Lại nói Khánh Ky bị đâm, vì lưỡi dao chưa rút ra, máu chưa chảy hết, nên vẫn còn giãy giụa được một lúc nữa. Tướng sĩ trên các thuyền hộ vệ thấy thế, chèo thuyền như bay áp tới bắt sống Thạch Yếu Ly và muốn băm ra làm vạn mảnh. Khánh Ky đã xua tay ngăn lại, nói:
– Đây là một người dũng cảm trong thiên hạ, giết đi thì đáng tiếc, hãy thả hắn về nước Ngô để thoả lòng trung của hắn… Nói xong, rút dao ra, máu cháy ra xối xả và chết.
Vâng lệnh của công tử, các tướng sĩ đã tha cho Thạch Yếu Ly, nhưng Yếu Ly không chịu đi khỏi đây, thở dài một tiếng và nói:
– Ta có ba điều không tha được ở trên đời, tuy công tử có tha ta cũng đâu dám sống!
Mọi người không hiểu sao, liền hỏi:
– Thế nào gọi là ba điều không được ở trên đời?
Yếu Ly đáp:
– Giết vợ để làm việc cho vua; vì vua mới mà giết con của vua cũ, là phi nghĩa; muốn được việc của người mà thân không tránh khỏi tàn phế còn cả nhà phải chết, là không có trí. Có ba điều ác ấy, còn mặt nào mà sống ở trên đời – Nói xong, cướp lấy kiếm của võ sĩ, cắt cổ rồi nhảy xuống sông mà chết.
Với thân phận của một khách khanh, Ngũ Tử Tư đã giúp Ngô Vương Hạp Lư khích lệ tinh thần trị vì đất nước, để cho nước giàu quân mạnh, có lúc làm việc ở kinh đô, có khi đi các nơi khảo sát dân tình và bầy đặt mưu sách cho Hạp Lư, đóng các loại binh xa, huấn luyện quân lính trên bộ. Ngoài ra, thấy kinh thành Mai Lý thành quách nhỏ hẹp quá đóng quân thì không chứa được lương, chứa được lương thì không có chỗ đóng quân… nên ông đề nghị xây dựng thêm một toà kinh đô mới ở nơi cách phía đông bắc núi Cô Tô[1] và lấy tên là kinh thành Cô Tô. Kinh thành này lớn hơn kinh đô Mai Lý rất nhiều, cửa thành trên cạn và dưới nước mỗi thứ có tám cái, thông thoát đến tất cả mọi nơi, trong thành xây dựng mặt trước là dinh thự, phía sau là phố buôn bán, đường phố dọc ngang, kho lương, kho tiền, trại lính, bãi tập, không thiếu một thứ gì. Sau khi xây dựng xong, kinh đô của nước Ngô từ Mai Lý dời đến Cô Tô.
Lúc đầu, để chặt vây cánh của Vương Liêu, Ngũ Tử Tư đã nhân dịp Sở Bình Vương mới chết, đã giục Cơ Quang can gián với Liêu đem quân đi đánh nước Sở còn tiến cử Yểm Dư, Chúc Dung là nguyên soái và đại tướng, cử Khánh Ky đi nước Vệ mượn quân, Quý Trát đi thăm các nước tìm kiếm đồng minh. Vương Liêu không biết đó là kế sách, lại muốn tranh bá quyền, cho nên đã nhất nhất chuẩn tấu.
Yểm Dư, Chúc Dung tuân lệnh tích cực chuẩn bị, trước hết điều quan ra thao trường, sau đó mới phát lương thực. Lần trước, đánh thắng một trận ở Kê Phụ, lúc này “vốn liếng” của nước Ngô cũng nhiều hơn rồi, lương thảo khí giới cũng nhiều hơn, chuyến này cũng cần phải ra oai, để cho người nước Sở mở mắt ra, nên cố ý làm cho cái gì cũng mới, đao mới, thương mới, thanh la, nồi mới, lều bạt mới, quân trang, quân phục mới, giáp mãnh cũng mới, ngay thức ăn cũng là lúa gạo mới thu vụ này. Mọi việc đâu vào đây, sớm hôm sau ra lệnh khởi hành, tinh kỳ phấp phới, cờ hiệu tung bay, mũ giáp sáng loá, người khoẻ ngựa hăng, rầm rầm rộ rộ ra khỏi kinh đô nước Ngô – Mở đầu là đi bộ, ra đến bờ sông thì xuống thuyền, đi dọc sông lên hướng tây đến ngã ba sông Hán Thuỷ, đoàn thuyền dừng lại, binh mã đổ bộ lên bờ tiến về phía Sính Đô. Bỗng một hôm đến Tiềm thành, Yểm Dư, Chúc Dung ra lệnh, quân sĩ vây chặt Tiềm thành sẻ bay không lọt.
Tướng giữ Tiềm Thành, một mặt cố chết giữ thành, một mặt cử người ngày đêm chạy về Sính Đô cáo cấp. Sở chiêu vương tuổi còn nhỏ, thái sư Phí Vô Cực và tả doãn Yên Tướng Sư nắm quyền triều chính lúc này đều đi xây dựng Mạch Thành và thành Kỷ Nam, không ở Sính Đô, lệnh doãn mới nhận chức Nang Ngoã trong cơn hoảng sợ đã cử tả tư mã Thẩm Doãn Thú mang một vạn lục quân, hữu doãn Bá Khước Uyển mang một vạn thuỷ quân, hai đường cùng tiến, đến Tiệm Thành đón đánh địch. Đúng vào lúc đó, kinh đô nước Ngô xảy ra cuộc đảo chính cung đình, Chuyên Chư giết Vương Liêu, Cơ Quang đã giành được ngôi vua. Dưới tình hình đó, quân Ngô chẳng đánh cũng tan. Bá Khước Uyển và Thẩm Doãn Thú giành thắng lợi một cách dễ dàng, ca khúc khải hoàn về kinh đô. Phí Vô Cực và Yên Tướng Sư theo dõi việc xây dựng thành mới phát tài to, trở về Sính Đô báo cáo lại công việc với túi tiền căng phồng. Để mừng thắng lợi, Sở Chiêu vương mở tiệc lớn chiêu đãi quần thần, Bá Khước Uyển và Thẩm Doãn Thú ngồi ở hàng trên cùng.
Chiêu vương mặt mày rạng rỡ nói:
– Các ái khanh, trong tiệc mừng công hôm nay, các ông hãy uống cho thoả thích, phải thật say sưa mới thôi – Sau khi văn võ bá quan chào tạ chúa công, Chiêu vương nói tiếp – Ngày nay ta thắng lợi ở Tiềm Thành, rửa được mối nhục trận Kê Phụ, Bá khanh là người có công đầu. Nào! Hãy mang ra đãy cho ta ba trăm bộ quân y, ba trăm bộ khải giáp, ba trăm cây thương, ba trăm cây đoản đạo… để ban thưởng cho Bá khanh.
Bá Khước Uyển tạ ơn, các quan trong triều chúc mừng, cốc chén đĩa bát chạm nhau lanh canh, chén nọ trao chén kia, vui hết mức rồi mới tan.
“Phúc nào cũng có hoạ bên trong”, Bá Khước Uyển lập công, được ban thưởng kết quả lại đem đến một tai hoạ sập trời. Trong bữa tiệc mừng cống, Phí Vô Cực với Yên Tướng Sư mỗi người ngồi một mâm, lửa lòng nung nấu, sau bữa tiệc họ bèn trổ âm mưu, chơi quyền thuật, mượn lưỡi dao của lệnh doãn Nang Ngoã, giết cả nhà Bá Khước Uyển, đốt cháy phủ hữu doãn, con trai Bá Khước Uyển là Bá Bỉ một mình trốn ra khỏi nhà, chạy sang nước Ngô. Sau đó không lâu, công tử Thân và những bậc trung thần như tả tư mã Thẩm Doãn Thư đã đánh thức lệnh doãn Nang Ngoã còn đang lơ mơ, mọi người cùng lòng hợp sức trừ khử Phí Vô Cực là tên chuyên quyền ngang ngược, tàn hại người trung tướng, hại dân hại nước.
Qua nhiều ngày lận đận đường xa, bươn bả mấy tháng trời, líu díu con thơ vợ dại, cuối cùng Tôn Vũ đã đến được bờ sông Thái Hồ. Từ Lâm Tri đi về hướng Nam, vòng qua vùng núi Thái Nghi, qua Từ Châu đã là vùng đồng bằng phì nhiêu hàng ngàn dặm, phóng tầm mắt đi, không vướng một thứ gì, dù chỉ là một gò đất nhỏ. Trời vào giữa tiết thu, lẽ ra phải là lúc sóng lúa dập dờn không bờ không bến đưa theo hương lúa ngạt ngào đến ngây ngất lòng người. Vậy mà cuộc hỗn chiến của các chư hầu diễn ra, chinh phạt nhau hết năm này đến năm khác, để đến nỗi vết thương chiến tranh tràn ngập nơi nơi, chốn chốn hoang vu, thôn xóm nhà xiêu vách đổ, cả một giải đồng bằng Giang – Hoài, là một vùng sình lầy ngập mặn, giữa mùa thu sắc màu càng trở nên thê lương bi thảm. Xe qua núi cao bao bọc bốn phía. Thế núi không cao, nhưng lại đứng ken dày, âm âm u u. Đây là mạch núi kéo dài sang đông của núi Thiên Mục miền tây Triết Giang, rải rác ở dọc bờ Thái Hồ phía tây thành Cô Tô. Núi chính ven theo bờ Thái Hồ đi theo hướng đông bắc – tây nam, tạo nên một quần đảo với những giải núi đồi liền sau gồm núi Thất Tử, núi Đông Động đình, núi Khung Long, núi Ngư Dương, đảo Trường Sa, núi Tây Động đình, núi Hồ Cốc, Đàm Sơn, Mạn Sơn đảo và Cồn Đông, Trấn Hồ, vv… Núi Đông Động đình, núi Ngư Dương, Đàm Sơn và đồi núi Trấn Hồ… ba mặt đều có nước bao bọc chĩa ra mặt hồ theo hướng tây nam hình thành bốn cái bán đảo. Núi Tây Động đình rộng có tới trăm dặm, là một đảo lớn nhất trong các đảo của Thái Hồ. Núi Khung Long nằm theo hướng tây bắc – đông nam, hình thành bởi những quả núi như Chủ Phong, Bạch Mã Lĩnh, Thạch Bi Khảm, Đại Viên Sơn, Lục Gia Sơn và Hương Sơn Chủy, tầm cao của nó có thề nói là vào loại nhất ở bờ đông Thái Hồ. Người đời sau đã từng có thơ vịnh, nào là: “Dương Sơn bằng nửa Khung Long, nhô lên mặt đất sánh cùng mây xanh”, nào là “Tây
năm Trạch viên lắm đỉnh cao, Khung Long vạn trượng đứng hàng đầu. Bình sinh ai đã từng mơ tới. Lên non thử vượt hết tầm cao”. Chủ Phong trông tựa như chiếc nón úp, cho nên tục gọi là đỉnh nhược mạo, trên chót đỉnh có một khoảng bằng phẳng có thể phi ngựa, chạy xe và còn là mảnh đất tốt cho cây cỏ sinh sôi. Cao lớn thực ra chưa phải là đặc điểm của Khung Long, giàu có đó mới là mặt mạnh của nó – Núi cao rừng rậm, tre nứa mọc dày, chim lạ thú hiếm, suối chảy thác bay, vườn dâu mượn mướt, nương chè sương bay, cây tử nam trang điểm, gỗ hoàng đàn nhuộm màu. Hoa hồng khoe sắc đỏ, ngọc lan phô vẻ trắng, tùng bách sẫm màu xanh, liễu dương phô sắc thắm, như soi bóng vào nhau. Ngoài sự giàu có, Khung Long còn mang vẻ tuấn tú như một chàng trai, thuần khiết như một thiếu nữ, quyến rũ như một cô dâu mới, mùi thơm hoa quế, là phấn thoa trên mặt nàng, vị ngọt của cam quýt là nét cười trào lên trên đôi lúm đồng tiền.
Ở một nơi sâu khuất trong núi Khung Long, Tôn Vũ đã tìm ra một chỗ, dựng nên một nếp nhà trên năm gian, mé đông ba gián, mé tây hai gian nhà ngang, cả nhà lớn bé có năm người với ba người hầu hạ, tạm thời dừng lại sống ở đây. Nhà tranh dựa lưng vào vách núi, cửa quay về hướng nam, sau lưng có núi chắn gió che mưa, phía trước rộng rãi sáng sủa, cửa nẻo xuềnh xoàng nhưng cũng đủ bảo đảm cho mùa đông thì ấm mà mùa hè thì mát. Sau nhà là một dòng suối nhỏ, bắt nguồn từ một vách núi cao, từ đó bắc những ống tre dẫn về dãy nhà ngang mé đông, đủ nước dùng cho ăn uống và tắm giặt. Trúc trên rừng được chặt về đan thành vách tường, ken thành phên dậu, nước vại cửa phên, dậu tre cổng rào, tuy đơn giản thô sơ, nhưng lại êm đềm lặng lẽ, một mình một vẻ thú riêng. Một hàng dậu thưa, một cánh cổng rào tre, đủ ngăn cách với một thế giới rối ren loạn lạc. Trong vườn cây cỏ um tùm, bóng lá che mặt trời, êm đềm u nhã, quả là một nơi rất tốt để nghỉ mát mùa hè giữa những hàng cây là bàn đá, ghế đá, sàn đá, bệ đá thấp thoáng đây đó, thành lối thành hàng, chẳng ai đẽo ai tạc, mà vuông vắn gọn gàng. Giữa mùa hè, mặt trời như nấu như nung, ánh nắng chiếu xuống rừng cây, những đốm sáng như sàng xuống sân, một làn gió nhẹ thổi qua, mặt sân lấp loáng muôn ngàn hình ảnh, chập chờn mê li, mang đậm những tứ thơ ý hoạ. Mỗi lần như thế, pha một ấm trà núi, nhấm nháp dư vị của nó, lại càng thấy thú, hoặc làm một hũ rượu sành, rồi tự tay rót lấy, lâng lâng như ở cõi tiên. Mười ba bài “binh pháp” của Tôn Vũ, chính là đã ra đời khi ngồi trên ghế đá, cặm cụi trên bàn đá bày ra trên sàn đá, sửa chữa tỉ mỉ trên mảnh sân u tĩnh này vậy!
Ngoài sân vườn là một khoảng đất hoang, rộng chừng mươi mẫu, Tôn Vũ đã đưa cả nhà ra đấy, tớ thầy đều mang hết sức ra khai khẩn thành vườn ruộng, cấy trồng lúa ngô rau quả, dâu trà và các loại cây thuốc. Trong vườn là chuồng trại chăn nuôi, chăn sóc gia cầm gia súc tạo nguồn trứng thịt nuôi người. Cứ như thế, mỗi ngày ba bữa; tuy là trà núi gạo nương nhưng thú bởi tự mình làm lấy mà ăn; một năm bốn mùa áo mộc vải thô, cũng đều tự mình làm ra, tuy sống cảnh muối dưa đạm bạc khó khăn, nhưng lại thấy đậm đà và yên tâm, tự thấy một niềm vui…
Mười ba bài “binh pháp” của Tôn Vũ, tuy nói rằng đi khắp trong thiên hạ, khảo sát chiến trường xưa ở khắp nơi, nhưng suy cho cùng vẫn lấy đất Tề làm gốc, để mắt tới địa hình núi non phía bắc cùng phong tục tập quán ở nơi này. Giờ đây xuống phía nam, đặt gót chân tới một vùng sông nước, bỗng phát hiện ra nhiều điều phiến diện và chưa đầy đủ. Sau khi sắp đặt đời sống được ổn thoả, Tôn Vũ cải trang thành một người nhà nông nước Ngô, đầu đội nón tre, lưng khoác áo tơi, hông đeo sọt tre, xắn quần móng lợn, hai chân để trần… đi khắp mọi nơi trên đất Ngô khảo sát sông này núi nọ, mục đích là để sửa chữa và bổ sung cho mười ba bài “binh pháp”.
Một hôm, Tôn Vũ cải trang thành một gã tiều phu cõng chiếc lù cở trên lưng, tay cầm rìu đốn gỗ, đi theo sườn Khung Long xuống núi. Dưới chân núi lớn là những hòn núi nhỏ như Tiểu Vương, Lan Khu, Mã Võng và Thiên Trì… phía tây là bờ Thái Hồ, là núi Hổ Cốc, phía đông kề với núi Linh Nham, Mộc Độc, sông Hương Khê chảy giữa những quả núi này, trên sông có tới mười ba cây cầu, trong đó có một cây có tên là cầu Thiện Nhân. Tôn Vũ thấy hứng thú với cái tên cầu ngồ ngõ đó, thế là ghé vào quán rượu đầu cầu, mua một cút rượu đế Hoàng Kinh với một đĩa đậu hồi hương rán, ngồi nhâm nhi một mình và mượn cớ hỏi dò ông già chủ quán.
Cầu Thiện Nhân tên cũ là Tư Nghĩa, là nơi những. người hiền lành cần cù làm ăn và sinh sôi nảy nở, hỏi tới tên cầu, lại dính dáng đến một câu chuyện thật là thú vị.
Ngày xưa có một ông thầy phù thuỷ, hâm mộ tiếng tăm nên đã đến thăm Khung Long đất thánh của đạo giáo. Lúc ấy đang vào mùa hè, mặt trời gay gắt trên đầu thời tiết nóng như đổ lửa, ông thầy phù thuỷ từ suối Song Tất đi xuống để tìm nước uống, đến trước một mái nhà tranh đầu xóm, mồ hôi đã vã ra ướt đầm vai áo, miệng khát tới mức không chịu nổi. Bỗng gặp một bà già đi tới, liền khoanh tay xin nước uống cho đỡ khát. Bà cụ già trả lời rằng để còn đi đun nước đã mới có, xin hãy chờ cho một lát. Ông phù thuỷ khát quá, bèn bảo: “Nước lã trong vại sau cửa kia cũng được mà!”, nói xong thò tay lấy gáo múc nước. Bà cụ già quay lại bốc ngay nắm cám rắc lên mặt nước. Ông phù thuỷ phật ý, nhưng cũng không tiện để lộ ra mặt, múc nước lên rồi, kiên nhẫn thổi gạt bụi cám sang một bên, uống dần từng hớp một. Uống xong, nói vài câu đã nhắc tới chuyện nghề nghiệp, gợi chuyện với bà cụ già về đất cát, nhà cửa. Tiện thể, bà cụ xin ông thầy ngắm cho mảnh đất để đặt móng xây nhà mới, ông thầy cố ý chọn cho một nơi đất chết, khoa chân múa tay chỉ phương hướng để đào móng nhà, sau đó chào bà cụ rồi đi.
Mấy năm sau, ông thầy phù thủ ấy lại đến thăm chốn cũ, bỗng thấy nhà mới đàng hoàng khác hẳn vẻ xưa, còn đang do dự băn khoăn, bỗng thấy bà cụ năm xưa từ trong nhà bước ra, nhận ra ông thầy phù thuỷ năm xưa, nhiệt tình mời ông vào thăm nhà mình và nghỉ ngơi ở đó, nói: “May được tiên sinh chỉ vẽ, chọn đúng được nơi đất tốt làm nhà, từ đó lúa dâu tươi tốt, cả nhà mạnh khoẻ bình an, cuộc sống ngày càng tốt đẹp, đáng buồn là không biết đi đâu để tạ ơn tiên sinh không ngờ hôm nay lại được tiên sinh trở lại chốn này”. Thế là bà cụ làm cơm khoản đãi, lệnh người nhà lần lượt ra cảm ơn thầy. Ông thầy phù thuỷ thì thắc mắc nghi ngờ và hết sức ăn năn khó nói, ngồi im mãi một chỗ. Bà cụ thấy vậy, rất lấy làm lạ, vội nói: “Người miền núi chúng tôi đãi khách xưa nay vốn thành tâm thiện chí, còn nhớ năm ấy tiên sinh đến đây, tôi chưa có trà đưa ra mời, nên chậm trễ quá để tiên sinh phải uống nước lã. Lúc ấy tôi lo rằng tiên sinh đang nóng nực như thế, uống ngay nước lạnh vào, rất dễ xảy ra chuyện ốm đau, nên cố ý rắc cám vào vại nước, buộc tiên tinh phải thổi cám đi mà uống từ từ, tránh uống vội mà sinh bệnh. Lúc ấy cũng lại chưa nói để tiên sinh rõ, thật là có lỗi”. Những câu nói ấy lại càng khiến cho ông thầy thầm xấu hổ và nghĩ rằng thế là mình đã lấy oán trả ân, thật chẳng nên chút nào, thế là bèn nói ra sự thực rằng: “Kỳ thực đất cát không hề linh nghiệm, xưa nay làm điều thiện thì thiện báo chịu thương chịu khó nên giàu, từ nay tôi cũng xin bỏ nghề để làm ăn đứng đắn, làm một người thật thà chân thành như cụ”. Thế rồi ông ta đứng ra quyên tiền xây nên cây cầu này và đặt tên là “Thiện nhân”.
Từ cầu Thiện Nhân đi về hướng bắc, có một cái ao sâu ở ngang lưng núi rộng tới mấy chục trượng, ăn sâu vào lòng núi, nên quả núi ấy mới có tên là Thiên Tài. Thế núi chon von, đá tai mèo lởm chởm, suối thì nhiều vô kể, nào là suối Thanh Tâm, suối Hàn Cô, suối Thiên Trì, suối Bát U, suối Doanh Doanh, vv… Nước suối vừa trong mát vừa thơm lành, đỉnh núi này được mệnh danh “Ngô trung đệ nhất phong” (đỉnh số một của nước Ngô). Về chiều cao thì nhất là đỉnh Liên hoa, đá tảng ngổn ngang hoặc đứng hoặc nằm, tảng nghiêng, tảng ngửa, hoặc như vẫy tay, hoặc như nhoài lên, như lúc lắc đung đưa, cứ theo hình dạng mà đặt tên, nào là hòn ông Thọ đọc kinh, hòn Tỳ Khìu, hòn Chân tiên, hòn Tay Phật, hòn Cóc vàng… Trên đỉnh núi, lại còn có động Hoa đào, cửa Nam Thiên, hang Chứa quân, hòn Rèm thêu, gò Phong hoả, vv… Cảnh quan khiến người xem không chán mắt là cảnh “mây vờn đáy nước” – Một mảnh ao trong trên núi, một hòn đá đứng ở bên bờ gọi là hòn Tiểu nương cúi đầu soi bóng xuống nước, như nàng ngọc nữ soi tóc trong gương. Mây bay trên trời xanh cùng những đỉnh núi vây quanh soi bóng xuống nước, như lớp sương vờn mặt nước, lại như làn mây mỏng cuộn lên thành sóng tạo thành một kỳ quan. Sườn phía đông núi quen gọi là Hoa Sơn, đường núi chênh vênh, đá to chen nhau như rừng, phần lớn đều trên rộng dưới hẹp, chồng chéo nhau, chen chúc nhau, tựa như một ổ trứng. Giữa đá là thông, mọc theo sườn đá như hai hàng vệ sĩ đứng trang nghiêm càng khiến con đường càng thanh tân u tĩnh, trang nghiêm…
Theo núi Khung Long đi lên hướng đông bắc, có núi Linh nham, nhìn từ xa, giống như một con voi phục, nguy nga hùng tráng, khí thế oai nghiêm. Núi mọc lên một cách kỳ thú giữa rừng trúc xanh rì, điện các mọc giữa khoảng cheo leo, lô xô từng lóp như bát úp, đó là hành cung của Ngô vương, trong cung cơ thiếp từng bầy, phi tần đông vồ kể. Tôn Vũ, một gã tiều phu, một anh hùng đi hái thuốc, đương nhiên không đủ tư cách đặt chân để leo lên núi này mà bị gạt ra đứng ở ngoài vòng cấm. Vòng theo núi mà đi, vẫn nghe thấy tiếng ca uyển chuyển, tiếng tơ tiếng trúc du dương như rót vào tai. Gió đưa thoang thoáng hương thơm, nước suối như dầu thơm trang điểm khiến con người phải bồi hồi xúc động. Núi ở đây cũng nhiều đá lạ, như hình con thú, như dáng con người, sinh động như hệt, trong đó, nổi bật nhất là hòn Linh Chi, núi Linh Nham có tên cũng vì thế.
Ngoài vẻ đẹp nhìn xuống Thái Hồ, hòn “Linh Chi” còn nổi tiếng bởi một loài cỏ tiên, có thần hiệu cải tử hoàn sinh, ăn vào có thể trường sinh bất tử, đó có thể cũng là nguyên nhân Ngô Vương chọn nơi này để dựng hành cung.
Từ núi Linh Nham tiếp tục đi lên hướng bắc, đi khoảng bốn dặm là tới núi Thiên Bình, núi cao chọc trời, mây trắng vờn quanh, không nhìn thấy đỉnh non từng lớp trùng điệp chen nhau, che kín cả mặt trời vì trên núi mọc toàn một thứ phong cổ thụ. Lúc ấy lại đang vào cuối thu, lá như đua với hoa, từ xa nhìn lên Bình Sơn, chẳng khác gì như cả đỉnh núi đang rừng rực lửa. Đỉnh nào cũng thấy suối reo, đâu đâu cũng nghe thác đổ, đó cũng là một đặc điểm nữa của núi Bình Thiên. Nước suối trong lành và ngọt ngào uống vào miệng mát đến tận xương, là thứ nước giải khát tuyệt vời. Dòng suối này cũng chưa bao giờ cạn, nên cũng được mang tên “Ngô trung đệ nhất tuyền”. Khắp núi đâu đâu cũng thấy trụ đá mọc như rừng “vạn hốt triều thiên” (muôn tấm hốt chĩa lên trời), “Long thôn nhất tuyến thiên” (một lối cửa rồng lên trời), vv.. là tuyến đường duy nhất để lên núi, hai vách đá đứng thẳng, đối nhau như cánh cửa thẳng vút lên cao, cheo leo như muốn vỡ, khiến người ta mới nhìn đã rủn chân, lạnh cả tóc gáy, ở giữa có một lối đi hẹp, nghiêng nghiêng hơn chục bậc đá; chỉ đủ cho một người nghiêng lách mà lên.
Trước ngực Khung Long cũng có núi, tuy không cao lắm, nhưng phong cảnh lại độc đáo,một năm bốn mùa hoa thơm đua sắc, cỏ thơm ngọt ngào, thế nên mới gọi là “Hương Sơn”. Phía đông, nó đối diện với núi Thanh Minh, phía nam ngả xuống Thái Hồ, phía tây kéo đến các ngọn núi Pháp Hoa, Ngư Dương gần đó, phía bắc dựa vào Khung Long, ngang dọc cả chục dặm, địa thế rất u tĩnh và vắng vẻ, cảnh sắc đẹp tuyệt vời, đó tức là Nam cung của vua Ngô. Nam cung cũng là một ly cung của Ngô Vương, để tiện ra vào Thái Hồ, nhà vua đã cho đào sông đào Nam Cung, dài mười mấy dặm, chạy suốt từ đông sang tây. Trên dọc sông có tới sáu chiếc cầu đá và một chiếc cầu gỗ, cầu đá cuốn vòm tám cái, qua đó đủ thấy quy mô và khí thế của nó, đã từng có thơ ca ngợi rằng:
Vua Ngô chơi thỏa sức,
Đàn hát vang núi rừng,
Xe đi môn lối cỏ,
Hoa rừng xen ngọc trâm,
Gió xuân như rải gấm,
Mưa chiều như gieo châu.
Phía đông của Hương Sơn Chủy, ở mố đầu bên tây cầu Hưng Long có đình quan Triều. Ở đó tựa lan can mà ngắm Thái Hồ, gió lặng mặt hồ như gương, khi nổi gió thì sóng dâng cuồn cuộn, bảy mươi hai đỉnh núi thấp thoáng trong sương mờ, thắng cảnh núi bên hồ đẹp khôn tả xiết.
Từ Hương Sơn Chủy men theo núi mà đi, có hai Uyển lĩnh lớn và nhỏ. Uyển lĩnh không cao, đá nhấp nhô như búp măng, như thể cài răng lược, đây là nơi Ngô vương ươm trồng hoa thơm cỏ lạ. Ngô Vương thường sai cung nữ chèo thuyền từ Thái Hương kinh tới đây hái hoa thơm cỏ lạ, cũng đã từng có thơ miêu tả cảnh này: “Lối Thái Hương kinh bơi thuyền gỗ, ngậm nhuỵ phun hương nhẹ lướt đi, ác lặn núi xanh còn ở lại, ngàn dân ruộng lúa toả hương đầy”.
Mé đông nam Khung Long có bạch Mã Lĩnh, dưới đó có Bạch Mã Âu. Núi cao bao bóc, cảnh sắc như tranh vẽ, trên núi dưới núi, ngoài gò trong gò toàn là một giải rừng phong, sương sớm tháng mười, trùng trùng từng đợt. Rừng phong đỏ như say như nhuộm, có thể sánh với rừng phong ở Thiên Bình, đây là mảnh đất đẹp nhất để ngắm rừng phong trong chuyến đi chơi mùa thu.
Ở cửa vào Thái Hồ của Hương Sơn có cầu Lã Phố. Cầu này bắc qua bên tây của sông đào Nam Cung, là cái cửa lớn cũng là yết hầu trên đường từ Hương Sơn vào ra Thái Hồ, bên phía bắc cầu là thôn Lã Sơn, những người ở quanh đó phần đông là họ Lã; đầu phía nam cầu là thôn La Đàm, xưa nay vẫn do người họ Phố sống ở đây cũng bởi thế cầu mới mang tên ấy. Từ phía tây cầu ra Thái Hồ, trời nước nối liền, nhìn xa hết tầm mắt còn không thấy bờ, nên cũng có thơ rằng:
…Gió mưa lầu các tranh mờ tỏ,
Thảm đạm nào hay dạ hoá công.
Để mạng nổi chìm như chiếc lá.
Nghìn vàng thân dễ há so cùng.
Hồng tràn lối cũ đầy nguy hiểm.
Sóng to đừng giận chốn sâu nông.
Đến được Hương Sơn, thôi bó buộc.
Nằm nghe giai giải[2] hét bên rồng.
Ở đây thuyền đánh cá sáng sớm ra hồ đánh bắt, chiều tối kéo nhau về xúm xít dưới chân cầu, ngư dân thấy vui trong lòng đây đó vang lên giọng hò kéo lưới, lan truyền mãi trên mặt hồ mênh mông, nơi đây là chốn đất thơm của dân chài lưới.
Phần cuối cùng của Hương Sơn là thôn Bạch Sa Để, người trong thôn xóm có một câu ngạn ngữ rằng: “Gần thì ở Hương Sơn Chủy, xa thì đến Bạch Sa Để”. Từ đó đi về hướng tây chừng nửa dặm đường, có pháp hoa lãnh ở trên đó, thông già xanh sẫm, che kín cả đất trời, ngăn ngắt một màu xanh. Phía trước đó là núi Hoàng Mâu, sát xuống tận mép nước Thái Hồ. Những ngày sống yên lặng, núi soi xuống nước, màu xanh lam xen giữa màu cây khung cảnh như thơ như hoạ. Đỉnh cao nhất ở nơi này là núi Pháp Hoa, sườn phía tây có gò Pháp hoa, trên gò cũng là thông xanh rợp bóng, đất trời âm u, gió núi ào đến cả rừng thông cất tiếng reo, tiếng rền vang như sấm. Tiếp tục đi về phía tây, lại gặp rặng trúc rừng mai, chè xanh quýt đỏ đặt chân và chốn này như có gió nhẹ nâng bước, tiếng chim ca và hoa hương đón mời khiến khách du ngập ngừng chẳng nỡ rời chân.
Dưới chân núi Pháp Hoa là núi Thực Tương, chân núi này cũng sát mép nước Thái Hồ. Trên núi này có Thực Tương viện, trước sân là một dòng sông nhỏ, trên con sông này có một chiếc cầu một vòm bằng đá xanh, người thợ đã khéo tay, tạo nên một dáng hình cổ kính. Mỗi khi vào tiết Trùng dương, leo len đỉnh núi Thực Tương, đứng bên cầu trên sông nhỏ, dưới chân nước chảy nao nao, đưa mắt nhìn đồng ruộng thẳng tắp đến chân trời, sóng lúa dập dờn uốn lượn, chẳng hác chi sóng biếc lô xô trên mặt nước mênh mang như vô tận của Thái Hồ.
Phía tây bắc Khung Long là Hổ Cốc, do Ngô vương nuôi hổ trên núi là được đặt tên như thế. Nước bao quanh núi, rừng thẳm khe sâu. Hồ Tây Yêm trên nối với Thái Hồ bao la, dưới nối với kênh đào Hỉ Quang mềm như dải lụa và hồ Đông Yêm. Núi non bao bọc xung quanh, mặt nước long lanh, bờ đê ngoằn ngoèo, dương liễu thướt tha, nghiễm nhiên trở nên một bức tranh sơn thuỷ đầy đủ núi non sông nước đậm đà ý thơ. Bơi thuyền trên hồ, người như bơi trong tranh, càng làm cho bức tranh thiên nhiên này sống động hơn. Nếu như ví vẻ đẹp của nước non Ngô Trung như một người con gái đẹp, thì mặt hồ Tây Yêm trong suốt như gương kia, chính là ánh mắt long lanh truyền cảm của mỹ nhân. Mặt hồ như hình một đồng tiền, rộng tới hàng vạn trượng ở giữa có một hòn đảo nhỏ, nhìn xa nổi lên như một con ốc màu xanh, đến gần mới thấy cây cỏ rậm rạp, nhà cửa ngay ngắn, hệt như một hạt châu màu xanh gắn lên mặt gương trong, và cũng giống như một chiếc thuyền hoa đang dừng lại giữa hồ, điểm xuyết cho mặt hồ phẳng lặng thêm sinh động, tạo nên khung cảnh diệu kỳ giữa cái kỳ lạ và rung động, giữa cái lặng yên xem với hoạt động trên hồ. Đời sau, đã từng có người làm thợ ca ngợi:
Người Nam thấy lạ bảo Hàng Châu
Tự nghĩ Tây Hồ đẹp đến đâu
Trời mở Hạ Yêm[3] cho làng cá
Đêm về thuyền đậu giữa dòng sâu
Ý thơ ngang dọc trên đầu bút
Cảnh đẹp lần lần để mãi sau
Đồng dao tiếng hát phương nào dậy
Ráng chiều đơn độc cánh cò bay.
Đủ thấy cảnh đẹp của nó quyến rũ và mê hồn đến mức nào…
Những núi Rùa, núi Hổ bên bờ hồ Tây Yêm, đối chọi với núi Đồng khanh bên kia hồ tạo nên một khung cảnh độc đáo của hồ Tây Yêm. Phía đông nước luồn qua khe trống giữa núi Rùa, núi Hổ chảy vào kênh đào Hải Quang và hồ Đông Yêm, cầu núi Hổ bắc ngang hai đầu núi xa trông như chiếc cầu rồng bằng ngọc vươn mình lên giữa sóng bạc, đá xanh. Núi Rùa đứng nguy nga, đỉnh nhỏ cao như muốn chọc lên trời. Bên mé tây núi Đồng Khánh và An Sơn đứng đối diện nhau, giải lụa trắng ở giữa nối hồ Lưỡng Yêm với Thái Hồ, cầu Đồng Khanh như một chiếc khóa sắt lại giống như một chiếc cầu vồng nối hai nơi. Bên ngoài cầu là Thái Hồ bao la, nếu như mưa gió thổi lên, sóng lớn cồn cào, chỉ trong gang tấc, như ngư long tác quái, muốn xông lên trời. Nếu ngày tạnh đẹp, sóng lặng gió yên, trời nước trong như lọc, sóng gợn lăn tăn, các đỉnh núi của Thái Hồ như bầy ra trước mắt, thuyền đánh cá nhiều như lá tre, thấp thoáng buồm nâu in tận phía chân trời.
Chiều tối, mặt trời lặn hắt lên ánh tà dương, cảnh vật càng trở nên hùng tráng, mặt trời đỏ ối rơi xuống giữa cầu Đồng Khanh, như một trái hồng chín mọng được đặt trên chiếc đĩa pha lê, khiến người ta mới nhìn thấy đã thèm ăn; lại giống như một hạt dạ minh châu lơ lửng giữa từng không, núi Đồng Khanh và An Sơn ở hai bên như hai con rồng xanh vươn mình tới, tranh nhau vờn hạt châu khiến nó mãi không rơi xuống được… Mặt trời từ từ khuất dưới nước hồ, chân trời loé lên ngàn vạn ánh ráng chiều, thế là trời say, núi say, nước hồ say, cả thế gian đều như say trong màu đỏ lựng. Những loài chim nước như còn tiếc nuối ánh ngày, cố sức tung tăng bay lượn, lúc sà xuống mặt hồ, lúc bay vút lên thinh không. Thuyền đánh cá khoác ráng chiếu trên một cách buồm từ phía trời xa dần dần về bến đậu… Cảnh tình này, đúng như đời sau đã có người ngâm vịnh, nào là:
Một cánh cò bay với ráng chiều,
Hồ thu trời nước nối liền nhau…
nào là:
Hai bờ núi biếc song song đứng,
Buồm về thấp thoáng tận chân mây.
Gần hồ cốc lại có một quả núi, khi trời mới sang xuân, hoa mai từ khắp nơi rơi trên núi đua nhau nở, hương bay thoang thoảng, cả một vùng trắng như tuyết phủ, mênh mông như một biển hoa, nên có tên là “Hương Tuyết Hải”. Theo lối mòn sân thẳm và quanh co của những léo hoa theo bậc đá lên, đúng là có một cảm giác như trong câu thơ “Vào núi nơi nơi đầy hoa nở, cao thấp gần xa không thấy đường”. Leo lên đến đỉnh núi, phóng tầm mắt nhìn ra xa, chẳng nơi nào mà không thấy mai chẳng nơi nào mà không có hoa – mai tuyết mênh mang, ánh bạc ngời trong mắt, đẹp đến kỳ lạ, rạng rỡ mà tráng lệ. Những đình đài lầu các thấp thoáng trong rừng hoa mai, tựa những gác ngọc lầu vàng trên núi tiên, bồng bềnh trên biển trắng mênh mông, rạng rỡ giữa tầng không, mĩ miều khôn tả. Nếu như vào một đêm trăng rằm, ánh trăng như bạc trùm lấy ngàn mai, hoa mai trắng phản chiếu lại ánh trăng bạc, đất trời cùng một sắc trong suốt lung linh, quện lại với nhau, mọi vật đều thuần khiết, một làn gió nhẹ đưa mang theo mùi hương thoang thoảng của hoa mai, như mơn man trên mặt, khiến du khách ngỡ mình lạc vào cảnh thần tiên…
Gót chân Tôn Vũ đã đặt trên tất cả mọi miền núi non, sông suối, hồ đầm, hải đảo.. của nước Ngô. Việc khảo sát của ông, có lúc hơi thiên về một khía cạnh song có lúc lại tập trung, nhưng công việc chính vẫn là trèo đèo lội suối, nhưng sở dĩ muốn tách ra để giới thiệu, chính là vì muôn cho tiện việc và tiết kiệm giấy mực, chứ không phải trong thực tế con đường đi khảo sát là như thế. Đương nhiên, muốn đi thăm cho hết núi non của một nước, riêng về thời gian không có thể chỉ trong một sớm một chiều, mà cung chẳng phải đi một lèo là đã có thể xong.
Đất Ngô tuy thuộc vùng đất Thái Hồ hạ du của Trường Giang, phía tây giáp Thái Hồ, đông nối với Côn Sơn, phía bắc là sông Vọng Ngu nối với Trường Giang, phía nam có sông Ngô Tùng nối ra biển cả, đê Nguyên Hoa ở miền trung nối với Thường Thục, sông ngòi xuyên dọc theo hướng bắc nam, rồi lại đan ngang theo hướng đông tây, trong nội địa vùng nào cũng liền kề sông nước, mương máng sông ngòi chằng chịt như mạng nhện, đầm hồ rải rác như bàn cờ, nước mặt cũng như nước ngầm ở những vùng này đều phân bổ rất đều đặn và phong phú, nào là sông, hồ, đầm, mương… mặt nước chiếm tới một phần ba. Những dòng sông nổi tiếng thì có sông Ngô Tùng, sông Lâu, Đông giang, Vận Hà, sông Vọng Ngu, Ngô giang, Nguyên Hà, vv. những hồ lớn chủ yếu có Thái Hồ, hồ Dương Đăng, hồ Đăng, đầm Ngu Chân, đầm Thịnh Trạch, đầm Hoàng Thiên, hồ Độc Thự, vv…
Đất của Thái Hồ vượt qua hai nước Ngô Việt, rộng mênh mông, như không thấy bờ. Hình dáng của nó như cái thai trong bụng mẹ, bờ phía nam, đông nam và phía tây tương đối phẳng phiu, bờ bắc và đông bắc lại lồi lõm và nhiều âu vịnh, bờ dài tới hàng ngàn dặm, nước sâu hàng trượng. Trong hồ có nhiều đảo, tới hơn bảy mươi hòn, kể dài theo hướng nam bắc, phần lớn tập trung ở chu vi vùng núi phía tây Động Đình là lớn hơn cả, bề ngang khoảng mười dặm, ở đó có núi Động Đình ngăn cách với mặt nước, cao nhất là đỉnh Phiêu Diệu, nhô lên khỏi mặt nước tới hàng ngàn thước, đứng đầu trong các đỉnh núi cao ở dãy. Ngoài núi Đông và Tây Động Đình, còn ba núi nữa tương đối lớn, đó là cái đảo Mạn Sơn, Trường Sa, Hoàng Sơn. Thái Hồ là một dạng luôn có nước ra vào, ven bờ có rất nhiều bến cảng, cửa sông cũng nhiều, rất thuận tiện cho việc giao lưu và chuyên chở. Khí hậu ở đây ôn hoà, mực nước luôn ổn định, mùa đông ít bị lạnh quá, mùa hè cũng không nóng quá, là mảnh đất quý để lúa ngô tôm cá nảy nở sinh sôi. Nguồn lợi thuỷ sản trong hồ cũng vô cùng phong phú, có ba loại được mệnh danh “Thái Hồ tam bảo” là cá bạc tôm trắng và cá mai tề, ngoài ra còn bao nhiêu thứ thuỷ đặc sản quý hiếm như ba ba, lươn cá bạch điều, vv… nên được gọi là “đấu vàng nơi mặt trời lên” là “kho cá thiên nhiên”.
Vào tiết tháng ba giữa xuân, trời trong gió mát, liễu thắm hoa hồng, một hôm Tôn Vũ đã hẹn với năm người bạn quê mùa ở vùng núi mới làm quen nhau ở Khung Long, bơi thuyền đi thăm Thái Hồ. Tôn Vũ từ nhỏ lớn lên ở bên sông Tri Hà, có cảm tình đặc biệt với sông nước. Khi còn bé, đã có lần Tôn Vũ muốn mình biến thành một con cá, luôn luôn sống dưới nước ngoe đầu nguẩy đuôi, bơi đi bơi lại vô cùng thoải mái. Tuy nhiên, đó chẳng qua chỉ là một ảo tưởng ấu trĩ, cùng với thời gian, tuổi tác mỗi ngày mỗi lớn, Tôn Vũ cũng như bao nhiêu người khác vẫn phải len lách, vẫn phải va chạm trong dòng người bẩn thỉu. Nước Tri Hà, cũng như dòng người trong xã hội, vừa vẩn đục ngầu ngầu, nhưng lại mạnh mẽ cuốn trôi, trên mặt sông thường cuốn theo bao nhiêu lá khô cành mục, xác chó xác mèo. Nước Thái Hồ thì sông Tri Hà không thể nào sánh kịp, nó rộng mênh mông như biển lớn, phẳng như một tấm gương trong suốt như bầu trời xanh và long lanh như ngọc bích, dịu dàng như thiếu nữ, sôi động như gió xuân, trong sáng như trăng rằm… Khi còn nhỏ, ông chàng đã có lần dẫn chàng đi thăm Bột Hải, sau lại đã cùng với ngư dân ra biển đánh cá, từng vật lộn với sóng gió, bởi thế nên đã lĩnh hội được sự thần kỳ và bí hiểm của biển cả. So với Thái Hồ, lòng biển tuy rộng rãi bao la, sự dâng hiến của hiển cũng vô tư, nhưng biển có lúc lại hung dữ như dã thú, tàn nhẫn như một tên bạo chúa, vô tình như ma quỷ, lạnh lẽo như mùa đông… Con thuyền nhẹ nhàng khua mái chèo, thuyền đánh cá gần xa cũng lướt đi êm ả, những thuyền buồm bằng gỗ ở đây cũng khác hơn ở biển rất nhiều, mũi thường vuông và đáy phẳng, thân thuyền nông và rộng ngang, ngồi trên thuyền vững vàng như ngồi trên giường. Thuyền nhỏ như không sợ gì sóng gió, mặc sức trôi nổi, lướt đi trên nước hồ trong xanh, chỉ hơi nghiêng ngả và tròng trành nhè nhẹ, người trên thuyền bình tĩnh ung dung như đàn cừu gặm cỏ trên thảo nguyên, như chim ưng sải cánh giữa trời cao, như đứa trẻ nằm yên trong lòng mẹ, như đối với vợ chồng mới nằm ấp má bên nhau trong chăn ấm. Trên mặt hồ mênh mông thấp thoáng những cánh buồm của thuyền đánh cá, như những làn mây trắng tản mát trên nền trời xanh, như những vì sao lấp lánh giữa trời đêm. Những giống chim nước chỗ thì tản ra, chỗ thì tụm lại, con thì lao mình xuống nước, con thì dỡn nước đùa vui bay theo những cánh buồm, con thì dướn cổ lên gọi bầy. Chúng ung dung tự do, tuỳ theo sở tích từng loài, vô cùng thoải mái và hiền hòa gần gũi nhau, không loài nào xâm lấn tàn hại loài nào. Nhìn cảnh ấy Tôn Vũ thấy rộn lên một xúc cảm, xem ra những giống chim này lại cao thượng hơn con người, không tham lam, bẩn thỉu như con người. Đảo dần gần lại với thuyền, nếu ví mặt hồ mênh mông như một lồng ngực lớn, thì những đảo, những núi tản mát đây đó này là các cơ quan phủ tạng bên trong lồng ngực, mất chúng đi, Thái Hồ cũng không còn sức sống. Nếu ví Thái Hồ bao la như lồng ngực thì đỉnh Phiêu Diệu của đảo Tây Sơn và đỉnh Đại Kiên của đảo Đông Sơn chính là hai bầu vú trên lồng ngực đó. Nếu nói những cánh buồm kia là những áng mây trắng bồng bềnh trôi trên trời xanh, thì những đỉnh núi cao, những hòn đảo lớn nhỏ kia, là những đám mây đen kéo đến trước khi trời nổi trận bão dông sấm chớp. Trời xanh, mây trắng, núi màu lam, nước biếc và những cánh buồm, những cánh cò bay… bỗng trở thành một bức tranh sơn thuỷ tuyệt đẹp, trở thành một bài thơ trữ tình, một khúc nhạc du dương tuyệt vời. Thuyền buồm đã áp mạn vào đảo Tây Sơn, xung quanh đảo, chỉ thấy toàn là dương liễu, giống như bầy con gái đứng xếp hàng xoã tóc, một màu xanh non, yểu điệu thướt tha, đủ mọi tư thế, như mây như sương, mơn man trên mặt hồ, dịu dàng tình tứ, trong màu lá xanh mướt ấy, điểm xuyết những nụ đào, như bông hoa cài trên tóc người con gái. Cảnh vốn đã nên thơ lại thêm phần tươi đẹp, khiến cho người ta càng thấy mê say… Trên đảo cũng lại nhấp nhô gò đỉnh, địa hình vô cùng phức tạp, cảnh vịnh cũng nhiều. Đỉnh Phiêu Diêu nguy nga mọc lên giữa đảo, các mạch núi của nó vươn dài ra bốn phía, ngang dọc tự do, bóng râm che phủ, cam quýt, sơn tra, khế… chỗ nào cũng có đúng là một núi hoa quả ở miền á nhiệt đới…
Sau khi đi thăm hết một lượt đanh lam thắng cảnh trên đảo, mê mẩn với cảnh đẹp ở đây, Tôn Vũ quyết định đêm ấy sẽ ngủ lại bên hồ, để ngắm nước, ngắm trăng và nằm nghe sóng vỗ. Chiều tà, mặt trời khuất núi, ánh chiều đỏ như máu; mặt hồ lăn tăn ngàn muôn ánh vâng như đón nhận lấy vầng kim ô trở lại với lòng hồ. Thuyền buồm nhổ neo quay về. Ở trên bờ, Tôn Vũ chắp tay chào từ biệt những người cùng đến với mình, sau đó cùng người đầy tớ mang đồ câu ra vịnh hồ ngồi buông câu, đây là chỗ ban ngày đi thăm qua đây đã chọn sẵn. Vịnh hồ hướng ra phía mặt trời lại khuất gió, rất yên tĩnh. Vịnh hồ cũng không lớn lắm, lại kề ngay miệng núi, ba mặt có núi đá che, giống như đôi càng cua hay như cái vòng kiềng, là nơi buông câu rất lý tưởng. Nơi cửa của cái vòng kiềng lại có một doi đất xanh, chẳng khác gì viên ngọc, được ngậm trong miệng rồng. Mặt trời đã sắp lặn hẳn. Ánh ráng chiều vàng vọt cố loé lên như dát vàng lên cho bờ hồ, vịnh hồ và doi cát. Nước hồ phơi nắng một ngày, lúc này vẫn còn âm ấm, Tôn Vũ thả cần câu xuống lòng vịnh, ngồi trên bờ đá, thả đôi chân trần xuống mép nước, im lặng chờ xem cá cắn câu. Từng đoàn sa âu bay tới doi đất đối diện nơi họ ngồi, chúng định bay về nghỉ đêm ở đấy như thầy tớ hai người buông câu kia, nhưng phát hiện ra đến tận lúc này mà bên bờ kia vẫn còn hai người chưa chịu ra về, nên chúng cảnh giác vụt bay lên kêu nháo nhác gọi nhau, bay lượn trên không Mãi đến khi chúng lại phát hiện ra hai con người ấy không có gì ác ý, mới lại lần lượt bay về tổ cũ ẩn trong những lùm hoa cỏ, không một tiếng kêu gì nữa. Màn đêm buông xuống, từng làn gió xuân đem lại mùi thơm đó là hoa lau trên bờ vịnh, tử đinh hương trên doi đất đang lúc thi nhau nở rộ. Trăng đã lên, vừa tròn vừa to, như một vành bánh xe bằng bạc, đổ ánh sáng xuống hồ, ánh lên như những viên ngọc lặng lẽ ngâm mình nơi đáy nước. Trên mặt hồ càng lấp lánh ánh vàng. ánh trăng cũng xua tan mây mù, cả bầu trời trong như lọc, muôn cảnh đất trời như mông lung mờ ảo. Gió đêm vẳng lại tiếng hò dân chài, tiếng hò hát tuy thô nặng, nhưng mạnh mẽ như từ non cao trượt xuống, êm đềm như bầu ngực trần của mặt hồ; lúc lại cao vút lên như núi Khung Long, nhưng cứ du dương lan xa, nghe ngọt ngào như sóng lăn tăn trên mặt hồ, như những cánh hoa ngời ngời trên nền gấm. Tiếng hát dù là trai là gái, dù là già hay trẻ, dù là hỏi hay đáp… đều như bộc bạch tấm lòng mình, lâm ly và đằm thắm. Nghe những lời ca ấy, nhìn ánh trăng sáng ấy, Tôn Vũ bỗng thấy hai má mình ướt nhoè nước mắt, và ông thầm nghẹn ngào một mình, khiến cho người đầy tớ cùng đi câu hốt hoảng lo sợ…
❀ ❀ ❀
[1] Vùng Tô Châu ngày nay.
[2] Một loài thuỷ tộc trong truyền thuyết.
[3] Hồ Tây còn có tên gọi là Hạ Yêm.