Năm Hạp Lư thứ sáu, tức là năm 508 trước công nguyên, nước Ngô đã trải qua một trận thiên tai hiếm thấy trong lịch sử. Giữa mùa hè mưa lũ gây thành hoạ, sông ngòi vàng Thái Hồ không nơi nào là không ngập tràn nước lũ, nhà cửa làng mạc bị nhấn chìm, ruộng vườn hoa màu bị huỷ hoại, người và súc vật bị chết chìm không biết bao nhiêu mà kể. Đến mùa thu thì giặc châu chấu phá hại, những ruộng lúa nào còn sót lại sau lụt, lúc này bỗng trở thành thức ăn cho hàng đàn châu chấu, thu hoạch mùa màng năm ấy chỉ còn không đáng là bao. Nước lấy lương làm gốc, dân dĩ thực vi tiên, nạn đói đe doạ nghiêm trọng nhân dân nước Ngô, về một ý nghĩa nào đó mà nói, nó còn tàn khốc hơn cả chiến tranh. Làm thế nào sống cho qua cơn hoạn nạn này? Chư hầu trong thiên hạ liệu có nhân lúc này thừa gió bẻ măng? Nước Sở lớn mạnh liệu có thừa cơ mà đánh vào, phương lược làm suy yếu nước Sở, làm chậm trễ nước Sở có nên tiếp tục thực hiện nữa không? Việc chinh phạt toàn diện với nước Sở liệu có còn hy vọng gì không? Như thế là hiện thực tàn khốc bày ra trước mắt vua tôi triều đình nước Ngô.
Ngô vương Hạp Lư dù sao cũng là một ông vua làm nên, bên cạnh lại có những người như Tôn Tử, Ngũ Tử Tư, Phu Khái phò tá, vua tôi một lòng, trên dưới là một khối, cùng nhau vượt khó khăn. Họ đã áp dụng hàng loạt biện pháp để phòng chống thiên tai, khôi phục sản xuất, cố gắng không chịu cúi đầu trước khó khăn, không chịu cúi mình, không run chân, khiến nước Sở mạnh và mọi nước chư hầu trong thiên hạ đều không dám nhòm ngó, không được có tư tưởng yên phận thủ thường. Việc đầu tiên là Hạp Lư đã giảm chi phí cung đình trong một phạm vi lớn. Giảm bớt những nhân viên không cần thiết như cung nga, vũ nữ, đội nhạc, nội thị và hoàng thân quốc thích ăn không ngồi rồi trong cung đình cũng từng đợt một được đuổi ra khỏi cung cấm. Mặt khác cũng rút bớt những đồ dùng xa xỉ, hạn chế việc ăn, mặc đi lại, các bậc quan lại từ quốc vương trở xuống, ăn cơm loại nào, mặc áo gì, ở nhà thế nào, ngồi xe thế nào… đều có sự quy định chặt chẽ. Những tiêu chuẩn quy định sa sút đi nhiều so với thời trước khi bị thiên tai, bổng lộc cũng rút đi một nửa trở lên, đến mức chỉ bảo đảm không đến nỗi chết đói mà thôi. Nước Ngô ở vào địa thế quê hương của lúa gạo và tôm cá ở phía nam, nhất là khu vực Thái Hồ, đã được mệnh danh là vựa lúa, nhiều năm liền luôn luôn mưa thuận gió hoà, từ sau khi trừng trị bọn hủ bại trở đi, rất ít khi xảy ra lãng phí, thế nên lương thực dự trữ trong kho nhà nước rất phong phú. Hạp Lư ban chiếu chỉ đi các nơi trong cả nước, trên cơ sở thống kê chính xác và tính toán, kỹ lưỡng, hãy nhanh chóng mở kho để cứu tế cho dân. Ở các nơi đâu đâu cũng có những ông chủ và bọn nhà giàu, số lượng thực mà họ tích trữ được thường rất lớn, có những người thậm chí không kém gì kho nhà nước của địa phương ấy. Những kho lẫm như thế chẳng khác gì như sao trong màn trời đêm, thôn xóm nào cũng có. Hạp Lư hạ lệnh, tất cả những kho lẫm lớn nhỏ như vậy, nhất loạt quốc hữu hoá, rồi đem chẩn tế cho dân vùng thiên tai, ai làm trái lệnh, sẽ bị nghiêm trị! Cứ như thế, cả nước từ trên xuống dưới, với nguyên tắc bớt ăn bớt mặc, về căn bản đã có thể no bụng, còn thiếu đôi chút, cố gắng xuất tiền của trong kho nhà nước, sang nước láng giềng thân thiện mua thêm lương thực và vải vóc. Trong ba năm không xây dựng gì thêm, nhà công của nhà nước nhường ra một phần cho dân ở. Tuy vậy, nhưng không cắt giảm chi phí về quân sự. Tôn Tử nhấn mạnh, các tướng lĩnh và sĩ quan các cấp, kể cả bản thân ông, sau khi đã cắt giảm bổng lộc, sẽ phải cùng ăn, cùng ở, cùng tập luyện, cùng sống chết, chung vận mệnh với toàn thể binh lính, không được có một chút gì tỏ ra ưu đãi đặc biệt, trong quá trình quan quân ba cùng với nhau như thế, đã nảy sinh ra vô vàn những câu chuyện xúc động đáng ca ngợi.
Trương Tương Cát là một sĩ quan cấp thấp ở đơn vị nọ, cấp bậc tương đương như đại đội trưởng trong quân đội bây giờ, có một đêm, vào giờ Hợi, anh ta dậy đi tiểu, bỗng phát hiện thấy trong phòng vắng mặt một người lính tên là Triệu A Đông. Lúc đầu, anh cũng ngỡ rằng Triệu A Đông chắc là bụng dạ thế nào đó nên ra nhà xí thôi chứ chẳng đi đâu xa. Nhưng đến khi ra nhà xí quay về, vẫn không thấy người lính ấy trở lại, Trương Tương Cát bỗng chột dạ. Nửa đêm gà gáy, anh không muốn làm mất giấc ngủ của mọi người, bèn rón rén về chỗ nằm của mình, im lặng chờ thêm lát nữa. Sau cùng không thể đợi thêm được nữa, Trương Tương Cát liền đánh thức mọi người dậy để hỏi xem Triệu A Đông đi đâu, những người khác đều lắc đầu không biết. Một người lính hàng ngày thân mật gần gũi với Triệu A Đông nhất nói, ba hôm trước có một người đồng hương đến gặp Triệu A Đông, từ đó thấy anh ta trở nên uỷ mị, ít nói, âu sầu buồn bã, trong mắt anh luôn luôn ứa lệ, hỏi anh có việc gì thương tâm đến thế, anh cũng không chịu nói ra. Thấy mọi người chẳng ai biết gì chuyện này, nên cứ tạm để yên thế đã, chờ hôm sau trời sáng rồi sẽ đi tìm. Trương Tương Cát ngả lưng nằm xuống mà như nằm phải gai, trăn trở mãi cũng không tài nào chợp mắt. Nằm đây trằn trọc mà chịu tội, chẳng thà dậy quách cho xong rồi đi ra ngoài thử tìm xem, dù chỉ thấy một tia hy vọng. Rất có thể vì chinh chiến nhiều năm, tận mắt nhìn thấy bạn bè mình theo nhau ngã xuống, mỗi lúc như thế, Trương Tương Cát thường hay nghĩ đến khía cạnh xấu nhiều hơn, trong óc anh chẳng hiểu tại sao toàn hiện ra những dự cảm không hay, và không lâu sau, dự cảm đó thường trở thành những hiện thực sờ sờ trước mắt. Anh nghĩ rằng, người đồng hương đến tìm Triệu A Đông ba hôm trước, nhất định như mọi người dự đoán rằng đã mang đến cho anh ta một tin gì không lành, cho nên mới khiến anh ta rưng rưng nước mắt mất hồn mất vía như thế. Anh thực sự lo cho Triệu A Đông không chịu nổi trận đòn tình cảm đến bất ngờ như thế này, chẳng may nếu có bề nào… Vừa nghĩ thế, Trương Tương Cát vừa rảo bước chân. Ngõ phố ngoằn ngoèo, màn đêm bao la, Trương Tương Cát phóng tầm mắt đi tìm ở mọi phía không có mục tiêu nào rõ ràng, hầu như mỗi một ánh sao mập mờ đều là một tia hy vọng, mong sao trong ánh mập mờ đó tìm ra được một dấu vết gì chăng. Bỗng nhiên anh phát hiện thấy từ trong một căn phòng thấp bé cách đó không xa ở phía trước lọt ra một ánh đèn leo lét, có khi Triệu A Đông đang ở đó cũng nên. Một tia sáng chợt loé lên trong đầu, không kịp nghĩ gì thêm, mặc cho dưới chân mặt đường khấp khểnh khiến anh mấy lần xuýt ngã, Trương Tương Cát bước như bay về phía nguồn sáng hy vọng mong manh đó…
Đó là một gian đặt cối xay của nhà nông. Đại để gian xay lúa của miền nam cũng từa tựa như gian đặt cối xay bột của miền Bắc, vì số lượng lúa mì được trồng chỉ có hạn nên có khi hàng chục nhà mới chung một chiếc cối xay, một thôn xóm chừng trăm hộ, có khi cũng chỉ có một vài nơi. Những nhà để cối xay phần lớn là cửa sổ mà không có cửa đi, cũng chẳng có ai trông coi. Bởi vì nó quan hệ đến quyền lợi của làng trên xóm dưới, cho nên ai cũng quan tâm giữ gìn, nếu có hư hỏng gì, bất kể lúc nào cũng thường có người lặng lẽ tu sửa. Khi Trương Tương Cát bước vào gian nhà cối xay, Triệu A Đông đang ngồi trên một khúc gỗ, quay mặt vào cối xay, hai cùi tay tì lên đó và hai bàn tay chống vào má nước mắt nối nhau chảy ròng ròng, nhỏ ướt đẫm vuông lụa trước mặt, bên cạnh vuông lụa là đĩa đèn dầu, ngọn chỉ nhỏ hạt đậu, leo lét, chập chờn, như thể muốn tắt, chiếu lên khuôn mắt đầy những vết nước mắt, bi ai và cô đơn, càng tỏ ra tối tăm và nhợt nhạt. Chợt nghe thấy có tiếng chân người bước tới, Triệu A Đông vội vàng định giấu vuông lụa kia vào trong tay áo, thế nhưng đã không kịp nữa. Anh ta ngẩng lên nhìn trộm thấy người bước đến chỗ mình lại chính là cấp trên trực tiếp của mình, liền lặng im đứng dậy, hai tay thõng xuống, đầu cúi gằm, không biết làm gì hơn nữa. Trương Tương Cát không hề trách mắng, thái độ rất hoà nhã, chỉ tay vào vuông lụa hỏi:
– Cái gì đó? Có thể cho ta xem được không?
Triệu A Đông gật đầu tỏ vẻ đồng ý và vẫn đứng im lặng, như một đứa trẻ có lỗi đứng trước mặt cha mẹ mình chờ đợi sự trừng phạt nghiêm khắc.
Trương Tương Cát cầm vuông lụa lên, cúi sát xuống ánh đèn đọc cho rõ, càng đọc càng thấy xúc động và bất giác rơi nước mắt. Quả đúng như lời người lính kia đã đoán, vuông lụa ấy chính là bức thư nhà mà ba hôm trước người đồng hương của Triệu A Đông mang đến cho anh ta, trong thư nói rằng ông bà của A Đông bị trận lụt mùa hè vừa qua cướp đi tính mạng hai người một lúc. Trước đó không lâu, mẹ anh ta cũng vừa mới qua đời, hiện cha anh đang ốm liệt giường, luôn mong nhớ con, mong A Đông mau mau về nhà một chuyến để trước khi lìa đời được thấy mặt con mình lần cuối, vả lại ông còn có nhiều điều muốn nói với con, những công việc còn lại cũng muốn dặn lại con. Sao lại có một bức thư nhà như thế đúng là chữ nào cũng rớm máu, dòng nào cũng đẫm nước mắt, tựa như cả một ngọn núi Thái Sơn đã đè ụp lên đầu anh lính trẻ mới có mười tám tuổi đầu. Như thế làm gì chẳng khiến cho anh ta choáng váng, hồn xiêu phách lạc kia chứ? Anh những muốn mọc cánh mà bay ngay về đến bên người cha đang hấp hối để bón cơm đổ cháo, lo thuốc thang cho ông, tận chữ hiếu của một người con. Tuy nhiên chẳng còn bao lâu nữa sẽ đánh toàn diện vào nước Sở, mình làm sao có thể bỏ đi lúc này được? Anh ta rất muốn viết một lá thư cho người ấy nhân tiện mang giúp về nhà mình, giải thích lý do tại sao không thể về nhà để thoả mãn yêu cầu tối thiểu của một người cha. Xưa nay cha là một con người rất thông tình đạt lý, tin rằng người sẽ thông cảm và tha thứ cho con cái của mình bởi vì xưa nay trung với hiếu rất khó vẹn toàn cả hai. Anh ta mượn của người dân được ngọn đèn dầu, lẻn ra gian cối xay này, xót xa ngồi chầu chực đến nửa đêm, đĩa dầu gần như cạn hết, vậy mà cũng chưa viết được chữ nào…
Nghe những lời kể lể chứa chan nước mắt khổ đau của Triệu A Đông, Trương Tương Cát xít xoa than thở mãi, đây là một người lính hết sức đáng yêu đáng mến. Nhớ lại ba tháng trước, chính người lính mười tám tuổi đời này, đã một mình với một chiếc thuyền ba ngày ba đêm liền lênh đênh trên Hoàng Thang mênh mang, cứu sống hàng trăm dân lành bị nước lũ cuốn đi, trong đó có những đứa trẻ còn oa oa đòi bú, cũng có cả cụ già bảy tám mươi tuổi… cuối cùng chính anh ta lại mệt lả trên thuyền. Nào có ai ngờ, chính những lúc Triệu A Đông mang hết sức mình đi cứu vớt những cụ già mà mình không hề quen biết đó, thì ông bà của mình lại bị nước lũ nhấn chìm, những lúc ấy mới thấy người lính này vô tư đáng mến làm sao!
Trương Tương Cát không khảng khái ồn ào bày tỏ tình cảm xúc động của mình, mà im lặng dìu người lính đó của mình trở lại phòng ngủ, đánh thức tất cả những người lính của mình đang ngủ say trở dậy, tụ họp lại với nhau. Trước đông đảo mọi người Trương Tương Cát đã đọc lại bức thư nhà của Triệu A Đông, nói rõ đầu cuối ngọn ngành câu chuyện, những người lính có mặt ai cũng cảm động đến rơi nước mắt. Đến lúc này Tương Trương Cát mới khảng khái mở hầu bao ra, nhưng người lính khác cũng nhao nhao xin đóng góp, nhiều cây góp mãi cũng nên rừng, tuy vào giữa thời buổi tai hoạ hoành hành, quân nhu bị cắt giảm nhưng mọi người cung gom được một món tiền kha khá, để Triệu A Đông đem về nhà, thăm người cha đang hấp hối và từng giờ từng khắc trông mong, Triệu A Đông cảm động không sao cầm nổi nước mắt, rập đầu lia lịa cảm ơn.
Trương Tương Cát, vốn là một sĩ quan cấp thấp không đủ thẩm quyền cho lính của mình, nên phải hỏi lên cấp trên, dần dần hỏi lên đến chỗ Tôn Tử, chẳng những ông đã vui vẻ phê chuẩn mà còn thông báo trong toàn quân về biểu hiện tốt đẹp ấy của Triệu A Đông cũng như sự quan tâm đến chiến sĩ, biết thông cảm với người khác của Trương Tương Cát. Không lâu sau, câu chuyện trên đã được đồn đại xôn xao trong quân đội, mỗi người lính đều thấy chấn phấn trong lòng, đồng thời càng có tác động thúc đẩy đối với sĩ quan các cấp.
Vào một ngày cuối thu, Tôn Tử mở cuộc họp tướng soái và quân lính tại núi Thiên Trì để xử quân tá Diệp Nam Tân.
Theo chế độ của nhà Chu, thiên tử thì có lục quân, nước lớn trong chư hầu thì có ba quân, mỗi một quân có một vạn hai nghìn năm trăm người, như nước Tấn thì gọi là trung quân, thượng quân, hạ quân. Nước Sở thì gọi là trung quân, tả quân, hữu quân. Ba nước Tề, Lỗ, Ngô thì đặt ra ba quân là thượng, trung, hạ. Trong ba quân, đều có đặt ra tướng, tá và trung quân tướng làm thống soái trong ba quân. Tá, cứ nghe tên cũng biết, là làm công việc phò tá để thống soái quân đội, việc hậu cần, tiền nong, lương hưởng trong quân đội đều do cấp tá này gánh vác, Diệp Nam Tân là tá trong lục quân nước Ngô.
Quân lính ở rải ra theo thế núi, thôi thì trong hẻm sâu trên sườn núi, giữa các tảng đá xanh, trong rừng phong, dưới gốc thông già… đâu đâu cũng thấy những người là người, tầng tầng lớp lớp, chồng chéo lên nhau dày đặc Lính tráng người nào người nấy lăm lăm khí giới trên tay, giáp mãng nai nịt gòn gàng, từng đội một từng hàng một đứng nghiêm trang. Gió thu lạnh lẽo thổi ào ào qua thung lũng, lướt qua đèo phong, rừng phong như đang rực lửa và lá phong rạp xuống từng đợt như mây cuộn sóng đưa. Gió qua rừng thông, lá thông reo ào ào, sục sôi lên như nổi giận. Khi mặt trời như bò lên mỏm núi phía đông, hạ quân tướng Chuyên Nghị bước lên một tảng đá xanh vuông chằn chặn, tuyên bố cuộc họp bắt đầu, và mời Tôn Nguyên soái nói chuyện. Tảng đá lớn ấy nằm ở ngang lưng núi Thiên Trì, hình thành một cái bục thiên tạo để đứng nói chuyện, trên dưới, bên phải bên trái đó, đều là các tướng sĩ. Tôn Tử đứng trên bục đá ngửa đầu vươn ngực ra và luôn luôn quay sang các hướng, mọi người như các vì sao vây quanh mặt trăng. Tôn Tử đặt tên cho cuộc họp này là đại hội tuyên phán tuyên bố tội trạng của Diệp Nam Tân, phán xử tử hình hắn. Trước khi tuyên phán, Tôn Tử đã nói một hồi dài, nhắc đến mức độ nặng nề của cơn tai hoạ vừa qua, cảnh ngộ gian nan vất vả của quân dân nước Ngô cùng những thành tựu vẻ vang mà cả nước từ trên xuống dưới đã giành được trong cuộc chống chọi với thiên tai, đồng thời nhắc đến tinh thần cao cả quân dân nước Ngô trong huấn luyện quân sự cũng như những nhiệm vụ nặng nề sắp tới và những sự tích anh hùng không ngừng xuất hiện trong hàng ngũ quân đội. Trước lúc tuyên phán, võ sĩ hùng dũng áp giải Diệp Nam Tân ra chỗ tảng đá, hắn mình bị trói, chân bị xiềng, trên cổ cài lá cờ lưu đầy, quỳ hai gối xuống đất, quay mặt về phía đông đảo tướng sĩ. Tôn Tử sa sầm nét mặt, tiếng nói khê đặc và run lên từng lời như ứa máu, như đẫm nước mắt tuyên bố tội trạng của hắn.
Tôn Tử đến tạm trú với hạ quân, cùng ăn uống với anh em binh lính, phát hiện thấy mức ăn ở đây kém xa hai quân thượng và trung, thấy lạ bèn tổ chức cho người đi xác minh và ngầm dò hỏi, tìm ra nguyên nhân. Thì ra Diệp Nam Tân đã ỷ vào quyền thế, cắt bớt khẩu phần của binh lính, ăn lạm vào lương hưởng của tướng sĩ, dùng tiền của chiếm được một cách phi pháp đó hoặc là đem cho những người dân túng đói vay nặng lãi hoặc là mua tích trữ lương thực rồi bán ra với giá cao, thu lời lớn phát tài trên tai hoạ của đất nước. Với việc đó, Chuyên Nghị không phải là không hề hay biết, nhưng ngặt vì còn nể tình với Tôn Tử, nên làm như không hay biết gì, để cho Diệp Nam Tân được thể càng làm càn, không nể sợ gì ai. Tại sao lại “ngặt vì còn nể tình với Tôn Tử”? Bởi vì Diệp Nam Tân là ân nhân cứu mạng của Tôn Tử, và cũng vì thế nên Tôn Tử mới đưa hắn vào quân đội, sắp xếp hắn ở vào vị trí quan trọng. Trong toàn quân từ trên xuống dưới không ai không biết mối quan hệ đó cho nên hết sức kính trọng hắn, mà cũng chính vì thế mà hắn càng trở nên tự cao tự đại, ngông nghênh càn dỡ, khiến cho dân chúng oán giận xôn xao. Tôn Tử chủ trì công tác trong ba quân, lại kiêm cả chức phận của thừa tướng, hàng ngày trăm công ngàn việc, bận đến bù đầu, đương nhiên là biết rất ít về việc này. Nếu như không có việc vì gặp thiên tai mà tướng sĩ phải ba cùng, thì e rằng Tôn Tử sẽ mãi mãi bị bưng bít và bị hắn ta bôi nhọ và mất thanh danh. Kể xong mọi tội trạng, Tôn Tử phán xử Diệp Nam Tân tội tử hình và lập tức thi hành. Diệp Nam Tân nghe thấy thế, rập đầu lia lịa xin tha. Hắn thừa nhận rằng mình thật là đắc tội, có chết cũng đúng, nhưng mong Tôn Tử nhớ đến tình cũ nghĩa xưa, tha thứ cho hắn một lần chết, để hắn có điều kiện lập công chuộc tội trả ơn cho đất nước. Nghe những lời nài nỉ đáng thương hại, các võ sĩ áp giải hầu như có nới lỏng tay, rồi lại có mấy vị tướng lĩnh bước lên trước quỳ xin tha tội. cho hắn. Tôn Tử đã ngoảnh khuôn mặt lạnh tanh và tím bầm như sắt đi chỗ khác, không hề nhúc nhích, ông quả quyết xua tay, các võ sĩ đã xốc vào nách Diệp Nam Tân lúc này đã mềm nhũn như một tàu lá héo, kéo như kéo một con chó chết ra ngoài thung lũng, theo sát phía sau là mấy đao phủ cầm trên tay lưỡi đao sáng loáng. Một lát sau, từ phía sau thung lũng vẳng lại một tiếng kêu thảm thiết của kẻ bị chém đầu. Tôn Tử quay ngoắt đi, đầu cúi xuống và hai mắt ông rưng rưng hai hàng lệ…
Đó là những ngày đầu khi Tôn Vũ từ nước Tề sang nước Ngô, đến ở ẩn tại núi Khung Long, để kết hợp núi non sông nước và địa hình địa mạo cũng như hoàn cảnh tự nhiên của miền nam, để sửa chữa thêm mười ba bài “binh pháp”. Tôn Vũ đã đóng giả làm tiền phu hay người đi hái thuốc, để đi được khắp mọi nơi miền núi non sông nước Ngô. Một hôm, ông lặn lội vất vả đến ngang lưng núi Thiên Trì đã mỏi mệt rã rời, ngẩng đầu lên, thấy phía trên có một tảng đá xanh vuông vắn, tựa như một chiếc giường, bất giác dấn thêm vài bước nữa, leo lên tảng đá ấy, tháo bỏ cái dậu đan bằng trúc đeo trên lưng, lấy lương khô và bình nước ra chuẩn bị ăn trưa. Tôn Vũ lúc ấy tuy còn ít tuổi lại tập luyện võ công ngay từ nhỏ cho nên có thể nói sức khỏe như trâu, thế nhưng khi ở quê nhà, ra khỏi cửa đi đến đâu cũng chỉ là một giải đất bằng, rất ít khi trèo đèo vượt suối, nếu phải đi đường núi, đều tỏ ra ngượng ngập không quen. Khi đi chu du thiên hạ, khảo sát những chiến trường xưa, tuy cũng đã từng có phen được nếm mùi đi đường núi, thế nhưng lại phần lớn là cưỡi ngựa ngồi xe, thời gian lại rộng rãi và thoải mái, khi đi khi nghỉ, như người đi chơi, không như lúc này, ngày ngày bắt buộc phải sáng đi tối về. Lúc mới bước lên tảng đá thấy gối mỏi chân chồn thật đấy, nhưng cũng còn gắng gượng được, nhưng đến khi ăn qua loa xong bữa cơm trưa, vừa mới nghỉ được một chút, bỗng thấy toàn thân bủn rủn, hơn nữa cơn buồn ngủ ở đâu ập đến, mi mắt cứ như dính chặt lấy nhau. Thấy trời cũng còn sớm, có ngủ trưa một giấc rồi dậy đi tiếp cũng chưa muộn. Tôn Vũ cởi khăn gói đeo ở ngang lưng làm gối, dùng tản đá làm giường, đặt mình xuống là ngủ. Không biết thiếp đi bao lâu, chợt một cơn gió xoáy thổi tới làm Tôn Vũ giật mình, vội vàng nhổm ngay dậy, chợt thấy cơn gió này bỗng có gì đó khác thường, âm u đáng sợ, khiến người ta phải sởn gai ốc, luồng gió bắc ập tới ấy mang theo một mùi tanh hôi rất khó chịu. Phải chăng là có hổ… Tôn Vũ còn không kịp nghĩ tiếp, bỗng một tiếng gầm vang tai long trời lở đất, cùng lúc ấy, một con hổ vằn từ đỉnh núi ầm ầm lao tới, chồm tới chỗ tảng đá xanh, nhe nanh há miệng, luồng khí từ nơi con hỏi ùa tới khiến Tôn Vũ lảo đảo. Nhưng Tôn Vũ cũng không hổ thẹn là một nhà binh pháp có tầm cỡ, gặp sự việc bất chợt không hề hoang mang, mà khéo léo xoay chuyển. Nếu so sức khỏe, có đến mười Tôn Vũ cũng chẳng địch nổi con mãnh hổ này, nhưng con người vốn là chúa của muôn loài, trí khôn đương nhiên là phải gấp hàng chục lần dã thú, làm sao lại không thể thắng nổi một con vật! Tôn Vũ có một niềm tự tin như vậy. Hơn nữa, lại vốn là người có tập tành qua võ nghệ, phản ứng mau lẹ, chân tay hoạt bát, Tôn Vũ liền rút thanh đoản kiếm vẫn giắt bên sườn, dùng hết sức bình sinh phóng thẳng về phía con hổ, con vật bị trúng mũi kiếm, đau đớn gục đầu xuống đất muốn gạt bật lưỡi kiếm đi. Nhân dịp đó, Tôn Tử đã lẻn vào khu rừng rậm gần đó. Là một con vật to kềnh càng, con hổ lao vào rừng cây, cử động gặp khó khăn, chẳng khác gì anh hùng không có nơi dụng võ, Tôn Vũ lại nhân dịp ấy leo lên một cây cao. Cây đã cao, lại rất mảnh mai, con hổ vồ lên cây, cả thân cây như muốn đổ rạp. Con hổ nhảy lên như thế mấy lần, cây cao đu đưa như muốn đổ, Tôn Vũ ở trên ngọn cây cũng như mấy lần chực rơi. Chỉ một lúc nữa, con hổ rồi sẽ đu đổ thân cây kia, Tôn Vũ sẽ là miếng mồi ngon nhét đầy cái bụng đói của con mãnh thú, thì chuyện cuối cùng tất sẽ phải xảy ra… Ở hiền gặp lành, giữa lúc tính mạng ngàn cân treo sợi tóc như vậy, bỗng có một chàng thợ săn mình gấu lưng beo tay cầm cây thương dài, từ trong bụi rậm xông vào rừng cây, nhằm vào mông con hổ đói lao một nhát. Con hổ đau đớn quằn quại mấy vòng trên bãi cỏ, lồng lộn lên, bỏ mặc Tôn Vũ trên cây, quay lại lao tới chỗ người thợ săn. Người ấy không hề chạy trốn mà ung dung rút từ trong tay áo ra mũi phi tiêu có tẩm thuốc độc, nhằm đúng lúc con hổ há miệng gầm ghè, đã lao thẳng mũi tiêu vào miệng nó, cắm trúng vào lưỡi, chất độc cực mạnh ngấm nước bọt xuôi xuống bụng hổ, theo mạch máu truyền khắp toàn thân. Con hổ vừa bị thương vừa bị ngấm độc, trước còn lăn lóc giãy giụa, sau thở rống lên và co giật, cuối cùng chỉ còn là cái xác cứng đờ, không cựa quậy được nữa. Người thợ săn mình gấu lưng beo ấy không phải ai khác, mà chính là Diệp Nam Tân. Tôn Vũ hết sức cảm ơn và đã dùng quà tặng rất hậu để đền ơn, Diệp Nam Tân thề chết cũng không chịu nhận, hai người từ đó mới trở nên đôi bạn chí cốt. Sau khi Tôn Vũ hạ sơn, để trả ơn Diệp Nam Tân đã từng cứu sống mình, bèn đưa hắn vào quân đội và giao cho chức vụ quan trọng, không ngờ lại có kết cục bi thảm như ngày hôm nay. Phải chăng Tôn Tử là hạng người bạc tình bất nghĩa, đổi ơn thành oán hay sao? Đương nhiên, là người chỉ hơi biết điều phải trái thôi, cũng chẳng ai có thể đưa ra lời kết luận như vậy. Ơn cứu sống là tình cảm riêng tư, chấp hành pháp lệnh như sơn là nghĩa vụ chung, hai thứ ấy không thể nào lẫn lộn được với nhau, cho nên vì đại nghĩa gác bỏ tình thân xưa nay vẫn được coi là nét đẹp truyền thống? Cuộc tuyên phán hôn nay, sở dĩ Tôn Tử lại cho tiến hành ngay tại nơi Diệp Nam Tân đã cứu sống mình, chính là để nêu cao nét đẹp đồng thời là một lời tuyên bố ngầm với tất cả các tướng sĩ trong quân đội của mình rằng: Luật pháp không vì tình, bất kể là ai, hễ cứ phạm vào pháp luật, cũng đều phải trị tội như nhau.
*
* *
Lại nói mùa thu năm Hạp Lư thứ 7, tức là năm 508 trước công nguyên, do bị hai anh em họ Diêu người Thư Cưu dụ dỗ, hữu doãn của nước Sở là Nang Ngõa đã dấy quân đi đánh nước Ngô. Đại quân đã từ núi Dự Chương hạ sơn đi xuống phía nam, thuyền lớn, thuyền bé, chiến hạm, thuyền rồng dăng hàng trên mặt sông, nối đuôi nhau như một bầy cá, tinh kỳ phấp phới, trống giục lệnh vang, rầm rầm rộ rộ, khí thế oai nghiêm vô cùng…
Nang Ngoã và các bộ tướng của mình, ở mãi Sính đô sống quen với nếp sống xa xỉ hoang phí, khó chịu được sự kham khổ trong quân ngũ, tuy hành quân đi đánh trận, nhưng vẫn cho mang theo hàng chục ca kỹ, để dọc đường hưởng lạc mua vui. Ấy thế nhưng họ vẫn chưa cho là đủ, trên dọc đường, dấu chân họ đặt đến đâu là y như ở đấy xảy ra chuyện cướp bóc của cải lương thực, bắt bớ con gái nhà lành. Họ dừng lại thôn xóm nào, cùng thả lỏng cho binh lính của mình đi hãm hiếp vợ con người ta, trăm họ nhìn quân Sở như thấy ác thú, như gặp nước lũ, tranh nhau mà tránh cho xa. Nếu có người con gái không may nào rơi vào nanh vuốt chúng, hãm hiếp xong, chúng liền vứt xuống sông để thủ tiêu, để đi tìm lạc thú khác. Nang Ngoã còn ra lệnh trong toàn quân là kẻ nào cướp được tiền của và gái đẹp, đều phải đưa lên để lệnh doãn xem qua, để chọn của quý, người đẹp làm của riêng mình, còn thừa rồi mới phân xuống đến cấp dưới. Bởi thế, mỗi lần kéo quân đi Nang Ngoã đều được hưởng thụ những khoản chơi bời còn thối nát hơn, thu được những món tiền của lớn lao hơn nhiều so với lúc ở Sính đô. Đó cũng là điều căn bản mà hắn thích gây chuyện chiến tranh, và cúng chính vì thế mà được Sở Chiêu vương khen ngợi và trọng dụng.
Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng, đó là câu danh ngôn chí lý xưa tới nay, ấy thế nhưng trên đời còn có sự tồn tại của hoa sen ngâm trong bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Thiếu tư mã Cừ Viễn chính là một ông quan thanh liêm, một vị tướng hiền tài như vậy. Bắt đầu từ thời Tây Chu có đặt ra chức quan tư mã, đến thời Xuân Thu chiến quốc cũng vẫn đặt theo, ngoài năm việc quân chính, còn kiêm cả việc quản lý và giáo dục quân đội, tức là chức quan cao nhất trị vì quân đội, người giúp việc cho tư mã gọi là thiếu tư mã, Cừ Viễn là một lão thần tuổi đã tám mươi, từng là quan cùng triều với ông của Ngũ Viên là thượng đại phu Ngũ Lâm, phò tá Sở Linh vương, xứng đáng với cái tên nguyên lão của ba triều. Tuổi tuy cao, tư cách cũng già dặn, ấy thế nhưng lại luôn luôn bất đắc chí, thời Bình vương đã bị thiếu sư Phí Vô Cực bài xích, đến thời Chiêu vương lại bị quốc trượng Diêm Hoài Viễn đả kích, nếu không, một bầy tôi với lứa tuổi cao như đèn tàn trước gió, việc gì còn phải chinh chiến trên lưng ngựa thế này. Cừ Viễn thừa biết mình là lớp người già như cây mục, cập kề miệng lỗ rồi, khó có thể làm gì với tình hình lúc này của quân Sở, thế nên từ ngày cất quân trở đi, luôn luôn nín hơi nhắm mắt, đối với mọi việc quanh mình cứ như nhìn mà không thấy, nghe mà không tường, đành chịu làm một kẻ sống thừa, một cái xác biết đi. Nang Ngoã cũng chẳng hề để tâm việc ấy, cứ làm như không có con người này đang tồn tại ở bên mình. Tuy nhiên lòng trung với vua của Cừ Viễn thì không hề thay đổi, chí đền nợ nước vẫn còn, tính thẳng thắn không xu nịnh vẫn chưa thay đổi, cứ ngụy trang đóng kịch mãi thế này e không được lâu, nín nhịn dù sao cũng chỉ có mức độ, nên những điều nhơ bẩn trong quân đội khiến ông không sao mở mắt ra được. Những sự bỉ ổi trong quân đội lúc này khiến ông thấy ngột ngạt khó thở. Những hiện tượng thối nát trong quân đội khiến ông tức giận. Cừ Viễn một đời căm ghét cái ác như kẻ thù, sức mấy lại chịu làm một thứ cây mục, một thứ ung nhọt tê liệt và bất nhân như thế, ông không thể chịu đựng thêm được nữa, mấy lần tìm Nang Ngoã để trò chuyện, bã bọt mép ra để khuyên ngăn. Nhưng vẫn là một lệnh doãn, Nang Ngoã ngoài mặt luôn tỏ ra khoan hồng độ lượng, không dám nổi nóng lên với vị nguyên lão tam triều này, làm như rất khó xử, không biết làm thế nào, nhưng trong lòng lại ngắm nghiến răng nhắm mắt, mấy lần đã buông ra tiếng chửi thầm “già mà chẳng chết rồi thành giặc! Mèo già hóa cáo!” luôn tìm cách đẩy Cừ Viễn vào chỗ chết, nhưng khổ một nỗi là chưa có cớ. Không ai có thể xử tội người hết lời khuyên bảo, vả lại Cừ Viễn râu tóc như cước, tuy không đức cao trọng vọng như ai, nhưng trong triều đình nước Sở từ trên xuống dưới, dù sao cũng vẫn còn đôi chút uy tín và ít nhiều thế lực. Có Chiêu Vương e rằng cũng không dễ dàng gì trị tội được ông, cho nên Nang Ngoã thấy mình phải đối xử thận trọng. Tuy không được thông minh cho lắm, nhưng trong trường hợp bình thường, Nang Ngoã chí ít cũng biết nên suy trước nghĩ sau thế nào, thế như khi đứng trước hiền tài và sắc đẹp, hắn bỗng trơ thành một con bạc khát nước,, hai mắt long lên những tia sáng tham làm thèm khát, có kẻ nào mà đụng vào lợi ích của hắn, hắn sẽ rít lên như một con lừa đực và chồm tới như thú dữ.
Lần này Nang Ngoã đem đội thủy quân đi đánh Ngô, không phải lênh đênh cả ngày cả đêm trên sông nước, mà là ngày đi đêm nghỉ, như người đi thăm thú nơi non xanh nước biếc nào đó mà thôi. Cứ chiều chiều, thuyền bè cập bến, người lên bờ, hoặc cắm lều đóng quân tạm một đêm, hoặc đuổi dân chúng đi, lấy ra hàng trăm hàng ngàn phòng ngủ. Có một đêm, vào khoảng giờ Tuất, Cừ Viễn vừa mới ngả mình nằm xuống, còn chưa kịp ngủ, bỗng thấy ngoài phố tiếng người xôn xao, lẫn với tiếng khóc gào, tiếng đánh đập, tiếng chửi rủa ầm ĩ, không biết đã xảy ra chuyện gì, ông vội khoác áo ra ngoài xem sao. Trong ánh trăng mông lung, rất nhiều người đang vây lấy một cô gái ăn mặc quần áo đẹp, một đám lính tráng đang giằng co với một số con trai con gái để dành lấy cô gái đang khóc không ra tiếng. Bên ngoài đám đông, một bà già đang ngồi bệt trên mặt đất gào khóc, chửi bới, vật vã, giọng bà đã khê đặc, nước mắt chan chứa, đau khổ như không thiết sống nữa, tình cảnh hết sức thê thảm. Qua hỏi han, Cừ Viễn được biết đó là đám lính Sở đêm xông vào nha dân, cướp cô dâu mới cưới của người ta đem về cho Nang Ngoã dâm lạc, ông bất giác thấy tức giận muốn nổ phổi ra, vội bước lên một mô đất cao, từ trên ngó xuống quát lớn:
– Các tướng sĩ của quân Sở không được vô lễ!
Tiếng quát của một người già cả trong đêm vắng nghe càng âm vang và nặng nề, mọi người có mặt đều khựng lại, trong trời đêm, ánh trăng tà như run rẩy, lác đác mấy vì sao hơi nhấp nháy chập chờn… Có tật thì giật mình, đám quân Sở nhìn lên thấy thấp thoáng mô đất cao là hình tượng cao lớn như tòa tháp sắt và vẻ mặt sa sầm của Cừ Viễn, tên nào tên nấy không rét mà run, tên hiệu úy đi đầu rụt rè hỏi:
– Lệnh doãn quở tội xuống, chúng tôi biết chịu sao nổi…
– Trời có sập xuống cũng đã có ta chống đỡ, không can gì đến các người, mau thả cô gái kia ra – Cừ Viễn gầm lên như sấm.
Đám quân Sở không dám chống lại lệnh của Cừ Viễn, thả cô gái bị co kéo giành giật ra, im lặng theo nhau lủi mất. Cừ Viễn vội bước xuống khỏi mô đất xin lỗi những người dân vừa bị cướp bóc và giải thích với họ đôi điều. Cô gái đáng thương thoát khỏi miệng hùm, quỳ thụp xuống chân Cừ Viễn, vái lia vái lịa, cả cha cả mẹ cô gái ấy cũng quỳ xuống theo, luôn tay vái lạy tạ ơn.
Cơn sóng gió thế là được dẹp yên, đêm ấy Cừ Viễn ngủ một giấc vừa yên ổn vừa ngon lành. Tuy nhiên, Nang Ngoã thì cả đêm lại không hề nghỉ đến việc lên giường ngủ ngáy.
Xung quanh Nang Ngoã lúc này có cả chục cô gái đẹp. Cô thì Sính đô đưa tới, cô thì cướp được ở dọc đường nhưng hắn vẫn là hạng người thích có mới nới cũ, chơi bời lâu ngày với một người, bỗng sinh chán, và muốn thay khẩu vị ngay. Mấy hôm nay tiến quân vào vùng núi Dự Chương, rừng sâu thường có ngựa hay, hắn muốn được hưởng chút phong vị đặc sản của rừng núi, cho dù có chua đến chảy nước miếng ra, có cay đến rụt lười lại, miễn là tính kích thích càng mạnh càng tốt. Hôm qua đến một bản làng ở chân núi, Nang Ngõa luôn tỏ ra buồn bực bứt rứt. Vốn là một gã nát rượu thành thần, ấy thế mà bữa cơm tối lại không hề uống lấy một giọt, cơm cũng ăn rất ít, chốc chốc còn nổi cáu với cả những người ở xung quanh, những kẻ bộ hạ đi theo hắn lâu ngày, cũng chẳng ai biết cơn mưa gió bất thường này ở đâu kéo đến, đành chỉ biết bảo nhau cẩn thận hơn, để khỏi gây nên chuyện rắc rối. Khoảng sau giờ Thân, bỗng có kẻ tâm phúc mật báo, bản làng tối nay có đám cưới, cô dâu nghe đâu xinh đẹp lắm, lòng có là sắt đá cũng phải xiêu. Nghe báo tin thế, Nang Ngoã bỗng tươi tỉnh hẳn lại, nét rầu rĩ trên mặt bỗng biến sạch sành sanh, liền ra lệnh cho người đi cướp về cho hắn. Bọn khuyển ưng ra đi, Nang Ngoã liền đi rửa mặt chải đâu, chỉnh đốn lại khăn áo, mặt khác sai người hầu quét giường đặt chăn, chờ bắt được cô thôn nữ xinh đẹp kia về là có thể lên giường được. Nhưng bọn khuyển ưng mãi chẳng thấy về khiến Nang Ngoã sốt ruột, ngồi đứng không yên, như một con chó đực phát dục giữa mùa xuân, hắn cuống quít cả lên, hết đi lại vào, đi vào chán lại đi ra ra ngóng đợi. Đã gần đến nửa đêm, bọn người sai đi bắt cô dâu lủi thủi quay về, tên nào tên ấy rũ xuống như cây cỏ héo, cúi đầu cúp tai… Thấy bọn tay chân trơ trụi quay về không bắt được người, Nang Ngoã nổi nóng đùng đùng, tròng mắt hắn đỏ lên như lửa đốt, bất chấp cả tư cách và sự tôn nghiêm của mình, hắn chồm lên túm lấy ngực của viên hiệu úy đi đầu, lắc đi lắc lại, khiến tên này cũng phải lảo đảo, xiêu bên nọ vẹo bên kia, đứng không vững, sợ run lên như cầy sấy, làm sao còn có thể trả lời được câu hỏi vì sao của chủ tướng. Sau cùng, một người lính bạo dạn đã kể lại mọi điều oan ức của họ. Nghe xong, Nang Ngoã như thấy lửa giận bốc hừng hực lên đầu, lệnh cho chém đầu viên hiệu úy ném cho chó ăn, còn lại cho tống giam hết, để đợi lệnh đi lưu đầy. Hắn định lập tức sai người đến bắt ngay lão già Cừ Viên chết tiệt kia đến, băm ra trăm mảnh, để cho hả nỗi giận trong lòng, thế nhưng vừa định nói ra miệng, đành lại phải nuốt xuống, bởi thiếu tư mã Cừ Viên là nguyên lão ba triều, khác với các tướng lĩnh bình thường, hắn không dám hành động liều lĩnh. Mỗi lúc như thế này, Nang Ngoã lại hậm hà hậm hực, căm vì mình tuy được ở trên muôn người, nhưng lại phải dưới một người, cái người đó như quả núi Thái Sơn, để cho hắn thở không ra hơi, giá như bên trên không có con người ấy, hoặc chính mình lại được là con người ấy, thì có phải là đã chẳng còn sợ ai, muốn sao được vậy hay không? Như thế hỏi còn ai không phục, còn ai dám nghi ngờ, còn ai dám chống lại, có thì xử tội chết ngay, khỏi phải cân đi nhắc lại như lúc này mà chịu khổ chịu sở nữa. Nghĩ đến quyền lực tối cao ấy, Nang Ngoã bỗng thấy thèm nhỏ rãi cái địa vị chọc trời khuấy nước, mở miệng ra là luật pháp nói ra là như bạc như vàng… của Chiêu vương, trước mắt hắn hiện ra từng màn từng cảnh cái quyền lực tối cao ấy sẽ được diễn ra.
Chiêu vương cho mở công trường lớn, làm đẹp cung thất của mình, khiến nhân dân phải vất vả mệt mỏi, nhà vua còn sai bắt con gái đẹp trong cả nước cho vào ở trong cung thất ấy để dần dần mang ra làm đồ chơi. Quần thần không nỡ để cho nước Sở hưng thịnh phải sụp đổ, nên nhiều phen lần lượt khuyên ngăn, Chiêu vương không chịu nghe, nên đã liên tục giết mấy vị quan văn quan võ, lời khuyên ngăn dần dần hết đi, chẳng bao lâu cung điện nguy nga theo nhau mọc lên, con gái đẹp đông như rừng.
Trong cung nước Sở nuôi cả đàn voi còn nhân dân bụng đói cật rét, thì lại không hề thương xót. Có một quan thượng khanh lo cho nước cho dân, đã ngỏ ý phê phán Chiêu vương, nhà vua giận quá hóa cùn, đập bàn hô lên:
– Lôi ra ngọ môn chém đầu!
Tiếng hô còn chưa dứt, vị lão thần chinh chiến ngược xuôi suốt một đời ngã xuống vũng máu.
Từ ngày đưa con gái Diêm Hoài Viễn vào cung và sách phong cho là Chân Mai quý phi, Chiêu vương suốt ngày đắm đuối trong tửu sắc, không còn hỏi gì đến chính sự mà còn làm ra bao nhiêu chuyện hoang đường hại dân hại nước. Có một đại thần xuất phát từ lợi ích của giang sơn xã tắc, đã can gián Chiêu vương, kể lại chuyên Trụ vương vì quá say mê sủng ái Đát Kỷ mà nhà Thương phải tiêu vong, U vương vì say mê sủng ái Bao Tự mà buộc phải dời đến phía đông… khuyên nhà vua hãy rút ra bài học lịch sử, chớ có đi vào vết xe đổ của người xưa để đến nỗi thiệt thân, mất nước. Chiêu vương làm sao có thể nghe được những lời trung thực nhưng chối tai đó, đã đưa con người rường cột của quốc gia ấy ra xé xác ngay ngoài chợ.
Từ sau ngày có trong tay cây gươm báu Trạm Lư, Chiêu vương thôi không còn nhắc nhở gì đến chuyện binh lính nữa, đặt tất cả hy vọng vào ý trời, suốt ngày chìm đắm trong giấc mơ hão huyền là làm vua thiên hạ, bá chủ chư hầu, cứ làm như nước Sở đã thực sự quốc thái dân an, quân mạnh ngựa khỏe rồi không bằng. Có những bề tôi trung thành khéo léo lựa lời khuyên bảo, chỉ ra rằng đây là kế rút củi đáy nồi của nước Ngô, nếu cứ thế này kéo dài, nước Sở sẽ không còn đủ sức mà chống được ngoại xâm, một khi nước Ngô dấy quân toàn diện để đánh sang nước Sở lúc ấy nước Sở sẽ như trứng để đầu đẳng. Trung thần thành tâm khuyên bảo, Chiêu vương lại kết cho cái tội là “làm tăng khí thế người khác, để mất oai phong của mình” và đem ném vào vạc đầu.
Cứ như thế vv… không sao để xiết.
Chiêu vương tin lời xiểm nịnh và ham giết người, tội ác sờ sờ ra đó mà Nang Ngoã lại ngưỡng mộ thèm thuồng, đủ thấy họ là hạng cáo chồn cùng một duộc. Trong quá trình ngông cuồng giết hại trung thần, những người có mưu trí đều chạy sang nước Ngô theo giúp địch, Ngô vương đều thu nhận và tin tưởng hết và giao cho công việc nước. So sánh hai bên đủ thấy: nước Ngô làm gì chẳng từ yếu trở nên mạnh, nước Sở sao tránh được từ mạnh trở thành yếu.
Hôm sau lên thuyền Nang Ngoã chẳng những không quở trách gì Cừ Viễn, ngược lại còn mở tiệc đãi đằng, để tỏ lòng biết ơn sâu sắc. Nang Ngoã nói rằng nhờ có Cừ Viễn can ngăn nên mới không đến gây thành sai sót lớn, ơn đó không phải nhỏ, suốt đời không quên. Cừ Viễn tuy trong lòng tức giận, nhưng Nang Ngõa đã chủ động cáo lỗi, nên cơn lửa giận đã tiêu tán hết. Thật vậy! Con người ta đâu có phải là thánh hiền, mà không có sai lầm! Ngay cả bậc cổ thánh tiên hiền, thế nào trong cái hay cũng còn chỗ chưa đầy đủ, đúng như người ta bảo ngọc kia còn có vết, nhân vô thập toàn. Giá như Nang Ngoã từ đó biết bình tâm hối cải, vẫn không bị mang tiếng là một lệnh doãn xấu.
Ngay đêm hôm ấy, lại đậu lại ở một bến cảng khác, Cừ Viễn vừa chợp mắt, bỗng có kẻ xông vào trọng nhà, đó chính là tên thị vệ tâm phúc của Nang Ngoã. Theo lệnh của hắn, đến để kết liễu tính mạng Cừ Viễn, ám sát xong sẽ quăng xác xuống sông, làm cái chuyện thần không biết quỷ không hay, để Cừ Viễn từ đó trở đi không còn tiếng tăm chi nữa, và đến ngày ca khúc khải hoàn trở lại kinh đô, bẩm báo với Chiêu vương rằng Cừ Viễn tư mã đã bị mất tích trong khi kịch chiến, vừa hả được nỗi hận trong lòng, vừa khỏi bị các quan cùng triều căm ghét. Tiếc thay, hai tên thị vệ tâm phúc đó của Nang Ngoã còn chưa hết lương tri, nên không nỡ hại một lão thần vốn có công cao với nước, đã để cho ông được sống.
Cừ Viễn chào tạ ơn ân nhân cứu mạng rồi lẩn vào rừng sâu, từ đó thôi không bao giờ hỏi han đến việc đời nữa.
Nang Ngõa đã thống soái đội thủy quân của hắn, ra khỏi vùng núi Dự Chương, tiến vào Trường Giang, nơi sông rộng nước sâu, cưỡi gió vượt sóng, thuận chèo xuống thẳng phía nam để tới nước Ngô, dọc đường đi lại gieo rắc không biết bao nhiêu nợ máu và tội ác.