Tôn Tử Truyện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 55 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Xv Chào Nhau Xuống Núi – Luyện Quân Chém Cơ
Chương Xv Chào Nhau Xuống Núi – Luyện Quân Chém Cơ

❊ ❊ ❊

Ở trên vừa kể, Tôn Vũ khăng khăng không chịu ra khỏi nơi rừng núi, Ngũ Tử Tư liền quỳ dưới chân Tôn Vũ, bật khóc thảm thiết. Khóc đến nỗi trời sầu đất thảm, đến mức Tôn Vũ cầm lòng không đậu, cúi xuống dìu Ngũ Tử Tư đứng dậy, gượng gạo thể theo lời van nài của Tử Tư. Thế nhưng Tôn Vũ có ra khỏi núi cũng lại phải có điều kiện, tức là chỉ giúp Ngô vương xưng bá một thời, chứ không thể giúp trọn vẹn để ông ta thôn tính các nước mà lấy thiên hạ. Với con mắt của Tôn Vũ, Hạp Lư dù có hơn cả chục lần Vương Liêu thì cũng chưa phải là một ông vua như Nghiêu như Thuấn, mà theo đà hùng mạnh của thế lực đất nước, với sự nâng cao và mở rộng uy danh, rồi tất sẽ đi đến chỗ kiêu sa ngang ngược, bá đạo hung hăng. Đúng như người ta nói, đánh bạn với vua như chơi với hổ, người khôn chẳng ai làm. Sự phát triển của lịch sử, đã chứng minh rằng dự đoán đó của Tôn Vũ là vô cùng chính xác. Kỳ thực, đâu chỉ có một mình Lạp Lư, vua chúa phong kiến thời ấy chẳng ai là không thế, chỉ có điều mức độ có khác nhau chút ít mà thôi. Được gọi bằng những mỹ từ “khuôn vàng thước ngọc”, “dòng dõi con trời”… chính là những danh từ nhân xưng của sự ngang ngược bá đạo. Khi còn đi đánh đông dẹp bắc để cướp chính quyền, họ có thể coi dân như nước lửa, quần thần như chân tay, chẳng những nói nhiều đến nhân nghĩa, trọng vọng người hiền, nhìn nhận tới kẻ sĩ, nhưng khi đã ngồi vào ngai vàng, ngôi báu rồi, nằm quyền sinh quyền sát trong tay, thì thử hỏi được mấy người chẳng coi dân như cỏ rác, coi quần thần như một lũ dân đen? Cũng có những bậc quân vương thực sự được coi là thiên tài, họ đã nói biết bao nhiều lời mỹ miều mang tính triết lý, thậm chí tự tạo nên một trường phái, dần dần thành lý luận. Phải nói rằng, những lời lẽ đó hết sức kín kẽ, không ai bắt bẻ vào đâu được hơn nữa lại toàn là những câu lấy ra để dậy người, để trăm họ phải làm theo, còn bản thân họ lại không hề bị ràng buộc bởi những lời nói đó, làm theo những lời hào nhoáng tốt đẹp đó, mà là mặc sức làm càn, muốn sao được vậy, thường thường là đi ngược lại những lời lẽ đó. Thực ra nữa, đâu há chỉ có mình vua chúa như thế, mà kẻ nào cũng vậy, hễ hơi có một chút quyền thế, là đều như thế cả, họ coi phạm vi thế lực của mình, khu vực quản hạt của mình là của riêng mình, dân chúng ở đấy là kẻ hầu người hạ của mình, đất đai, của cải ở đấy là tài sản riêng của mình, để họ tuỳ ý cắt đặt, sai khiến, vơ vét. Với cấp trên, họ luồn cúi bợ đỡ, tâng bốc nịnh nọt để lấy lòng, với cấp dưới, họ tỏ ra độc tài chuyên chế, vơ vét bóp nặn.

Đối với những kẻ tung hoành ngang dọc, hễ có lợi cho mình, thì họ tôn quý kính trọng, thậm chí đến quỳ ngay dưới gối, gọi bằng ông, bằng cha… tất cả đều không có gì mà không được; hễ không có lợi cho mình hoặc có nhờ vả gì mình, thì họ kiêu căng vênh váo thì dù có là bà là mẹ, là cha đẻ ra mình, họ cũng trở mặt không nhận họ nhận hàng. Tôn Vũ ra khỏi rừng núi lần này, tuy là làm việc cho Ngô Vương, song cũng là góp sức với Ngũ Tử Tư, vì ông luôn nghĩ đến một con người trung lương như Ngũ Tử Tư, mà lại phải chịu nỗi oan thâm hại thế, để đến nỗi có nhà mà chẳng được về, có nước mà không có chỗ mà theo,… không nỡ đang tâm đứng nhìn mà không ra tay, hơn nữa trước đây lại đã từng hứa hẹn với nhau, không thể nuốt lời, đồng thời cũng là để cứu các bậc thần dân trung lương ra khỏi cơn nguy hiểm, để cho sau này họ cũng được thờ một đấng minh quân. Đương nhiên, Tôn Vũ ra khỏi núi lần này còn có một mục đích quan trọng hơn nữa, đó tức là đưa mười ba bài “binh pháp” vào thực tiễn, và trong thực tiễn sẽ bổ sung đầy đủ hơn, sửa chữa cho hoàn thiện hơn. Mục đích này chỉ có một mình Tôn Vũ tự biết trong lòng mà không thể nới cho ai được.

Ngũ Tử Tư không còn lời nào nói thêm nữa, đành vâng vâng dạ dạ nghe theo. Vì trước đã có lời, sau này Tôn Vũ thống soái quân Ngô, phía tây thì đánh tan nước Sở hùng mạnh, oai phong lừng lẫy khắp trung nguyên, ở đến khi Hạp Lư trở nên ngang ngược, sẽ thẳng thắn từ quan về nơi rừng núi, mặc cho Hạp Lư có phong cho quan cao tước trọng, cũng chẳng giải quyết được gì và Ngũ Tử Tư cũng hết dám hé răng ra nài giữ.

Hai bên thoả thuận với nhau như thế, và lập tức thu dọn hành lý, đi thuyền nhỏ về Khung Long để người hầu ở lại lo bán lại ngôi nhà tranh. Về đến nhà, Tôn Vũ sai cho sửa tiệc rượu, để khoản đãi bạn thân Ngũ Tử Tư. Ngũ Tử Tư thì lấy lá thư gửi lễ vẫn mang theo bên mình ra, rồi sai quân theo hầu lấy những quà tặng và lễ vật bày ra. Tôn Vũ không hề khiêm nhượng, cứ chiếu theo những thứ đã ghi trong thư nhận hết, một phần để lại cho vợ con sinh sống, một phần bảo vợ đem cho tất cả bạn bè mới quen biết ở đây. Sau khi cơm no rượu say, Tôn Vũ sắp xếp để Ngũ Tử Tư đi ngủ sớm, còn mình thức chuyện trò chia tay với vợ con và sắp đặt qua công việc gia đình.

Đêm yên lặng quá, nhưng cõi lòng Tôn Vũ và Điền Thục Hiền lại chẳng yên lặng chút nào, có cái gì như đang lận lội giữa núi cao vực thẳm, có cái gì như đang tròng trành trên sóng to gió lớn. Mỗi người đều ở một thể mâu thuẫn, vợ chồng Tôn Vũ lúc này cũng không ngoại lệ. Điền Thục Hiền chẳng hám gì quyền thế và sự sang giàu của một vị tướng, mà chỉ kính trọng chồng mình mấy đời có công với nước, làm ơn cho dân; chẳng thích gì vẻ bảnh bao lịch lãm của Tôn Vũ mà là yêu vẻ thông minh tài trí, yêu cái chí lớn hiếm thấy, với khí độ khác thường của con người ấy.. Để người mình hằng yêu dấu viết được binh pháp, nàng đã từng ủng hộ chàng đi chu du khắp nơi trong chín châu để khảo sát chiến trường xưa, rồi hoãn cưới hết lần này đến lần khác, đương nhiên còn vì muốn sau này cho thành nghiệp lớn. Vậy mà bố chồng gặp nạn, cả nhà lo lắng không yên; nỗi khổ của mấy tháng trời lận đận, đã khiến nàng mất hết mọi ý định theo đuổi sự nghiệp và công danh của chồng, yên phận với cuộc sống thanh bần vô vi như hiện nay. Thế nhưng người ta sinh ra đời nhất là những đấng nam nhi, đại trượng phu, lẽ nào lại chịu sống lén lút cẩu thả như chuột ở trong hang vậy sao? Ai ai cũng sống lén lút cẩu thả như thế, tài trí kia phỏng có ích gì? Kẻ tầm thường với người vĩ đại chẳng hoá ra lại đứng ngang hàng với nhau hay sao? Lẽ đời trớ trêu này sẽ phát triển đến đâu?… Trong lòng nàng lúc này bắt đầu dậy sóng.

Tôn Vũ lẽ nào lại không như thế, xem ra trái tim của chàng lúc này cũng giống như Thái Hồ trong tiết tháng ba, sóng yên gió lặng, mặt nước lăn tăn. Ngày ngày nghêu ngao câu hát ra khỏi nhà để cấy trồng, chăn nuôi, hái củi, kiếm thuốc, buông câu, quay về nhà cùng ăn uống quây quần với vợ con, hay hẹn bạn đến nếp nhà tranh này uống rượu nói chuyện phiếm, hoặc vui đùa. Trên thực tế, chẳng qua là chỉ dùng những thứ ấy để che giấu đi nỗi đau khổ, phiền não và lo lắng ở trong lòng mà thôi, còn trong lòng Tôn Vũ luôn luôn như mặt Thái Hồ khi gió bão ập đến, gió bấc thét gào, sóng cồn mù trời lớp nọ nối lớp kia, không một thoáng được êm đềm lặng lẽ. Tại sao Tôn Vũ cứ thường xuyên đội mưa đội gió ra hồ, chèo thuyền đi ngược gió, ngồi vắt vẻo trên mon cao để buông câu, chẳng lẽ lại chỉ để cho đỡ thèm, cho sướng miệng thôi sao? Không! Một trăm lần không! Mà đó là biểu hiện của một nỗi lòng không bao giờ yêu lặng. Ngồi trên tảng đá rắn câng, mặc cho cuồng phong xâu xé, cho mưa gió giội dầm, sấm rền bên tai… lim dim đôi mắt nhìn đăm đăm ra mặt hồ, sóng xô lớp lớp, nhìn chim ưng trải cánh với hải âu giỡn sóng, nhìn cánh buồn xa xăm… Tôn Vũ đang nghĩ đến những gì? Hẳn là đang nghĩ đến sự bao dung của Thái Hồ, đến khí phách của từng con sóng, đến sự gan dạ của loài chim, đến sự dũng cảm của dân chài, nghĩ đến sự hẹp hòi, khiếp nhược thấp hèn và thái độ bỏ dở giữa chừng của mình, thấy hai thư đó đang thách. thức nhau, đang tranh đấu, đang vật lộn và đang xung đột với nhau…

Ban ngày, Tôn Vũ nói đến chuyện không màng công danh lợi lộc, không muốn dính vào chuyện đánh giết nhau trên đời, không phải là những lời giả dối, qua đó tìm lý do và duyên cớ để không ra khỏi đây, thà là một thứ cặn bã nổi lên từ nơi sâu thẳm của cõi lòng, những thứ cặn bã đó thường bị những lớp sóng xô mạnh mẽ nhấn chìm, nuốt chửng đi. Nhưng lúc này thì không, đêm thanh cảnh vắng, muôn vật chìm trong tĩnh mịch… thì trong phòng của Tôn Vũ vẫn leo lét một ngọn đèn vàng vọt, giữa chốn rừng sâu núi thẳm thế này, một ngọn đèn dầu thế thôi cũng tỏ ra rất sáng và đủ thu hút con người. Dưới ánh đèn ấy Điền Thục Hiền đang vừa sắp xếp hành trang quần áo cho chồng để sáng ra là có thể lên đường, vừa rủ rỉ những điều mòn sáo mà vợ chồng thường nói với nhau cả trăm cả ngàn lần, như thể lấy nó để cố níu người đi đừng bao giờ bước ra khỏi cửa đi xa. Tôn Vũ nghe, lòng bỗng trào lên từng con sóng để nó đè lấp đi, nuốt phăng đi những điều cặn bã mà trước đó mấy canh giờ mình đã từng để nó còn nổi lên. Tôn Vũ bảo với vợ rằng, mình đã từng cười cợt lý tưởng chủ nghĩa của nhà nho, nhìn nhận một thứ mong ước tốt đẹp như một điều kiện thực; đã từng coi khinh thái độ tiêu cực yếm thế, xa lánh cuộc đời, thanh tịnh vô vi, thủ tiêu đấu tranh… của đạo gia, và nghĩ rằng nếu ai ai cũng vào rừng ở ẩn, tu luyện thành tiên, thì cái ăn cái mặc ở đâu ra, ai là người nói lên chính nghĩa, cái tà cái ác để ai trừ, xã hội làm sao có thể phát triển lên được? Bởi thế mà ông muốn xuất phát từ hiện thực, tổng kết những kinh nghiệm chiến tranh từ xưa đến nay, in dấu chân lên khắp trăm sông ngàn suối, muôn núi vạn đèo, đi khảo sát chiến trường xưa, viết mười ba bài “binh pháp”, để chỉ đạo những người có tri thức trong thiên hạ, lấy chiến tranh để xua đuổi tà ác, để tiêu diệt chiến tranh, đẩy xã hội tiến lên phía trước, để thực hiện chủ trương chính trị của Khổng Khưu là “thi hành đạo lớn, coi xã hội là của chung”. Cũng có nghĩa là muốn nói, nhà binh với nhà nho đều tích cực vào đời, mục đích cuối cùng của họ cũng nhất trí với nhau, đều đi đến chỗ lý tưởng “lấy đức trị bằng nhân chính” và “coi xã hội là của chung”, nhưng thủ đoạn; phương pháp, bước đi để thực hiện nó, con đường đi lại khác nhau xa. Nhà nho thì dựa vào thuyết giáo chính trị về “nhân, nghĩa”, còn nhà binh thì không gì hơn là dựa vào uy lực của chiến tranh. Kỳ thực thì nhà nho cũng chưa bao giờ xa rời thực lực của chiến tranh. Cứ lấy ngay Khổng Khưu mà nói, khử trừ được Dương Hổ, họp liên minh ở Hiệp Cốc, huỷ hoại ba kinh đô, vv… đã có những điểm nào xa rời thực lực quân sự đâu? Muốn lấy quân dùng binh tất sẽ xẩy ra đầu rơi máu chảy và nhất định sẽ phải trả giá và phải hy sinh, làm sao có thể chỉ vì một vấp váp không may của cha mình trên bước đường chính trị, cũng như một chút gập ghềnh trên con đường đi lên của mình mà cúi đầu lui bước, trượt dài vào cái hố bùn lánh đời nhơ bẩn mà mình hằng khinh ghét. Qua bao nỗi vất vả bôn ba bươn chải, mười ba chương của “binh pháp” đã viết xong, hơn nữa sau khi đến nước Ngô, căn cứ vào đặc điểm tình hình sông nước của các nước phía nam, Tôn Vũ đã tiến hành bổ sung, điều chỉnh và sửa chữa. Thế nhưng cái “binh pháp” ấy rốt cuộc ra sao, nó có thể thực hành mà có hiệu quả để chỉ đạo chiến tranh giành thắng lợi hay không? Tôn Vũ nói với vợ mình: con ngựa hay, cần phải để nó tung hoành nơi đồng rộng, nếu cứ nhốt mãi nó ở trong chuồng thì phỏng có khác chi một con lừa chậm chạp? Thanh bảo kiếm cần phải được thử vào vật cứng, nếu như cứ để nằm im trong bao thì cho dù có sắc đến mức gọt sắt như đất thó, thử hỏi đã có ai biết đến, so với đồng han sắt rỉ, phóng có khác gì nhau? “Binh pháp” không thể để cũ nát đi trong tủ, hay như thứ đồ cổ bày án thư, như viên ngọc quý được nâng niu trên tay, mà phải được mang ra dùng để chỉ đạo chiến tranh, cứ ẩn dật mãi trong xó rừng thế này, không dính dáng hỏi han gì đến chiến tranh trên thế gian này làm sao có thể thử thách được nó thực giả ra sao? Còn như nói đến không màng gì đến danh, chẳng hám gì tới lợi lộc không tham lam giàu sang, vinh hoa, vì thế mà cố tình không ra, cũng là quá tự tư tự lợi. Một bậc thánh hiền như Nghiêu – Thuấn, lẽ ra không nên bận lòng vì sở nguyện riêng của mình, mà nên nghĩ đến nỗi yên nguy của toàn thiên hạ, nỗi cơ khổ của muôn dân, ngày mai của toàn xã hội… rồi vì nó mà phấn đấu mà hiến dâng. Nói đến đây, Tôn Vũ lại gợi ý cho vợ mình Điền Thục Hiền cùng nhớ lại mấy vị anh hùng thời xưa được người đời sùng kính, chính vì sự có mặt của họ, sự phấn đấu gian khổ và cống hiến vô tư của họ, mới có thế giới bao là của ngày hôm nay, và người ta cũng mới mãi mãi không quên họ, luôn luôn nhớ tới họ và coi họ là tấm gương sáng, thậm chí còn lập đền, tạc tượng bốn mùa thờ phụng họ, truyền tụng đến muôn đời con cháu mai sau.

Khi đất trời còn đang ở thuở hồng hoang, chính Bàn Tổ đã vung rìu lên khai thiên lập địa, mới có cái thế giới này của chúng ta bây giờ, cho nên mọi người mới tôn ông lên hàng tiên tổ, kính trọng gọi là anh hùng. Sau khi Bàn Tổ khai thiên lập địa, trên mặt đất này tuy đã có sông núi cỏ cây, cầm thú tôm cá, nhưng lại chưa có con người. Nữ Oa cảm thấy thế gian này hoang sơ tĩnh mịch, bản thân bà cũng đang cũng hết sức cô đơn, thế nên đã chẳng ngại muôn ngàn gian khó, lấy đất sét nặn ra người. Về sau vũ trụ lại xẩy ra một cuộc biến động lớn; trời sập đất lở, tai hoạ lan tràn, loài người sắp tới chỗ bị tiêu diệt, Nữ Oa lại luyện ra đá năm màu để vá trời, cứu loài người khỏi diệt vong. Vì không có Nữ Oa thì cũng chẳng có loài người, cho nên mọi người mới tôn Nữ Oa lên là mẹ của loài người. Đến thời vua Nghiêu, trên trời có mười mặt trời mọc ra một lúc, thiêu đốt mặt đất, Hậu Nghệ đã phản thiên đình, bỏ xuống trần gian, giương nỏ thần lên bắn rơi chín mặt trời, mặt đất mới trở lại bình thường, loài người mới được sinh tồn và phát triển. Nếu như không có hành động anh hùng đó của Hậu Nghệ, thì chẳng những chỉ riêng loài người, mà các sinh vật khác ở trên mặt đất này đều bị huỷ diệt. Để cứu vãn mọi sinh linh trên mặt đất này, Hậu Nghệ đã đắc tội với trời, mãi mãi không thể về trời để thành thần nữa, đành phải ở lại hạ giới để làm dân, vợ là Hằng Nga vì thế đã phản bội chồng, một gia đình tràn trề hạnh phúc bị phá vỡ. Cho mãi đến già, Hậu Nghệ vẫn sống cô đơn, ấm ức một mình âm thầm mà chết, loài người thì sinh sôi nảy nở đến muôn đời cho đến mãi mai sau. Nghiêu là một ông vua xui xẻo, Nghệ bắn rơi chín mặt trời, mặt đất trở thành bình thường. Thái bình không lâu, trên mặt đất hồng thuỷ lại dâng lên ngút trời, con người trở thành cua thành cá, thú dữ hoành hành, vồ người già ăn thịt trẻ con, yêu ma cũng mặc sức tung hoành, điên cuồng khát máu, thây người chết nằm ngổn ngang khắp đất nước Trung Quốc. Tiếng kêu đói rên rét nhức nhối bên tai, trước mắt đầy những khuôn mặt xanh xao vàng vô… Giữa lúc Hoa Hạ rộng lớn sắp đến ngày chìm đắm, con cháu Viên Hoàng sắp đến chỗ chết hết cả nòi giống, thì Đại Vũ đã hiên ngang bước ra, mang theo con em của chín châu bôn ba mười ba năm trời, chịu hết trăm cay đắng, ba lần đi ngang qua cửa nhà không về nhà, cuối cùng đã dẹp xong nạn nước, một lần nữa cứu loài người và dân tộc ra khỏi chỗ diệt vong…

– Thôi xin chàng đừng nói nữa! Nếu như không ủng hộ chàng ra khỏi núi đề làm nên nghiệp lớn, thì ai lại thức cả đêm sửa soạn quần áo cho chàng thế này! – Điền Thục Hiền nũng nịu nói. Nàng cảm thấy như vừa gặp một chuyện rất đau lòng, nên mặt bỗng đỏ bừng lên.

Tôn Vũ cũng nói pha trò:

– Ta đoán nàng cũng không đến nỗi như Hằng Nga bỏ ta mà đi, bay lên cung Quảng hàn – Nói đến đây, Tôn Vũ thấy động lòng thương, ôm riết vợ vào lòng và ghì thật chặt.

Điền Thục Hiền tựa lưng vào lòng chồng, áp mặt vào má chàng, cà nhẹ lên đó, dịu dàng nói:

– Hằng Nga chỉ có mỗi một khuôn mặt dễ coi, chẳng biết đâu là điều tín nghĩa, vào giờ phút mấu chốt nhất thì lại phản bội chồng, quả thật rất đỗi xấu xa.

Tôn Vũ vuốt tay lên mái tóc còn vương mùi dầu thơm của vợ mình, nói lời thắm thiết:

– Thế cho nên sau này ả mới phải biến thành con cóc xấu xí ai cũng khinh ghét, còn Thục Hiền của ta thì gương mặt mãi mãi xinh đẹp, như ngọc như hoa! – Tôn Vũ nói xong, hôn lia lịa lên môi lên má vợ.

Điền Thục Hiền nhắm nghiền đôi mắt lại, sung sướng đón nhận những nụ hôn nóng bỏng của chồng, má nàng áp chặt vào ngực chồng, tự hồ như lần đầu cảm nhận thấy chồng mình rộng rãi như thế, đôn hậu như thế, nhiệt thành như thế…

Chừng hơn mười dặm đường đúng là cảnh gần nhà xa ngõ. Hạp Lư thường xuyên ở hành cung Linh Nham, rất ít khi ở thành Cô Tô, nhất là vào mùa hạ, núi cao trời trong, ở ngay trong cung cũng đủ có thể đứng tựa lan can phóng tầm mắt ra mặt Thái Hồ như gương, lại càng thấy mát mẻ. Theo lệnh Ngô vương, Ngũ Tử Tư đi mời Tôn Vũ, xuất phát từ thành Cô Tô, ngồi xe tứ mã tới đây đi hơn ba mươi dặm đường, phía trước đường núi gập ghềnh, xe đi rất vất vả, nên chuyển sang cưỡi ngựa. Lại đi thêm một chặng nữa đành bỏ yên ngựa xuống đất mà leo, lấy chân thay xe. Nay nếu Hạp Lư có tiếp kiến Tôn Vũ ở hành cung Linh Nham, hai núi cách nhau chẳng qua chỉ mươi dặm đường, lại thuận gió và xuôi đốc, chỉ cần một khắc giờ là đã đến trước núi Linh Nham. Ngước nhìn lên thấy tinh kỳ phấp phới, kẻ dẹp đường nườm nượp, trống nhạc vang lừng, người nội thị đi đầu cầm trong tay một cây tiết trượng bước lên phía trước vái dài một. lễ nói:

– Phụng mệnh Ngô vương, xin được đón Tôn hiền sĩ vào cung – Nói xong người này quay mình lại đi lên trước dẫn đường, Ngũ Tử Tư và Tôn Vũ song song hai ngựa cùng lên núi, đến ngoài cửa cung thì xuống ngựa, nội thị vào cung trước để nộp chỉ. Hạp Lư nghe báo, vội vàng đứng dậy, ra hẳn bên ngoài điện, xuống dưới bệ để đón tiếp – vua của một nước, ngoại trừ phải đón tiếp những bậc trên mình, còn thông thường không bao giờ rời bệ ngọc. Hạp Lư chăm chú nhìn xuống dưới bệ, thấy người mới đến chỉ khoảng ngoài ba mươi tuổi, mình cao hơn tám thước, vai hổ lưng gấu, quần rộng áo dài, tuy ăn mặc theo kiểu quê mùa nhưng bước đi lại rất đàng hoàng dõng dạc, nghiễm nhiên có phong độ của một ẩn sĩ. Ấn tượng đầu tiên của Hạp Lư về Tôn Vũ là rất tốt đẹp, trước hết bỗng nảy sinh lòng kính nể, vội bước lên trước nói thay câu chào:

– Quả nhân ngưỡng mộ tiên sinh đã lâu, hôm nay mới được gặp mặt, quả nhiên tướng mạo đường đường, khí độ phi phàm. Ha! Ha! Ha!…

Tôn Vũ vội bước lên đáp lễ:

– Tôn Vũ này vốn người hèn mọn nơi rừng núi, bận cho bệ hạ phải xuống bệ ngọc để đón tiếp, quả thực là đáng sợ đáng lo ạ!…

Ngô vương vào trong điện cho bày tiệc rượu để khoản đãi Tôn Vũ. Rượu được ba tuần, thức ăn mấy món rồi, Hạp Lư thấy hể hả trong lòng nhún mình nói:

– Từ sau ngày lên ngôi báu, quả nhân đêm ao ước muốn nắm bá quyền ở Trung Nguyên nên đã cho tìm đông đảo những bậc kẻ sĩ hiền minh. Từ chỗ Ngũ ái khanh được biết tiên sinh là bậc cao hiền, bởi vậy đã đặc biệt cho mời tiên sinh tới đây giúp quả nhân trị vì đất nước.

Tôn Vũ đứng dậy cúi mình vái một vái dài nói:

– Tôn Vũ này chỉ là một gã tiều phu đốn gỗ, làm gì ra có tài trị vì đất nước!

Hạp Lư xua tay nói:

– Hà tất phải quá khiêm tốn như thế! Ngũ ái khanh đã nói với quả nhân về mười ba bài “binh pháp” mà tiên sinh đã viết, thật là những lời bàn vàng đá, đúng là một tác phẩm thâu tóm trời đất…

Tôn Vũ vẫn khiêm tốn:

– Đại vương quá khen! Tôn Vũ tôi chỉ nghĩ rằng, việc quân sự, là việc lớn của một đất nước, nó quan hệ đến sống chết mất còn của đất nước ấy, không thể không xem xét, cho nên mới bắt tay vào nghiên cứu từ những cuộc chiến tranh các nước xảy ra trong lịch sử, từ đó thâu tóm lại những quy luật phổ biến chung của chiến tranh. Kỳ thực nếu bỏ hết sức lực của Tôn Vũ này ra, cũng khó có thể tìm đến cùng sự tinh tuý và thần bí của nó, chỉ mong rằng con cháu đời sau sẽ tiếp tục đi sâu nghiên cứu thêm. Đó chỉ là những điều nhập môn gợi mở, đâu dám nhận quàng là “lời bàn vàng đá”, là “thâu tóm trời đất” ạ!

Ngũ Tử Tư nói xen vào:

– Đại vương hết sức trân trọng và cơ ngợi binh pháp mà tiên sinh đã viết, muốn rằng để tiên sinh nghỉ ngơi mấy hôm cho khoẻ, xong rồi mời tiên sinh hãy giảng giải cho đại vương về thuật binh pháp.

Tôn Vũ vui vẻ nhận lời, khi tàn bữa tiệc, đã đưa tặng Ngô vương một bản chép tay của cuốn “binh pháp”, gọi là chút quà nhân gặp mặt.

Từ đó, Ngô vương cặm cụi dùi mài chăm chú đọc mười ba bài “binh pháp”, vừa đọc vừa khen, vừa đọc vừa tấm tắc, vừa đọc vừa ngợi ca, tựa hồ như người đang nhấm nháp thứ rượu vàng ngon nhất, vừa thơm vừa dịu, khiến người ta càng uống càng thèm, uống không thấy chán, lâng lâng như lạc đến cõi tiên; tựa hồ như người được nếm thứ thức ăn ngon nhất, ngửi thì thơm, ăn thì đậm, ngẫm thì thấy ngon thấy thèm, càng ăn càng thấy dư vị đậm đà. Đây quả thật là một cuốn binh thư từ trước đến nay chưa nghe thấy nói đến, chưa từng nhìn thấy bao giờ, không ngờ được rằng nước Ngô này lại có được một bậc kỳ tài như Tôn Vũ. Có người này phò tá ở bên mình, thì lo gì ta chẳng xưng bá được trong chư hầu, thôn tính các nước khác mà xưng bá trong thiên hạ phỏng có khó gì… Hạp Lư sùng bái Tôn Vũ và phục sát đất, xuống chỉ trong thiên hạ, tất cả mọi người đều phải tôn Tôn Vũ lên làm “Tôn Tử” và gọi mười ba bài “binh pháp” là “Tôn Tử binh pháp”.

Mấy hôm sau, nhận lời mời của Ngô vương, Tôn Tử đã ra trước ngự tiền giảng giải về chiến lược chiến thuật, ông suy nghĩ rất mạch lạc, rạch ròi đâu ra đấy, luận chứng đầy đủ và phấn lớn lấy những cuộc chiến tranh nổi tiếng trong lịch sử làm căn cứ, nói rõ thật tường tận những nguyên nhân thắng bại của nó. Hạp Lư nghe như ngây như dại, thế nhưng nghe mãi, nghe mãi, đến một lúc bỗng thở ngắn than dài. Tôn Vũ. thấy vậy không hiểu tại sao, liền thẳng thắn hơn:

– Tại sao đại vương lại thở than như vậy? Phải chăng Tôn Vũ tôi nói ra có điều gì phải chăng?…

– Đâu có! Đâu có – Hạp Lư lắc đầu, ngắt ngang lời Tôn Vũ – Những điều tiên sinh nói đều hay tuyệt diệu! Quả nhân đáng than thở cho nước Ngô nhỏ binh hèn, e rằng uổng mất đại tài của tiên sinh…

– Không phải thế! – Tôn Tử nói – Nước không kể lớn hay nhỏ, binh lính không ở chỗ ít hay nhiều, mấu chốt là có biết thi hành vương đạo hay không. Nếu đại vương từ đầu đến cuối không quên vương đạo, thì nước nhỏ vẫn có thể thắng được nước lớn, quân ít cũng có thể thắng nhiều, trên lịch sử có những cuộc chiến tranh lấy ít thắng nhiều, lấy yếu thắng mạnh, nhiều không kể hết. Hiện nay nước Ngô ta trai tráng không đủ thì ta có thể dùng nữ binh thay thế chứ sao?

Hạp Lư giật nảy người:

– Cái gì? Đàn bà chân yếu tay mềm cũng có thể vung gươm ra trận? Tiên sinh không nói đùa đấy chứ?

Tôn Tử hết sức bình tĩnh nói:

– Trước mặt bệ hạ, Tôn Vũ tôi đâu dám nói đùa ạ! Nếu đại vương còn chưa tin, xin hãy thử xem, nếu không đúng thế, xin nhận tội khi quân.

Trên đời này, phần lớn người ta báo là cáo với sói đa nghi, kỳ thực thì người mới là giống động vật đa nghi hạng nhất. Hạp Lư một mặt tôn sùng Tôn Vũ hết mực, nhưng mặt khác lại đang nghĩ, xem ra “binh pháp” quả là nói rất có lý, điều nào cũng đâu ra đấy, nhưng Tôn Vũ suy cho cùng cũng chỉ như chim mới ra ràng, chưa hề cầm quân đánh trận, chỉ huy chiến đấu, liệu có phải đó chỉ là chuyện đánh giặc trên giấy thôi không? Nhưng Tôn Tử lúc này đã chủ động nêu ra việc lấy lính đàn bà làm thử, thì quả thật là trời cũng chiều lòng, còn có gì tốt bằng. Nghĩ như vậy xong, ông nói:

– Thôi thì theo ý tiên sinh! Trong cung của ta vô khối đàn bà con gái, thử chọn cung nữ xem sao, được chứ?

– Dạ được!

– Không biết cần bao nhiêu người?

– Dạ ba trăm người là đủ ạ!

Hạp Lư gật đầu, và ngay sau đó ra lệnh chọn trong cung ba trăm cung nữ trẻ khoẻ ra đợi lệnh.

Muốn rèn luyện cho những cung nữ ăn mặc loè loẹt, sống xa xỉ, quen được chiều chuộng kia thành lính tráng, quả thật khiến ai cũng khó tin. Ngũ Tử Tư ở bên cạnh cứ lo ngay ngáy, nhưng tình thế đến bước không thể cứu vãn được, đành âm thầm lau mồ hôi trán là lo thay cho Tôn Tử.

Tôn Tử thì lại rất rõ trong lòng, quyết tâm của Hạp Lư như thế, lại biểu hiện khảng khái đàng hoàng như thế, là đang nghi ngờ “binh pháp” và tài năng chỉ huy của mình, cũng được thôi, người ta lấy việc này để thử ta, thì ta cũng thử lấy việc này thử lại, để xem rốt cuộc người ta tin ta đến mức nào, bèn nói:

– Thưa đại vương! Thao luyện cung nữ tuy là việc làm thử, nhưng cũng cần phải làm việc như trong quân đội, trước hết liệu lệnh phải nghiêm minh, sau đó sẽ thực hành thưởng phạt, không thể chậm trễ lơ mơ. Ngoài ra xin đại vương cử cho một viên quan chấp pháp, một viên quan truyền lệnh, một tay dóng trống, nha tướng, vệ sĩ, đao phủ… mỗi thứ mười người để tăng thêm quân uy.

– Quả nhân sẽ cho làm theo – Hạp Lư vẫn tỏ ra rộng rãi, cần gì được nấy.

Tôn Tử như thể được đằng chân thì lân đằng đầu, lại nêu ra một đòi hỏi mới:

– Ngoài ra, trong ba trăm cung nữ ấy, phải chia ra làm hai đội, bởi thế, cần phải chọn ra hai người có uy tín để làm đội trưởng của hai đội. Hai người đội trưởng này, một là phải nói được mọi người, hai là phải gương mẫu với người, không hiểu trong cung có người như vậy không?

– Có – Hạp Lư đáp ngay – Quả nhân muốn chọn hai ái phi ra làm đội trưởng, không hiểu ý tiên sinh ra sao?

Tôn Tử nói:

– Đại vương chịu cử hai cung phi làm đội trưởng, đủ thấy mức độ coi trọng lần luyện quân này của đại vương đến đâu. Có điều bất kể là cung nữ hay cung phi, thần đều coi như nhau, nhất loạt làm theo quy định trong quân ngũ.

Hạp Lư cũng tỏ vẻ đồng tình:

– Mọi việc tuỳ ý tiên sinh!

Hạp Lư lúc này chỉ muốn xem Tôn Tử thao luyện đám lính đàn bà ra sao, nên muốn cái gì thì cho cái nấy, muốn làm sao thì làm. Có điều ông làm sao có thể cho hai người ái phi của mình ra làm đội trưởng kia chứ! Thì ra hai người cung phi mà ông vốn yêu chiều nhất là Hạ phi và Khương phi, cũng gọi là tả cơ và hữu cơ, đã từng phàn nàn, ca cẩm về nỗi cả ngày bị giam hãm trong cung cấm, không được tự ý đi lại, đến nỗi gần như muốn chết ngạt ở trong cung – Hạp Lư muốn nhân dịp này để họ có dịp ra khỏi cung cấm, để khuây khoả, để giải buồn, để cho thư thái, để thấy cuộc sống bên ngoài. Nếu như thao luyện thành công thật, thì sau này để cho họ ra thao trường làm thử lính huấn luyện nữ binh, như vậy mới thật chắc chắn yên tâm không phải lo chuyện binh quyền rơi vào tay kẻ khác.

Để cho thuận tiện, thời kỳ đầu không ra huấn luyện ở thao trường mà sẽ luyện tập ở bãi đất trống mới sửa tại vườn hoa phía sau hành cung ở núi Linh Nham, ngoài ra có hai viên quan được cử ra để hộ vệ tuần tra canh gác, không cho người khác tự ý ra vào nơi này. Những thứ cần thiết như khí giới, cờ phướn được lấy của quân đội ra dùng. Cũng may là nội thị và những người đầu sai ở trong cung rất đông, cho nên nhưng việc này được thu xếp rất chóng vánh đâu vào đấy. Hạp Lư cho gọi Hạ phi và Khương phi tới, dặn dò nhắn nhủ hồi lâu. Hai người này, từ sau khi được Hạp Lư yêu vì, càng ngày càng trở nên ỏng ẹo, ỷ vào cái thế được vua yêu, nay đưa ra đòi hỏi này, mai lại nhắc đến đề nghị khác, khiến người ta tưởng những phát bực lên mà chết được. Lúc này nghe nói bảo họ ra làm đội trưởng, bắt đầu từ ngày mai, tới vườn hoa đằng sau nội cung để huấn luyện nữ binh, sau này có thể ra khỏi cung cấm đi đây đi đó,… cho nên hí hửng mừng ra mặt, khoa chân múa tay…

Mọi việc chuẩn bị xong xuôi, ngay hôm sau bắt đầu luyện tập ở vườn hoa sau. Từ hôm đó, tại vườn hoa ấy ngày nào cũng nổi trống thùng thùng, tiếng hô hét dội lên từng hồi rất là ồn ã. Hạp Lư tỉnh thoảng cũng có ghé xem mấy lần, cảm thấy rất hay. Tôn Tử không tiện ở lại trong cung, nên ngày nào cũng sớm đến tối về bận tíu tít chẳng ngơi tay chút nào. Tập như thế được chừng một tháng, cung nữ của hai đội đã nắm được bước đi, động tác cơ bản, hai người đối mặt nhau, đã có thể dùng dao dùng thương để đánh lẫn nhau được rồi. Một hôm Tôn Tử bẩm Ngô vương rằng cung nữ đã nắm được trình tự huấn luyện, mời Ngô vương sẽ chọn ngày tới xem. Hạp Lư nghe nói thế mừng lắm, liền ban ngay chiếu chỉ: Ngày mai bắt đầu thao diễn ở bãi tập núi Hiệu Trường.

Lại nói ở nơi cách hành cung Linh Nham chừng mười dặm về phía tây Nam là núi Khung Long chừng mười dặm, lớn nhỏ có tới bốn năm đỉnh núi, trong đó núi Vọng Vân ở phía tây, chạy theo hướng đông bắc tây nam, núi Hiệu Trường chạy theo hướng tây bắc đông nam, hai mạch núi cắt chéo nhau theo hình chữ T, núi Vọng Vân cao hơn núi Hiệu Trường chừng mươi trượng. Phía nam Hương Sơn, ở bên bờ Thái Hồ lại có một bãi đất bằng, ở đấy gọi là Hiệu Trường lớn. Núi Hiệu Trường chạy theo hướng tây bắc đông nam, trước kia cũng là nơi đỉnh núi nhấp nhô, trùng trùng điệp điện, để tiện cho việc luyện quân, nhiều chỗ đã được gạt bằng đi, cho đến lúc này, trên núi mới trở nên bằng phẳng, thành một hình chữ nhật ngang dọc rộng tới vài trăm mẫu, là một nơi rất tốt để luyện quân và đây gọi là Hiệu trường nhỏ, Tôn Tử luyện tập nữ binh, chính là sẽ diễn ra tại đây. Trên núi Vọng Vân ở phía tây bắc núi Hiệu Trường, cung điện nhấp nhô, được xây dựng ven theo sườn núi, đình đài điểm xuyết, phong cảnh rất nên thơ. Vọng Vân đài là nơi cao nhất xây dựng trên núi Vọng Vân, cách Hiệu Trường nhỏ gần nhất, ngồi trên đó, từ cao nhìn xuống hoặc đứng tựa lan can xa trông, cảnh tập luyện ở Hiệu trường nhỏ sẽ như bày ra trước mắt, có thể nhìn rõ mồn một không sót một ly.

Tin đồn về việc huấn luyện lính đàn bà, sớm đã lan truyền khắp trong ngoài thành Cô Tô, buổi sáng hôm ấy, dân chúng từ bốn phương đổ về bãi tập như nước Thái Hồ ào ạt dâng lên, đến giờ thìn, bốn phía đã bị người vây chặt đến mức nước chảy cũng không thoát. Lại đến nửa canh giờ trôi đi, ba trăm cung nữ xếp thành đội hình từ núi Vọng Ân đi xuống, dồn tới bãi tập, tất cả họ đều được mặc quân trang mới tinh, bên ngoài khoác áo giáp, xếp thành đội hình, một đội cầm dao ra tay, đội kia cắp giáo bên mình, còn tay kia, người nào cũng giữ một tấm lá chắn. Đi đầu là hai vị đội trưởng tả cơ vào hữu cơ, cũng giáp mãng khắp mình, ngang lưng giắt kiếm, đúng như một võ tướng. Trên người các cung nữ, xem ra ăn mặc chẳng khác gì những người lính khác, chỉ riêng trên đầu, tất cả đều không đội mũ. Vì là đàn bà con gái, nên tất cả đều quấn trên đầu đủ kiểu cách và trên đó cũng vẫn cắm trâm, thoa và đồ trang sức khác, có người tóc dài nên quấn lên cao đến mấy tấc, mũ nào cũng chẳng đội vào được, vì nếu muốn đội mũ nhà binh, thì họ phải cắt tóc ngắn đi, chỉ, cần búi tóc rất giản đơn, và như thế họ sẽ trở thành thứ người chẳng ra đàn ông chẳng ra đàn bà, mất đi vẻ đẹp và cốt cách vốn có của người con gái, nên Ngô vương không để cho làm thế. Phía đằng sau họ, là một con tuấn mã, trên mình ngựa là chủ tướng Tôn Tử, còn những người khác như quan chấp pháp, quan truyền lệnh, người dóng trống, nha tướng, vệ binh. Đội ngũ đi tới bãi tập, các cung nữ dừng cả lại, chia ra đứng sang hai bên, vệ sĩ đỡ Tôn Tử xuống ngựa, vào trướng. Tôn Tử thân thinh đi vạch dây mực, sắp đặt thành trận thế, lệnh cho quan truyền dụ mang hai lá cờ vàng lần lượt trao cho hai nàng cơ, để cầm lấy làm tiền đạo. Người dóng trống cũng bắc xong giá trống, giơ dùi trống rõ cao, sẵn sàng chờ lệnh là dóng trống. Mọi việc đã chuẩn bị sẵn sàng, chỉ còn chờ Ngô vương bước lên đài Vọng Vân là lập tức bắt đầu thao diễn.

Các cung nữ người nào người nấy mừng vui hớn hở, cười luôn miệng không thôi, người thì che miệng cười, người thì ngửa mặt lên cười, người thì cúi đầu cười, người thì khom lưng cười, lại có người nhìn nhau mà cười, có người tự nhìn vào mình mà cười, người thì cười ha ha thành tiếng, người thì cười chảy cả nước mắt, người thì cười ngả cười nghiêng. Họ cười cái gì vậy? Một là lâu ngay bị gò bó trong cung, không được thấy.. đời sống bên ngoài, hôm nay họ như chim được sổ lồng, thấy cái gì cũng là mới lạ, nhất là xung quanh mình lúc này, đông đảo đến thế, đàn ông, đàn bà, già trẻ lớn bé chẳng thiếu một ai, đều đến,để xem họ, bởi thế nên họ vui trong lòng. Hai là nhìn cách ăn mặc của mình, không sao nhịn được cười – quần áo lính, giáo mác trong tay, trên mặt lại tô son đánh phấn, trên đầu vẫn cài thoa, thế thì làm gì mà không hài hước, làm gì mà chẳng nực cười?

Thấy tình hình đó, Tôn Vũ chưa vội phê bình, cũng không ngăn chặn, bởi mấy khi họ đã được ra ngoài cung cấm thế này, vui mừng trong bụng, thì cứ để cho họ cười, miễn là sau khi bắt đầu vào tập, đừng cười nữa là được.

Ngô vương cùng với các quan cận thần của mình và cả cả Ngũ Tử Tư nữa, lần lượt bước lên đài Vọng Vân. Ngô vương vào chỗ của mình trước, đầu án thư có mặt một chiếc ghế bành, ý để Ngũ Tử Tư ngồi đấy, các quan văn võ còn lại thì đứng hầu hai bên, nội thị đi đi lại lại đề hầu hạ. Ngô vương ngẩng đầu nhìn những cung nữ trên bãi tập, bất giác ngầm khen trong bụng, lặng lẽ nhìn và mỉm cười. Chẳng khác gì một đội quân trai tráng, nhất là hai vị ái cơ lần lượt đứng ở đầu hàng quân, nghiêm trang anh dũng, trông rất giống hai vị tướng trẻ và hầu như so với mọi lúc lại trở nên xinh đẹp hơn, bảnh bao hơn. Có một điều không được đẹp lắm, là người nào người nấy ngoẹo cổ đi mà cười, hai nàng ái cơ lại là người cười nhiều nhất. Chuyện ấy chẳng có gì đáng trách, hàng ngày họ không được ra khỏi nơi cung cấm, lúc này được ra khỏi cung tham gia luyện tập, lại có nhiều bà con như thế này đến xem, làm gì mà chẳng hả lòng hả dạ, làm sao mà chẳng cười? Có ra đây có cười một chút cũng không sao, sau khi bắt đầu diễn tập thì xin chớ có cười, cười nữa là vi phạm vào quy định. Muốn cười, thì các người hãy cười cho đã đi. Hạp Lư mong rằng để cho họ cười chán chê đi đã rồi hãy bắt đầu thao diễn.

Thấy Ngô vương và các quan văn võ đã tới đông đủ và ngồi đứng vào vi trí rồi, Tôn Tử không thể chậm trễ, chuẩn bị cho thao diễn. Ông ho lên vài tiếng, vừa đằng hắng để dọn giọng, vừa phát đi cho các cung nữ một hiệu lệnh, nhắc nhở họ thôi không được cười nữa, nhưng các cung nữ vẫn giữ vẻ cười như cũ. Tôn Tử liền nghiêm nghị lớn tiếng tuyên bố:

– Về kỷ luật, quy định và quân pháp, đã từng nói rõ nhiều lần, đến nay là chính thức biểu diễn. Ngô vương và văn võ bá quan cùng đông đảo dân chúng đến xem nên các ngươi không những phải chấp hành đầy đủ, còn phải tăng cường cảnh giác, nghiêm chỉnh trong khuôn phép. Để tránh sự lỏng lẻo, nay ta nhắc nhủ lần nữa cho rõ: tất cả nữ binh đều phải đi theo đội trưởng của mình, năm người là một ngũ, mười người là một trung, người nọ phải theo riết chân người kia, tiến thoái theo tiếng trống và nhìn sang trái sang phải, không được rối loạn bước nào. Nói cụ thể, nghe một hồi trống thì vào thành đội, nghe hồi trống thứ hai thì bày trận, bước vào trạng thái chiến đấu, nghe hồi trống thứ ba, sẽ đánh nhau như trong huấn luyện; nghe tiếng lệnh thì đội nào đội ấy, tập hợp trước mặt ta và đứng nghiêm.

Nói rõ nội dung và yêu cầu biểu diễn xong, Tôn Tử lại tuyên bố năm điều quy định:

– Thứ nhất: Kẻ nào làm rối loạn hàng ngũ, không tha.

– Thứ hai: Quân đội tiến lên mà mình tụt lại, không tha..

– Thứ ba: Kẻ nào không nghiêm túc trong huấn luyện quân sự, không tha.

– Thứ tư: Bất kể tình hình nào, nhất định phải giữ nghiêm kỷ luật.

– Thứ năm: Trong quân nhất định phải hành động thống nhất.

Sau cùng Tôn Tử nhấn mạnh:

– Trong quân không nói đùa, kẻ vi phạm sẽ nghiêm trị bằng quân pháp.

Tôn Tử tuyên bố xong, quay về chỗ của mình. Sau đó quan truyền lệnh đem lá cờ to có thêu một chữ “lệnh” múa lên một chập, nhắc lại một lần nữa những điều Tôn Tử vừa nói ra, lại đứng nghiêm bên cạnh Tôn Tử. Tôn Tử bảo cho “dóng trống”, dùi trống rơi như mưa xuống mặt trống. Theo quy định, nghe một hồi trống thì sắp xếp thành đội, đội ngũ lẽ ra phải xếp hàng đối mặt nhau, tức là người của hai đội đứng thành hai hàng đối diện nhau, ở giữa chừa ra một khoảng trống, người của mỗi hàng phải đứng cho ngay ngắn, thẳng như vạch mực. Thế nhưng các cung nữ lúc này, nghe thấy tiếng trống, như chim sợ đạn, nhảy thót tất cả lên, kẻ thì sang đông, người sang tây, người theo nam kẻ theo bắc, kẻ sang trái, người sang phải, rối tung như một đàn ong. Đã như thế, bọn họ lại không biết xấu hổ, mà lại còn thấy hay hay, thích thú, như ăn phải bùa mê, lại càng cười dữ hơn; rồi gọi chị gọi em ríu rít ồn ã cả một vùng, chẳng khác gì ếch nhái gặp mưa rào, khiến người ta phải bực cả mình, Nhìn vào hàng ngũ, thấy tan tác tản mạn, xộc xệch ngoằn ngoèo, y như chơi rồng rắn.

Tôn Tử nhìn thấy thế, bỗng nhíu mày lại, lắc đầu một cái và buông tiếng thở dài, theo quy định ở điều một, điều ba, đều có thể hỏi tội và trừng trị được rồi. Nhưng Tôn Tử nghĩ rằng, trước đây huấn luyện ở vườn hoa trong cung cấm, không có ai xem, tinh thần của họ đều để hết vào việc huấn luyện, cho nên nghe thấy tiếng trống, đội ngũ đã có thể chấn chỉnh được ngay và thẳng như người trồng. Hôm nay lần đầu tiên tập luyện nơi thao trường, trên có nhà vua, dưới có dân chúng, người xem đông đảo thế này, lại là lần đầu ra với đời thường, có lộn xộn, nghĩ rằng cũng tha thứ được, bởi thế nên đã bỏ qua cho họ coi như vi phạm lần đầu. Nghĩ đến đây, Tôn Tử nói với quan truyền lệnh:

– Hôm nay tập luyện ngoài cung cấm, lại là lần đầu chưa rõ những điều ràng buộc, ra lệnh không tin, lỗi ở chủ tướng. Ông hãy nói lại một lần nữa những quy định ở trên.

Những câu ấy, xem ra là Tôn Tử nói với quan truyền lệnh, nhưng những người có mặt đều nghe thấy rõ rành rành. Quan truyền lệnh phụng mệnh, nhắc lại một lần nữa những điều quy định quân ngũ. Sau đó Tôn Tử đưa lên hai ngón tay, ra lệnh đóng trống một lần nữa.

Đây là dóng trống đợt thứ hai, bày trận, với tư thế bước vào chiến đầu. Muốn bày trận, thì phải nhanh chân nhẹ bước. Thế nhưng đám cung nữ lúc này có người nghe tiếng trống thì muốn chờ quân ngũ đứng được thẳng hàng, nhưng có người nghe thấy tiếng trống lại co cẳng chạy, có người đợi cho sắp hàng xong mới chạy. Như thế thành ra kẻ thì chạy, người thì đứng, người này chạy nhanh người kia chạy chậm, người thì đang ở đội này lại chạy sang đội khác, kẻ chạy sau nhanh hơn thì giẫm cả lên giày của người đằng trước chạy chậm, người bị tuột giày thì vứt cả đao và lá chắn mỗi thứ một nơi, cúi xuống nhặt giày, người phía sau cứ tiếp tục theo nhau đi lên, không dừng chân lại kịp, xô cả vào người nhặt giầy, ngã chồm lên nhau như hổ vồ mồi. Cứ như thế, ngã dúi vào nhau đến mấy dây, cứ như người xâu cá vậy. Đàn bà con gái vốn hay khóc song cũng hay cười, nhìn thấy cảnh này, những người đang cười, lại được dịp cười dữ hơn, những người đã thôi không cười nữa lại ồ lên cười. Dân chúng đang xem quanh đó, cũng được thể hùa theo, người thì vỗ tay, người thì khen hay người, thì chê bai, người thì mượn thế phá rối.

Thấy đội ngũ tan tác ra như vậy, Tôn Tử giận không để đâu hết đang muốn lấy quân pháp ra xử sự, xử tội bọn họ, thế nhưng từ xưa đã có câu “luật pháp không trị nổi số đông”, hơn ba trăm con người thế này, biết trị người nào? Chẳng lẽ đem ra mà giết hết hay sao? Tôn Tử cố kìm nén tình cảm của mình, dập tắt cơn lửa giận, quyết định tha cho họ lần nữa. Ông giằng lấy dùi trống, giơ cao lên, nói to hơn, nhắc lại một lần nữa không sót câu nào về quy định trong quân ngũ, nói với mọi người, ông sẽ thân chinh đóng trống, bắt đầu từ hồi trống đầu tiên, bắt đầu thao diễn lại.

Dùi trống trong tay Tôn Tử nặng nề giáng lên mặt trống, chiếc trống trận rung lên những tiếng âm vang nặng nề. Nghe thấy hồi trống đầu dóng lên, phần lớn cung nữ xem ra rất khá, đã đứng được vào hàng ngũ chỉnh tề, thôi thì cũng tạm coi là được. Nghe đến hồi trống thứ hai, đám cung nữ đã nhiều người không chạy nổi nữa, bởi trước đó họ đã cười quá mức, người nào người nấy cười đến rủn cả người ra, chân cũng như lưng không sao dãn ra được nữa. Do không chạy được, những cung nữ đó nghĩ sao lại phá lên cười. Lần này Tôn Tử nhìn rất rõ, không phải tất cả bọn cung nữ đều không sợ những điều quy định, không lo sẽ bị trừng trị theo quân pháp, mà chính hai nàng cơ đã làm đầu tiên. Chẳng những họ tự ý cười cợt hết sức, còn trêu cho các cung nữ khác cười theo. Không những bản thân họ coi quân lệnh như gió thoảng bên tai, còn ngầm báo các cung nữ khác không nên sợ. Rất rõ ràng là họ cậy thế mình được Ngô vương sủng ái, cho rằng quân kỷ có nghiêm đến đâu cũng chẳng thể nghiêm với họ được, cho rằng có vi phạm kỷ luật, chủ tướng cũng chẳng làm gì được họ…

Tôn Tử quả thật đã không thể nhịn hơn được nữa, thấy chân mày ông dựng đứng lên, hai mắt ương tròn long lên sòng sọc, mấy sợi râu vểnh lên bay phất phơ trông oai vệ đến ghê người, rồi ông bỗng quăng phịch một tiếng, chiếc dùi trống lăn ra một bên, quay về chỗ mình ngồi, quát lên một tiếng:

– Quan chấp pháp đâu?

Quan chấp pháp trả lời một câu “Dạ” rồi dõng dạc bước ra.

– Trong quân đội có kẻ không theo quân lệnh, theo quân pháp nên làm thế nào?

– Trong quân đội có người trái lệnh, thì phạt đội trưởng trước ạ!

– Trị tội thế nào?

– Dạ, chém đầu bêu chợ ạ!

Tôn Tử liền dứt khoát hô:

– Quan bay đâu! Đem đội trưởng của hai quân tả hữu là Hạ phi và Khương phi ra chém đầu bêu chợ!

Các cung nữ nghe thấy nói “chém đầu” người nào người nấy mặt mũi tái xanh tái xám. Hai nàng cơ lại càng run như cầy sấy, mềm rủn cả người, mặt như chàm đổ.

Các võ sĩ xông lên phía trước tóm lấy cánh tay của hai nàng phi bẻ quặt ra phía sau như trói gà con, kéo đến trước mặt Tôn Vũ, hai đao phủ tay cầm đại đao cũng bước lên theo.

Tình hình trên bãi tập thế nào, Hạp Lư ngồi trên đài Vọng Vân đã nhìn rõ từng li từng tí, vội gọi Bá Bỉ:

– Hai nàng cơ là ái phi của quả nhân, mất hai người này quả nhân sẽ ăn không ngon, ngủ không yên, ái khanh mau đi nói lại ý ta, hãy tha tội chết cho hai nàng.

Ngô vương hạ lệnh đặc xá.

Bá Bỉ vội vàng chạy xuống, chạy ra bãi tập truyền lệnh đặc xá của nhà vua.

Tôn Tử sẽ xử sự ra sao?

Nguyễn Bá Thính
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Tào Nghiêu Đức

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.