đó là thượng sách, xin Ngô vương hãy suy xét kỹ.

Tề Cảnh công nghe nói thế, vội vàng nối theo:

– Lương khanh nói rất phải, hiện nay nước Ngô mạnh mà nước Tề lại yếu, chỉ có thể nhẫn nhục cho qua chuyện mà thôi.

Yến Anh phủ phục xuống đất nói:

– Sợ bị đánh mà đem công chúa Bá Khương gả cho Ngô man, thì có khác gì là đầu hàng quân địch, để cho đối phương nhìn rõ thực lực của quân ta như thể sức tàn lực kiệt, tinh thần của một đất nước suy kiệt đến thế, còn mong gì tồn tại được.

Lương Khâu Cứ phản bác lại:

– Chủ trương của Yến tướng quốc, nghe ra có vẻ có đầu có cuối mũ áo đàng hoàng, nhưng thực ra chỉ là đánh giặc trên giấy, trước mắt nước Ngô mạnh, nước Sở yếu mà bỏ qua hiện thực khách quan đó, cố tình chống đối lại họ, có khác gì lấy trứng chọi với đá. Chiến tranh quan hệ đến sự yên nguy của cả một đất nước, sự sống chết của một dân tộc, nên không thể không thận trọng.

Lương Khâu Cứ nói những lời không khiêm tốn, Yến Anh vẫn điềm tĩnh ung dung, khoan thai dịu dàng, mỉm cười nói:

– Việc gì cũng không thể chỉ nhìn bề ngoài, không nhìn thực chất. Nếu nhìn bề ngoài nước Ngô đánh được nước Sở, vào được Sính đô, đúng là một cường quốc đứng đầu thiên hạ. Nhưng phân tích cho cụ thể, Ngô vẫn chỉ là một nước nhỏ Man di ở phương nam, quân cả nước chưa đầy năm vạn, chiến xa cũng chỉ chừng ngàn cỗ, sở dĩ họ diệt được nước Sở và làm run sợ các nước chư hầu là vì có mặt hai người Tôn Vũ và Ngũ Tử Tư, thế nhưng họ lại đều không phải là người nước Ngô. Ngũ Viên có mối thâm thù với nước Sở vì đã giết cha, anh và ba trăm người trong nhà mình, thế nên đã đánh nước Sở không tiếc sức mình, sẵn sàng xông vào nơi nước lửa, dù có gan nát óc lầy, nhưng nếu khi xâm lăng nước Tề thì chưa hẳn đã được như vậy hoặc nói trắng ra là không thể như vậy, bởi trên đời này, yêu và ghét cái gì, đều có căn nguyên của nó. Ngũ Viên với nước Tề trước đây chẳng có oán, gần đây cũng không có thù, sao có thể chịu liều chết chinh chiến cho một cuộc chiến tranh bất nghĩa của Ngô vương? Còn như Tôn Vũ, đại vương và các vị ở đây không cần phải bận tâm, trước đây không lâu, thần đã bỏ hẳn ra một chuyến để đi thăm Cô Tô, thiết tha mời Tôn Vũ về Tề, cùng chăm lo cho sự cường thịnh của nước Tề. Trong khi trò chuyện được biết rằng, Tôn Vũ vẫn còn tha thiết yêu Tổ quốc và quê hương, luôn thương nhớ tổ tiên và cha mẹ, chỉ có điều chung sống với Ngô vương lâu ngày, giữa họ có mối tình cảm rất sâu sắc, không tiện xa nhau ngay tức khắc, mà phải chờ một thời cơ danh chính ngôn thuận. Từ đó, thần có thể đoán định được rằng, Tôn Vũ quyết không bao giờ cầm quân đi đánh nước Tề cho Hạp Lư để xâm phạm và quấy rối đến tổ tông của mình đang yên nghỉ dưới đất sâu và cha mẹ mình đang an cư lạc nghiệp cũng như anh em đồng bào mình đang sống yên lành. Bỏ đi hai cây cột chống trời của họ là Tôn Vũ và Ngũ Tử Tư, quân Ngô còn đâu là hùng mạnh nữa?

Yến Anh còn chưa nói dứt lời, quần thần văn võ trong triều đình nước Tề đã người thì vỗ tay khen phải, người thì bàn tán xôn xao, đến nỗi người luôn muốn gả công chúa Bá Khương cho nước Ngô như Lương Khâu Cứ lúc này cũng trở nên lặng tiếng im hơi, không nói câu gì nữa. Người vui mừng nhất có lẽ không ai bằng người cha của Tôn Vũ lúc này, là thượng khanh đại phu Tôn Bằng. Hôm nay, khi Tề vương nêu ra vấn đề này, ông liền cảm nhận thấy mình đang phải chịu một áp lực nặng tựa Thái Sơn, cho nên mang tiếng làm một nguyên soái cầm quân mà cứ phải ngồi im như thóc. Nguyên nhân Tôn Tử đến nước Ngô, các quan văn võ trong triều, người nào cũng biết. Hơn chục năm nay, vì chung vì riêng, lúc nào Tôn Bằng cũng luôn mong nhớ con mình, mong sao nó sớm trở về, chưa hề bao giờ cảm thấy tủi nhục và áy náy. Hôm nay lại khác với mọi khi, hai nước Tề, Ngô, chỉ vì việc hôn nhân vu vơ mà xung đột lẫn nhau, đem quân ra đánh nhau, liệu Tôn Vũ có đi theo vết xe đổ của Ngũ Tử Tư hay không? Nếu như thế thật, thì họ Tôn, họ Điền mấy đời trung lương còn mặt mũi nào mà nhìn mặt các bậc bô lão nước Tề nữa? Hơn nữa một khi hai bên đã giao chiến với nhau, tướng soái hai bên ai cũng phải hết lòng vì chúa của mình, tất sẽ diễn ra cảnh “phụ tử tương tàn”, cha con chém giết nhau thì còn có gì đáng sợ hơn nữa? Bởi thế mà từ trong xương tủy của mình, Tôn Bằng ngầm ủng hộ chủ trương của Lương Khâu Cứ, vui lòng nhận lời tác thành cho cuộc hôn nhân này để tránh xảy ra cục diện đáng sợ và éo le kia. Yến thái tể từ nước Ngô về, có kể cho ông nghe tình hình của Tôn Vũ ở nước Ngô với nỗi nhớ quê hương, nhớ người thân da diết, lúc ấy chỉ thở phào nhẹ nhõm, như thể một người vừa tháo bỏ đi vật gì đè nặng trong tim, mà không hề nghĩ gì đến quan hệ của hai nước, lại càng không nghĩ gì đến hai nước Tề, Ngô rồi sẽ giao tranh. Hôm nay Ngô vương đã đưa ra vấn đề như vậy Tôn Bằng nghe mà như sét đánh ngang tai, nát ruột nát gan ra, người như bị treo lửng lơ trên không. Nghe tướng quốc Yến Anh nói những lời như vậy, Tôn Bằng đã có thể hoàn toàn yên tâm và vì vậy bỗng trở nên hoạt bát lanh lợi hơn, nói nhiều đến nhìn nhận suy nghĩ của mình, và ngay tức khắc đã thảo một bức thư, nói mẹ của Tôn Vũ đang lâm bệnh nặng, sai người hầu trong nhà ngày đêm đi đường mang thư đến Cô Tô, giục Tôn Vũ mau trở về Tề.

Tề Cảnh công một mặt từ chối cuộc hôn nhân, một mặt ráo riết chuẩn bị đối phó với chiến tranh, nhất là tăng cường phòng vệ ở biên giới phía nam nước Tề. Đồng thời sai sứ đi các nơi, mạn tây liên kết với Tần, Tấn, mạn nam minh ước với Sở, Việt, để Ngô vương không dám coi nhẹ mà manh động.

Bá Bỉ về nước, dâng thư trả lời của Tề Cảnh công lên Ngô vương, bức thư viết rất khéo léo, không giở giọng ngang ngạnh như thư của Hạp Lư, không tỏ ra kiêu ngạo nhưng cũng không tự ti, trong mềm mỏng có cương quyết cứng rắn, trong sự cung kính cũng tỏ rõ chính khí hiên ngang. Đọc xong lá thư do chính tay Tề vương viết ra, Hạp Lư bỗng giận sôi lên, tóc như dựng đứng, hai mắt long lên như muốn lồi ra, tim gan như chỉ chực nổ xé ra, mặt tím như lá gan lợn, nhấp nhổm không ngồi đâu đứng đâu yên, ăn không ngon ngủ không yên, động việc gì cũng cáu cẳn, thấy ai cũng gắt gỏng, đập bàn xô ghế, uống rượu như điên, chém giết bừa bãi. Ông còn nhiều lần tụ họp các quan văn võ trong triều, bàn cách mang quân đi đánh nước Tề, nhưng bàn đi tán lại rốt cuộc vẫn chưa đi đến kết quả. ông ta cho vời Tôn Tử và Ngũ Tử Tư vào bàn bạc, thấy tinh thần của ông thất thường, hai người này đều bỏ mặc mọi chuyện, không ra lạnh nhạt nhưng cũng chẳng mặn mà, không biết nên làm thế nào. Thái độ ấy của quần thần, khác nào trên một đống lửa đang cháy đùng đùng bị giội vào vô số thùng nước lạnh, lửa dần dần tắt ngấm. Đúng lúc ấy, từ phía bắc truyền về tin nước Tề ráo riết chuẩn bị đối phó với chiến tranh tăng cường quốc phòng và hoạt động ngoại giao, Hạp Lư rủn xuống như đám rơm khô gặp nước mưa.

Giữa tiết tam phục nóng nực, mây đen vần vụ, chớp rạch ngang trời, cuồng phong gào dưới đất, mưa như trút nước liên tục mấy ngày, rất có thể gây nên nạn bão, nạn lụt lội và mưa đá, tuy nhiên, đến lúc mưa tạnh trời quang, bầu trời trong cao xanh lại rực rỡ ánh mặt trời, đất trời rộng mở. Trên mặt sông, mặt hồ rộng, thi thoảng vẫn có những cơn gió xoáy ập tới gợn lên ngàn con sóng dữ đến mức đổ buồn lật thuyền, người chết thuyền mất… Thế nhưng mưa gió qua rồi, trên mặt nước trong xanh lại vẫn dập dìu những cánh buồm, trăm chiếc thuyền lớn thuyền nhỏ đua nhau lướt sóng. Sóng lớn và gió bão của thiên nhiên dễ dàng yên ắng trở lại như thế, mặc dù tai họa nó gây ra thường mang tính hủy diệt, nhưng dù sao cũng chỉ là nhất thời tạm bợ thôi. Sóng gió trong xã hội loài người thì không bao giờ giản đơn như thế, đương nhiên, nó cũng có thể yên đi, nhưng vết thương do nó để lại trong lòng người thì rất khó lành, nếp nhăn trong trái tim người thì chẳng có cách gì có thể xóa mở. Một cuộc chiến tranh Ngô – Sở, một cơn sóng gió do cuộc hôn nhân không thành giữa nước Ngô với nước Tề, khiến cho Tôn Tử bắt đầu hoài nghi tất cả những gì mà mình bỏ ra nửa cuộc đời đeo đuổi, tất cả lung lay tới tận gốc. Trong lòng ông lúc này đầy dẫy những mâu thuẫn luôn luôn có hàng trăm thứ tình cảm đan xen với nhau, tiu nghỉu như người mất của. Quay về với dĩ vãng, Tôn Tử miệt mài nghiên cứu binh pháp mấy chục năm, cũng chẳng cần lảng tránh, binh pháp là sự chuẩn bị của chiến tranh, là công cụ và vũ khí chỉ đạo chiến tranh. Khi bùng nổ ra một cuộc chiến tranh, đại loại sẽ diễn ra hai loại tình hình khác nhau, một là sự xâm lược và mở rộng của một nước lớn, một loại khác là sự tự vệ, phòng ngự của những nước nhỏ yếu. Nhưng bất kể loại chiến tranh nào, cũng đều phải trả ra một giá đắt, gây nên những cảnh tượng bi thảm như đập vào mắt khiến người ta phải hãi hùng kinh sợ như đồng đất hoang vu, ruộng vườn xơ xác, cha xa con vợ xa chồng, sinh linh lầm than, đầy đồng xương trắng, máu chảy thành mương, dân không còn sống, nước mất nhà tan… Vả lại đã đánh nhau, không sống thì chết, không còn có chỗ để thỏa hiệp, không có cảm tình, lại càng không có dạ từ bi. Bởi thế chiến tranh con người thành giống động vật vô tình. Chiến tranh hết sức vô nhân đạo là sự nổi đậy của thú tính trong con người. Kẻ thất bại thì ghi lòng tạc dạ mối thù sâu, đợi dịp trả thù, họ rút ra bài học cũ, rồi quay đầu trở lại, làm lại từ đầu, một cuộc chiến tranh mới khốc liệt hơn đang âm ỉ; kẻ chiến thắng thì trở nên hung hăng ngang ngược, thậm chí say máu người, ham mê chém giết. Từ thượng cổ đến nay, lòng tham không có đáy, khi còn nhỏ yếu thì muốn được lớn mạnh, lớn mạnh rồi lại muốn xưng bá chư hầu, xưng bá chư hầu rồi lại muốn làm vua thiên hạ… Cho rằng trong tương lai có một ngày nào đó, bằng một cuộc chiến tranh với máu đỏ và thép lạnh, một chư hầu nào đó thống nhất được thiên hạ đi nữa, thì thử hỏi họ đã mang lại cho trăm họ trong thiên hạ được những lợi ích gì? Tôn Tử bỗng thấy lòng trống rỗng…

Nghĩ đến sự tàn khốc của chiến tranh, cùng những tai họa mà nó mang lại cho thiên hạ, Tôn Tử rất lấy làm nuối tiếc và ân hận. Khi Tôn Tử thấy tim mình nhói đau lên từng trận và luôn luôn tự sám hối mình như thế, hình tượng của Khổng Tử chợt xen vào trong nếp nghĩ, trong đầu óc của ông. Về chính trị, Khổng Tử vẫn chủ trương tồn tại trong hòa bình và hết sức nêu cao nhân chính đức trị! Ông chủ trương trị vì đất nước phải lấy đạo đức làm gốc rễ, lấy đạo đức cảm hóa nhân dân, thì nhân dân ắt sẽ quy thuận, giống như sao bắc cực trên bầu trời luôn luôn ở mãi một vị trí nhất định của mình, các sao khác cùng vây quanh. ông từng nói, dùng mệnh lệnh để dẫn giắt nhân dân, dùng hình phạt để răn đe nhân dân, thì nhân dân chỉ làm sao đó tránh mắc tội lỗi mà không biết tự hổ thẹn. Nếu như dùng đạo đức để lãnh đạo, dùng lễ để giáo hóa nhân dân, thì nhân dân không những biết tự hổ thẹn mà còn biết cải tà quy chính. Trước đây Tôn Tử coi những chủ trương hoà bình đó của Khổng Tử là chủ nghĩa lý tưởng không sát thực tế nên không bao giờ nhắc đến, nhăn mũi coi thường, nhưng đến bây giờ mới thấy ở trong đó chứa đựng những triết lý sâu xa, ngời lên những tia sáng trí tuệ, thấy cần phải nghiên cứu lại.

Đối với Khổng Tử, thế là Tôn Tử đã từ chỗ phủ định đi đến chỗ coi trọng, cho rằng cần phải nghiên cứu lại, nhưng vẫn đang u u minh minh, không biết nên khẳng định cái gì, phủ định cái gì, đánh giá ra sao, thế nhưng đối với tư tưởng trong “binh pháp” của Tôn Tử thì thái độ của Khổng Tử lại rất rõ ràng, trắng là trắng đen là đen. Khi ông được biết rằng Tôn Tử vốn là người nước Tề, sau này trốn sang nước Ngô, cùng với Ngũ Tử Tư phò tá Ngô vương đánh Sở, đã không vui mà nói: “Đến nước người khác, gây nên chiến tranh, thế là người thất đức”. – Khổng Tử nghe nói sau khi Ngô diệt Sở, Tôn Vũ được lên làm đại tư khấu của nước Ngô, lo lắng thốt lên: “Để một kẻ thâm mưu thiện chiến như thế nắm chính quyền, thiên hạ làm sao còn có ngày tháng yên hàn được?”. Sau này có dịp đọc kỹ mười ba bài “binh pháp”, phát hiện ra rằng trong đó đúng là có những lý lẽ sâu xa cần nghiên cứu kỹ, hết lời ca ngợi nó “lời ngắn gọn nhưng ý rõ ràng, không thể xem thường”. “Cuốn sách này bàn về quyền thuật trong chiến đấu, lý luận của nó rất sâu xa”, “Binh pháp Tôn Tử quý ở chỗ là một thứ quân không đánh mà thắng, là một thứ quyền mưu của nhà binh ít phải dùng đến sát phạt nhất”. Một con người xưa nay vốn luôn luôn chủ trương nhân chính đức trị, phản đối chiến tranh, sát phạt như Khổng Tử, mà lại khen ngợi mười ba bài “binh pháp” đến như thế, làm gì mà chẳng khiến người ta phải nghĩ ngợi sâu xa! Khổng Tử nói: “Ngày nay vừa thấy binh thư, lập trường chính trị của ta càng vững vàng hơn, sách này không những có thể dùng để trị quân, còn có thể đùng nó bàn về chính trị, kinh doanh buôn bán, xử thế… Dùng vào chính trị, có thể trị đời được; dùng vào kinh doanh buôn bán, có thể là cuốn sách tung hoành được ở mọi nơi; dùng để xử thế, có thể phòng được kế mưu của kẻ khác. Ngày nay thích đọc sách này, ta định gặp mặt người ấy”. Rồi lại nói: “Mười ba bài binh pháp” tuy là sách lược về quyền mưu, nhưng mục đích có cái lẽ tuy đi khác đường, song đến cùng một đích với ta. Họ lấy vũ lực để bình thiên hạ, còn ta lấy nhân chính đức trị để thu phục; giữa hai đằng có rất nhiều điểm giống nhau. Ta muốn đi gặp Tôn Vũ, để hai bên thông hiểu lẫn nhau, hoặc có thể dẹp đi những cuộc chiến tranh về sau này”.

Khổng Tử mong người hiền như khát nước, nôn nóng muốn gặp Tôn Tử, thế nhưng hai nhà cự phách về văn hóa, được coi là hai bậc thánh nhân văn võ trong lịch sử Trung Quốc này, rốt cuộc rồi cũng không gặp mặt nhau được, để lại một niềm tiếc nuối bao la mãi mãi không bao giơ khỏa lấp nổi trong lịch sử…

Sự đánh giá của Khổng Tử về Tôn Tử và mười ba bài “binh pháp” rất nhanh chóng lan đến tai Tôn Tử. Nghe xong tin này, Tôn Tử cứ thở than xít xoa mãi, ông đóng cửa không tiếp khách, muốn để tâm nhiều hơn vào học vấn, chẳng những nghiên cứu về Khổng tử nghiền ngẫm về tư tưởng nhà nho… mà còn nghiên cứu chính mình, tự đánh giá về mình. Tuy nhiên Tôn Tử lúc này đã là một con người chứa đầy mâu thuẫn, trong lòng chứa đầy nỗi niềm u uất, khổ đau, nôn nóng, bàng hoàng… những tình cảm đó hòa trộn vào với nhau khiến lòng ông luôn bị xáo trộn, không thể nào tiến hành được công việc nghiên cứu, lại càng khó đi sâu suy ngẫm một vấn đề gì. Để gạt bỏ những mối sầu tư phức tạp và khó gọi tên này cũng như để tìm ra một đầu mối để gỡ búi tơ rối trong lòng, Tôn Tử lại khoác chiếc lù cở lên vai, vác khẩu súng săn, trở lại con đường đã từng đi khi mới tới nước Ngô, ẩn dật ở Khung Long, để khảo sát tình hình đất đai sông núi Giang nam, làm một chuyến du ngoạn nữa trước khi rời khỏi nước Ngô, tựa hồ như muốn đi tìm lại những gì đã mất. Trong quá trình chuyến đi này, Tôn Tử lại tận mắt nhìn thấy những hiện tượng tự nhiên đã quá quen thuộc với mình chẳng hạn như bọ ngựa bắt ve, chích chòe đứng sau; chim ưng lao xuống vồ mồi thỏ rừng chỉ còn cách lao đầu trốn chạy; cũng như nơi đáy nước, cá lớn nuốt cá bé, cá bé ăn tôm tép, tôm tép thì ăn đất. Tóm lại, đó là những hiện tượng khỏe bắt nạt yếu, đông ăn hiếp ít, yếu hơn người thì bị người ăn… rất phổ biến trong giới tự nhiên, muông thú như thế, còn người là đấng tối linh lại càng như thế! Cái cảnh yếu hơn người thì bi người ăn trong xã hội loài người này còn diễn ra, thế tất sẽ đưa đến những cuộc chiến tranh tàn khốc. Chiến tranh, con quái vật thần bí này, người đời ai cũng ghê tởm căm ghét nó, chửi bới nó nguyền rủa nó, nhưng rồi chẳng ai có thể xa rời nó. Mà nó đã tồn tại sờ sờ ra đó, thì ta không thể không đi nghiên cứu nó thật kỹ xem sao. Với nhận thức như thế, Tôn Tử đã có một thái độ khẳng định đối với những gì đeo đuổi hàng chục năm trời và kết quả của nó. Ông không thấy áy náy và không yên trong lòng như những ngày gần đây nữa. Đúng vậy, binh pháp là sự tổng kết của của chiến tranh, là công cụ chỉ đạo chiến tranh, là một thứ vũ khí; bản thân chiến tranh là tiêu diệt địch, bảo toàn lực lượng của mình, bởi vậy binh pháp không phải là là phương pháp giết người, mà là phương pháp giảm bớt sự chém giết; không phải là dạy người ta gây chiến tranh, mà là dạy người ta cách ngăn chặn, hạn chế chiến tranh, không trách Khổng Tử cũng từng nói tư tưởng của ông và tư tưởng của Tôn Tử “đường đi khác nhau nhưng cùng về một đích”. Thật vậy, nghiên cứu binh pháp không thể tách rời việc nghiên cứu chiến tranh, không thể tách rời sự nghiên cứu cách giết người, mới nghe thấy hai tiếng “giết người”, xin chớ vội lảng tránh nó, thù ghét và nguyền rủa xua đuổi nó. Ví dụ như mặt trời và nước, nếu xa rời chúng, sẽ không có thế giới của màu xanh, không có mọi sinh linh và không có cả bản thân loài người. Thế nhưng mặt trời và nước cũng có lúc có lỗi lầm, trên mặt đất năm nào cũng có vùng hạn vùng lụt với diện tích khác nhau, nguy hại đến con người, khiến cho sinh linh lầm than, thế nhưng có ai vì thế mà phủ nhận công to lớn và giá trị bất hủ của nó? Nghĩ đến đây Tôn Tử rất lấy làm vững dạ cảm thấy ấm áp trong lòng.

Một hôm, Tôn Tử lại đi câu cá ở bờ Thái Hồ, lúc này lòng ông cũng rộng bao la, sâu thăm thẳm, lặng lẽ, xanh trong như nước Thái Hồ, bỗng có tiếng vó vang tới ngày một gần thêm, và một người đến nơi tung mình xuống ngựa. Đó là gia thần Diêm Cương mới ở nước Tề sang. Người gia thần đưa cho Tôn Tử lá thư chính do cha ông tự tay viết. Trong thư bày tỏ hết tình thương nỗi nhớ của cha đang sống xa con và niềm khao khát mong chờ của người đang lâm bệnh nặng, tình cảm như xé ruột xé gan. Tôn Tử đọc thư cha mình, bất giác nước mắt chan hòa, nức nở không ra tiếng. Ông luôn luôn trông chờ và tìm có một lý do để danh chính ngôn thuận từ giã Ngô vương. Đến lúc này thời cơ đã đến, lý do ấy đã có sẵn trong tay đây rồi. Trước hết, ông đã cho Diêm Cương về Lâm Tri báo cáo rằng ông sắp trở về, sau đó đi gặp Ngũ Tử Tư, nói đến cảnh biệt ly, dặn dò ông ta phải đề phòng Bá Bỉ, Ngô vương tâm tính dâm lạc như thế, chỉ có thể cùng hoạn nạn không thể chung hoan lạc với ông ta. Ra tướng phủ, Tôn Tử đi thẳng vào cung để chào từ biệt Ngô vương Hạp Lư. Trước tiên ông đưa Hạp Lư xem bức thư nhà, sau đó nói:

– Tôn Vũ tôi từ buổi đi theo đại vương tới giờ, may mắn được người thương mến, đến nay tình hình nước Ngô uy thế đã định, nhân tài trong nước cũng nhiều, thần đi hay ở không quan trọng lắm. Gần đây nhận thư thân phụ của thần nói mẹ già đang lâm bệnh nặng, nên tâu xin đại vương cho phép thần được về quê thăm thân, đó là tận chữ hiếu của một người con.

Tôn Tử nói xong, nước mắt rơi lã chã. Ngô vương rất lấy làm ngạc nhiên, nói:

– Nguyên soái giúp ta, công lao hơn tất thảy mọi người, quả nhân vốn định ban cho khanh lộc hậu, để mai sau yên hưởng thái bình. Giờ đây nguyên soái nhớ mẹ già da diết, làm con, khi mẹ ốm đau đến phút hấp hối mà không được liên tục ở cạnh, thì quả là bất hiếu. Quả nhân tuy không muốn để nguyên soái ra đi, nhưng không thể vì sự yêu mến của riêng mình mà để nguyên soái mang tiếng bất hiếu. Mong nguyên soái về quê hương rồi, vẫn trước sau một dạ với nước Ngô.

Ôi những lời lẽ ngoại giao mới đàng hoàng đĩnh đạc làm sao! Thật không hề có một mảy may ý định muốn giữ lại.

Sau khi chào từ biệt Ngô vương, Tôn Tử vừa ra đến cửa cung thì Ngũ Tử Tư và đông đảo quần thần đang đứng đợi sẵn ở đấy, muốn được tiễn đưa nguyên soái không ai là không tỏ ra luyến tiếc trước việc ra đi của Tôn Tử. Bản thân Tôn Tử cũng rưng rưng rớt lệ khum tay giơ lên trước mặt vái chào an ủi mọi người và cũng là an ủi chính mình:

– Đời người tan hợp không biết thế nào mà nói, hợp rồi lại tan, tan rồi lại hợp, đó cũng là lẽ thường tình. Các vị đại nhân, tình cảm sâu nồng giữa chúng ta hơn chục năm nay, Tôn Vũ tôi sẽ mãi mãi ghi lòng tạc dạ, và mong chúng ta ai cũng nên trân trọng và giữ lấy.

Tôn Tử nói xong, nhảy lên lưng ngựa. Lúc đó, một cỗ xe ngựa từ trong cung vội vã lướt tới, thái giám ngồi trên xe gọi Tôn Tử đứng lại, Tôn Tử bất giác giật mình: “Quái lạ! Làm gì thế nhỉ?”

Thái giám xuống xe, dâng lén một hòm nặng trịch đầy châu báu và nói:

– Đại vương có lệnh, những châu báu hiếm có trên đời ở trong hòm này, đều là tặng cho Tôn Nguyên soái, xin Tôn nguyên soái hãy đem về, đây chính là tấm lòng của đại vương.

Tôn Vũ lắc đầu, cười thẳng thắn:

– Xưa kia Tôn Vũ tay không đến nước Ngô, bây giờ cũng phải tay không mà đi. Tấm lòng yêu mến của đại vương, Tôn Vũ tôi xin nhận.

Tôn Vũ khoáng đạt vẫy tay ra hiệu, quay lại gật đầu chào Ngũ Tử Tư và các quan văn võ ra đưa tiễn, sau đó đạp mạnh hai chân, vung roi lên, con ngựa vọt lên phía trước.

Tôn Tử lần này đi đâu? Có phải quay về nước Tề không, sử sách không ghi chép, nên cũng không dám bịa đặt. Có người nói ông sẽ không về nước Tề, bởi nước Ngô tuy không là Tổ quốc của ông, nhưng đội quân tinh nhuệ của nước Ngô hiện nay chính là do ông đã xây dựng nên, ông không nỡ lòng nào về Tề mang quân trở lại tiêu diệt nó. Đương nhiên, ông cũng không thể tiếp tục ở lại chốn quan trường của nước Ngô, nước Ngô nước Tề lại mâu thuẫn kịch liệt, bất kỳ lúc nào cũng đều có thể xảy ra một cuộc giao tranh, ông không thể nhẫn tâm hơn đem quân Ngô đi tiêu diệt đội quân này của Tổ quốc mình. Có người nói ông đem vợ con vào ở ẩn tại một nơi sâu hơn ở Long Khung, căn cứ là mộ Tôn Vũ, đền thờ Tôn Vũ đều ở Ngô mà không ở Tề. Cũng có người nói ông ẩn dật ở khe Quỷ Cốc, làm nhà ở gần Quỷ Cốc Tử tiên sinh… nhưng đó đều là những lời bàn vô căn cứ. Tôn Tử cuối cùng đi đâu, mỗi người nói một khác, đều không thể tin. Nhưng có một điểm e rằng có thể khẳng định: Tôn Tử từ đó ẩn dật trong rừng sâu không ra với đời, bởi vì kinh truyện sử sách, đều không còn thấy nói gì đến sự tích của ông nữa. Kỳ thực, những cái đó cũng chẳng có gì quan trọng, mà điều quan trọng hơn là vài chục năm sau đó, hai nước Ngô, Tề không từng giao chiến nữa; mười ba bài binh pháp của ông, tư tưởng của ông trở thành của cải tinh thần quý báu của dân tộc Trung Hoa còn lưu truyền mãi đến ngày nay và thịnh hành trên thế giới.

Nguyễn Bá Thính
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Tào Nghiêu Đức

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.