Tôn Tử Truyện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 73 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Vi Bơi Thuyền Trên Bột Hải – Xin Học Ở Mông Sơn
Chương Vi Bơi Thuyền Trên Bột Hải – Xin Học Ở Mông Sơn

❊ ❊ ❊

Một con người, nếu không có hoài bão lớn lao như biển rộng, không có khí như sóng cả ầm ào, không có ý chí vật lộn với sóng gió thì dứt khoát không thể trở thành một vị tướng lĩnh chỉ huy thiên binh vạn mã, một anh hùng ra tay làm gió làm mưa… Với nhận thức như thế, sau chuyến đi thăm Thái Sơn trở về không lâu, Điền Thư lại dẫn cháu nội đi ngao du nơi biển rộng.

Tháng tám, trời thu cao vợi, mây đẹp như tranh. nhạn bay về nam, lá đỏ đầy cành… đây là mùa trái chín, mùa thu hoạch, mùa thu vàng. Trên đồng ruộng tràn ngập tiếng cười dầy ắp niềm vui, chan hoà niềm sung sướng. Nhà nông hoặc vung cao tay hái gặt về thành quà của một năm nước mắt mồ hôi, hoặc vung roi giục trâu, cày xới và gieo một mùa hy vọng mới, Một buổi sớm mà ánh ban mai nhuộm say cả chân trời, ông cháu Điền Thư ngồi thuyền thuận trôi theo dòng Tri Thuỷ, vào sông Tiểu Thanh, lách qua sông Dương Giác rồi tới vịnh Lai Châu. Biển như một tấm gương khổng lồ, nước xanh đen pha màu lam, phẳng phiu mịn màng như nhung như gấm, lấp lánh ánh quang như một chiếc gương đồng. Trên mặt biển mênh mang không biết đâu là bờ, những cánh buồm của thuyền đánh cá, như những áng mây trắng trôi trên nền trời xanh. Trời xanh, mây trắng, biển biếc với những cánh buồm, vẫy gọi nhau, mơn trớn vỗ về nhau, soi rọi cho nhau rồi đến nơi mênh mông cuối đất cùng trời thì hoà nhập với nhau làm một. Cá bơi trong nước có thể nhìn rõ từng con, hoặc lắc đầu vẫy đuôi, hoặc lao đi như sao đổi ngôi, hoặc như mừng rỡ đuổi nhau đùa giỡn với nhau, hoặc đuổi bắt nhau. Có một loại cá chuồn, chốc chốc lại bay lên đầu thuyền, đến khi ta muốn chìa tay bắt, nó lại tung mình lên cao rồi lao đầu xuống nước. Trên mặt biển lặng như tờ, thỉnh thoảng có những cái ụ nhô lên cao cao, thuyền bè đều phải tránh xa, đi vòng lối khác. Ông nội bảo với Điền Vũ, đó là lưng của cá ông Voi, nó có thể nuốt lọt cả thuyền lẫn người vào trong bụng. Ba chiếc thuyền buồm xếp thành hàng dọc thuận gió mà trôi, băng băng về phía trước. Tại sao lại có ba chiếc thuyền buồm? Nguyên là khi Điền Vũ theo ông ngồi thuyền đến sông Dương Giác, thì đã thấy hai chiếc thuyền như quái vật khổng lồ đợi sẵn ở đó, đó là hai chiếc thuyền nhà binh mà ông nội điều đến để giữ an toàn cho hai ông cháu. Trên mỗi con thuyền đó ngoài thuỷ thủ và thuyền phu ra, còn có một số binh lính có vũ trang đầy đủ, bởi vì trên biển, thường hay có bọn cướp biển hoành hành.. Thuyền nghiêng đi, cột buồm vặn đi, buồm căng lên, lướt trên đầu sóng, lao đi như gió. Điền Vũ lấy làm lạ hỏi người tài cống, tại sao mà thuyền lại đi nghiêng như thế, liệu có bao giờ bị lật không? Người tài cống bảo với Điền Vũ, thế gọi là “thuyền nghiêng ngựa hăng”, thuyền chỉ nghiêng như thế mà đi, mới có thể nhanh như gió; ngựa chỉ có con nào tính hung hăng, mới có thể tung vó như bay. Người tài cống nói thế và ngay sau đó điều khiển cho chiếc thuyền nghiêng đi như nằm trên mặt nước, lấy sườn thuyền làm đáy, còn đáy thuyền lại thấp thoáng hiện lên trên mặt nước. Có lúc cái thuyền như rời khỏi mặt nước bay là là trên không. Ông nội tay trái bám vào mạn thuyền, tay phải ôm riết Điền Vũ vào lòng, e xảy ra điều gì không may, bên cạnh ông có hai người lính săn sóc giúp ông. Điền Vũ ngược lại không hề sợ hãi, cậu hết nói lại cười, hết cười lại nghịch, chỉ muốn thoát ra khỏi vòng tay kìm giữ của ông nội, để được vui đùa cho thoả thích. Nhìn dáng vẻ của cậu bé lúc này cứ như đang muốn lao đầu xuống biển, bơi một chuyến cho thật thoả thuê, bắt lấy vài con cá lớn… Để làm cho tình cảm ấy của Điền Vũ bình tĩnh lại, ông nội đã kể cho cậu nghe về biển, về cá, về những. hòn đảo về long cung, về thế giới thần bí và diệu kỳ dưới đáy biển…

Người ta thường bảo: Trời trên mặt biển, như mụ già khó tính, bảo trở mặt là trở mặt ngay, vừa mới rất trong sáng, trời xanh biển biếc là thế đã có thể sầm sì lại được ngay. Từ chân trời đằng tây bắc, một cụm mây đen vừa xanh vừa tím như một đụn khói âm ỷ lửa. Đụn mây đó nhanh chóng toả rộng ra, rồi lan dần và đùn lên cao ngược theo chiều gió, rất nhanh chóng che kín nửa bầu trời. Những đụn mây đặc quánh chất chồng như núi ấy bỗng vần vụ rồi thành hình một con rồng, đầu trên ngóc đến trời, đầu dưới cắm xuống đất dựng thành một cây cột giữa trời với đất. Con rồng khổng lồ ấy vùng vẫy lên, rồi lăn lộn, rồi gầm thét, giơ nanh múa vuốt, ngậm gió phun mây, rồi trườn tới như một con quái vật. Bầu trời mỗi lúc một thấp hơn, từ màu chì xám biến thành màu đen đặc như một cái chậu úp nặng nề. Biển mỗi lúc một vô tình hơn, không còn là bè bạn nữa, mà là một kẻ thù, gầm lên như thú dữ. Những tài cống hay các thuỷ thủ có kinh nghiệm trong nghề đi biển biết rằng: Đây là cơn gió lốc rồng cuốn hình thành giữa biển khơi, nhìn dáng vẻ đó là biết ngay sắp diễn ra một cơn tai biến, lành ít dữ nhiều. Thế là họ vội vàng hạ buồm xuống và áp dụng các biện pháp phòng bị kịp thời. Đang giữa lúc luống cuống chân tay, cơn gió lốc với thế Thái Sơn đè đầu đã ập tới, vũ trụ mênh mông biến thành một vòng quay lớn, trời xoay, đất xoay, thuyền xoay, người xoay… vạn vật trên thế gian, tất cả đều đang quay cuồng. Nước biển đang cồn cào, đang giận dữ, đang gầm thét, đang sục sôi, bao nhiêu thuyền lớn thuyền nhỏ trên mặt biển lúc này, chỉ như những chiếc kén tằm trong nồi nước ươm tơ sôi sùng sục. Chúng quay dọc quay ngang, nhao lên nhao xuống, lúc thì mất hút trong tầm sóng, lúc lại bị đẩy nhô cao lên trên đầu sóng, lúc lại bị trôi dạt đi theo luồng nước. Cũng may mà trước đó họ đã đề phòng, chẳng hạn, lấy thừng cố định người vào mạn thuyền, vào cột buồm, thuyền không lật, không vỡ, người cũng không bị rơi xuống biển. Tuy nhiên người nào người nấy bị nôn thốc nôn tháo ra cả mật xanh, mật vàng, mặt vàng nhợt, tái đi như một gã say. Đến lúc cơn sóng gió qua rồi, ba chiếc thuyền thì vỡ hết hai, lính tráng bị rơi xuống biển mất năm sáu người. Đó là điều rất may trong cái không may, vì nơi họ đi qua mới là bên lề của cơn gió xoáy, còn những chiến thuyền nằm vào giữa vùng gió xoáy, chẳng cái nào thoát khỏi, thuyền thì vỡ, người thì chết, nhiều cái thuyền còn bị cuốn lên cao rồi rơi xuống cách đó hàng mấy dặm, hàng chục dặm, có cái còn mất luôn tung tích. Mưa bão qua đi, trên mặt biển dập dờn đây đó những ván thuyền, buồm, ngư cụ, đồ dùng, nhiều hơn cả là xác người, thảm cảnh ấy không ai muốn nhìn. Tất cả thuyền phu, thuỷ thủ, binh lính của ba chiếc thuyền cùng ông cháu Điền Thư lúc này dồn vào một thuyền. Người đông, thuyền nhỏ, vượt quá sức chịu đựng của con thuyền, nên nó tròng trành nghiêng ngả, lúc nào cũng có nguy cơ chìm lật, ai cũng lo sợ như ai, đúng là cùng hội cùng thuyền. Bỗng nhiên, từ phía trước trôi tới một chiếc thuyền đánh cá còn nguyên vẹn. Hai thuỷ thủ tuân theo lệnh của Điền Thư, đã nhảy xuống nước, chặn chiếc thuyền đang trôi dạt đó lại. Mái chèo sào chống trên thuyền đã chẳng còn thứ gì, hai người đành vừa bơi vừa đẩy chiếc thuyền đó tới chỗ mọi người, cho đến khi hai thuyền áp mạn nhau. Số người ở trên thuyền cũ chia đôi ra, một nửa sang bên chiếc thuyền mới nhặt được, hai chiếc thuyền từ đó như mới có sức sống, tiếp tục cuộc hành trình bình thường.

Sau một hồi say sóng, nôn mửa, Điền Vũ ngủ ly bì, vẻ mặt nhợt nhạt, trên toàn thân da nổi gai gà rõ cao. Cậu nằm co ro trong lòng ông nội, như một con gà rù, thỉnh thoảng vẫn còn ứa bọt ra bên mép, trong lỗ mũi vẫn đọng lại một chút nước nhờ nhờ máu. Nhìn thấy tình cảnh đó, vị lão tướng từng qua trăm trận, cũng thấy run run trong lòng…

Gió lặng, mây tan, trời trong, tạnh nắng, mặt biển trở lại phẳng lặng như thường. Ngàn vạn con sóng lăn tăn, trắng xoá cả trên nền biển biếc, như một tấm nhung xanh đậm trải ra, mịn màng, phẳng phiu, dập dờn toả lên ánh sáng dịu dàng. Hai chiếc thuyền lại căng buồm lên, như một con cá đang bơi, lại lắc đầu, vẫy đuôi, tung tăng vô tư lự, thoải mái lướt đi. Các thuyền phu cũng thoải mái cầm chèo, kéo buồm, như nhà thơ bày tỏ những tứ thơ trên giấy, như hoạ sĩ phết bút màu lên lụa, như nhạc công đang gieo những nốt nhạc trên dây đàn… họ không phải đang vất vả với công việc, mà là đang gửi gắm tình cảm của mình vào từng động tác, hoàn thành một kiệt tác nghệ thuật cho đời. Điền Vũ nằm trong lòng ông giờ lâu, những nốt gai gà trên da dấn dần mất đi, hơi thở đã đều hoà và nét mặt cũng hồng hào trở lại. Cậu đột nhiên hét lên trong mơ, khiến mọi người phải giật mình: “Ông ơi! Cá! Cá mập to quá!” trên nét mặt bỗng hiện lên vẻ kinh hoàng. Nói thế xong, cậu trở mình, rồi lại li bì ngủ tiếp, rãi chảy cả ra mép. Không biết đi như thế bao nhiêu lâu, Điền Vũ cuối cùng đã tỉnh lại, từ chỗ ấm sực hơi người trong lòng ông nội, cậu bò dậy và vươn vai dài mấy cái, hỏi ông mình: – Ông ơi! Lúc này ta đang ở đâu hả ông? – Như một người quá mệt mỏi, ngủ đi một giấc thật say, tất cả sẽ lại như ban đầu, những gì xảy ra đều quên hết sạch sành sanh, chỉ còn mang máng nhớ là mình được ông cho đi chơi ở biển, rồi gặp gió bão…

Thấy cháu mình thật sự an toàn, tảng đá đè nặng trong lòng Điền Thư bỗng như có ai lấy đi, ông đã kể có ngành có ngọn cho Điền Vũ nghe về cơn bão rồng cuốn gió, về những nỗi thảm hại mà ba chiếc thuyền đã gặp phải, về nỗi đau khổ của những người lính phải bỏ mình, về nỗi đáng thương khi Điền Vũ bị say sóng nôn mửa và ngất đi… Điền Vũ mở to đôi mắt tinh anh, chăm chú nghe như nuốt từng lời. Khi nghe đến việc những người lính đã anh dũng quên thân để bảo vệ cho mình, đôi mắt cậu bé long lanh ứa lệ…

Gió lại nổi lên, biển lại cồn cào và sóng đang trỗi dậy, tung lên những chùm bọt trắng, con thuyền lắc lư nhưng Điền Vũ lại thấy rất thoải mái, chốc chốc còn vỗ tay thích thú. Khi mặt trời chìm xuống mé trời. tây, ráng đỏ rực trời, nhuộm say trên mỗi đầu sóng, lấp lánh như dát vàng, hai chiếc thuyền đi qua cạnh một hòn đảo. Đảo không lớn lắm, nhưng cũng rất xinh xắn gọn gàng, biển bao bọc ba mặt nam, tây bắc, phía đông gắn với đất liền, hình dáng hòn đảo bề dọc hơi ngắn nhưng bề ngang lại rộng, phía bắc cao, phía nam thấp, hình thành như một cái ghế. Trên đảo, nhấp nhô đến bảy tám đỉnh núi, ở phía bắc, sườn núi cao chất ngất, đá nhọn lởm chởm như rừng. Phía nam con dốc kéo dài ra, trải xuống tận mép biển, dưới ánh chiếu tà cát ánh lên như vàng. Phía tây hòn đảo nhô lên một đỉnh núi, dưới chân núi, giữa mặt biển ầm ào sóng gió, mọc lên một tảng đá to, cao đến hàng chục trượng vòng quanh cũng tới trên hai trượng, trông tựa như một vị tướng, khoác trên mình ánh vàng rực rỡ, hùng dũng oai nghiêm… Dựa theo hình dáng đó, người ta mới đặt tên là hòn “Tướng quân”. Thuyền đi đến gần hòn “Tướng quân”, Điền Thư bảo cho đi chậm lại, hai ông cháu đứng trên mạn thuyền, đưa mắt nhìn sang, thấy sóng dữ liên tục nối nhau đập lên tảng đá vỡ vụn ra, bọt nước bắn tứ phía, cột nước dựng đứng lên trời và kèm theo một tiếng réo ầm vang. Có những con sóng lớn đã trồi lên trùm lấp cả hòn “Tướng quân”, như nuốt chửng, như nhận chìm đi, song chỉ trong một thoáng. như chớp mắt, con sóng rút đi, hòn “Tướng quân” vẫn đứng im ngạo nghễ, không hề lay chuyển. Hàng ngàn hàng vạn năm rồi, hòn “Tướng quân” đứng đó, đã chịu bao nhiêu lần sóng gió dập vùi như thế, chẳng ai mà biết được, chỉ biết rằng nó vẫn ngạo nghễ hiên ngang đứng đó ung dung đàng hoàng, không hề suy suyễn. Chẳng chờ đến lúc ông nội chỉ dẫn và khêu gợi, từ hình tượng lớn lao cao cả và dáng vẻ oai nghiêm này, Điền Vũ đã tự ngẫm được ra chuẩn mực làm người: Phải cứng rắn và không biết sợ…

Vầng mặt trời như chìm xuống nước, màn đêm xuống theo, sóng dữ gầm gào càng thấy tối đen đáng sợ cũng may là trên trời còn có sao lấp lánh và một vầng trăng, nên mới biết được đâu là trên, đâu là dưới, đâu là trời, đâu là biển. Dưới ánh trăng mờ nhạt và yếu ớt thấp thoáng thấy phía trước có một hòn đảo nhỏ đen sì. Qua một ngày lắc lư trên thuyền, nhất là sau trận vật lộn với gió to sóng dữ, mọi người ai nấy đều mệt mỏi rã rời. Phía trước lại có chỗ có thể nghỉ ngơi, Điền Thư bèn ra lệnh cho bơi thuyền tới đó, nghỉ một đêm rồi lại đi. Hai chiếc thuyền đến nơi và lần lượt thả neo, mọi người rời thuyền lên bờ, chẳng nghĩ đến chuyện bắc bếp nấu ăn, cũng chẳng lo cắm cọc dựng lều. Mọi người ăn qua loa mấy miếng lương khô, rồi vào rừng tìm chỗ nằm xuống là ngủ, mặc cho sương đêm rơi ướt đầm cả vạt áo!

Đến lúc mọi người tỉnh dậy, mặt trời đã mọc đến ba con sào, ánh nắng xen qua những kẽ lá dày chiếu xuống nền cỏ, lốm đốm từng đám một, ánh lên rực rỡ. Nhìn kỹ khu rừng, hoá ra toàn là dâu, không lẫn một thứ cây gì khác. Ngẩng nhìn lên cành cây, quả bám nặng từng chùm đung đưa theo gió. Đã là cây dâu tại sao không ra hoa kết quả vào mùa xuân, mà lại đến mùa thu mới có trái? Và quả trên cây kia liệu có ăn được không? Mùi vị nó sẽ ra sao? Ngắt một vài trái xuống nếm thử, thì ra đó không phải là quả dâu, mà là kén tằm. Tìm kỹ hơn, thấy trên cây dâu nào cũng có bao nhiêu là tằm thu đang bò và những con ngài đang rung rung cánh đẻ trứng trên cành dâu. Thấy như vậy, đã có người reo lên: – Ồ! Thì ra là một đảo dâu! Chỉ tiếc chẳng có một bóng người! Nếu không đây lại chẳng là một vương quốc tơ lụa rồi ấy chứ!

Nhổ neo tiếp tục cuộc hành trình, hai chiếc thuyền buồm lại lướt trên mặt biển sáng lấp loáng như chiếc lưới cày vạch những đường cày dài trên cánh đồng vàng, lật lên những luống đất màu mỡ bóng loáng như dầu, toả lên một mùi hương đồng nội. Thuyền lướt đi chừng ba canh giờ, sau giờ Ngọ, thuyền cập bến cảng Đăng. Đây là một thành phố cổ dựa vào núi và ôm lấy biển, tuy không lớn lắm, nhưng lại rất xinh đẹp. Đoàn người leo lên một ngọn núi cao như muốn chọc lên trời ở phía bắc thành phố. Quả núi này có đặc điểm là đá, cát, sỏi đều là màu đỏ, cho nên có tên là “Đan Nha”. Trên đỉnh núi này, có một ngôi miếu thờ thần biển. Tượng Hải thần nương nương trong miếu ngồi xếp bằng ngay ngắn, như không nói không cười, khiến người ta cũng phải nghiêm trang kính trọng. Miếu ấy với tượng thần ấy do những ngư dân từng nếm mùi sóng gió xây nên và tô tạc để mong phù hộ cho họ. Núi Đan Nha cao sừng sững, vách đá như dao, đá tai mèo nhấp nhô, xen kẽ nhau như răng lược. Dưới vách đứng là biển rộng mênh. mông, sóng dội ỳ ầm, đập đêm ngày lên từng cơn nghe inh cả tai và rung rinh vách núi, khiến người nghe mà rủn cả ruột gan, mà dựng cả tóc gáy. Đứng trên đỉnh Đan Nha, phóng tầm mắt nhìn ra xa, nơi sóng biển giúp mây trời và nơi màu mây sắc nước hoà chung làm một, thấy có một dãy đảo đen mờ nối nhau thành một dải. Những hòn đảo ấy cũng bị khói mây bao phủ, nối lại với nhau, như một sợi dây xích khổng lồ dăng ngang trên vịnh Bột Hải. Ông nội nói với Điền Vũ những hòn đảo kia trước kia vốn là dãy núi Kiết Thạch liên miên trập trùng; ở giữa không hề bị đứt đoạn, lại càng không có biển nước bao quanh, nhưng năm ấy Đại Vũ trị thuỷ, vì muốn thải hết nước tụ lại thành đầm hồ ở trong đất liền, nên đã đục núi ra theo hình dạng như bây giờ. Điền Vũ nghe xong còn chưa hiểu, hỏi:

– Ông ơi, Đại Vũ trị thuỷ, tại làm sao phải ra mãi ngoài biển để đục núi ạ?

Cậu hỏi rất đúng chỗ, đó là một điều nhưng người bình thường khó mà hiểu nổi. Điền Thư đã giải thích rằng, năm ấy dãy núi Kiết Thạch vốn gắn chặt với đất liền, nói cách khác, nó là mũi cực đông của Thanh Châu, ngoài Kiết Thạch mới là biển rộng. Lúc bấy giờ, Thanh Châu là một trong chín châu đất đai rộng lớn, ngay cả dãy núi Trường Bạch ở Đông bắc, cũng là một khu trong vùng quản hạt của Thanh Châu; phía tây núi Nghiên Thạch cũng không có vịnh Bột Hải như ngày nay, mà là nối liền với lục địa. Đến thời vua Nghiêu do thế đất biến động, nạn hồng thuỷ gây thành tai hoạ, con người biến thành tôm cá, vua Vũ đã nhận lệnh nối nghiệp cha đi trị thuỷ, xa nhà mười ba năm; chịu đủ mọi trăm cay ngàn đắng, ba lần qua cửa nhà mình mà không về, cuối cùng đã trị được nạn lụt trong thiên hạ. Chiến dịch đầu tiên khi vua Vũ bắt tay vào trị thuỷ là cho đào thông Kiết Thạch, rồi đào thêm mười con sông ở châu Thanh, châu Duyễn, ngược lên theo Hoàng Hà, đục Tam Môn, chừa Để Trụ, xẻ Thái Hoa, mở Long Môn… cho đến lúc xẻ Sơn Hải ra, làm cho nước biển cùng rút xuống với nước sông không có gì trở ngại, cho đến tận hạ lưu thì chín sông phân lũ, đến cuối cùng chín hợp làm một ở chỗ Nghịch Hà, từ chỗ được đục ra ở núi Kiết Thạch, thải nước ra biển lớn…

Trước đây, Điền Vũ chỉ láng máng biết được vua Vũ là một vị anh hùng trị thuỷ cho dân mưu hạnh phúc cho trăm họ, còn hoạ nước đã được trị yên như thế nào, thì cậu chẳng hề biết tý gì, nay nghe ông nội kể thế, cậu càng thấy mến phục người anh hùng trị thuỷ này. Thật khó có thể tưởng tượng được rằng, một dãy liền núi nọ dính với núi kia trùng trùng điệp điệp như thế, năm ấy Vũ đã làm thế nào mà dẫn mọi người đào đi được và như thế thì phải mất bao nhiêu công sức và chịu biết bao nhiêu khó khăn cực khổ…

Điền Vũ còn đang nghĩ vẩn vơ như thế, bỗng có người kêu lên:

– Nhìn kia, chẳng thấy những hòn đảo kia đâu nữa!

Mọi người theo tay người ấy chỉ, những hòn đảo nhìn thấy lúc đầu không biết đã biến đi đâu mất sạch. Ở nơi nước liền trời bỗng nổi lên hình bóng của một ngôi thành cổ, cung điện nguy nga, nhà cửa ngay ngắn, tháp cổ cao ngất, đường phố thênh thang. Trên đường phố có nhiều chấm đen đi đi lại lại, lúc ẩn lúc hiện rất giống như người ngựa lính tráng đi lại. Một lát sau, thành thị bỗng biến thành núi non hùng vĩ, đỉnh núi nhấp nhô kéo dài liên miên, mịt mù mênh mông không thấy đâu là đầu là cuối. Dưới chân núi phảng phất như là mặt biển, nơi bờ biển thấp thoáng hiện ra một làng chài. Dần dần núi non mờ nhạt đi, và chỉ trong nháy mắt cả trời xanh biển biếc, không còn thấy gì nữa hết, những hòn đảo ban đầu lại hiện rõ mồn một.

Có một thuyền phu già trạc tuổi Điền Thư đã nói rằng, đó không phải là núi Kiết Thạch, mà đó là Bồng Lai, một trong ba quả núi tiên trên biển, ở trên núi đó toàn là thần tiên, họ ăn cỏ linh chi ở trên đảo, cho nên có thể trẻ mãi không già, có người đã sống trên một vạn năm. Vị thuyền phu già ấy, sư phụ của ông đi thuyền qua đấy, đã từng thấy đông đảo thần tiên tụ hội trên đảo, nào là từ trên mây xuống, nào là từ trong sương mù bước ra, nào là cưỡi rồng, nào là cưỡi gió đến, oai phong vô cùng…

Nghe thuyền phu giảng giải Điền Vũ thấy mê tít, vội giục ông hãy cho nhổ neo đi về hướng đông, để tới thăm nơi tiên đảo Bồng Lai. Điền Thư nhất định không bằng lòng không phải vì đảo tiên là nơi chỉ nhìn thấy mà không bao giờ tới được, mà bởi vì chuyến này căng buồm đi xa thăm các nơi trên biển lớn cũng như trước đây đi thăm Dịch Sơn, leo lên Thái Sơn… mục đích là để tiến hành giáo dục cho Điền Vũ. Mà đã là giáo dục, thì bao giờ cũng phải dành lại đôi chút, không bao giờ làm hết mọi điều. Giống như dạy cho đứa trẻ tập đi trước hết dìu nó đi, rồi dắt nó bước, sau đó mới nhìn cho nó đi, động viên nó đừng nên sợ ngã, mà hãy mạnh dạn tiến lên. Đứa trẻ bước đi đâu có phải cứ luôn luôn phải có người lớn dắt tay, mà là bước đi dưới sự gợi mở, dỗ dành, động viên của người lớn, để nó tự mày mò, tự khám phá, rồi xông pha…

Sau chuyến đi chơi biền trở về, mấy hôm liền, Điền Vũ chẳng thiết gì ăn uống, đêm ngủ cũng không yên, luôn trằn trọc trở mình. Điền Thư đinh ninh cho rằng chưa được đi thăm Kiết Thạch, nên Điền Vũ làm mình làm mẩy như vậy cho nên đang tìm cách lựa lời khuyên giải. Bỗng một hôm tay cầm một bó thẻ tre, Điền Vũ hớn hở đi tìm ông nội. Thì ra cậu vừa mới viết xong một bài thơ, nói lên điều cảm nhận của mình sau một chuyến trèo non vượt biển và gửi gắm hoài bão lớn lao của mình. Bài thơ viết rằng:

Trời rộng không thang, ôi mây trắng leo được lên

Đất dầy không đường, ôi gai góc có thể xuyên

Ra biển rộng, ôi lòng thênh thang

Leo Thái Sơn, ôi chí thêm bền!

Đường dài liên miên, ôi có gì đáng sợ

Khó khăn đầy rẫy lòng đâu há phiền!

Như gió xuân hiu hiu, ôi đất bằng lên xanh

Giống mặt trời sáng soi, ôi muôn loài ấm thêm!

Đọc xong áng thơ Điền Vũ mới viết xong, ông nội xúc động đến rưng rưng nước mắt, mừng đến nỗi khoa chân múa tay. Ôi! thằng bé mới thông minh làm sao! Thật không phụ với công lao ông chuyên cần săn sóc bấy nay…

Không lâu sau, do phải thao luyện quân đội nên Điền Thư phải cùng phái bộ của mình hành quân đi xa, không tiện mang theo Điền Vũ ở bên mình; vả lại các vị hiền triết ngày xưa cũng đã từng “đổi con mà dạy”, cho nên, ông đã gửi Điền Vũ cho một người bạn thân là Vương Hử, nhờ ông này dạy dỗ. Vương Hử, là đạo trưởng ở Mông Sơn, được công nhận là biết nhiều cách tính toán, tiên nghiệm về trời đất trăng sao, lại có sở trường về công việc nhà binh. Trong một cuộc chiến đấu, Điền Thư đã từng cứu sống Vương Hử, hai người dần dần trở nên đôi bạn nối khố. Điền Thư gửi cháu cho Vương Hử dạy dỗ, đương nhiên để nó học võ là chính, còn đối với đạo gia và nhà tướng số chiêm tinh, Điền Thư không thực sự có hứng thú gì cho lắm.

Mông Sơn là phần kéo dài của Thái Sơn, chủ yếu cấu tạo bởi các loại nham thạch biến chất, đá hỗn hợp và đá hoa cương, với các đỉnh núi nhọn sắc nhấp nhô, chon von ngất ngưởng, hẻm trũng khe sâu, vách đứng chơi vơi, như so mây và sánh với mặt trời. Khắp núi là rừng sâu, cỏ dại, dây leo chằng chịt, nhìn lên không thấy trời, phía dưới cũng che kín đất, sói lang thấp thoáng, vượn hú beo gầm, trời nắng chang chang mà vẫn âm u, trăng sáng ngời ngời nhưng vẫn bị che kín, trời không rét mà run, đất không mưa mà ướt. Từ Mông Sơn xuống phía nam, mạch núi lại đổi chiều, khúc khuỷu quanh co, đi chừng mười dặm có một khe núi hẹp, vừa sâu vừa âm u, như hang như hố, nước chảy ngày đêm, trong tiếng rì rào. Càng vào sâu trong khe núi, càng thấy khí lạnh đến ghê người. Dưới cùng hẻm núi là một tảng đá liền, nằm nghiêng bốn mươi lăm độ, nước chảy tràn lên mặt phiến đá đó, quanh năm lao đi như tên bay. Khe núi âm u không thấy bóng mặt trời, hết năm này đến năm khác. Ở những nơi có nước chảy qua, mọc lên một lớp rêu dày, trơn như nhung mịn, người hay thú vô tình bước phải những chỗ này, thế nào cũng bị trượt ngã, và khi vai đã chạm phải rêu, hai tay chấm xuống đá, đã ngã xuống rồi, thì chớ hòng đứng dậy, đồng thời chỉ trong nháy mắt, sẽ bị trượt đi, phía dưới chừng ba bốn dặm là một vách đứng cheo leo cao hàng trăm trượng, dưới đó là Long Đàm sâu hun hút, màu nước xanh sẫm, cuộn xoáy ào ào, đó là gang, là sắt mà rơi xuống đây cũng phải vụn ra như cám, rồi hoặc là theo dòng nước cuốn trôi đi, hoặc làm mồi cho tôm cho cá. Từ xưa đến nay, có không biết nhiêu người lên núi kiếm củi, săn bắn hay hái thuốc, tưởng chỗ này nước nông, lội ngang qua, kết quả đều phải gửi xác ở Long Đàm, không một người nào thoát. Ngay như những loài giỏi leo trèo như sơn dương, khỉ vượn, hàng năm cũng chết ở đây không biết nhiêu mà kể. Vì vậy, ở phía hạ lưu dòng suối, người ta luôn nhặt được xác thú chết. Thêm nữa, ở đây quanh co trăm nẻo suối khe chằng chịt dọc ngang, sông ngòi luồn lách, thông già che kín trời, bách xanh trùm kín đất, dây leo che ngang mắt, lẫn lộn cả phương hướng, mặt trời như mọc phía tây mặt trăng lại lặn ở đằng đông, một trăm người vào đây có đến chín mươi chín người bị lạc lối. Mà đã lạc lối ở đây quẩn quanh leo đi leo lại mấy ngày, không chết đói thì cũng làm mồi cho thú dữ. Và cứ như thế thì oan hồn còn vất vưởng nơi đây, đâu chỉ là muôn vạn! Đêm đêm, lửa ma lập loè, những đêm mưa gió còn vẳng nghe tiếng ma khóc tủi hờn, bởi thế người ta mới gọi nơi này là khe Quỷ Cốc.

Ở sườn núi đối diện với khe Quỷ Cốc, nơi quay về hướng mặt trời, giữa đám lau sậy và tre nứa thấp thoáng một căn nhà xinh xắn và vắng vẻ, sân dài chưa quá năm trượng, nhà chỉ có ba gian, đó chính là Linh Vân quan, sư phụ Vương Hử tu hành ở đây, thỉnh thoảng thu nhận vài đệ tử để truyền dạy cho họ, Điền Vũ là một trong số những người ít ỏi đó.

Vương Hử tuổi đã tám mươi, mình cao trượng hai, vai không gù lưng không cong, tai không điếc, mắt không loà, tóc bạc nhưng da lại tươi rói, râu dài ngang ngực, bay phấp phới như cước. Ông là người học rộng tài cao, hiểu hết chuyện trên trời dưới đất, thật chẳng ai bằng. Học vấn tinh thông nhất của ông gồm bốn môn: Một là số học và thiên văn, mặt trăng mặt trời và các vì sao, gió mưa sương tuyết. Sự thay đổi bốn mùa ông đều nắm vững cả rồi từ đó nghiệm trước đoán sau, linh nghiệm như thần. Hai là, binh học, lực thao tam lược, biến hoá vô cùng, bầy trận hành quân, quỷ thần cũng không biết đường nào mà đoán. Ba là, du học, nghe ngóng rộng, nhớ dai, biết thẩm thời độ thế, lại thạo đường ăn nói, chỉ ba tấc lưỡi, có thể thắng nổi cả triệu quân. Bốn là học về tu hành xuất thế, tu thân dưỡng tính, đạo dẫn khoa đường ăn uống để ngăn ngừa bệnh tật và kéo dài tuổi thọ, không điều gì không hiểu, không điều gì không biết làm. Thế nhưng ông vốn là người tính tình hướng nội, xưa nay luôn luôn âm thầm lặng lẽ chưa bao giờ dễ dãi thể hiện mình, luôn tỏ ra như một kẻ ngu đần thô tục. Hàng ngày ông tự cấy trồng ngô lúa, chăm bón rau xanh, chăm nuôi gia súc, tự sống bằng sức mình, cho nên cuộc sống cũng an nhàn, ung dung. Ngoài việc lo đủ ăn, ông còn hái thuốc bào chế, đem ra ngoài chợ bán lấy tiền mua vải vóc nông cụ và đồ dùng, thoả mãn nhu cầu sinh hoạt. Tuy là đạo quan song không thờ phụng hương khói hoặc là ra ngoài hoá duyên, khất thực hay tuyên truyền chủ trương đạo học của mình, làm thế chẳng qua là ẩn cư nơi hẻm vắng để xa lánh thế tục tao loạn mà thôi. Đôi lúc ông cũng ngẫu nhiên vào phố, cũng là vì sinh kế đòi hỏi, chiêm bốc bói toán cho người khác, nói những điều lành dữ hoạ phúc, và bao giờ cũng ứng nghiệm như thần. Dần dần có người hâm mộ và muốn học thuật đó, nhưng ông không giống như các đại gia của nhà nho là ai đến cũng không từ chối, ai bỏ đi cung không đuổi theo, mà là chọn lựa cẩn thận, xem tư chất tính tình của người xin đến học, xem người đó thích hợp môn gì thì dạy cho môn đó, một là đào tạo những nhân tài ra để giúp ích cho thiên hạ, hai là có nơi gửi gắm tâm hồn, gạt bỏ được nỗi buồn quạnh vắng để con người được khoẻ cả thể xác và tâm hồn.

Vương Hử dạy học cũng không giống người khác, ông rất ít nói về lý luận, mà phần lớn đưa học trò đi sâu vào thực tế, quan sát và phân tích sự vật cụ thể dưới mọi hình thức, để cho đối tượng được giáo dục từ đó mà được gợi mở, sau tự mình cân nhắc suy nghĩ, phân tích, quy nạp, tổng kết lấy. Trong quá trình ấy, có thể ông chỉ vẽ ra hoặc nêu những ý khơi gợi dẫn dắt hoặc là chẳng nghe chẳng hỏi gì hết, không ngó ngàng đến nữa. Thế nên học trò không phải là người có tư chất trời phú, thông minh hơn người, thì khó mà thành tài. Số người đến đây rồi bỏ dở nửa chừng cũng không phải là ít.

Sau khi Điền Vũ đến xin học ở Quỷ Cốc, nếu theo thời tiết, thì mùa mưa lũ đã qua lâu rồi, ấy thế mà trời bỗng có thay đổi bất ngờ, vùng Mông Sơn lại bị một trận mưa to hiếm thấy, gió bấc lồng lộn đuổi nhau trong khe núi, rồi luồn lách, rồi gào thét, mưa như những làn roi quất xuống, như nghiêng từng chậu nước mà đổ xuống, chẳng mấy chốc, các khe lạch dâng đầy những nước. Bầu trời màu chì đè thẳng xuống như muốn nén bẹp Mông Sơn, muôn đỉnh núi đều rung động, vạn khe sâu đều sục sôi, thầy trò Vương Hử ngồi ở Linh Vân quan, ngẩng đầu lên mà ngắm nghía thắng cảnh thác treo Quỷ Cốc. Trông hệt như Ngân hà đứt đoạn, nước từ khe Quỷ Cốc nối thẳng lên trời, như sao băng, như tuấn mã, như tên bay, ngạo nghễ tuôn trào, kinh hồn khiếp vía, lao đến chỗ vách núi hẫng thì tuôn thẳng xuống như một tấm lụa trải rộng treo từ trên xuống, ánh lên lấp lánh. Dòng thác ấy gieo xuống Long Đàm, tiếng kêu vang dội, rung động cả một vùng núi non. Cột nước nổi bọt như vọt lên trời, tựa như tuyết dồn, như mây tụ, như bông chất thành đống cao. Hai bên khe núi đá lở đất nhào, cả tảng đá lăn đi, cây to bật rễ, bùn đất lao xuống theo. Trong dòng thác cuốn ào ào đó, đôi lúc thấy có cả cây cối và xác muông thú cuốn theo, chỉ trong nháy mắt đã trôi biệt tích. Thác treo, sóng xô, dòng xoáy đục ngầu với khí thế như muốn nuốt chửng cả trời đất, với oai phong như mãnh hổ xuống núi… đã quét qua khe Quỷ Cốc. Kẻ nào dám cả gan đứng ra ngăn cản bước chân của nó lúc này kết quả chỉ có một điều không hơn không kém, đó là diệt vong…

Đấy là bài thi vào học của Điền Vũ, cũng là bài học đầu tiên mà sư phụ dạy cho cậu trong buổi ban đầu. Hai người im lặng quan sát hồi lâu, bỗng nhiên Vương Hử lên tiếng hỏi:

– Này Vũ, từ trong cảnh nước đổ thác reo trước mắt kia, con có cảm nhận ra điều gì trong việc cầm quân đánh trận hay không?

Thấy hỏi vậy, Điền Vũ ra chiều suy nghĩ, rồi lễ phép trả lời rằng:

– Người giữ nước, cần phải có một thực lực lớn mạnh về quân sự; người giỏi cầm quân, phải tạo cái thế như Thái Sơn đè đầu, cái oai như thác đổ, nước cuốn nhào tới kẻ địch, khiến chúng môi không kịp thở, không còn sức mà chống đỡ, tiêu diệt chủ lực của đích một cách hoàn toàn, triệt để. Muốn đạt được mục đích ấy, quân vừa phải nhiều lại phải tinh nhuệ và mấu chốt ở là sự sắp xếp chiến lược, một lần xuất kích, đều phải lấy nhiều đánh ít, lấy khoẻ đánh yếu, tạo nên cái thế mạnh không chống nổi.

Nghe Điền Vũ trả lời như vậy, Vương Hử không nói đúng hay không, chỉ khẽ gật đầu, khoé miệng và đuôi mày hơi lộ ra vẻ hài lòng. Ông nhìn đi nhìn lại từ đầu đến chân cậu bé lễ phép đang đứng trước mặt. mình như muốn tìm hiểu lại, nhận biết lại cậu bé này thêm lần nữa; tựa hồ như không tin rằng những nhìn nhận và nghi lễ vừa rồi lại ở miệng cậu bé mười mấy tuổi nói ra.

Bài học đầu tiên như thế là kết quả, buổi sát hạch ban đầu cũng coi như là đạt yêu cầu. Vương Hử đã ngầm cho Điền Vũ một điểm tốt. Tuy nhiên thành tích ấy là chân thực, là tất nhiên hay là điều hư hão, là sự gặp may thì sao? Vương Hử chưa chắc tin cho lắm, ba ngày sau, lại thử thách lần thứ hai, vẫn với đề mục ấy chẳng qua là chỉ biến thông đi chút ít mà thôi. Thầy trò Vương Hử thôi không ngắm thác nước ở Quỷ Cốc nữa. Trên một tảng đá phẳng ở trước cửa nhà, có đặt một hòn đá mài với mấy quả trứng gà, thầy và trò ngồi xếp bằng đối diện nhau. Vương Hử cũng chưa nói gì vội ông đưa tay vuốt chòm râu dài, mắt nhắm lại ngồi im một lúc lâu, cứ như người vào mâm ăn tiệc đang kiên nhẫn chờ rượu và món ăn đưa lên. Nhìn hòn đá mài và mấy quả trứng gà trên tảng đả rồi lại nhìn thầy giáo, Điền Vũ quan sát sắc mặt của thầy, để phân tích trạng thái tinh thần của ông. Đột nhiên, một ý nghĩ loé lên trong óc, không đợi thầy giáo nói gì, cúi xuống nắm lấy hòn đá, lần lượt đập vỡ những quả trứng gà bày trên tảng đá. Vương Hử thấy vậy lúc đầu ngẩn người ra, sau đó cười lên ha hả, cười đến vang cả thung lũng, cười đến nỗi lá cây rơi xuống ào ào, cười đến nỗi chòm râu cước cũng rung lên theo, vẻ mặt rạng rỡ như bông cúc nở rộ… Cười xong, Vương Hử chìa ra ngón tay cái giơ lên, tấm tắc khen:

– Thằng bé này có thể dạy được đấy!

Một hôm, hai thầy trò Vương Hử và Điền Vũ vác cuốc xẻng đi mãi vào trong một thung lũng. Bên sườn bắc của thung lũng có một giải đất bằng, tuy nhiên cũng đầy những lỗ hà lỗ hố, khấp khểnh gập ghềnh, lưng chừng núi có một đầm nước nhỏ, nước trong veo, bờ đầm cỏ mọc xanh um. Sau khi ngồi nghỉ một hồi, hai thầy trò, một người dùng cuốc, một người dùng xẻng, đào một rãnh ở ngay bờ đầm nước, nước trong đầm theo cái rãnh đó thuận thế mà chảy xuống phía dưới. Hai thầy trò ngồi ở bờ đầm, từ trên nhìn xuống, xem dòng những chảy xuôi.

Chiều sâu của rãnh nước có hạn cho nên nước trong đầm chảy ra cũng có hạn, đến khi nguồn nước khô kiệt, không còn nước chảy cho mà xem nữa; Vương Hử liền bảo Điền Vũ hãy từ việc này nói lên quy luật cầm quân như thế nào. Phàm việc gì cũng vậy nói về hiện tượng của nó thì dễ, bàn về quy luật của nó mới khó, huống chi ở đây lại lấy việc nước chảy để nói về cách cầm quân? Điền Vũ chau mày nghĩ ngợi, đi đi lại lại trên bãi cỏ, bên tai cậu lúc này không còn tiếng ỳ ầm của thác nước và tiếng réo rắt của chim hót ve kêu, trước mắt cậu không còn là đỉnh núi nguy nga và rừng xanh mênh mông tựa biển, mà chỉ có cảnh chiến trường với ngựa với xe lồng lên như bay và tiếng quân sĩ reo hò với bãi cỏ gò đống nhấp nhô và mảnh đất cao thấp nhấp nhô ở sườn thung lũng và dòng nước chảy ngoằn ngoèo. Một lúc lâu sau, cậu đã tìm ra quy luật của việc cầm quân và đã trả lời thầy bằng một đáp án mà thầy rất bằng lòng. Cậu nói:

– Quy luật của việc cầm quân cũng như sự vận động của nước. Quy luật của dòng nước chảy là tránh chỗ cao mà tự chảy vào chỗ trũng; quy luật dùng binh thì tránh thực đánh hư. Nước sẽ tuỳ đất mà sinh dòng, cầm quân cũng tuỳ giặc mà tạo thế thắng, cho nên việc dùng binh không thể có thế sẵn thường xuyên, như nước vẫn không có hình dáng sẵn từ trước, người nào tuỳ địch biến đổi cái thế của mình mà thắng giặc, nên mới gọi là dùng binh như thần. Quy luật dùng binh cũng như tự nhiên trong trời đất, “ngũ hành” tương khắc tương sinh, bốn mùa thay đổi cho nhau, ngày có khi ngắn khi dài, trăng có khi tròn khi khuyết, sự biến đổi luôn luôn như vậy, là lẽ thường của muôn vật vậy!..

Cuối thu, ve sầu trên cây rền rĩ nỉ non, chim hoàng oanh ở trên cao đang tíu tít gọi bầy. Ăn sáng xong, Vương Hử gọi Điền Vũ đến bên, đưa cho cậu một cái cào, một cái xẻng, một cây cung và một bó tên, hẹn cậu trong ba ngày phải săn cho được một đôi chim hoàng oanh, bắt về năm con ve đang lột xác. Vương Hử nhấn mạnh, những con ve lột xác ấy là thứ phải đào từ dưới đất lên chứ không phải tự nó bò ra rồi mới nhặt về. Điền Vũ vâng lệnh ra đi, chẳng những mang theo dụng cụ và vũ khí, còn mang đủ cả lương khô và nước uống. Thế nhưng cậu không hề đi đào ve và bắn chim mà đi vào thung lũng mùa thu cảnh sắc như tranh vẽ để chơi cho thoả thích. Ba ngày sau, quay về với hai bàn tay không. Thầy giáo hỏi tại sao, cậu đáp rằng:

– Kẻ giỏi giũi như chui xuống chín tầng đất sâu, khiến cho địch không nhìn thấy bóng, người giỏi công như hoạt động ở chín tầng mây, cao không thể nào đo nổi khiến kẻ địch không sao phòng thủ nổi. Cho nên người giỏi công thủ phải vừa có thể tự giữ được mình, lại có thể giành thế thắng, đệ tử làm sao mà bắt được? Phàm những kẻ dễ dãi đào lên mà bắt, đều không phải giữ giỏi, phàm những kẻ giương cung lên mà bị bắn rơi, đều không phải là giỏi công. Thắng kẻ không thiện chiến không phải là biết dùng binh đệ tử không muốn làm, cho nên về tay không ạ!…

Những lời lẽ đó khiến cho Vương Hử dở khóc dở cười, tuy làm như thế xem ra có vẻ trò lại trêu cợt thầy, nhưng người làm thầy cũng không thể không nhận ra rằng ra đề không kín kẽ, không thể không chịu phục trước những nhìn nhận khác người và tài hùng biện giỏi giang đó.

Hình như định trả đũa cho sự trêu cợt hôm trước, hôm sau Vương Hử lại nêu ra cho Điền Vũ một vấn đề mới: Có người tự khoe rằng sức khoẻ mình có thể nhấc nổi cái lông tơ, mắt sáng có thể nhìn rõ mặt trăng mặt trời, tai thính nghe rõ cả sấm sét. Vương Hử hỏi:

– Con cho thế có phải là anh hùng không?

Điền Vũ khẽ mỉm cười nói:

– Nhấc được lông tơ chưa là sức khoẻ, nhìn mặt trăng mặt trời không phải là mắt tinh, nghe thấy sấm chớp không phải là tai thính. Cũng như người dự kiến thắng lợi không hơn gì những điều mọi người đã biết, người sáng suốt nhất trong những người không sáng suốt; chiến đấu hết sức mình để giành thắng lợi, thiên hạ đều bảo là giỏi, đó là giỏi trong những người không giỏi mà thôi! Những người gọi là giỏi giang ngày xưa, thường đánh thắng kẻ địch dễ thắng. Cho nên vừa không ai biết đến tên tuổi, lại chẳng có võ công gì, bởi họ giành thắng lợi là chuyện không nghi ngờ gì mà còn có phần nắm chắc, mà kẻ giao chiến. với họ lại là một kẻ địch không bõ đánh một đòn. Người thiện chiến, giỏi giang luôn đặt mình ở thế không thể thua, đồng thời cũng không hề bỏ qua bất kỳ một cơ hội nào để giành chiến thắng. Quân thắng thường trước hết tạo điều kiện giành thắng lợi, rồi sau đó mới đánh; quân bại thì ngược lại, cứ đánh trước đã rồi sau mới may mắn mà giành thắng lợi. Người giỏi cầm quân, tạo nên nhiều con đường “không thể bị chiến thắng” bảo đảm ở trong vòng tất thắng, cho nên có thể nắm vững vận mệnh của thắng bại.

Đây đâu còn có phải là Điền Vũ trả lời câu hỏi của thầy giáo nữa, mà đây chính là cậu đang trình bầy luận văn về học thuật. Có điều, cậu hầu như là câu trước đá câu sau, lúc thì nhăn mũi coi khinh những kẻ không giỏi công, giỏi thủ, không đáng đánh nên về không hai tay, lúc thì ca ngợi những người giành thắng lợi ở kẻ địch dễ dàng chiến thắng là người thiện chiến ngày xưa, thế chẳng hoá ra tiền hậu bất nhất hay sao? Không! Đó chính là phép biện chứng trong đời sống, phép biện chứng trong chiến tranh, kẻ địch lớn mạnh thì có thể làm suy yếu nó khiến cho nó ở vào thế thất bại sau mới đánh để thắng nó.

Mùa xuân năm sau, gió ấm hiu hiu, nắng xuân dìu dịu, hoa đỏ liễu xanh, chim ca én liệng, một buổi sáng dễ chịu và say đắm lòng người, trên bãi cỏ ở trước nhà, Vương Hử đang dạy cho Điền Vũ một bài học hoàn toàn mới, trọng tâm của bài học này là giảng về sự biến đổi kỳ chính trong tác chiến. Khái niệm về kỳ và chính rất trừu tượng, rất khó lý giải. Vương Hử giảng cho học trò, xưa nay chưa từng giảng giải những khái niệm và lý luận nhạt như nước ốc, mà nói dần từ cụ thể đến trừu tượng, từ thực tiễn nói đến những vấn đề lý luận, phần lớn là gợi mở cho học sinh tự mình đi trừu tượng, tự mình quy nạp, tổng kết, nâng cao… Hôm nay Vương Hử đã bắt đầu từ mặt trời rực rỡ và ánh nắng. mùa xuân dịu dàng, nói đến sự xoay chuyển của mặt trăng, mặt trời, sự thay đổi bốn mùa và sự tuần hoàn lặp đi lặp lại của nó. Thứ đến, ông dùng năm màu xanh, vàng, đỏ, trắng, đen vẽ lên vải trắng những bức hình minh hoạ đủ màu sắc rực rỡ với đủ thể loại, nào là sơn thuỷ, hoa cỏ, chim và côn trùng. Thứ ba là ông gảy đàn gõ phách, thổi tiêu gõ trống, dùng năm âm thanh công, thương, dốc, chinh, vũ để diễn tấu những khúc nhạc du dương, khúc thì vui vẻ, khúc thì bi ai, khúc thì hờn oán. Thứ tư là ông dùng năm thứ mùi vị là chua, ngọt, đắng, cay, mặn làm gia vị chế biến ra mười món ăn để khoản đãi người môn sinh mà ông yêu mến này, đương nhiên phần lớn là những đặc sản của rừng núi. Thầy trò nhắm bằng món ăn ngon lạ, uống bằng thứ rượu tự tay cất lấy, vừa ăn vừa chuyện trò, vừa uống vừa tâm sự, mỗi người mỗi câu cùng nhau thảo luận vấn đề kỳ, chính trong cách dùng binh. Cuối cùng, được lệnh thầy, Điền Vũ đã nói lên những điều có tính tổng kết:

– Đại phàm là trong chiến đấu, phần lớn là dùng chính binh chống chọi với địch, và dùng kỳ binh để giành thắng lợi. Cho nên, những tướng soái giỏi xuất kỳ để giành phần thắng, thì cách đánh của họ biến hoá vô cùng như trời đất và tuôn chảy không ngừng như sông suối, hết rồi thì lặp lại từ đầu như mặt trăng, mặt trời xoay chuyển, chết đi rồi sống lại như bốn mùa thay nhau. Âm thanh không quá năm loại, sự biến hoá của năm âm thanh đó nghe hay vô cùng, màu cũng không quá năm, nhưng biến hoá của năm màu đó thành những bức tranh đẹp vô cùng. Cũng với năm mùi vị mà biến hoá năm mùi vị đó đi, thành những món ăn ngon miệng vô cùng. Thế trong chiến đấu không ngoài kỳ và chính, sự biến đổi của kỳ và chính cũng mau lẹ khôn lường. Kỳ chính tương sinh, như một vòng quay xoay chuyển không có đâu là đầu, là cuối, nhuần nhuyễn đến cùng tận.

Một ngày giữa hè, Vương Hử mang theo đồ dùng, cung tên, lương khô và nước uống; khoá cửa lại, cùng với Điền Vũ chu du khắp núi này khe nọ, đi tìm cây thuốc. Hai thầy trò trèo đèo vượt suối, hai thầy trò tay thì níu, chân thì leo, toàn những chỗ cheo leo hiểm hóc, đỉnh cao khe sâu, bởi những chỗ đó ít người đặt chân đến, thì những cây thuốc quý mới không bị người ta lấy mất. Thời tiết nóng nực, lưng chừng núi lại không có một gợn gió nào, người ta đi trong rừng cây chẳng khác gì ở trong một cái lồng hấp, ngột ngạt đến khó thở. Tuy tuổi đã cao, trên dưới tám mươi, nhưng quanh năm thường xuyên leo đèo, leo dốc, trèo núi, luồn rừng, chỗ nào cũng từng leo lên, thời tiết nào cũng từng chịu đựng cho nên Vương Hử cũng không cảm thấy mệt mỏi lắm. Điền Vũ thì không thế, ngay từ bé đã sinh ra nơi danh môn lệnh tộc, ở những nơi dinh phủ nhà rộng cửa cao, làm gì đã phải qua nhưng cầu cơ cực thế này, làm sao có thể chịu được nỗi cực khổ này. Cũng may mà có được tập tành đôi chút về mười tám ban võ nghệ nên gân cốt khá vững vàng, nếu không lại chẳng mệt rũ ra như gà rơi xuống nước từ lâu rồi. Điền Vũ đầm đìa mồ hôi, trên mình chỉ mặc một chiếc quần đùi ướt như nhúng nước, dính sát vào người, há hốc mồm, vừa đi vừa thở, bước chân loạng choạng, nhưng không hề tỏ ra thua kém, vẫn theo sát bước chân của thầy, lội hết khe này sang khe khác, leo hết đỉnh nọ tới núi kia. Mãi tới khi thầy bảo nghỉ, mới ngồi bệt ngay xuống chân, ngửa mặt lên đổ kềnh ra, không muốn nhổm dậy nữa. Đây là một khoảng rừng xen núi đá ở khuất nắng, nào tùng, nào bách, nào dương liễu, mọc san sát bên nhau ken dày từng lớp. Bởi trong rừng sâu không lọt qua một cơn gió nào, cho nên những hàng cây lớn như đứng im phăng phắc như một đội quân sắp hàng thẳng tắp và không hề động đậy. Từng hàng một, từng lô vuông một, từng đội một, nghiêm túc chỉnh tề, như từng đoàn quân chờ lệnh. Những đỉnh núi nhấp nhô vẫn đứng im lim, tựa hồ như quá mệt mỏi vì nóng nực nên đang ngủ thiếp đi. Vương Hử cũng đặt mình xuống, thầy trò kề vai nhau, đối mặt nhau như cùng ngủ một giường. Họ nằm thoải mái, ăn qua loa một ít lương khô, rồi ngửa cổ, nghiêng bầu uống nước. Họ vừa ăn vừa nói, hết chuyện cửa, chuyện nhà, lại sang đến chuyện binh pháp. Điền Vũ quá mệt mỏi nói một hồi rồi ngủ say lúc nào không biết.

Gió đã nổi, càng thổi càng mạnh, càng thổi càng hung dữ, càng thổi càng lớn. Gió như lồng lộn trên ngọn cây, như đuổi nhau qua từng khe núi, như gầm réo trong rừng cây, cành khô lá úa bay tơi tả, rồi dần dần như rõ cả tiếng cành cây bị gãy lẫn trong tiếng gió. Gió nổi lên cho mây kéo đến từ đỉnh núi trước mặt, mây bay sang như sập xuống, trùm lấy khu rừng. Mây dày đặc, dồn đống như núi. Mây đen sì, như biến cả khu rừng thành hang động. Mây cuồn cuộn trôi, như sóng dữ ngoài biển lớn. Mây và gió như anh em sinh đôi cùng hùa sức với nhau làm cho đỉnh non u ám, suối khe không được yên. Tiếng sấm ỳ ầm từ xa vẳng tới mỗi lúc mỗi gần, trong nháy mắt đã vần vụ đến ngay trước mặt rồi bỗng nhiên ánh chớp loằng ngoằng loé lên chói mắt rồi tắt ngay, một tiếng nổ đanh giòn như xé tai, khiến đỉnh núi như rung lên và khe sâu âm vang mãi và rừng cây cũng hoà theo và mưa đổ xuống như kín trời, kín đất. Hình như trên những lớp mây kia, bầu trời toàn là nước, khi sét đánh cho mây tan ra, thì nước từ trên đó ào ào trút xuống. Gió cùng với mưa, như muôn ngàn cây roi, giận dữ quất liên hồi vào đỉnh non, vách núi, quất sông suối và rừng cây… trừng phạt cái thế giới đầy tội ác này. Chỉ sau nháy mắt, lũ quét nổi lên, đỉnh cao thành thác trắng, khe sâu sục sôi lên, những tảng đá to như nóc nhà lăn ào ào theo dòng nước trông tựa như con mãnh hổ bìa rừng khiến người ta những nhìn mà sợ.

Mưa bão y như một kẻ mới mắc bệnh tâm thần, lồng lộn lên một cơn, điên cuồng lên một dạo rồi bỗng nhiên trở lại bình thường. Gió dừng, mây tan, trời trong thêm, đỉnh núi như xanh thêm, và nước dưới khe chảy như reo vui len lỏi giữa màu xanh cây rừng bát ngát, thú đùa giỡn nhau trong từng cây, chim cao tiếng hót trên cành lá. Trời cao trong như lọc, xanh đến say người, chim én chao lượn ở tầng thấp, diều hâu thì xoải cánh trên tầng cao, chúng thả sức thi thố tài năng và sức lực của mình. Chim ó có lẽ tài giỏi nhất, nó bay ở tầng cao nhất, lướt đi cũng nhanh nhất, lại có thể xoè cánh ra trên không, để im phăng phắc một lúc lâu, không hề động đậy, như vậy là nó đang tập trung hết tinh thần để săn mồi, khi phát hiện ra mục tiêu, bèn nhanh như chớp bổ nhào xuống, con mồi khó mà thoát khỏi mỏ nhọn và vuốt sắc của nó, mà chỉ có toi đời!

Mặt trời sắp lặn, phía tây rực rỡ ráng chiều, đằng đông hiện lên một chiếc cầu vồng bảy sắc, chim đang bay về rừng, thú tìm về tổ, ngay cả khu rừng hình như cũng thôi trò chuyện xào xạc mà bắt đầu những nhịp thở dài. Ôi! Buổi hoàng hôn ở trong rừng tươi đẹp và yên tĩnh biết bao!… Thầy trò họ ngủ lại trong rừng, nhóm lửa nấu cơm ngoài trời, món ăn đều là thịt chim thú mà thầy săn bắn được, ngon hết chỗ nói. Cơm nước xong, trên bãi cỏ ấy, hai thầy trò gảy đàn, ca hát kể chuyện, vui chơi mãi rồi mới ngủ. Đêm ấy họ ngủ mới ngon làm sao, mới say làm sao. Ngày hôm sau, mãi đến lúc ánh ban mai nhuộm thắm núi rừng, hai thầy trò vẫn còn ngáy ran như sấm.

Ngủ thoải mái một đêm với nửa buổi sáng, sức khoẻ của thầy trò thực sự đã trở lại bình thường. Sau bữa cơm sáng, họ lại tiếp tục cuộc leo trèo lặn lội mới, leo thẳng lên tận đỉnh của Mông Sơn, tuy không cao lớn bằng Thái Sơn, không đẹp bằng Dịch Sơn, nhưng độ cheo leo lại hơn hai núi đó xa. Trên đỉnh Mông Sơn có một tảng đá tròn, to bằng cái thớt cối xay. Đá tuy to như vậy nhưng vì nó tròn trùng trục, mặt giáp đất rất nhỏ, thêm nữa bị sét đánh tối hôm trước, đang lung lay muốn đổ. Thầy trò Vương Hử ngồi trên đỉnh núi cao, chỉ chỉ trỏ trỏ, tận hưởng hết phong cảnh buổi sớm trên núi. Bỗng đâu, một con sói xám nhảy lên tảng đá tròn đó, dỏng tai lên và vẫy đuôi liên tục, nhìn bên này, ngó bên kia. Con sói nhảy bên này lại sang bên kia, hòn đá bỗng động đậy và lăn đi. Đất dốc, đá lại tròn, càng lăn xuống càng nhanh, xung lực rất mạnh, thế không gì chặn nổi, cứ lăn như thế mãi xuống lòng khe, dọc đường làm văng đổ cả cây, văng chết muông thú không biết bao nhiêu mà kể.

Hái thuốc về, không chờ thầy sắp đặt, Điền Vũ dựa vào những điều nhìn nhận thấy, đã viết một bài văn tựa đề là “Nhiệm thể” đưa lên thầy xem. Bài văn mở đầu viết rằng: “Nước chảy xiết băng đi như bay, xô cho đá lớn cũng phải lăn theo trôi đi, là do thế nó lớn. Chim săn mồi từ trên cao lao xuống, bắt giết con mồi, tiết tấu mau lẹ vậy. Cho nên, người thiện chiến, thế của họ rất hiểm ác, sắc bén không gì ngăn nổi, như dây cung đã căng, tiết tấu của nó ngắn nhưng mạnh, như khi chạm vào lẫy nỏ”. Khi nói đến nhiệm thế như thế nào, bài văn viết: “Người chỉ huy tác chiến, như xeo gỗ tròn, đặc tính của gỗ đá là đặt ở chỗ bằng phẳng thì nằm yên, đặt ở chỗ nghiêng thì dễ di chuyển, vuông thì nằm yên, tròn thì dễ chuyển. Cho nên, cái thế một người thiện chiến tạo ra, như đá tròn trên ngàn đỉnh nhọn lăn như gió xuống dưới, kẻ nào chặn lại sẽ tan xương nát thịt”. Sau khi nói về nguyên tắc và căn cứ để nhiệm thế bài văn lại dẫn ra những nội dung chủ yếu – Khi quân đội hành động với tốc độ nhanh, như gió lốc cuộn tới, khi chậm lại thì trầm tĩnh như cây rừng đứng yên. Khi tiến công như lửa đốt. Khi trú quân, im và vững như đồi núi. Khi ẩn náu, như mây đen che phủ không hề nhìn thấy trăng sao. Khi hành động, nhanh như sâm chớp ngàn cân…”

Vương Hử ngồi xếp bằng, cầm thẻ tre trên tay, đang đọc bài “Nhiệm thế” của học trò Điền Vũ. Tâm hồn ông như bay lên, vẻ mặt tươi cười rạng rỡ, có lúc bật cười lên thành tiếng. Điền Vũ khoanh tay đứng một bên chờ đợi thầy phê bình chỉ giáo. Bỗng nhiên, từ một góc tối, một con rắn vừa to vừa dài, thân hình lốm đốm bò ra, mổ một nhát vào gót chân Điền Vũ. Cậu rú lên một tiếng rồi ngã lịm, bất tỉnh nhân sự. Vương Hử thấy vậy, sợ tái mét mặt…

Nguyễn Bá Thính
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Tào Nghiêu Đức

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.