Tôn Tử Truyện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 46 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Xx Tôn Vũ Lệnh Rút Quân – Phong Hồ Khoe Gươm Báu
Chương Xx Tôn Vũ Lệnh Rút Quân – Phong Hồ Khoe Gươm Báu

❊ ❊ ❊

Lại nói quân Sở vừa rút đi, Tôn Tử liền sai Ngũ Tử Tư và Bá Bỉ mang một cánh quân nữa của một phần ba số quân thẳng tiến về tây bắc vây kín thành Dưỡng ấp đến sẻ chui không lọt, kín như một cái thùng, quyết tâm diệt bằng được bọn phản thần tàn ác của nước Ngô là Yểm Dư và Chúc Dung.

Yểm Dư đóng thành cố thủ, không chịu ra ứng chiến. Chúc Dung thì trong lòng đang bừng cháy một ngọn lửa dã tâm là mong có ngày giành lại nước Ngộ, liền cự lại:

– Sở vương trao Dưỡng Thành cho hai anh em ta chống giữ, là muốn giúp ta đắc thắng mà phục quốc, nắm lấy triều đình nước Ngô, giờ cứ cố thủ trong đồn mãi như thế này, bao giờ mới thực hiện được lý tưởng?

Yểm Dư vẫn thản nhiên như không, kiên nhẫn giải thích:

– Ta chỉ có ba vạn quân, sao thắng nổi người ta đông tới năm vạn? Hơn nữa quân Ngô có Ngũ Tử Tư làm tướng, ta khó mà ra đánh để hòng thắng lợi. Đối phó bằng cách đào hào thêm cho sâu, lấy đất đào được đắp thành đê cao, đề phòng quân địch xâm lấn. Thời gian càng kéo dài, quân địch sẽ khó khăn về cung cấp hậu cần, tự nhiên rồi sẽ tan vỡ.

Vốn tính nóng nảy, Chúc Dung không thể chấp nhận được cái chiến thuật lề mề chậm chạp ấy, nói:

– Anh làm gì mà phải sợ Ngũ Tử Tư như cọp thế, nhút nhát như thế, thì còn đánh chác cái gì? Mục đích của tôi không phải chỉ có giữ Dưỡng Thành, mà là phải tiêu diệt Ngũ Tử Tư, giành quyền lớn của nước Ngô, việc này sao có thể quên đi trong chốc lát được kia chứ?…

Yểm Dư quở lại:

– Kẻ bất lực chỉ biết dựa vào sự gan dạ làm liều, như thế tất sẽ thất bại, chi bằng hãy cố thủ, đem láy trứng chọi với đá sao có thể gọi là co lại để rồi duỗi ra.

Ý kiến của Chúc Dung cũng muốn nghe theo anh mình, nhưng nghe thấy những lời như “làm liều”, “lấy trứng chọi với đá” vv… cảm thấy chối tai và tỏ ra rất khó chịu, bực dọc đáp:

– Tôi không làm liều, mà chỉ có điều không muốn làm hạng người đê hèn bất lực nhát gan như thỏ đế mà thôi!

Đúng lúc ấy, tướng quân Ngô ở ngoài thành đòi ra đánh, lời lẽ mắng nhiếc như rót vào tai, nào là mắng Yểm Dư và Chúc Dung đường đường là tôn thất chính thống của nhà Ngô, mà lại cam tâm phản quốc chạy theo địch, làm tay sai cho nước Sở, hai là mắng bọn phản thần như mù như điếc, không biết đâu là đại nghĩa, gọi giặc bằng cha, đem quân ra nhằm về tổ quốc mà không biết được âm mưu quỷ kế của Sở vương, nó cho các người đóng giữ ở thành Dưỡng ấp chẳng qua là lợi dụng các người làm tấm mộc chắn tên của quân Ngô mà thôi, ba là mắng bọn phản thần ti tiện, đã có gan chống lại tổ quốc, thì hãy đàng hoàng ra khỏi thành mà nghênh chiến, làm gì phải co dúm lại không dám ló mặt ra nhìn mọi người thế? Nhất là tên Chúc Dung kia kìa, xưa nay vốn nổi tiếng trên đời là anh dũng, lại hào hiệp phóng khoáng, tại sao hôm nay lại rụt rè e thẹn như đàn bà con gái thế, hay cũng giống như thăng anh, nhát như thỏ đế mất rồi…

Chúc Dung không thể nghe thêm câu nào nữa, nổi nóng đùng đùng, tức giận như muốn nổ phổi ra, lớn tiếng gầm lên, bất chấp cả sự ngăn cản của anh mình là Yểm Dư, tập trung ngay một số binh lính ở cửa đông, hét lên một tiếng, xông ra như nước lũ xô vỡ bờ đê, nhào ra ngoài cổng thành, chạy thẳng tới chỗ Ngũ Tử Tư và lại gầm lên những tiếng như tiếng sấm:

– Bọn cho má chúng mày! Đừng có khinh người quá thế, hãy xem đây!… – Câu nói vừa dứt, ào ào xông lên phía trước vung tay đánh chém…

Ngũ Tử Tư cũng chỉ trông chờ có thế, ông chẳng nói chẳng rằng, ung dung cho xe ra đón đánh; hai bên giáp ngựa vào nhau, quấn quít xoay vòng tròn, chỉ trong nháy mắt, cát bụi tung mờ mịt, đao kiếm vung lên, ánh sáng chói loà, trong đám bụi đất mịt mờ vang ra tiếng đao kiếm va nhau xoang xoảng, thấu tận mây xanh, đúng là một trận kịch chiến như rồng tranh hổ đấu, chẳng bên nào chịu bên nào, giờ lâu vẫn chưa phân thắng bại. Quân sĩ hai bên cũng bất giác bị cuốn vào một trận hỗn chiến. Không biết hai bên quần nhau như thế bao lâu, Ngũ Tử Tư chợt phá ra một lối đi, thúc ngựa quay xe bỏ chạy. Chúc Dung không biết đó là mưu kế, liền đuổi sát ngay phía sau, không chịu buông rời, như thú dữ đuổi mồi, không rời nửa bước, quân lính hai bên cũng ào ào đuổi theo như nước lũ. Như thế, một bên chạy, một bên đuổi, đến một nơi cách chừng hai chục dặm, bỗng có một cánh quân núp trong bờ bụi xông ra vây chặt lấy quân địch. Cùng lúc ấy, Ngũ Tử Tư cũng quay ngựa lại hợp sức, để lấy đầu Chúc Dung. Còn bản thân Chúc Dung thì chỉ biết đuổi thục mạng, những mong chém được đầu Ngũ Tử Tư để báo công với vua Sở mà xin thưởng, trả lời cho ông anh Yểm Dư nhút nhát và hay nhiễu sự của mình, nhưng không ngờ rằng Ngũ Tử Tư lại hành động như thế này, hắn còn chưa kịp định thần, thì cái đầu của hắn đã lìa khỏi cổ lăn lông lốc ra ngoài xe, chủ tướng đã tử trận rồi, lính tráng bỗng hoảng loạn, quay xe chạy trốn, trong chớp mắt, đội hình tan vỡ lung tung, hơn nữa đường về đã bị cắt đứt, quân Ngô trước sau hai phía giáp công, hơn một vạn tên lính tráng của Chúc Dung, hoặc thành oan hồn, hoặc quỳ gối đầu hàng, toàn quân tan vỡ hết. Đến lúc Ngữ Tử Tư kéo quân đến tận chân thành Dưỡng ấp, đã thấy Bá Bỉ mang quân vây chặt thành từ lâu, khiến cho trong thành và ngoài thành mất hết tất cả mọi mối liên hệ qua lại.

Yểm Dư vốn định cố thủ ở thành trì, thời gian càng kéo càng lâu, quân địch cung cấp khó khăn, lúc đó sẽ tự nhiên tan vỡ, kết quả chính mình lại bị vậy chặt đến nới nỗi không còn hạt gạo, bếp không còn củi, ngựa chẳng còn cỏ, lòng quân lo âu thấp thỏm, dân chúng oán than đầy đường, dần dần đến mức chẳng đánh mà tan.

Yểm Dư tuy rằng ngay từ lúc còn bé đã đọc làu các loại binh thư, nhưng hắn chỉ biết đọc một cách máy móc giáo điều không hề biết vận dụng linh hoạt. Hai anh em hắn, đến ba vạn binh mã, hấp tấp từ Sính Đô đến đồn trú trại thành Dưỡng ấp, còn chưa kịp chuẩn bị gì cho chiến đấu, đã gặp ngay những ngày mưa liên miên, nước lũ dâng tràn khắp nơi. Trong thành lúc ấy lương thực thiếu đến thảm hại, thêm nữa quân lính của hắn lại là người nước khác, vừa chân ướt chân ráo đến đây, lòng dân lại luôn nghi ngại đề phòng, với quân đội như dầu trên mặt nước, chẳng có gì gắn bó với nhau, bởi vậy mà trừ bị lương thực là việc cực khó. Giữa năm lụt lội cứ cho rằng lương thực của dân chúng trong thành có đem hết ra cho quân lính đồn trú ở đây, thì cũng chẳng duy trì được bao lâu. Cũng may mà Chúc Dung đã dẫn hơn vạn quân ra ngoài thành ứng chiến, đã bị tiêu diệt hết, trong thành chỉ còn lại chưa đầy hai vạn quân, nên mới cầm cự thêm được vài hôm nữa.

Tình hình của quan Ngô lại hoàn toàn khác hẳn, qua gần một năm trời tiếp xúc qua lại với nhau, quân Ngô và dân nước Từ đã kết nên mối tình thân cá nước. Cá đã được vẫy vùng trong nước, thì còn lo gì chết đói? Dân nước Từ lại đã coi quân Ngô như người thân, như những vị cứu tinh, tuy phải năm lụt lội mất mùa, bản thân bà con cũng còn chưa no đủ, nhưng vẫn cam chịu nhịn đói nhịn khát, chắt bóp giành lương thực ra để chi viện quân Ngô. Đương nhiên, Tôn Tử và Ngũ Tử Tư đã đi xem xét dân tình, biết được nỗi khốn khổ của dân, đánh trận nào cũng cố sao cho nhanh chóng, hết sức tránh tăng thêm gánh nặng cho dân.

Trong thời gian vây thành, Ngũ Tử Tư còn sai người đêm đêm gọi vào bên trong: “Hỡi anh em binh lính của Yểm Dư! Các anh buộc phải xa rời quê hương và người thân, đến tham chiến ở nơi đất khách quê người, lẽ nào anh em lại không nhớ đến cha mẹ vợ con mình? Họ đang từng ngày từng giờ mong đợi các anh em sớm trở về sum họp. Anh em hãy mau mau hạ khí giới, cùng chúng tôi quay về Tổ quốc đi thôi…”

Ngũ Tử Tư còn động viên các hàng tướng của Chúc Dung nhắn các đồng sự và bạn bè của mình ở trong thành, tuyên truyền rằng bản thân mình sau khi được nhận đầu hàng, đã được quân Ngô ưu đãi thế nào, mong mỏi rằng những anh em đang khổ sở trong thành nhanh chóng tỉnh ngộ, cải tà quy chính…

Lúc ấy ở trong thành đang đói khát không chịu nổi, quan với quân tàn sát lẫn nhau, nghe thấy tiếng gọi từ bên ngoài, các tướng sĩ trong thành thảy đều rơi lệ, hoặc nức nở không thành tiếng, những nỗi thương tâm đau khổ ấy, phút chốc bỗng trở thành niềm hận thù đối với Yểm Dư, thế là trong thành luôn luôn xảy ra sự xáo động, nảy sinh những cuộc binh biến nhỏ, hoặc có khi lại xảy ra đánh nhau tranh giành miếng ăn hoặc xông vào cướp bóc ở kho lương thực hay nhà ăn của binh lính.

Tiếp tục vây hãm, tiếp tục kêu gọi, trong thành rối lên như một tổ ong vỡ, như một nồi canh hẹ. Yểm Dư càng ra công trấn áp, sự nổi dậy của quân lính và dân chúng càng dữ đội, cả cái thành Dương ấp bỗng trở nên một cái nhọt thối rữa. Cuối cùng, tới đêm khuya ngày vây hãm thứ mười bốn, cái nhọt bọc ấy đã phải vỡ ra, có một viên hiệu uý tên là Tinh Ngô đã bắt được Yểm Dư, cắt lấy đầu hắn, buộc lên đầu một cây sào tre, bêu cao lên dẫn đầu mọi người đứng lên khởi nghĩa. Như thế là chẳng phải mất một mũi tên một nhát dao nào, không xây xát một người lính nào, quân Ngô đã chiếm cứ được thành Dưỡng ấp.

Diệt phản thần, trừ gian ác, cuộc chiến đấu đã hoàn toàn thắng lợi, thu được hơn hai vạn quân sĩ quy thuận và một số lớn khí giới, trang bị và tiền của vốn có của anh em Yểm Dư, giành được chiến công lớn hơn nhiều so với dự định. Ngũ Tử Tư ngửa mặt lên trời cả cười, ông mừng không thể cầm lòng, cho nên một con người ngoài ba mươi tuổi bỗng mừng rỡ khoa chân múa tay như một đứa trẻ con. Đúng vậy, chờ đợi đến lúc này vừa đúng chín năm… Chín năm trời trong dòng đời của lịch sử loài người, chỉ là chín giọt nhỏ nhoi, tuy nhiên từng bước đường đi của một đời người, lại thấy sao mà dài dằng dặc thế! Mà chín năm đó hầu như Ngũ Tử Tư đều trằn trọc trên đao kiếm, nếm đủ mùi cay đắng ở trần gian, chịu đủ nỗi dày vò của cuộc đời, đạp chông gai, qua ghềnh thác, nhích lên phía trước từng li từng tí một, chờ đợi mong ngóng từng giờ từng khắc một, cho đến lúc này coi như đã sắp được toại nguyện, sắp sửa đến lúc được hả hê, làm sao chẳng khiến ông vui mừng như điên như dại?…

Ngũ Tử Tư lập tức thảo một bức thư, sai người cưỡi ngựa phi báo về Chung Ly, để Tôn nguyên soái biết tin mừng thắng trận, và thỉnh thị nhiệm vụ chiến đấu của bước tiếp theo. Ông muốn thừa thắng tiến đánh tiếp, để đại quân tiến thẳng vào sâu trong lòng quân Sở. Ông nghĩ rằng Tôn Tử nhất định sẽ phê duyệt điều thỉnh thị ấy của mình, bởi vì chính như Tôn Tử đã nói, nước Sở hùng mạnh nhưng cũng như con chim ưng dang cánh bay trên trời cao, nó có bộ lông đầy đủ và đôi cánh mạnh mẽ, đôi mắt tinh tường và cặp mỏ sắc nhọn, nên mới có thể săn bắt được chim sẻ và thỏ rừng… Nhưng nước Sở bây giờ, bọn xấu xa còn rơi rớt lại đã bị trừ khử, Chung Ngô và nước Từ đã thuộc nước Ngô, cánh chim ưng đã bị chặt đứt, đánh nước Sở chẳng còn gì phải lo ngại về sau. Trong những ngày chờ đợi sự trả lời, Ngũ Tử Tư ra sức ăn no uống đủ, dinh dưỡng tinh thần, mài sắc ý chí, để được mang sức ra chinh chiến một phen nơi sa trường. Thế nhưng chiến mã phóng như bay từ Chung Ly về, lại mang tới một chậu nước lạnh, chậu nước ấy đã dội vào Ngũ Tử Tư từ đầu đến gót, dập tắt luôn ngọn lửa vốn đang bừng cháy trong lòng ông. Tín sứ từ Chung Ly đã mang về mệnh lệnh của Tôn nguyên soái truyền cho Ngũ Tử Tư: “Dân chúng đang mệt mỏi, chưa thể đánh Sở toàn diện được, hãy đợi đấy. Lập tức kéo quân về, không được chậm trễ”.

Bản thân lệnh ấy đã gieo trong lòng Ngũ Tử Tư một cục băng, ông không hiểu nổi, giữa lúc này, tại sao Tôn Tử lại có thể ra một mệnh lệnh như thế, “hãy đợi đấy” thì đợi đến bao giờ, chẳng lẽ đợi đến lúc độn thổ thăng thiên?… Với mưu trí của Tôn Tử cũng như mười ba bài “binh pháp” của ông, Ngũ Tử Tư khâm phục đến sát đất, nhưng qua một thời kỳ chung sống và cộng sự ngắn ngủi với ông, Ngũ Tử Tư lại có thành kiến về đường ăn nhẽ ở của Tôn Tử, thậm chí còn tỏ ra hậm hực không vui. Ông không hiểu chính sách “ngu binh” của Tôn Tử tại sao lại làm ngu cả đầu mình, cần phải biết rằng, mình không phải là một tên lính, mà là một viên tướng, một chủ tướng của lần đánh phản thần chặt vây cánh này, mỗi sách lược dùng binh. đều do tướng soái cùng bàn bạc quyết định, chí ít thì trước khi xảy ra một hành động quân sự đều để cho mình được biết sao phải làm như thế, vậy mà lúc này, ta lại bỗng trở thành một vật chỉ biết nghe theo, một kẻ chỉ biết làm theo lệnh, đủ thấy rằng dưới con mắt của Tôn Tử lúc này, mình không còn là chủ tướng nữa, cũng có thể ông ta sợ mình học được cái tài cái giỏi của ông ta, hay sợ mình tiết lộ hết những điều cơ mật quân sự, cho nên đã giấu cả tôn chỉ mục đích, chỉ gọn lỏn bắt mình lập tức kéo quân về, không được chậm trễ… Cứ thế, Ngũ Tử Tư càng nghĩ càng bế tắc, càng nghĩ càng bực mình, chỉ những muốn tìm ngay Tôn Tử mà cãi nhau một trận cho hả. Tuy nhiên; dù sao đi nữa thì Ngũ Tử Tư vẫn là một lão tướng từng dày dạn sương gió nơi sa trường, nên cuối cùng đã nuốt sâu nỗi tức giận vào trong bụng, vùi sâu nó xuống tận đáy lòng, vì nghĩ đến việc lớn lao là đi đánh nước Sở, nên đã khéo léo nhún nhường vì mục đích cao cả ấy, phối hợp chặt chẽ với Tôn Tử. Ông đã cố gắng hết sức tự nhủ mình, bất kể trong lòng mình thế nào đi nữa, nếu không được quên một lời dạy truyền thống là “quân lệnh như sơn”, không được quên thiên chức của một người lính là “phục tùng”. Ngũ Tử Tư cuối cùng đã khác với người tầm thường, ông cân nhắc vấn đề không thẳng tuột như đuổi lợn trong ngõ cụt, mà thường luôn luôn uyển chuyển quanh co. Ông cũng từng nghĩ đến một việc là, sở dĩ Tôn Tử chịu hạ sơn, giúp Ngô đánh Sở, một phần lớn là do cảm thông và thuơng xót mình, để mình báo được hận nước thù nhà. Với một nhà quân sự lớn lao và sáng suốt như Tôn Tử, tấm lòng quyết không bao giờ hẹp hời nhỏ mọn như thế, sở dĩ ông làm như thế, tất có những lý lẽ mà một người tầm thường, khó thế đoán biết được, mình chớ nên lấy bụng dạ tiểu nhân để so bì với tấm lòng của người quân tử. Thế là càng nghĩ ông càng thấy thoáng đãng, càng nghĩ càng thấy sáng sủa. Con người, vốn dĩ là một thể mâu thuẫn như thế đó, nó chẳng có một giờ một khắc nào lại chẳng chứa đầy mối mâu thuẫn của tự thân nó.

Phủ nguyên soái ở Cô Tồ, trong cửa ngoài cửa được bố phòng canh gác dày đặc, vòng trong vòng ngoài chặt chẽ thâm nghiêm, không cho phép bất kể ai tự ý đi lại ra vào. Ở trong phủ, Tôn Tử và Diêm Hoài Viễn đang ngồi đối mặt nhau uống rượu, sơn hào hải vị rượu ngon của lạ, chẳng thiếu thứ gì. Tôn Tử nâng chén, luôn tay rót rượu cho Diêm Hoài Viễn rồi hai tay bưng lên đưa tận tay mời hết chén này chén khác. Lúc đầu, Diêm Hoài Viễn tỏ ra hết sức dè chừng, áy náy không yên, hết sức thận trọng, không chịu uống nhiều, cho đến khi rượu nóng đã ngấm vào mấy chén, bỗng trở nên bạo dạn mạnh mẽ, thậm chí đến chuyện sống chết thế nào cũng bỏ mặc không thèm chấp; đến mức Tôn Tử đã mời là uống, không mời cũng giành lấy mà uống, muốn uống say mới thôi, để mặc cho Tôn Vũ xử trí, dù cho có trăm đao ngàn búa, cũng chẳng sợ gì. Thấy Tôn Vũ xem ra cũng chẳng hề có ý gì độc ác xấu xa, mà đối xử rất lễ độ, cư xử như một người bạn, cung kính như một bậc bề trên, ngoài việc tận tay mời rượu, còn liên tục gắp những món ngon món lạ tiếp vào bát của mình, cứ như sợ rằng mình ăn không đủ, uống không say. Trái tim con người suy cho cùng ai cũng bằng máu thịt, trời nóng khắc sẽ làm tan tuyết, tan băng… dần dần trái tim của Diêm Hoài Viễn cũng như tảng băng tan ra dưới sức nóng, ý nghĩ đối địch. cũng dần dần tiêu tan, và tấm lòng của ông ta đã dần dần ngả theo Tôn Tử, chẳng những đã chịu nghe những điều Tôn Tử nói ra, mà còn ôn tồn trả lời, những vấn đề Tôn Tử nêu ra, những chỗ nào ý kiến bất đồng, thậm chí còn có lời tranh cãi. Tôn Tử đã nói với Diêm Hoài Viễn về hình thế thiên hạ chư hầu phân tranh, nói về sự ngu độn và vô đạo của Sở Bình vương, về mối thâm thù nợ máu của hai nhà Ngũ Tử Tư và Bá Bỉ, so sánh sự sáng suốt và ngu độn giữa Hạp Lư và Chiêu vương, nói về quyết tâm đánh Sở của nước Ngô cũng như nguy cơ đang đe doạ nước Sở, đặc biệt là đã phân tích cặn kẽ về hoàn cảnh khó xử và éo le của Diêm Hoài Viễn lúc này: Nào là Tiềm ấp mà ông ta đang trấn giữ lúc này là một toà thành không chịu nổi một trận tấn công của quân Ngô, chẳng cần đánh cũng tan như thế. Mất thành thực ra lại chỉ là chuyện nhỏ, bị cháy hàng ngàn thạch lương thực mới là tội chết không tha, cứ cho rằng với với sự có mặt của Chân Mai phi Chiêu vương có thể xá cho ông tội chết, thì Tử Tây, Nang Ngoã và đám quần thần nước Sở cũng chẳng buông tha ông. Kỳ thực thì Chiêu vương cũng sẽ chẳng khoan dung, từ xưa đến nay, ông vua quái nào mà chẳng sớm nắng chiều mưa, có mới nới cũ? Giết Diêm Hoài Viễn, phế Chân Mai cơ đi, cũng thừa sức đi tìm lạc thú mới, chứ đời nào lại chỉ vì một chút nhan sắc của người con gái mà xa lánh quân thần, để mất cả giang sơn? Sau khi nói một thôi một hồi như vậy, sau cùng Tôn Tử bảo:

– Tôi có thể để ông đi khỏi nơi này, nhưng Diêm tướng quân thì khó tránh khỏi phải tử tội.

Diêm Hoài Viễn vốn dĩ là con người nhát gan, lại chẳng có đầu óc chi cả, khó chịu đựng được những khốn khó của nghịch cảnh, thêm vào đó, sự rộng lượng và ôn tồn của Tôn Tử hôm nay, khiến cho ông ta thấy rằng Tôn Tử nói ra câu nào cũng đúng, tự nghĩ lại thấy mình chỉ có chết mà không còn đường sống. Nghĩ đến chuyện bi trị tội, tức là nghĩ đến chết, trái tim vừa như được nới lỏng ra một chút bỗng bị bóp nghẹn ngay lại. Chết quả là đáng sợ, đó là điều không may, là tai hoạ lớn nhất trên đời. Người ta thường nói, thác trong cũng chẳng bằng sống đục, miễn là cứ còn được ở trên đời sống thế quái nào cũng được, kể cả làm một con chó vẫy đuôi nịnh chủ mà kiếm ăn. Quan niệm sống với chết của Diêm Hoài Viễn là như thế đấy, hoá cho nên ông ta đã nghe ra những ẩn ý trong lời nói của Tôn Tử, vội làm ra vẻ hết sức thiểu não khẩn khoản xin với Tôn Tử:

– Không biết Tôn Tử nguyên soái có cách gì cứu được tính mạng cho bại tướng không?…

Tôn Tử mỉm cười, chưa trả lời ngay vào lời van nài của Diêm Hoài Viễn, mà lại sai người mang ra một chiếc mâm đồng rất đẹp, đặt trên mặt án thư, trong mâm toàn là bạc vàng châu báu ánh lên ngời ngời, lấp loá đến chói mắt. Tôn Tử chỉ vào những thứ châu báu trên mâm nói:

– Nếu Diêm tướng quân có thể làm theo ý muốn của bản soái, thì bản soái không những có thể đảm bảo tướng quân không phải lo nghĩ gì cho tính mạng, mà vẫn được vinh hoa phú quý như thường, những thứ châu báu vàng bạc này của bản soái, cũng coi như là để trả công và làm quà tặng cho tướng quân, đương nhiên, đây chỉ là chút quà vặt trong ngày đầu gặp nhau thôi, nếu tướng quân có thể phối hợp thật nhịp nhàng được với bản soái, về sau sẽ được trả công nhiều hơn và mãi mãi không ngừng! Chẳng hiểu tôn ý của tướng quân thế nào?

Diêm Hoài Viễn quả đến mức không dám nhìn thẳng vào sự thực trước mắt và cũng không dám tin cả lỗ tai mình. Mình tuy là quốc trượng của nước Sở, vậy mà những thứ châu báu quý giá ở trên mâm kia, cũng mới chỉ nghe nói đến, chứ chưa nhìn thấy bao giờ, đến nay có thể nói mới có dịp mở rộng được tầm mắt, nhìn cho chê cho chán. Rồi ông lại nghĩ, Tôn Vũ định dùng mình làm gì, mà lại chịu bỏ ra cái giá lớn lao như thế này? Phải chăng là muốn mình giúp Ngô đánh Sở, để hoàn thành sự nghiệp lớn lao của ông ta? Đại trượng phu sống ở trên đời, bốn biển là nhà, hà tất lại chỉ câu nệ có một mình nước Sở? Ngay như Tôn Vũ đây vẫn là người nước Tề, thế mà nay lại giúp Ngô đánh Sở chuyện này chẳng khác gì con chim nhạn trên trời kia, mùa đông thì bay xuống phương nam, mùa hạ lại bay về phía bắc, ở đâu thấy được sống ung dung thoải mái, thì sẽ an cư lạc nghiệp sinh sống ở đấy. Ngô đánh Sở không hẳn là việc dễ, nhưng có mặt Tôn Vũ và Ngũ Tử Tư, cũng không thể nói là tuyệt đối không có khả năng, vậy thì sao ta lại chẳng thể tình, để giành cho mình một lối đi sau này, ngộ nhỡ Sở thua Ngô thắng, cũng vẫn có thể yên ổn mà sống trên đời… Cho rằng Ngô đánh Sở có phải bươu đầu mẻ trán, mà Sở vẫn chẳng hề lung lay, chỉ cần hôm nay Tôn Vũ giữ sao cho ta khỏi chết, thì chỉ cần còn trời còn nước còn non, thì chẳng phải lo gì sẽ có lúc được đền bù, ăn ở hai mang thì có gì mà không được? Muông thú còn biết đến chỗ lợi tránh chỗ hại, thì con người lại càng phải như thế chứ? Nghĩ đến đây, Diêm Hoài Viễn chẳng những thấy nhẹ nhõm, thậm chí còn thấy dễ chịu và vui mừng nữa, bởi vì đây đúng như người ta nói là “chết đuối với phải cọc”, “gặp hoạ lại được hưởng phúc”, ông ta đang mơ ước một ngày mai tốt đẹp nhờ “mắc nạn thoát chết, tất là nhờ trời”, rồi chẳng biết thế nào buột ra miệng:

– Cái đó thì…

Tôn Tử chớ đợi đã thấy có vẻ hơi sốt ruột, ông bỗng bật đứng dậy, cắt ngang lời Diêm Hoài Viễn:

– Sở là nước lớn ở phương đông, đất rộng người đông của cải nhiều vô kể, Diêm tướng quân là quốc lão của nước Sở, đương nhiên không lạ gì chút quà mọn này của một nước nhỏ thế này, chẳng thà để tôi lấy kiếm mà huỷ nó đi, rồi lập tức đưa tướng quân trở về nước Sở – Tôn Tử nói xong thuận tay rút kiếm, mắt nhằm vào đám châu báu, những đồ quý vô giá kia sẽ lập tức bị huỷ hoại trong chốc lát mất thôi!…

Diêm Hoài Viễn thấy vậy, sợ cuống cả lên, vội cúi người che lấy mâm châu báu, lắp ba lắp bắp nói:

– Thôi thì trăm sự nghe theo nguyên soái sắp đặt

Tôn Tử tra kiếm vào bao nói:

– Diêm tướng quân rốt cuộc vẫn là một bậc tuấn kiệt biết người biết của và thức thời, không đến nỗi để cho bản soái đây phải làm nên những chuyện chẳng lấy gì làm vui lòng! Ha! Ha! Ha! – Tôn Tử đã chuyển giận ra mừng, ông ngửa mặt lên cười lớn, cười thật hả hê, cười rất tự tin cười thoải mái, khiến cho Diêm Hoài Viễn bỗng trở nên lúng túng và run rẩy trong những tiếng cười ấy.

Tôn Tử vừa dứt tiếng cười Diêm Hoài Viễn cất giọng run run rụt rè hỏi:

– Chẳng hay nguyên soái dùng kế sách gì hay để cứu cho tên bại tướng này khỏi chết?…

Tôn Tử vui mừng ra mặt nói:

– Tướng quân việc gì phải hỏi đến chuyện đó, tới lúc ấy rồi sẽ hiểu thôi mà. Nào thôi, uống rượu đi, xin mời! – Tôn Từ rót cho Diêm Hoài Viên một chén rượu đầy đứng dậy, cầm chén trên tay, nói tiếp – quân tử nói lời thì giữ lấy lời, nào! Để thể hiện sự chân thành hợp tác của chúng ta, hãy cạn chén!

Diêm Hoài Viễn cũng đứng dậy, nâng chén quá đầu, chạm chén với Tôn Tử và cũng hô “cạn chén” rồi uống một hơi hết chén rượu. Trong trướng quân tràn ngập bầu không khí thông cảm chan hoà…

Đúng giữa lúc Tôn Tử và Diêm Hoài Viên đang uống rượu với nhau, Ngũ Tử Tư có việc cần phải về bẩm báo, vệ binh nói:

– Nguyên soái đã có lệnh, bất kỳ là ai, kể cả hai vị đại tướng, có chuyện gấp đến đâu, cũng không được vào, trái lệnh thì chém!

Ngũ Tử Tư bị chặn lại, lủi thủi quay về, ngồi đứng không yên, ông không rõ được rằng, Tôn Tử ở trong trướng quân làm gì, mà lại giấu cả hai viên đại tướng đang cầm quân. Càng ngày ông càng thấy Tôn Từ có cái gì đó rất khó hiểu và luôn luôn có những việc làm bí hiểm khiến người ngoài chẳng hiểu ra sao. Đang đúng lúc ấy, có viên hiệu uý đến báo, nói lõm bõm không đầu không cuối về chuyện hôm nay nguyên soái gặp mặt người nào rồi tặng quà bằng những vật châu báu quý giá ra sao. Viên hiệu uý ấy không phải ai khác, mà chính là người đã bưng chiếc mâm đồng trong trướng.

Ngũ Tử Tư nghe xong, tai ù lên một tiếng và thấy đầu mình như dãn to ra, và trời đất quanh mình bỗng quay cuồng chân đứng không vững. Không biết làm gì hơn lạnh lùng, vẫy tay cho viên hiệu uý lui ra, không quên căn dặn hắn phải giữ kín chuyện này, trái lệnh thì quân pháp sẽ không tha. Viên hiệu uý lui ra rồi, còn lại một mình, Ngũ Tử Tư hết sức trấn tĩnh lại, kìm nén tình cảm mình bằng lý trí, suy trước tính sau mãi, cũng chẳng tìm được ra lời giải đáp. Tại sao Tôn Tử lại có thể coi những cánh tay đắc lực của mình thành người xa lạ, để chén chú chén anh với kẻ vốn là thù địch với mình như thế được… Ông rút kiếm vung lên, làm cho hả niềm u uất dồn nén trong lòng, trong phòng bỗng loé lên những luồng chớp lạnh, theo sau là tiếng cắt gió vù vù, cứ y như là lúc này Tôn Tử đang ở trước mặt, đường kiếm này sẽ chém con người ấy một nhát làm đôi, cho đầu lìa khỏi cổ. Ấy thế nhưng ngày hôm sau cơm chiều xong, Tôn Tử rủ Ngũ Tử Tư đi dạo bên bờ suối, thì hai người lại thân thiết như chân tay, tình cảm còn hơn cả anh em ruột. Đêm giữa thu, mây trong trời cao, trăng thanh gió nhẹ, nước suối róc rách, vô tư côn trùng rỉ rả, thiên nhiên yên lặng và hiền hoà, dưới ánh trăng như dội, Tôn Tử và Ngũ Tử Tư một người trước một người sau thong dong thả bước. Những. lúc như thế này, Ngũ Tử Từ thường cố ý lùi lại phía sau đôi bước, không muốn sánh bước cùng Tôn Tử. Với chuyện đó, Tôn Tử thường không hay để ý nên thường cứ bước đi vài bước lại dừng chân, chờ Ngữ Tử Tư lên. kịp rồi mới lại tiếp tục đi, bởi khoảng cách một trước một sau đó, không có lợi khi nói chuyện phiếm với nhau, càng không có lợi cho sự bàn bạc công việc. Ngũ Tử Tư thì lại phải cân nhắc mãi, ông muốn qua cử chỉ đó để bày tỏ rằng về nhận thức tư tưởng và lý luận quân sự, mình còn thua kém Tôn Tử, hôm qua cũng vào giờ này, Ngũ Tử Tư vẫn còn tức lồng tức lộn, mới qua một ngày, tại sao lúc này có thể thân mật gần gũi Tôn Tử đến dường này? Nguyên là hôm qua, sau khi múa kiếm lên như thế, Ngũ Tử Tư lại ngồi dưới ánh đèn, đọc lại “Tôn Tử binh pháp”, chính bài “dụng gián biên” đã là chiếc chìa khoá mở tung chiếc khoá đồng vững chắc trong lòng ông. Gần đây, mỗi lần buồn bực vì một ý kiến nào bất đồng đối với Tôn Tử, Ngũ Tử Tư lại vùi đầu vào đọc “binh pháp”, tình cờ thấy bài “dụng gián” có nói: “Phàm khi mang cả chục vạn quân, đi đánh trận ở nơi xa hàng ngàn dặm, chi phí của dân chúng, sự tiêu pha của nhà nước, mỗi ngày tốn hàng ngàn lạng vàng. Cả nước bị xáo động, dân chúng phải phục dịch, mệt mỏi với đường sá, người không thể tiếp tục cày cấy được có tới bảy trăm ngàn hộ. Hai bên chiến tranh cầm cự nhiều năm, để có một ngày thắng lợi, nếu xẻn xo hà tiện tước lộc và tiền bạc, không chịu dùng gián điệp, có thể đi đến chỗ do không nắm được tình hình địch mà thất bại thảm hại, đấy mới là hết sức bất nhân vậy! Hạng tướng soái ấy, không phải là tướng soái giỏi trong quân đội, không phải người phò tá tốt cho vua chúa. Hạng vua chúa ấy, không phải là hạng vua chúa biết giành thắng lợi. Những bậc minh quân hiền tướng sở dĩ có thể ra quân là thắng lợi, sự thành công của họ trội hơn người khác, thì một nguyên nhân rất quan trọng là họ luôn luôn nắm trước được tình hình địch. Mà muốn nắm trước được tình hình địch, không thể có được nhờ mê tín quỷ thần hay bói toán nhảm nhí, cũng không thể so bì với những sự việc tương tự đã qua, cũng không thể đoán gần đoán xa bằng quan sát trăng sao trời đất, mà phải giành được từ những con người hiểu và nắm được tình địch”. Đọc đến đây Ngũ Tử Tư mới vỡ lẽ dần ra, thảo nào mà lúc nào Tôn Tử cũng hiểu tình hình địch như lòng bàn tay thế; xưa nay chưa đánh trận nào không nắm chắc phần thắng, hoá ra mấu chốt là ở chỗ biết dùng gián điệp. Trong bài “dùng gián điệp” lại nói, trong ba quân, không có ai thân cận và tin tưởng bằng gián điệp không có ai được tặng thưởng hậu hĩnh bằng gián điệp, sự việc không có gì kín đáo cho bằng dùng gián điệp. Nếu như kế dùng gián điệp chưa được thi hành, mà đã bị lộ, thì gián điệp và những người được họ nói cho biết đều bị tội chết. Từ đó Ngũ Tử Tư mới đoán rằng, Tôn Tử đang dùng vàng bạc để mua chuộc Diêm Hoài Viễn làm gián điệp, để ông ta phát huy cái tác dụng mà tướng soái và binh lính của quân Ngô không thể nào phát huy nổi, đồng thời cũng đã dứt khoát giết viên hiệu uý đã bép xép để lộ tin đó, nhằm trừ hậu hoạ…

Hiệu uý chết rồi, Tôn Tử không hỏi tội thêm nữa, chứ nếu có hỏi, thì thế nào cũng nguy hiểm đến tính mạng của Ngũ Tử Tư, cho nên ông làm như không biết, để mặc cho qua.

Diêm Hoài Viễn quay về Sở, dâng lên Sở Chiêu vương một cái đầu người để chuộc tội, cái đầu ấy là đầu của vua nước Hồ, hàng tướng của liên quân bảy nước trong trận đánh ở Kê Phụ.

Kê Phụ nằm ở chân núi phía tây bắc của Đại Biệt Sơn, là một thị trấn quan trọng ở đầu phía nam căn cứ quân sự Liễu Lục của nước Sở, cũng là nơi hiểm yếu về quân sự ở vùng thượng nguồn sông Hoài. Các nước nhỏ như Châu Lai, Lục Cấp quây quần ở mạn đông nam; các nước Hồ, Thẩm, Trần, Đốn, Hạng, Thái, Tức, Giang, Đạo… xếp hàng ở mạn tây bắc, nó là căn cứ chiến lược của cuộc chiến tranh Ngô – Sở. Nếu như quân Sở mà khống chế được Kê Phụ, thì tiến có thể đánh lui thế thủ, hơn nữa, từ đây có thể còn khống chế được cả các nước khu vực Hoài Dĩnh, giữ được phạm vi thế lực của mình ở phương nam. Nếu như quân Ngô mà chiếm được Kê Phụ, không những có thể xua đuổi được thế lực của quân Sở ở vùng Hoài Dĩnh, mà khống chế những quốc gia quanh đó, hơn nữa, có thể từ đó mà tiến vào Đại Biệt Sơn, làm khởi điểm để sau này phái quân Sở mà vào Sính Đô. Lúc mới bắt đầu giao chiến, hình thế rất có lợi cho quân Sở, sau đó vua nước Hồ nhận của đút lót mà hàng Ngô, đưa đến chỗ toàn quân rệu rã, đường đường như nước Sở, chẳng những mất quyền nhục nước, hơn thế, quân Ngô với cái thế mang quân một nước đánh tan quân của 7 nước, Sở vương sẽ mất mặt đến tệ hại trong thiên hạ, tiếng tăm cũng đi đời nhà ma… Sau chiến tranh, vua tôi nước Sở căm Hồ đến tận xương tận tuỷ, chỉ lăm le muốn được ăn sống nuốt tươi con người này mới hả được giận. Bảy năm sau ngày đó, Diêm Hoài Viễn xách đầu lâu của vua Hồ dâng lên, làm gì chẳng khiến Sở Chiêu vương mừng rỡ điên người? Diêm Hoài Viễn nói rằng, Ngũ Tử Tư sai vua nước Hồ đi tiên phong, đánh vào trận địa quan trọng của bên địch, tới chân thành chửi mắng thậm tệ. Nghe thấy bị mắng là nghịch tặc. Ông ta tức sôi máu lên, ra khỏi thành đón địch. Hai bên kịch chiến hơn sáu mươi hiệp, đâm qua chém lại, người hô ngựa hý, mãi vẫn chưa phân thắng bại. Tuy nhiên vua Hồ không xứng là địch của ông ta, sau khi đánh nhau chứng bảy mươi hiệp, đã bị sơ hở tứ tung, cuối cùng thua chạy. Ông ta định bụng bắt sống vua Hồ, để giao lên Sở vương, chặt hắn ra làm muôn mảnh, để rửa nỗi nhục ở Kê Phụ, thế là đuổi riết không tha, đuổi mãi đến thượng nguồn sông Oa, tới chân thành Oa Dương, mới chém được tên này ở dưới xe của mình…

Công với tội của Diêm Hoài Viễn đã quá rõ ràng, Sở Chiêu vương không thưởng nhưng cũng không phạt, có điều là thôi không cử ông này đi trấn thủ nơi biên cương nữa; mà cho nhậm chức ở Sính Đô, hưởng trọn tuổi già.

Kỳ thực thì sau trận Kê Phụ, vua nước Hồ vẫn bị quân Ngô giam ở trong ngục, là một tên tử tù, Tôn Tử làm sao có thể dùng hắn đi theo quân mình đánh Sở? Những điều Diêm Hoài Viễn nói ra, toàn là những lời Tôn Tử bịa đặt ra để lừa Sở vương.

Sau đó không lâu, bỗng có một hôm Chiêu vương ngủ dậy, chợt thấy có một thanh gươm báu, đặt trên án thư, bất giác hốt hoảng và sinh nghi, thế này là thế nào? Ông cầm lấy thanh gươm ngắm nghía hồi lâu, lưỡi gươm thân gươm đều ánh lên một thứ quý. Lạ thay, một thanh gươm quý như thế, làm sao lại có thể đặt được lên án thư trong phòng ngủ của Sở vương được kia chứ? Ờ nhà dân thường, kẻ ra người vào nhiều, bỗng nhiên có thấy thừa ra một vài thứ gì đó, cũng chẳng có kì lạ, nhưng phòng ngủ của quốc vương, canh cẩn mật như thế, thanh gươm này ở đâu ra, quả thật khiến người ta không thể hiểu nổi. Sở vương cảm thấy hết sức lạ lùng, vời cung nga tới để hỏi, thì chẳng ai biết gì, sau đó lại cho với hữu lệnh doãn Nang Ngoã đến để hỏi về lại lịch gươm. Nang Ngoã nói:

– Thanh gươm này chính là của quý trời cho, để ca ngợi thánh đức của đại vương. Nếu không, trong chốn thân cung cửu trùng đến chim bay cũng khó lọt vào được thế này, thử hỏi ai là người mang thanh gươm báu này đặt đầu án thư của đại vương được chứ?

Sở vương nghe nới thế thì mừng lắm:

– Ca ngợi thánh đức của quả nhân? Của quý trời cho? Ha i Ha! Ha!… Trên lịch sử đã từng có chuyện tương tự thế này bao giờ chưa?

Nang Ngoã hàm hồ lấp lửng nói:

– Thần không phải là sử gia, khó mà nói thật tường tận, chỉ biết rằng xưa kia minh quân cũng có kỳ tích như thế này.

– Bỗng dưng được một vật quý ngoài ý muốn, quả thực là một sự may mắn! May mắn! Ha ha!… – Sở vương nói thế xong lại cười lớn, sau đó lệnh cho cất thanh gươm đi.

Không lâu sau, ở Sính đô xuất hiện một người thợ rèn nổi tiếng tự xưng là Phong Hồ. Phong Hồ vốn là người nước Việt, nổi tiếng trong thiên hạ với tài rèn ra những thanh gươm quý. Ông ta và một vài người tuỳ tùng ngồi xe ngựa thong dong đi trên phố, nhìn từ phong cách, nhân phẩm của ông ta, cái gì cũng khác người. Những người tuỳ tùng của ông ta từng nói:

– Sư phụ tôi muốn đi tìm một thanh gươm báu nên đã chu du khắp trang thiên hạ… Phong Hồ chẳng những là người rèn gươm giỏi, mà còn là một người rất có kinh nghiệm và nổi tiếng trong việc nhận xét, bình phẩm, cho nên người đời mới gọi ông là “Phong Hồ Tử”. Tin tức về Phong Hồ Tử xuất hiện ở Sính đô chẳng mấy chốc mà lan tuyền có khắp mọi nơi, phàm là những ai si mê về đao kiêm, đều lũ lượt nhờ Phong Hồ Tử xem xét cho những thanh gươm quý của mình. Bất kỳ thanh gươm nào, chỉ cần nhìn qua là ông có thể nói được ra đó là tác phẩm của ai, rèn ra vào lúc nào, đặc trưng của nó như thế nào, chuẩn xác như thần.

Tin tức rất nhanh chóng được lan vào trong cung và đến tai Sở vương, thế là Phong Hồ Tử được vời vào cung để xem xét thanh gươm báu không rõ nguồn gốc này của Sở vương. Phong Hồ Tử nâng thanh gươm trên tay, rồi rút nó ra khỏi bao, từ mọi góc độ, ngắm nghía hình dạng và nhìn ánh thép của nó, sau lại lấy tay búng lên thân gươm để nghe tiếng kêu của nó, bỗng nhiên ông kinh ngạc kêu lên:

– Ái chà chà! Đây chính là “Trạm Lư”, vật quý trong cung vua Ngô, tại sao lại có thể đến được cung vua nước Sở được nhỉ?

Sở vương không chút giấu giếm, đã kể hết mọi thực tình. Phong Hồ Tử nghe nói thế liền bảo:

– Trạm Lư là thanh gươm báu mà Ngô vương Hạp Lư khi còn là hoàng từ Cơ Quang đã giấu đi, đó là một kiệt tác cả đời của Âu Dã Tử thợ rèn nổi tiếng của nước Việt.

Sở vương nghe thấy nói lai lịch như thế bỗng cảm thấy lo sợ:

– Cái gì? Gươm báu của Ngô vương giấu đi? Vậy làm sao nó lại có thể không cánh mà bay đến phòng ngủ trong cung của quả nhân được? Phải chăng nước Ngô đã sai thích khách lọt vào cung cấm của ta, lấy gươm này để đe doạ quả nhân…

Phong Hồ Tử bất giác cười lên ha hả, cười đã một hồi rồi mới nói:

– Đại vương quá lo vậy thôi, như Sở cung đây, canh gác nghiêm ngặt kín như bưng mọi ngả thế này, thích khách nước Ngô vào thế nào được đây ạ? Hơn nữa, Ngô vương Hạp Lư đời nào chịu rời tay mà giao thứ của quý hiếm có trên đời và là đồ giữ nước của mình cho thích khách, đem tới cung nước Sở kia chứ? Đại vương nên biết rằng thanh gươm Trạm Lư này là tượng trưng và tiêu biểu của xã tắc giang sơn nước Ngô, trên đời này làm gì có loại vua chúa nào ngốc nghếch đến mức hai tay dâng đất nước tươi đẹp của mình cho kẻ khác được kia chứ?

Với nét mặt đầy vẻ nghi ngờ, Sở Chiêu vương nói:

– Phong lão tiên sinh nói rất có lý, thế nhưng thứ của quý trong cung nước Ngô làm sao lại đến cung nước Sở của ta được? Xin tiên sinh hãy giải mối nghi ngờ này cho quả nhân, cho tan đám mây mờ trong lòng đi quả nhân sẽ trả ơn bằng vàng bạc!

– Xin đại vương đừng quá nóng vội, để thần được nói về lại lịch thanh gươm này – Phong Hồ Tử chậm rãi kể – Việt vương Doãn Thường từng sai Âu Dã Tử rèn ra năm thanh gươm báu, thanh này là một trong số đó. Việt vương đã tặng ba thanh gươm đều là Trạm Lư, Bàn Sính, Ngư Trường, tặng cho Ngô vương bây giờ tức là hoàng tử Cơ Quang ngày trước. Tại sao Việt Vương lại tặng hoàng tử Cơ Quang ba thanh gươm này như vậy? Thực ra là vì lúc đó thế lực của Cơ Quang rất lớn, Việt Vương đề phòng Cơ Quang đem quân sang đánh mình nên mới phải phá lệ, rứt ruột ra mà tặng vậy thôi!

Sở vương chăm chú nghe không sót một lời và luôn luôn gật đầu, Phong Hồ Tử lại kể tiếp:

– Ba thanh gươm báu đó, Trạm Lư xếp thứ nhất. Về thanh gươm này Âu Dã Tử từng nói với thần: “Lão phu rèn gươm, trọng cả một thời gian dài bao nhiêu năm tháng, chỉ có thanh gươm này là thấy ưng ý nhất. Kiệt tác này không phải bởi sức ta, mà bởi có thiên địa thần minh trợ giúp”. Âu Dã Tử rất thích thanh này, cho rằng mọi thanh gươm ở trên đời, không có thanh nào hơn được.

Bởi có được thanh gươm quý nhất trong thiên hạ, Sở vương mừng rỡ nhảy cẫng lên như con trẻ, nhưng trong lòng vẫn chưa hết mối nghi ngờ, bởi không biết tại sao thanh gươm này lại đến được cung nước Sở mà lòng vô cùng áy náy, bất giác lại hỏi thêm:

– Phong lão tiên sinh, vừa rồi ông bảo rằng biết được gươm, này không cánh mà bay đến đây, quả nhân muốn nghe cho rõ hơn.

– Thần không phải là thần thánh, đại vương còn không biết, thần làm sao biết được, chẳng qua là thần cũng suy đoán vậy thôi. Đại vương đã ra lệnh cho thần nói, xin cho được nói thẳng không quanh co.

Phong Hồ Tử ngồi xếp bằng, nhắm mắt lại ngẫm nghĩ, lúc đầu không chịu nói ra. Sở Chiêu vương đang sốt ruột muốn nghe kể về lai lịch thanh gươm Trạm Lư, trong cung bỗng tràn ngập một bầu không khí căng thẳng. Mãi một lúc sau, Phong Hồ Tử mới từ từ mở mắt ra, nói với giọng rất nghiêm trang trịnh trọng:

– Sự tinh xảo trong khi rèn ra thanh gươm Trạm Lư này rất độc đáo trong thiên hạ. Âu Dã Tử đã nói “gươm này không phải riêng ta làm ra, mà có thiên địa thần minh trợ giúp”. Có một hôm, Âu Dã Tử lại bảo với thần “trăm vị thần trong trời đất, bất giác nhập vào thân ta, nên ta mới có một kiệt tác siêu thần thoát tục như thế. Trạm Lư đã tích tụ tinh anh của ngũ kim, của mặt trời, khí thiêng của trời đất, đeo vào lưng, uy thế tăng thêm, rút ra khỏi bao, có trăm vị thần giúp sức thanh gươm này không phải là vua thì không thể có được”.

Sở vương nghe thấy thế, càng nâng niu thanh gươm Trạm Lư không lúc nào rời tay nhưng cuối cùng vẫn không biết tại sao nó đã đến được đầu án thư nơi buồng ngủ của mình. Phong Hồ Tử vái dài và thưa tiếp:

– Thần rất hiểu lòng đại vương lúc này, sau khi Âu Dã Tử đã nói hết mọi cái hay của Trạm Lư với thần, đã nói một câu vô cùng thần bí, câu này sẽ giải được mối băn khoăn thắc mắc trong lòng đại vương.

– Âu Dã Tử đã nói những câu gì vậy? – Sở Chiêu vương sốt ruột hỏi. Phong Hồ Tử ngập ngừng định nói ra thôi, đưa mắt nhìn sang mấy vị quyền thần đang đứng hầu quanh đấy. Sở vương biết ý, vẫy tay cho tả hữu lui hết và đưa mắt như cầu khẩn Phong Hồ Tử hãy mau nói ra. Thấy các quan tả hữu đều đã lui hết và trong cùng Kính Hiền rộng mênh mông chỉ còn lại có mình với Sở vương, Phong Hồ Tử mới làm ra vẻ thật yên tâm và bạo dạn nói rằng:

– Âu Dã Tử bảo với thần rằng “gươm này là do thần rèn ra, đương nhiên là của riêng nhà vua. Nhưng nếu kẻ có nó mà đi ngược đạo nghĩa, thì gươm này sẽ bỏ đi tìm ông vua nào có đạo nghĩa”. Từ đó có thể đoán được là Trạm Lư đã tự rời bỏ Ngô vương mà đến với đại vương, thật là đáng vui đáng chúc mừng lắm ạ?…

Một thanh gươm quý, tự động từ cung nước Ngô đến cung nước Sở, chỉ cần hơi hiểu biết một chút, cũng không thể tin được có một chuyện hài hước đến như vậy, ấy thế mà Chiêu vương lại cứ tin cho là thật. Chẳng lẽ Chiêu vương là hạng người không có chút mảy may đầu óc nào, ngu độn đến mức không biết phân biết phải trái thẳng cong ra sao ư? Không đâu! Phong Hồ Tử thổi phồng ca ngợi mãi về sự thần bí của Trạm Lư, còn Chiêu vương thì hỏi lại về lại lịch thanh gươm ấy, không có tin tức gì, điều đó khiến ông ta dễ dàng tiếp nhận lời nói của Phong Hồ. Câu nói nhăng nhít của lệnh doãn Nang Ngoã rằng “gươm này là trời cho, muốn ca ngợi thánh đức của đại vương”, tuy chưa nói ra lai lịch của gươm Trạm Lư, nhưng lại khớp với lời nói của Phong Hồ, cho nên có tác dụng thôi thúc và đẩy mạnh rất lớn. Mà điều chủ yếu hơn là Chiêu vương vốn có tính tham lam, một lòng muốn xưng bá chư hầu, làm vua cả thiên hạ. Hơn nữa ông ta còn tự tin rằng mình có khả năng và điều kiện ấy, lời nói của Phong Hồ nhằm trúng vào tâm lý của ông ta. Đúng như người ta nói: cái lợi dễ khiến người ta loá mắt và mất khôn, thế là cứ đinh ninh tin vào lời lẽ của Phong Hồ, không chút nghi ngờ chi nữa.

– Trong tay Ngô vương có ba thanh gươm báu, hai thanh còn lại lúc này ở đâu? – Chiêu vương miệng hỏi nhưng mắt thì ánh lên vẻ tham lam thèm thuồng.

Phong Hồ Tử chậm rãi và không cần suy nghĩ trả lời ngay:

– Hạp Lư có một cô con gái duy nhất tên là Thắng Ngọc, rất được sủng ái, chẳng may mắc bệnh, chết non, ông đau khổ không thiết sống, nên đã lấy thanh gươm Bàn Sính dưới Trạm Lư một mức, đặt vào quan tài làm vật tuỳ táng. Thanh thứ ba là Ngưu Trường, vì Hạp Lư đã dùng nó giết hại Vương Liêu, làm một việc phi nghĩa, cho nên đã hết cả thần lực.

Chiêu vương lại hỏi:

– Nếu như thế thì trong tay Hạp Lư không còn một thành gươm báu nào ư?

Phong Hồ đáp:

– Giết em họ, khiến muôn dân đau khổ, một ông vua vô đạo như thế sao có thể giữ được gươm báu.

Chiêu vương hí hửng nói:

– Nếu nói như thế, quả nhân được coi như một ông vua có đức hay sao?

Phong Hồ nói như khẳng định thêm:

– Thiên hạ ngày nay, duy chỉ có đại vương là ông vua có đức. Đại vương tru di kẻ gian nịnh mà muôn dân căm ghét là Phí Vô Cực, đông đảo mọi người trông vào một vua, với tấm lòng nhân từ đã gọi vương tôn Mê Thắng bị Ngũ Tử Tư ép buộc đi theo, trở về Sở và tặng cho chức quan cao lộc hậu, đó là tượng trưng cho sự có đức, nên gươm Trạm Lư bỏ Ngô đến Sở, quả thực đó là ý trời xui…

Chiêu vương càng nghe càng vui, không nén nổi được lòng tin, bất giác cất tiếng cười vang, trước mặt ông ta bỗng hiện lên một thế giới muôn màu ngàn sắc, mây hồng đầy trời khí thơm ngùn ngụt, lụa màu tung bay và hào quang lấp lánh…

HẾT TẬP I.

Nguyễn Bá Thính
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Tào Nghiêu Đức

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.