Dải đất mênh mông của nước Tề, nước Lỗ thu hút được tầm mắt của mọi người nhờ ở màu sắc thần bí của mình. Thái Sơn “đứng đầu năm núi lớn” cũng mọc lên ở mảnh đất này. Dòng Hoàng Hà thai nghén ra dân tộc Hoa Hạ cũng từ đây đổ vào biển lớn. Hai bậc “thánh nhân” một văn, một. võ của xã hội phong kiến là Khổng Khưu và Tôn Vũ cũng chào đời trên mảnh đất này…
Thái Sơn, một quả núi kỳ dị hun đúc khí thiêng và toả hào quang thần thánh. Nó nuốt Tây Hoa, đè Nam Hoành, cưỡi Trung Tung, vượt Bắc Hằng, đứng đầu trong mọi quả núi, chiếm địa vị độc tôn trong năm núi lớn.
Thái Sơn, đại biểu cho nền văn minh phương Đông, tượng trưng cho sự lớn lao và trang trọng. Nó lấy mình làm ranh giới nước Tề, nước Lỗ, phía đông là biển lớn với muôn vàn sóng bạc, tây dựa vào Hoàng Hà chảy mãi đến nơi xa, nam có sông Vấn, sông Hoài, sông Tứ, phía bắc một mình một giải Tri Hà. Phóng tầm mắt ra nhìn thế đất của cả một khu vực ven biển miền Đông, nó đứng cao nhìn xuống, bỗng trở thành “cây cột phía trời Đông” mọc trên miền đồng bằng muôn dặm. Ở đây khí hậu ôn hoà, đất đai màu mỡ là vùng trung tâm nảy nở sinh sôi và chung sống của loài người cổ đại, là nơi bắt nguồn quan trọng của một nền văn hoá cổ xưa. Đã mấy ngàn năm, ở đây luôn luôn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của phương Đông. Đầu đời nhà Hạ, vua Vũ chia đất nước thành chín châu, năm châu là Ký, Dự, Thanh, Duyễn, Từ đã quây quần xung quanh nó. Thời thất hùng Chiến quốc, đây lại là kinh đô của Lục quốc…
Thái Sơn được xây đắp bằng những câu chuyện thần thoại đẹp đẽ mà xúc động. Sau khi ông Bàn Cổ (người khai thiên lập địa ở thời viễn cổ, là vị thần sinh ra vạn vật) chết đi, thì đầu là Đông Nhạc, bụng là Trung Nhạc, cánh tay trái là Nam Nhạc, cánh tay phải là Bắc Nhạc, chân là Tây Nhạc. Thi thể của Bàn Cổ quay đầu về hướng đông nên hoá thành Đông Nhạc. Thái Sơn nghiễm nhiên trở thành quả núi đứng đầu trong ngũ nhạc, tức là năm quả núi cao.
Ngày xưa, khi còn là thuở hồng quang, Thái Sơn là đảo Tiên ở trên biển Đông. Khi chim trinh vệ (còn gọi là chim thề, oan cầm, chi điểu, tục gọi là đế thước – tương truyền là Nữ Oa con gái nhỏ của Viên đế chết đi hoá thành) ngậm cây và đá thu về lấp biển Đông, đã lấp bằng mặt nước ở xung quanh Thái Sơn; và trong chốc lát Thái Sơn đã hiện ra bộ mặt vốn có của mình. Những dòng nước nhỏ hay đầm nước còn sót lại là sông Hoàng Hà, Hoài Hà, Vân Hà, Tứ Thuỳ, Tri Thuỷ và hồ Đông Bình, hồ Vi Sơn ngày nay. Về sau, Nữ Oa (tương truyền là em gái của Phục Hy đế, đã luyện đá ngũ sắc để vá trời, nặn đất sét thành người nên được gọi là bà mẹ của loài người) lại nặn thêm cơ man nào là người bằng đất sét, cho biến thành người cổ đại cao lớn, dựa vào núi và tận dụng có nước, sinh sôi nảy nở ra rồi chung sống với nhau.
Tương truyền ở một chỗ thật sâu trên Thái Sơn; có một chàng dũng sĩ tên là “Gan Đá”. Con gái của Trương viên ngoại ở chân núi bị ma ám lâm bệnh nặng. Viên ngoại đã dán một bản cáo thị rằng: Hễ ai chữa khỏi bệnh cho tiểu nữ, thì nguyện sẽ gả tiểu nữ cho người ấy làm vợ. Chàng Gan Đá đã đến đó bóc tờ yết thị xuống, bảo nhà họ Trương chuẩn bị cho mình một cái thanh la bằng đồng, một chậu dầu thơm; một chiếc nồi lớn. Sau đó, chàng lấy bông bện thành mười sợi bấc đèn, thả vào chậu dầu thơm thắp sáng lên, rồi úp cái nồi lên trên và lấy chân dẫm lên mép nồi. Đến nửa đêm, bỗng nghe thấy cơn gió yêu quái từ đông nam thổi tới, chàng Gan Đá liền dẫm lật ngửa cái nồi lên rồi khua thanh la ầm ĩ. Con ma nhìn thấy lửa đèn, lại nghe tiếng thanh la bèn bỏ đi mất. Từ đó ma quỷ không dám đến nữa, bệnh của cô gái cũng khỏi theo. Con ma ấy lại đi quấy nhiễu các nơi, chàng Gan Đá nhận lời mọi người, đâu gọi thì tới, thế nhưng vì chỉ có một mình nên chàng bận tíu tít. Vì vậy, người ta liền khắc lên đá của Thái Sơn hay trên những viên gạch vuông mấy chữ “Chàng Gan Đá” rồi gắn lên tường nhà. Ma quỷ nhìn thấy tên chàng là hết hồn, vội bỏ trốn. Một hòn đá Thái Sơn nhỏ tí như vậy mà có uy lực đến thế, vậy cả quả núi Thái Sơn cao vút sẽ như thế nào, chắc ai cũng tưởng tượng ra được…
Thái Sơn ở phía đông của giải đất bằng miền Hoa Hạ. Phương Đông là phương mặt trời lên, cổ nhân thì cho rằng đó là nơi vạn vật giao hòa, là nơi phát sinh buổi đầu xuân. Theo thuyết ngũ hành (kim mộc, thuỷ, hoả, thổ) thì phương đông thuộc hành mộc; theo ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) thì phương Đông là nhân; theo bốn mùa (xuân, hạ, thu, đông) thì phương Đông là mùa xuân; theo bát quái của “Chu dịch” (Càn Khôn, Chấn, Tốn, Khảm; Ly, Cấn, Đoài, tám quẻ tượng trưng cho tám loại hiện tượng tự nhiên là trời, đất, sấm, gió, nước, lửa, núi, đầm) thì phương Đông thuộc quẻ Chấn, tức là sấm; trong nhị thập bát tinh tú (Dốc, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Ky, Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích, Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Tư, Lâm, Tỉnh, Quỷ, Liễu, Trinh, Trương, Dực, Chẩn thì phương Đông là thương long. Chữ “Đông” trong chữ Hán, gồm chữ Mộc và chữ Nhật ghép lại với nhau. Chữ Mộc trong văn tự giáp cốt lại thông với chữ Tang, nên mới có thuyết “nhật xuất phù tang” (Mặt trời mọc ở đất Phù Tang), “nhân” là đạo đức lớn của trời đất, muôn vật sinh sôi vào mùa xuân. Chấn và thương long là đất nhẹ gót thang mây, là nơi vua chúa ra đời. Bởi thế Thái Sơn là một quả núi lành, là xứ sở của thần linh, là nơi bắt nguồn của khí thiêng.
Thái Sơn, là thiên thần của vẻ đẹp, tất cả các đỉnh vây quanh một đỉnh, rừng rậm suối bay, tráng lệ huy hoàng, thấp thoáng lầu các, cổ tích ở khắp mọi nơi, vạn vật dồn tụ lại từng chỗ. Thái Sơn nhiều tùng bách, cây cảnh vươn cao, đủ mọi tư thế, đỉnh lạ nhấp nhô, đá tai mèo lởm chởm, mỗi một cảnh đẹp là một bài thơ, một bức tranh, một khúc nhạc; làm xao xuyến lòng người, gây bao niềm hứng thú. Những giải sương như khói như mây, như có tài biến hóa, khiến người ta thấy cảnh vật tĩnh nhưng lại động, khí thế càng thêm oai hùng. Tùng xanh bách thắm, vách đá cheo leo, sương mờ tựa mây, mặt trời le lói; ánh lên một vẻ vừa hùng vĩ tráng lệ, lại yểu điệu thướt tha. Trong cái hùng vĩ đó hàm chứa những hình tượng tươi đẹp, mà lạ, mà hiểm, mà xinh, mà u nhã, mà sâu kín, mà bao la… Chẳng hạn: “Thác ba đầm” ở trong suối Đông của cung Đấu Mẫu, trong cái hùng vĩ có chứa vẻ đẹp xinh. Mom Xả thân, mom Trăm trượng lại gửi vẻ hiểm trở vào trong cái dáng hùng vĩ. Cầu tiên, mom Rẻ quạt lại chứa vẻ đẹp thần tiên của tạo hóa, xứng với tên là kỳ quan trong thiên hạ. Trèo lên đến Nam thiên môn, mới thấm thía vần điệu thần kỳ của câu thơ “Thiên môn dài tiếng hú, ngàn dặm gió lành về” hoặc “thênh tháng trời đất nhỏ”; còn như hốc đá ở đằng sau đỉnh Đại Âm thì quả thật là nơi động phủ thiên tiên vô cùng u nhã…
Thái Sơn, triết gia vĩ đại này đã nói với người ta nên xử thế như thế nào, làm người như thế nào. Nếu nói “hùng vĩ” là đặc trưng thứ nhất của Thái Sơn, thì “lớn lao” sẽ là đặc điểm thứ hai của quả núi này vậy – chân núi nằm ở hai nước Tề – Lỗ, không biết mấy trăm, mấy ngàn dặm. Nó nằm vắt ngang lên gò đồi của nước Tề, nước Lỗ, làm nên một sự so sánh mạnh mẽ về độ cao thấp khác nhau giữa đồng bằng và gò đồi xung quanh đó. Nó có nhiều đỉnh nhấp nhô, mà đỉnh núi chính xé đất vươn thẳng lên trời xanh. Từ chân núi cho đến Trung thiên môn, Nam thiên môn, đỉnh Ngọc Hoàng… tầng tầng lớp lớp, hình thành cảm giác tiết tấu từ trầm đến bổng và một khí thế thênh thang “nhìn qua muôn núi nhỏ”. Mạch núi của nó nối liền nhau với nền móng lớn rộng, hình thể tập trung. Nền móng lớn rộng sẽ gây nên cảm giác vững vàng, hình thế đồ sộ mà tập trung lại đem lại một ý tưởng sâu nặng, và thế là nó như muốn nói với người ta rằng bất kể trong tình hình. nào, cũng phải bình tĩnh lặng lẽ không cuống, không vội, “vững tựa Thái Sơn”, cũng phải can đảm mà nhận lấy; con người ta phải không biết sợ, phải kiên cường, phải tự tin, dám chịu đựng sự đả kích thế này hay thế khách, “Thái Sơn đè đầu” cũng chẳng cong lưng.
Vĩ đại trang trọng, tự nhiên khiến người ta phải kính nể, xinh đẹp mỹ miều, như mời gọi người ta đến thăm. Một quả núi lành, ban phát cho người hạnh phúc. Thiên thần của vẻ đẹp, để người người ngưỡng vọng và ái mộ. Triết gia dạy người ta biết xử thế ra sao, thực sự lạ bạn là thầy của muôn ngàn dân chúng. Tuy nhiên, khí thiêng của Thái Sơn chủ yếu lại không thể hiện ở mặt này mà thể hiện ở chỗ bầu sữa ngọt dồi dào của nó, đã nuôi lớn vô số danh nhân văn hoá, chỉ riêng thời Xuân Thu Chiến quốc, nếu đi tìm theo một dải phía nam của Thái Sơn, ta sẽ thấy Khổng Khưu ở Ni Sơn, Mạch Nha ở Dịch Sơn, Mặc Trác ở Mông Sơn lại còn đông đảo những học trò hiền của Khổng Tử như Nhan Hồi, Tằng Sâm, vv… Theo dòng Tri Thuỷ lên mạn bắc, ta thấy có Tề Hoàn Công, Quản Trọng, Yến Anh và hai ông cháu là Tôn Vũ và Tôn Tẫn. Nếu như ví Thái Sơn chót vót với một người bà tuổi cao mà phúc hậu có hai bầu vú sữa, thì bầu bên trái là những mạch núi nhô lên, lấy sữa ngọt nuôi nên những con người sùng đạo văn chương, bầu bên phải lại lõm xuống thành những dòng sông, lấy nguồn mạch của mình, nuôi lớn những con người thượng võ. Từ đó chẳng khó khăn gì khi liên tưởng ra rằng, cống hiến chủ yếu của Thái Sơn là đã hun đúc nền văn hoá Tề – Lỗ huy hoàng xán lạn. Bởi thế mới bảo nó là đại biểu cho nền văn hoá phương Đông.
Núi là nguồn của nước; dòng sữa của núi lớn rì rầm tuôn chảy, rồi lại róc rách dồn tụ mà ào ào lao xuôi thao thao cuồn cuộn, đó chính là mạch nguồn của những dòng sông. Chỗ khuất của Thái Sơn, đằng sau lưng Nghi Sơn, muôn ngàn khe lách, dồn lại chảy về phía bắc mà thành Tri Thuỷ. Dòng Tri Thuỷ thao thao chảy, qua Lâm Tri, kinh đô nước Tề lên phía bắc rồi từ Lạc An nhập vào sông Tiểu Thanh, chảy xéo lên đông bắc, đổ vào Bột Hải. Đó là động mạch chủ yếu của nước Tề. Nó cùng với Hoàng Hà cũng đến đây thì đổ vào biển với những dòng sông lớn nhỏ như Thời Thuỷ, Nữ Thuỷ, vv… tưới tắm cho mảnh đất lâu đời mà phì nhiêu này của nước Tề, nuôi lớn từng lớp, từng lớp những người con anh hùng của nước Tề, hun đúc nên nền văn hoá chói ngời của nước Tề, khiến nó trở nên vừa đằm thắm lại vừa có những điểm đặc sắc riêng của mình.
Tinh thần thượng võ là đặc trưng nổi bật của nền văn hoá nước Tề. Những năm đầu thời Tây Chu, Thành Vương đã phong cho ông ngoại của mình là Lã Thượng (Khương thái công) làm Tề hầu, ban cho ông một giải đất “đông tới biển (Bột Hải), tây tới sông (Hoàng Hà), nam đến Di Lăng (Di Lăng quan phía đông sông Nghi Thuỷ bây giờ), bắc đến tận Vô Đệ (tức là phía bắc Huệ Dân bây giờ). Ngoài ra còn giao cho một số đặc quyền, có thể đem quân thảo phạt những chư hầu có tội (“Tả truyện” Hỷ công năm thứ tư). Giải đất được phong này mỡ màng và rộng hàng ngàn dặm, lại giàu nguồn lợi về muối và cá. Lã Thượng về đến nước của mình, bèn áp dụng phương châm “đơn giản lễ nghi cho quần thần, lựa theo phong tục ở đó “tiến hành quản lý thích nghi với từng nơi, khiến đất nước phát triển rất nhanh chóng, đến thời kỳ Xuân Thu, đã thâu tóm tới hơn ba mươi quốc gia xung quanh. Nước Tề vốn là một nước lớn ở phương Đông, qua sự kinh doanh phát triển và mở rộng của Hoàn Công, đã “chín lần hợp chư hầu, sắp xếp thiên hạ”, trở thành bá chủ thứ nhất ở thời Xuân Thu, xưng bá trong chư hầu. Quản Trọng trị vì nước Tề, chẳng những đưa ra hàng loạt biện pháp để phát triển kinh tế, mà còn tiến hành hàng loạt cải cách về chế độ. Trước hết là chính sách “ngụ binh ư nông” (lính ở trong nghề nông) chia cả những ra làm hai mươi mốt hương, trong đó có sáu hương làm nghề và đi buôn, mười lăm hương kia là sĩ hương, tức là theo nghề nông. Thời bình thì sẽ “thực điền” ăn vào đồng ruộng, thời chiến nông phu làm lính, sĩ thì làm giáp sĩ và làm tiểu sĩ quan. Trong sĩ hương thì cả năm người tổ chức thành một ngũ, ngũ có quỹ trưởng; năm mươi người thành một tiểu nhung, tiểu nhung lại đặt ra chức hữu tư; hai trăm người là một tốt, mỗi tốt có liên trưởng; hai ngàn người là một lữ, lữ thì có hương lương nhân; năm lữ là một vạn người thành một quân, nước lớn thì có ba quân, vv… Đó vừa là tổ chức hành chính, lại cũng chính là biên chế quân sự. Hoàn công và Quản Trọng nhận thức được rằng: Nước giàu thì quân sẽ mạnh, quân mạnh được là nhờ ở nước giàu. Việc thứ hai là thực hành sĩ, nông, công, thương, bốn thứ dân định cư theo nghề nghiệp, trong đó đặc biệt là để cho kẻ sĩ không phải làm lao động, tạo cho họ một môi trường trong sạch để cho họ dạy học và bàn về võ nghệ, trở thành võ sĩ chuyên nghiệp. Thứ ba là lấy giáp binh chuộc tội. Bởi vì giáp binh (chỉ vũ khí trang bị) của nước Tề lúc ấy còn thiếu nhiều, Quản Trọng liền đặt ra chế độ lấy việc chế tạo trang bị vũ khí đề miễn giảm tội ác, từ đó khiến cho nước Tề “dư dật về trang bị vũ khí”. Thông qua một loạt những cải cách đó, nước Tề chẳng những trở thành một nước mạnh đứng đầu về quân sự thời bấy giờ, mà còn hình thành một tinh thần thượng võ từ trên xuống dưới trong cả nước. Tinh thần thượng võ ấy được truyền từ đời này qua đời khác, lâu dần mãi, đã trở thành một truyền thống tốt đẹp.
Thuyết âm dương ngũ hành, là đặc điểm thứ hai của văn hoá nước Tề. Thuyết âm dương và thuyết ngũ hành, là hai học thuyết triết học dùng tư duy lý luận để nắm vững thế giới. Nó là môi trường phái triết học sản sinh ra ở nước Tề rồi được phát triển và trưởng thành. Người nước Tề lấy quan điểm âm đương ngũ hành để quan sát tinh tượng, chế định ra lịch pháp, rồi lại dùng nó để giải thích cho sự thay đổi của bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông, sự chuyển đổi của các tiết khí và sự lặp đi lặp lại của ngày đêm, vv… phạm vi ứng dụng thật vô củng rộng rãi.
Học thuyết lý luận có đặc điểm riêng, là đặc điểm thứ ba của văn hoá nước Tề. Nó thể hiện ở hai mặt một là đã nói đến “nhân” và “lễ”, nhưng lại không đặt nó ở địa vị hàng đầu; hai là hết sức coi trọng công lợi.
Khổng Tử ca ngợi Quản Trọng nhân đức: “Hoàn công chín lần hợp chư hầu mà không hề phải dùng đến binh xa, sức mạnh của Quản Trọng, là ở lòng nhân của ông, như lòng nhân của ông”. Lại nói: “Quản Trọng tướng quốc của Hoàn Công xưng bá trong chư hầu, sắp đặt lại thiên hạ, dân đến bây giờ vẫn còn được ban cấp mọi thứ. Không có Quản Trọng, họ đã thành dân mặc áo trái tà.[1] Chẳng lẽ lại như nhìn nhận của kẻ thất phu tầm thường, tự nó theo cống rãnh mà rồi không ai biết sao?”.
Khổng Tử là người hay nói đến luân lý nhất, vậy mà ông đã ca ngợi Quản Trọng đến như thế, đủ thấy phẩm chất của Quản Trọng cũng như con người và đạo đức của ông khi làm chính trị đã phù hợp nhân đạo như thế nào. Một lần, trong khi trả lời câu hỏi của Hoàn công, Quản Trọng nói: “Người giữ chữ tín, thì dân tin; người có lòng nhân, thì dân nhớ; người nào nghiêm, thì dân sợ; người biết lẽ, thì dân khen. Có câu rằng: Nhận lệnh mà không thay đổi, là tín vậy, cái gì mình không muốn, không đem đến cho người khác, là nhân vậy; ngoài nhân ra có sự cứng rắn, là nghiêm vậy; chất phác tin tưởng và biết nhường, là lễ vậy (Quản Tử – Tiểu vấn). Cốt lõi tư tưởng của nhà Nho là “nhân”, Khổng Tử đã giải thích đó là “mình đã không muốn, chớ mang cho người” (Luận ngữ – Vệ Linh công). Từ đây cũng đủ thấy chữ “nhân” trong lý luận của văn hoá Tề, về căn bản cũng giống như của nhà Nho, thế nhưng địa vị của nó trong học thuyết luân lý, thì lại không giống nhau, không giống như nhà nho, nó không đặt “nhân” lên địa vị hàng đầu. Quản Trọng cho rằng, luân lý đạo đức, cần phải xây dựng trên nền tảng đời sống vật chất nhất định. Ông nói: “Kho lẫm đầy mới biết đến lễ tiết, ăn mặc đủ mới nghĩ đến vinh nhục” (“Quản Tử – Mục dân”). Bởi thế, ông đã dành phần lớn tinh lực vào việc làm cho nước giàu quân mạnh.
Trọng công lợi, lại là một đặc điểm nữa của học thuyết luân lý của văn hoá Tề, nó khác với nhà nho khi bàn về nghĩa lợi thường trọng nghĩa khinh lợi. Triết học đạo đức của Quản Trọng coi nặng về công lợi từ góc độ bàn về nhân tính, ông từng nói: “Phàm là tình cảm của con người, thấy lợi chẳng ai là không muốn lấy, thấy hại chẳng ai là không muốn tránh” (Quản Tử – Cấm tặng) “Dân thấy lợi thì đến, thấy hại thì bỏ đi. Người dân với cái lợi, cũng như nước luôn chảy xuôi” (Quản Tử – Hình thế giải). Tính người, bản thân đã mang sẵn đặc tính là hướng tới cái lợi, rời xa cái hại, còn như đạo đức, thực ra không phải bản thân tính người vốn sẵn có, nó là một quy phạm hành vi do vua chúa vạch ra. Đã như thế, muốn nhân dân thực hành những quy phạm đạo đức, thì cần thiết phải dùng biện pháp công lợi để thuận với mong muốn của dân, để mà thi hành. Thế nên, ngoài những điều thuyết giáo nơi cửa miệng, còn cần phải có những thủ đoạn vật chất, dùng sự thưởng phạt để dẫn dắt nhân dân làm theo. Tóm lại, vừa coi trọng công lợi, lại coi trọng lễ nghĩa, là đặc điểm học thuyết luân lý của văn hoá nước Tề.
Dòng Tri Thuỷ thao thao từ phía nam chảy tới, xuyên qua Lâm Tri kinh đô nước Tề, vào Lạc An rồi chảy xế lên đông bắc, quanh co uốn khúc rồi dồn vào sông Tiểu Thanh chảy ra vịnh Lai Châu. Tính cách của Tri Thuỷ biến hoá khôn lường, mùa lũ nước dâng, mênh mang dào dạt, không thấy bến bờ, như hổ lồng xuống núi, như ngựa tuột dây cương, gầm réo, vật vã, lồng lộn, nuốt đi ngàn dặm, cuốn trôi rều rác, rửa sạch mọi cáu bẩn và bùn nhơ. Tri Thuỷ lúc này là hoá than của sự ngang ngược, tượng trưng của bạo lực hung tàn, đồng nghĩa với bá chủ, ngang hàng với quyền uy, hỏi có ai đã dám ra oai trước mặt nó, bởi nó sẵn sàng mang đến cho người ta mối tai hoạ lút đầu. Đầu xuân và giữa mùa thu, nó như một chàng trai hớn hở, như một chú ngựa tung tăng, như con chim nhạn xuyên mây, như chim hoàng oanh đang cánh lượn. Nó cuồn cuộn, nó chồm lên, nó reo ca, vui mừng lao về phía trước. Khí thế mạnh mẽ, tràn trề sức sống thanh xuân là đặc trưng chủ yếu của dòng sông vào những lúc này. Đến mùa nước cạn, dòng sông bỗng trở thành một cô gái vui vẻ hồn nhiên, với những nép váy trắng muốt từ xa bước tới, nhẹ nhàng hát ca, rải khắp dọc triền sông những tiếng cười lảnh lót như chuông đồng. Ra khỏi kinh thành Lâm Tri, nàng thiếu nữ ấy mang theo tiếng cười đi thẳng lên hướng bắc, đi chừng hơn mười dặm, nàng hơi rẽ về hướng đông, thấy trước mặt là mảnh đất phẳng phiu, màu mỡ, sông ngòi chằng chịt và không gian thoang thoảng từng làn hương lúa, tức cảnh sinh tình, nàng như bay như múa lên, vui vẻ bước đi. Chính chỗ dòng sông mang tâm hồn thiếu nữ chảy đến chỗ chuyển dòng, đã gặp một thôn làng rất lớn, toàn thôn có tới hai trăm nóc nhà, người trong thôn chủ yếu mang họ Điền, bởi thế mới gọi là thôn Điền Ban,[2] trong thôn đó có một gia đình danh môn quý tộc, đó chính là Điền Thư, tự Tự Chiếm, thế tập Tề đại phu, có địa vị quan trọng ở nước Tề, cùng bốn gia tộc lớn là Loan, Bào, Quốc, Cao cùng nắm chính quyền của nước Tề, chúa tể vận mệnh của nước Tề, cũng giống như “Tam Hoàn” của nước Lỗ. Con trai của Điền Thư là Điền Bằng, tự Khởi Công, làm khanh của nước Tề, tuổi trẻ và có triển vọng, là con người mưu trí và tháo vát năng nổ, nên được Tề Cảnh công yêu vì và kiêng nể. Mặc dù vậy phủ đệ của nhà họ Điền lại hết sức bình thường. Tuy nói rằng diện tích chiếm đất của nó rất lớn, đằng trước đằng sau, bên phải bên trái có tới mười dinh cơ, mấy trăm gian nhà cửa, thế nhưng lại thấp bé, không có gì nổi bật, hơn thế nữa lại lợp tranh xen ngói, không khác gì mấy so với những nhà bình thường. Ở đây mang tiếng cửa tướng phủ soái, nhưng lại không có cảnh canh gác nghiêm ngặt, dân thường cũng có thể vào ra dễ dàng, đấy cũng là một điểm khác so với những chốn cửa son kín cổng cao tường, bởi thế lại càng làm cho tiếng tăm của ông vang khắp xa gần, khiến ai cũng phải khen ngợi và ngắm nghía. Từ khung cửa lớn ở giữa đi vào, đi qua sảnh đường, đến sảnh đường thứ hai và sảnh đường thứ ba thì đến một vườn hoa. Lấy chỗ này làm đường trục, nhà ở chia thành hai phần bên đông, bên tây đối xứng với nhau. Hai bộ phận đó bố cục như nhau, quy cách như nhau, kiểu dáng cũng như nhau. Sảnh đường thứ ba là giới hạn tự nhiên, còn dãy bên đông và bên tây, trước sau có khác nhau. Gian trước là nơi tiếp khách, làm việc, hội họp, dãy nhà sau là nơi ăn ở, nơi ngủ và nơi ở của gia đình.
Năm 545 trước CN, tức là năm Chu Linh vương thứ hai mươi bảy, năm Tề Cảnh công thứ ba, ngày hai mươi tám tháng tám, trời thu xanh ngắt, cao vời vợi, trong như lọc. Bỗng nhiên không biết ở đâu nổi lên một cơn gió bắc, thổi qua kinh thành Lâm Tri, vượt ngang dòng Tri Thuỷ, ập đến thôn Điền Ban. Gió bắc thổi kéo theo mây đen, khiến cho thôn Điền Bán lớn như thế mà bị che kín mít, trời đất tối tăm, ánh mặt trăng, mặt trời đều mờ lại, trong Điền phủ, từ trên xuống dưới, người già, người trẻ của thôn Điền Ban, không ai là không lo sợ, không ai là không thảng thốt bởi sự u ám bao trùm lên tất cả đó. Mướt mồ hôi lo lắng cho sự an nguy của bà trẻ – phu nhân Điền Bằng, người nào người nấy tranh nhau cúi đầu vái lia vái lịa, khẩn cầu các bậc thần linh phù hộ độ trì cho bà trẻ mau mau sinh nở, để hổ tử của nhà tướng sớm được chào đời, được mẹ tròn con vuông, cả nhà đoàn tụ…
Bà trẻ họ Phạm, tên là Ngọc Lan, cũng thuộc con nhà dòng dôi và có nề nếp gia giáo. Nàng có khuôn mặt trái xoan trắng trẻo, nước da mịn màng như thể là nặn bằng sáp, luôn ánh lên vẻ bóng bảy mượt mà. Dưới hai nét mày ngài là đôi mắt như hai làn nước hồ trong, diễn đạt tình cảm còn hơn cả lời nói. Vốn tính ôn tồn nhã nhặn, cử chỉ khoan thai, luôn luôn tỏ ra trên kính dưới nhường, có dịp tiếp xúc với nàng xong, không ai là không tấm tắc ngợi khen. Nàng ưa mặc những thứ hàng nền nã màu trắng, chẳng hạn một chiếc váy sa tanh trắng, bên trong là một chiếc áo chẽn bằng đoạn trắng. Nàng khẽ cất bước đi, chẳng khác gì đoá hoa sen trắng nhẹ nhàng lướt trên mặt nước. Hoặc khi nàng đứng lại, nhìn từ xa, chẳng khác gì một bông hoa ngọc lan. Thế nhưng bông hoa lan ấy lúc này lại đang khốn khổ vì những cơn đau dằn vặt, Phạm Ngọc Lan đang lăn lộn trên chiếc giường ngà, vật vã, kêu rên, trên khuôn mặt nhợt nhạt của nàng mồ hôi tuôn ra như vã nước. Hai tay nàng nắm chặt lấy thành giường, các khớp xương kêu răng rắc, hàm răng trên bặm vào môi dưới hằn lên một vết máu đỏ tươi. Nàng muốn kêu la, muốn văng ra chửi rủa một cái gì đó, thế nhưng lực bất tòng tâm… Nàng đã kêu rên vật vã như thế ba ngày ba đêm rồi. Đừng nói một người đàn bà yếu đuối mà ngay cả một gã đàn ông sức dài vai rộng, rơi vào hoàn cảnh này cũng chẳng biết làm gì hơn. Nàng lả đầu sang một bên, mớ tóc dài bị xổ tung ra buông xoã nằm thở dốc từng cơn, phần bụng dưới nhô cao, căng lên trắng như sắp, mệt mỏi phập phồng theo hơi thở. Nàng không thể vật vã được hơn nữa, đành để mặc cho số mệnh định đoạt, muốn ra sao thì ra.
Bà mẹ chồng sốt ruột đi đi lại lại trong phòng, quanh quẩn bồn chồn như kiến bò trong chảo nóng, bà đang cầu trời, bà đang khấn đất, đang kêu xin các vị thần linh… Rồi bà lại lẩm nhẩm, lại ca cẩm, lại chửi rủa, sau cùng bà không biết nói gì, không biết làm gì… như điên như cuồng…
Bà nội tuổi đã trên mức xưa nay hiếm, liên tục ngồi bên cạnh cháu dâu của mình, im lặng khóc thầm lo lắng. Đột nhiên bà cụ quỳ xuống đất, chắp hai tay lại, ngửa mặt lên trời, kêu lên như xé ruột, xé gan:
– Ông trời ơi! Sao mà ông độc địa thế? Bà đất ơi sao bà ở chẳng công bằng? Thần trên trời, ma dưới đất ơi! Sao lòng dạ các người lại ác độc đến thế? Nhà họ Điền này đời đời kiếp kiếp, chưa bao giờ dám làm một việc gì phương hại đến đất trời, cháu dâu của tôi hiền lành thật thà như một con cừu non mới đẻ ra, tại sao các người lại đày đoạ nó thế này, mong các người hãy trông lại, làm sao cho Ngọc Lan, cháu dâu của tôi sinh nở được thuận lợi an toàn, cho chắt nội của tôi được bình an chào đời, thân già này dù có phải chết để chuộc lấy tội nghiệt của kiếp trước và cả kiếp này…
Nói xong, bà vùng đứng dậy, lấy vạt áo che lên mặt rồi nhào tới đập đầu vào án thư.
Kẻ hầu người hạ ra ra vào vào, hết thở dài, lại than vắn, khóc chán lại lau nước mắt… không ai có cách gì hơn.
Những bà đỡ hơi có tiếng tăm một chút ở quanh vùng cũng đã được mời cả đến, bằng kinh nghiệm của mình, trổ tài khoe giỏi một hồi, hoàn toàn chẳng giải quyết được gì; thế là lúc đến hăng hái hý hửng bao nhiêu, thì lúc lui ra tiu nghỉu lặng lẽ bấy nhiêu, khiến cho không khí trong Điền phủ lại thêm buồn bã hơn, căng thẳng và ngột ngạt hơn.
Gió bấc vân đang gào rít, mỗi lúc một dữ dội hơn; mây đen vẫn đang vần vụ, mỗi lúc một dày đặc hơn; mỗi người đều như thấy tim mình rung lên, tức thở và đang ứ máu…
Một cỗ xe ngựa trang trí rất lộng lẫy ra khỏi kinh thành Lâm Tri, ven theo con đê ngoằn ngoèo bên sông Tri Hà, vội vã lăn bánh về phía thôn Điền Ban. Người ngồi bần thần trong xe là quan thái y trong cung nhà Tề là Công Tôn Hồi Xuân, đang theo lệnh của Thái tể Yến Anh đến thôn Điền Ban, đỡ ca khó đẻ cho Điền phu nhân. Thái y nguyên tên là Công Tôn Du. Sáu năm trước, Tề Tráng công mắc bệnh hiểm nghèo lại rất oái oăm, người đời ai cũng bảo đó là thứ bệnh không tài gì chữa khỏi, vậy mà Công Tôn Du lại chữa được cho nhà vua khỏi bệnh, khiến ngài vui mừng và không ngớt lời khen thái y chữa bệnh rất cao tay, là “nhờ khéo tay nên được hồi xuân”. Thế rồi, thái y thấy hay, đổi ngay tên mình là Hồi Xuân, và cho rằng đó cũng là niềm vinh dự nhất đời mình.
Công Tôn Hồi Xuân tới Điền phủ, không kịp nghỉ ngơi, nước cũng không thiết uống, vội vàng lấy đồ nghề của mình ra, bắt đầu cuộc vật lộn để cứu lấy hai mạng người…
Cũng vào giữa lúc này, ở trong Tấn Dương cung, Tấn Bình công đang dương dương tự đắc, chễm chệ ngồi trên ngai vàng “bá chủ” để nhận lễ mừng của vua chúa các nước Tề, Trần, Thái, Bắc Yên, Khởi, Hồ, Thẩm, Bạch Địch, vv… Xem xét đồ tiến cống của các nước, ông ta ưỡn ngực vênh vang, coi khinh mọi người, làm như mình chính thức trở thành bá chủ của thế giới này. Quan chấp sự Triệu Vũ thì khoa chân múa tay, hô hét chỗ này, doạ nạt chỗ kia, làm ra vẻ nhất trên đời này.
Chư hầu tám nước tại sao phải đến triều cống nước Tấn như thế? Từ khi Bình vương dời đô về Lạc Ấp, triều nhà Chu suy thoái, lệnh vua không ai theo, thiên hạ rối bời bời. Các nước chư hầu tranh giành nhau làm bá chủ, kẻ mạnh bắt nạt kẻ yếu, cậy đông lấn át kẻ ít, kẻ yếu bị kẻ mạnh ăn thịt… chiến tranh nổ ra liên miên, công thành chiếm đất khiến cho thành ấp bị phá huỷ, ruộng vườn hoang sơ, cha con khuất mặt nhau, anh em mỗi người một ngả, người chết đầy đồng, nước mất nhà tan. Trước tình hình đó, Tống đại phu Hướng Nhung, Triệu Vũ của nước Tấn, Khuất Kiến của nước Tề… với những mục đích khác nhau, liên hiệp ra lời đề nghị “dẹp binh”. Qua một phen du thuyết, các nước mạnh như Tấn, Sở, Tề, Tần lần lượt hưởng ứng, và thông cáo cho các nước nhỏ. Năm 546 trước CN, đã họp liên minh ở nước Tống, đến dự gồm có mười ba nước là Tấn, Sở, Tề, Lỗ, Vệ, Trần, Thái, Trịnh, Hứa, Tào, Trâu, Đằng và Tống. Khi họp liên minh, nước Tấn, nước Sở tranh nhau đứng đầu, Thúc Hướng của nước Tấn khuyên Triệu Vũ hãy nhường nước Sở, thế là Sở Khang vương đứng đầu. Lần này, tám nước chầu nước Tấn là làm theo những điều đã hứa hẹn với nhau khi họp liên minh ở chầu nước Sở, chưa tới ngày thì Sở Khang vương chết, Tấn Bình công quay về.
Chư hầu tám nước lần lượt mang những gì quý hiếm trên đời của nước mình để dâng lên làm vui lòng Tấn Bình công. Phái đem vật quý của nước mình cho không những người khác, không đau lòng xót ruột lắm sao? Thế nhưng đấy là việc không còn cách nào hơn mà phải làm như thế? Ai mà chẳng phải nhường nước Tấn lớn mạnh, nếu làm họ tức giận, họ sẽ đem quân đến hỏi tội gây nên chuyện can qua, huỷ hoại tông miếu, đào bới mồ mả, giết hại sinh linh. Đúng là quả đấm lớn thì làm anh. Cọp ăn sói, sói bắt dê, đó là chân lý ngàn năm không đổi, ai có thể làm khác được? Các nhà nho, mà Khổng Tử là đại biểu, muốn thay đổi nó. Nguyện vọng ấy tốt đẹp đấy, tấm lòng ấy từ thiện đấy, mọi người ai ai cũng đều ca ngợi, nhưng mong muốn đó đi đến đâu cũng gặp trở ngại. Cuối cùng nhà Tần giành được chính quyền cũng lại vẫn phải dựa vào sức mạnh trong tay mình để tiêu diệt sáu nước, đưa thiên hạ, vốn liên tục tranh giành nhau mấy trăm năm, về được một mối. Bởi vậy, đừng có phàn nàn rằng tâm địa của sói quá ác độc, mà muốn khỏi bị sói ăn thịt, thì hãy trở thành một con cọp!
Báu vật nước Trần tiến cống là cái chén nóng lạnh. Rót rượu vào chén này, mùa đông sẽ ấm lên, mùa hè sẽ lạnh đi, uống ngàn chén không say, vạn chén không lú lẫn.
Báu vật của nước Thái là dạ minh châu. Hạt châu to như quả đào, đặt trong chỗ tối hay ban đêm, ánh sáng toả ra chói lọi, tựa như ban ngày.
Vật tiến cống của nước Bắc Yên là Uyên ương kiếm. Loại kiếm này, kiếm chồng kiếm vợ sánh đôi nhau, nếu có kẻ nào muốn hại chủ mình, cây kiếm sẽ tự tung ra khỏi bao, chém đầu kẻ ấy ngay tại chỗ.
Của quý của nước Khởi là cái làn thuỷ tinh. Treo. làn này ở nhà nhà, tự nhiên sẽ thành gió, nếu có ánh sáng chiếu vào, có thể tạo ra mưa.
Vật quý của nước Hồ là con ngựa Xích thố. Đây là một giống ngựa tốt, không uống nước, không ăn cỏ, một ngày cũng chạy được ngàn dặm, tiến thì có thể đuổi gió lướt trăng, thoái lại ẩn thân như vô hình.
Vật cống của nước Thẩm là cái ô cản bụi: Ngày mưa mà che ô này, không dột một giọt nước nào; ngày nắng đi ô này thì có thể tránh được hết bụi trần.
Vật cống của nước Bạch Địch là cái đai bằng sừng tê giác. Nếu mang cái đai này trên người thì lửa nước không bén được tới, tai ương phải lánh xa.
Tám nước đến triều cống, thì nước Tề là lớn mạnh nhất, nhưng lại không thấy Tề Cảnh công có báu vật dâng lên. Tấn Bình công rất lấy làm tức giận. Sự tức giận ấy đã thể hiện ra mặt, mặt ông sa sầm, từng thớ thịt run lên bần bật, một lúc lâu không nói gì, còn trong lòng sự bực bội bị nén xuống, nén xuống mãi, đột nhiên bật lên như nổ ra thành câu hỏi:
– Tề là nước lớn đến cả ngàn cỗ xe, đất đai rộng, đồng ruộng phì nhiêu, sản vật dồi dào, cơ man nào là châu báu, vậy mà tại sao không thấy có gì là vật cống dâng lên quả nhân nhỉ?
Cặp mắt của Tấn Bình công như hai lưỡi đoản đao sắc nhìn xoáy vào Cảnh công. Dưới ánh sáng lạnh lùng ấy, vóc dáng bé nhỏ của Cảnh công như bị co dúm thêm, và run lên trong tư thế co ro ấy. Ông hết nhìn sang phải lại ngó sang trái; tựa hồ như đang muốn tìm kiếm vật gì, cầu cứu một thứ gì… Không khí sảnh đường im phăng phắc như thể chỉ khẽ động vào là sẽ nổ tung.
Giữa lúc đó, bỗng có một người từ sau lưng Tề Cảnh công bước ra. Người này mình cao phải đến một trượng hai, đầu to như cái đấu, mắt lồi như đôi chuông đồng, tiếng sang sảng như chuông, vai rộng ngựa nở, lưng như hổ, lườn như beo, mình đầy giáp mãng, ưỡn ngực ngẩng đầu đứng nghiêm ở đó như một cây tháp sắt, khiến cho Tấn Bình công giật mình xo lại, như muốn núp thân vào một chỗ nào đó, lắp bắp hỏi:
– Ngươi là ai? Có điều gì muốn nói?
Người võ sĩ oai vệ như cây thép sắt, bình thản tự nhiên đáp:
– Thần là Điền Bằng, tướng quân hộ giá cho Tề vương đây, đang muốn dâng đồ tiến cống lên đại vương.
– Đồ tiến cống ở đâu, hãy mau mau dâng lên. – Tấn Bình công cuống quýt lên như một gã ăn mày nhìn thấy cơm.
Điền Bằng khum táy làm lễ, tủm tỉm cười nói:
– Đại vương hà tất phải nôn nóng thế. Người ta thường nói: Cơm ngon không sợ muộn, tướng tài áp trận sau, trò hay ở cuối buổi diễn. Đại vương đã nói nước Tề là nước lớn ở phương Đông, quân khoẻ ngựa lớn ruộng tốt hàng ngàn dặm, sản vật dồi dào, lắm muối nhiều cá, nam có Thái Sơn bền vững, bắc có Bột Hải hiểm trở, tây có Hoàng Hà chắn ngang, là nước sau cùng dâng vật cống, chẳng phải là sự việc hợp tình hợp lý hay sao?
– Tướng quân nói phải lắm, quả thực đó là việc ở trong tình lý. – Nỗi tức giận của Tấn Bình công tạm dịu xuống, vẻ mặt tươi cười hỏi. – Nhưng không biết nước Tề định tiến cống vật gì đây.
Điền Bằng chậm rãi nói:
– Lão Sính là tác giả của “Đạo đức kinh” có nói: “Người giàu sang thì cho người tiền bạc; người nhân thì cho người lời nói”, vua tôi nước Tề tuy không dám nhận xằng nhân nghĩa, tuy nhiên tiên quân là Hoàn công cũng đã từng chín lần hợp được chư hầu, không phải động đến binh xa, mà sắp xếp được thiên hạ, trở thành bá chủ đầu tiên ở vùng Hoa Hạ, bởi vậy xin mạo muội dâng lên vài lời: “Việc trên đời đắc đạo thì nhiều người giúp, thất đạo thì ít người giúp, làm nhiều điều bất nghĩa tất sẽ tự giết mình? Nếu đại vương biết lấy điều này để làm kim chỉ nam, xử sự phải nghiêm với mình thì ích lợi sẽ không phải nhỏ, và còn hơn châu báu ở trần gian này rất nhiều…”.
Như một quả bóng xì hơi, Tấn Bình công ngồi phịch xuống ngai vàng, khóc dở mếu dở. Bởi những điều vị tướng của nước Tề là Điền Bằng vừa nói, thật không có thể bắt bẻ vào đâu được, ngẫm nghĩ mỗi lời nói của ông, câu nào cũng rất ý nhị, câu nào cũng mang hình ảnh bóng gió – một nước lớn ở phương đông, lính mạnh ngựa khoẻ, đồng ruộng phì nhiêu muôn dặm, sản vật dồi dào, lắm muối nhiều cá, rồi nam có Thái Sơn bền vững, bắc có Bột Hải hiểm trở, tây có Hoàng Hà chắn ngang; rồi Tề Hoàn công ngày xưa chín lần hợp chư hầu, không phải động đến binh xa, mà sắp xếp lại được thiên hạ, trở thành nước bá chủ đầu tiên vùng Hoa Hạ… Những điều hắn nói ra đây bảo rằng là khuyên răn, sao không bảo là đe doạ, là cảnh báo nhau…
Những lời lẽ ấy của Điền Bằng quả là có sức rung động, làm cho Tấn bình công định nổi nóng thì không dám, không nổi nóng thì không chịu nổi, tiến thoái lưỡng nan, thật là thảm hại!
Chư hầu bảy nước đều đang ngầm chúc mừng thắng lợi, Điền Bằng đã giúp cho họ hả giận, đúng là uốn dẻo ba tấc lưỡi, thắng cả triệu binh hùng.
Cũng như chiến thắng ở xa trường, Điền Bằng thừa thắng xông lên truy kích, nói:
– Trời có khi râm, khi nắng, có ngày lại có đêm, trăng có khi tròn khi khuyết, một năm có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông lần lượt đổi thay. Muôn vật trên đời này, có sinh ra, thì có chết đi. Ngay như mãnh hổ là ông vua trong muôn loài thú, khi xưa từng hay hung hăng tàn bạo biết bao, vậy như khi đã già rụng hết răng, thì chỉ một con chó săn cũng có thể kết liễu được đời nó. Những đạo lý nghe mãi quen tai này lẽ nào lại không. đáng để cho những bậc quân vương, những ai muốn xưng bá xưng hùng phải để tâm nghiền ngẫm?…
Tấn Bình công thẹn đỏ cả mặt, cúi gằm mặt xuống, quần thần văn võ trong triều cũng như cỏ mùa thu gặp sương muối, héo queo đi…
Không khí trong đại sảnh từ căng thẳng đến im lặng, từ mừng vui đến sống động hẳn lên. Chư hầu bảy nước và đám tuỳ tùng của họ, chỉ muốn la to lên để ra oai, nhưng ngặt vì lễ phép ngoại giao, buộc phải nén tình cảm của mình lại, cho nên sảnh đường bỗng như thầm reo lên khúc nhạc tươi vui như mùa xuân.
Bị vui lây trong không khí đó, Điền Bằng bỗng trở nên sôi nổi, hăng say thêm, ông đã khảng khái bày tỏ rằng:
– Mặt trời rừng rực, mặt trăng dịu dàng, muôn sao lấp lánh… tất cả đều toả sáng, trong sạch và lớn lao. Tuy nhiên, thoát khỏi sự nâng đỡ của bầu trời, thì sẽ lần lượt theo nhau mà rơi xuống, tan tành ra từng mảnh…
Tiếp đó, Điền Bằng lại kể cho Tấn Bình công nghe hai câu chuyện ngắn gọn để nói rõ cốt lõi những điều mình nói ra: “Đắc đạo được nhiều người giúp; thất đạo thì ít người giúp. Làm lắm điều bất nghĩa, tất sẽ tự giết mình”.
Có một nhà quý tộc họ Trương tên là Thanh Càn, trong nhà không thiếu gì tiền cả, trong tay cũng phải phải có ít quyền hành, trong xã hội lại có thế lực, bởi thế nên hắn ỷ thế chẳng sợ gì ai, hoành hành ngang ngược trong thôn xóm, hà hiếp dân chúng, đánh đàn ông, cướp đàn bà con gái, muốn sao được vậy, khiến dân chúng căm ghét đến bầm gan tím ruột. Một hôm, trang viên của Trương Thanh Càn bị cháy, khói đen cuồn cuộn, ngọn lửa ngút trời cao, chỉ dựa nguyên vào mấy tên gia đinh kêu rát cổ, gõ vỡ cả thanh la, dân chúng bến bên vẫn khoanh tay đứng nhìn. Mà đâu chỉ có khoanh tay đứng nhìn mà thôi, họ còn sung sướng khi thấy người khác mắc hoạ, còn vỗ tay khen hay, khi thấy một trang viên lớn lao như thế biến thành tro bụi, gia sản hàng vạn quan bỗng nằm trong biển lửa mênh mông.
Có một viên huyện lệnh, yêu dân như con, một lòng một dạ nghĩ cho dân, hết lòng phục vụ nhân dân, tất cả đều vì lợi ích của dân chúng, dù có phải vào nơi rừng gươm biển lửa, cũng vẫn vui lòng làm. Một năm, vào giữa mùa hè, mưa như trút nước, nước lũ từ trên núi mang cả đất đá cuốn theo, cuốn chảy như thác. Xem chừng nhà của huyện lệnh sắp bị nước lũ cuốn trôi, nên hàng chục người dân đã xả thân quên chết, xông lên phía trước, cứu được mẹ già tám mươi tuổi cùng vợ con cháu chắt của ông.
So sánh hai câu chuyện này, ăn ở với mọi người thế nào, xử thế ra sao, làm quan thế nào, nắm quyền và dùng quyền như thế nào, chẳng đã trong như nước sáng như gương đó sao?
Điền Bằng nói đĩnh đạc mà trơn tru, vừa thấu tình, vừa đạt lý, những lời lẽ đó chẳng những chỉ là nói cho Tấn bình công nghe, mà cũng là nói để cho Tề Cảnh công và bảy nước chư hầu khác nghe. Tấn Bình công hầu như đã bị những lời nói của Điền Bằng tác động, lắng nghe rất thích thú. Triệu Vũ thì không thể đợi lâu hơn được nữa, mấy lần định cắt ngang câu chuyện, nhưng rốt cuộc chẳng có dịp nào để xía ngang vào, bởi vì lời lẽ của Điền Bằng như dòng thác từ trên cao lao xuống như bay. Hắn cuống lên, bồn chồn, dậm chân đấm ngực, rồi lại đưa tay nắm lấy đốc kiếm. Hắn vốn biết chúa công của mình vốn dễ bùi tai, rất sợ rằng sẽ bị Điền Bằng của nước Tề thạo đường ăn nói thuyết phục mất. Tất cả những điều đó, Điền Bằng đều nhìn nhận thấy hết, nhưng lại lờ đi làm như không biết, cho mãi tới lúc cuối cùng câu chuyện của mình, mới nói:
– Triệu tướng quốc sao phải bồn chồn không yên như thế? Phía sau kia đã chẳng có lính phục sẵn đó sao, lẽ ra phải hành động từ lâu rồi chứ…
Đòn này quả thật là hết sức bất ngờ với Triệu Vũ, nên hắn không kịp phản ứng, mà chỉ giương to đôi mắt như một phản xạ có điều kiện, đặt tay vào đốc kiếm, bước lên nói:
– Mi…
Điền Bằng đặt tay vào đốc kiếm, bước lên nói:
– Thế nào? Triệu tướng quân muốn thử sức một chút hay sao? Có điều chắc hẳn tướng quốc đã rõ trong lòng, nếu thực sự thử sức với nhau, thì ông còn lâu mới xứng là địch thủ của tôi, tôi sẽ lấy đầu vua tôi các người để tạ thiên hạ…
Cả sảnh đường tuốt kiếm giương cung, không khí căng thẳng đến mức sắp có thể bùng nổ.
Tấn Bình công run lẩy bẩy nói:
– Tướng quốc không được vô lễ, đãi khách sao có thể bất nghĩa…
Triệu Vũ lùi ra sau mấy bước, Điền Bằng nói:
– Triệu tướng quốc sao chẳng nghĩ coi, xưa nay việc văn cũng phải đề phòng bằng võ chứ, trước một quốc gia như hổ như sói, lẽ nào cả tám nước chúng tôi mang thịt cho hổ đói mà lại không đề phòng hay sao?…
Tấn Bình công tự đánh trống lấp nói:
– Các nước với nhau, phải hoà thuận với nhau mới phải, chớ có gặp nhau bằng binh đao thế này.
Điền Bằng khí thế hiên ngang nói:
– Xin đại vương và Triệu tướng quốc chớ nên quên, nước Tề là nước lớn ở phía đông, những người con của nước Tề đều là dòng dõi của Hoàn Công, Quản Trọng, sao có thể chịu lép vế với người khác?…
Điền Bằng nói xong, ngửa mặt cà cười, khí thế ngút trời xanh.
Buổi triều cống thế là kết thúc chẳng lấy gì làm vui vẻ Lúc sắp ra đi, Điền Bằng e rằng nước Tấn cho quân mai phục ở nơi quan ải, nên đã đề xuất với Tấn Bình công, để đề phòng bọn lục lâm cướp đường làm xấu cả nước Tấn hùng mạnh, nên xin Triệu tướng quốc dẫn đường cho đông đảo chư hầu chúng tôi an toàn qua khỏi những nơi quan ải. Tấn Bình công đã vui vẻ nhận lời.
Nước Tấn phần lớn là đường núi, dọc đường quân Tấn mai phục bốn phía. Tuy nhiên, có Triệu tướng quốc dẫn đường, nên dọc đường cũng thông đồng bén giọt. Tính mạng của Triệu Vũ cũng nằm trong tay các chư hầu, quân Tấn làm sao mà dám hành động khinh xuất được?
Cũng đúng vào lúc ấy, Điền Thư, cha của Điền Bằng đang thống soái quân Tề đánh nhau ở Hiệp Cốc, đánh cho quân Lỗ cả người lẫn ngựa thua liểng xiểng.
Đêm đã khuya, trong nhà Điền phủ ở Điền Ban, thái y Công Tôn Hồi Xuân đang đỡ đẻ cho bà trẻ họ nhà Điền là Phạm Ngọc Lan, không biết xoay xở bao nhiêu lâu rồi, xương chậu của Ngọc Lan như được nới lỏng, một nàng hầu nhanh mắt đã reo lên:
– Lạy trời lạy Phật! Thế là đẻ được rồi!…
Mọi người có mặt nghe thấy reo thế đều xúm nhau lại nhưng đó lại mới chỉ là cái đầu gối tròn xoe. Tuy nhiên, nói ra thì đây là là một điềm lành, đứa trẻ quý mà ra như thế, là tượng trưng cho chữ “quý” tức ]à quý tử, sản phụ nếu nhịn được đau, phối hợp nhịp nhàng với thầy thuốc, cố sức mà rặn ra, thì cũng vẫn đẻ được ra. Thế nhưng Phạm Ngọc Lan lúc này làm gì còn sức mà phối hợp, nằm thẳng đờ ra đấy, không còn cả sức để vật vã kêu rên như lúc đầu nữa. Thái y Công Tôn luống cuống cả chân tay, trán cũng toát mồ hôi, nổ cả đom đóm mắt ra, hai tay run rẩy, chúi đầu xuống đất… Đúng vào lúc đó, ngoài sân có tiếng hỏi:
– Thế nào? Sinh rồi chứ, cả mẹ cả con đều bình an chứ? Mau tránh ra, để ta vào xem nào!…
Trong khi còn đang nói, còn chưa kịp bẩm báo vào trong, một người đàn bà trông hệt như Dạ Xoa bước vào…
❀ ❀ ❀
[1] Một số dân tộc ít người mặc áo khép tà sang trái; người Trung Quốc vùng Trung Nguyên thì mặc áo khép tà sang bên phải. Cho nên thời đó dùng hình ảnh mặc áo trái tà để chỉ việc bị người tộc khác thống tri. (Từ Hải trang 175).
[2] Hơi lệch về hướng đông bắc của thôn Đoạn Hà, thị trấn Đạo Trang, huyện Quảng Nhiêu, tỉnh Sơn Đông bây giờ.