Như trên vừa kể, Điền Bằng phu nhân Phạm Ngọc Lan đẻ khó, thai nhi ra ngang, Thái y Công Tôn Hồi Xuân đành chịu bó tay, vã mồ hôi trán, mắt nổ đom đóm, hai tay run rẩy, chúi đầu xuống đất, đúng lúc đó, có một người đàn bà như quỷ dạ xoa, tuổi nạ dòng xông vào nhà. Sau khi vào nhà, người đàn bà ấy chẳng hỏi đầu đuôi xuôi ngược, liền đi rửa sạch tay và bắt đầu hành động, vừa làm vừa ca cẩm trách mọi chẳng biết cái gì cả, chê thái y là đồ vô tích sự, làm như chỉ có bà ta, mới là chủ nhân của Điền phủ, mới là chúa tể của căn phòng này. Cách làm của bà ta hoàn toàn ngược lại với thái y, không bắt phu nhân cố rặn muốn cái thai nhanh chóng được đẻ ra, mà là để cho sản phụ thu bụng về thở đều, còn bà ta thì lấy tay đẩy cái đầu gối của thai nhi trở lại, sau đó dùng cả hai tay mình nhẹ nhàng xoa bóp, sờ nắn trên cái bụng nhô cao như mỏm đồi của Ngọc Lan. Như thế, Ngọc Lan có cảm giác sự dày vò có bớt đi nhiều, mồ hôi hột trên mặt cũng dần dần ít đi, nét mặt từ trắng bệch như giấy bỗng chuyển sang vàng như sáp, rồi dần dần xuất hiện vài tia máu hồng, nhịp thở cũng đều đặn hơn trước đó. Không biết như thế bao nhiêu lâu bà dạ xoa ấy ấn mạnh vào phần bụng dưới nhô cao, Ngọc Lan giật bắn mình như một người chết sống lại tiếp tục vật vã miệng lại tru tréo kêu rên. Bà ta bảo Ngọc Lan hãy nghiến răng và nín hơi, không được kêu, nhưng đời nào Ngọc Lan chịu nghe cho được, mà còn kêu dữ dội hơn. Cực chẳng đã, bà ta đưa tay bịt lấy miệng Ngọc Lan, tay kia tiếp tục xoa bóp, như thế là toàn bộ hơi sức của Ngọc Lan lúc này đã có thể dồn xuống dưới, mà không thể dồn lên. Áng chừng hút tàn điếu thuốc, phần thai nhi nhô ra không phải là đầu gối của đứa trẻ, mà là cái đỉnh đầu tròn trịa đen láy. Cái đầu nhô ra của thai nhi mỗi lúc mỗi to dần, đột nhiên bà đỡ ôm ngang lưng Ngọc Lan, như thể vực nàng ngồi phắt dậy. Ngọc Lan hét lên một tiếng như xé ruột. Cũng lúc đó ở ngoài trời, tiếng sấm long trời lở đất như muốn nổ tung căn phòng bị bóng tối bao trùm này, tiếp đó là tiếng kêu gào đầu tiên của đứa trẻ sinh ra trên cõi đời đầy tai ương hoạn nạn này…
Tiếng khóc của đứa trẻ rộ lên từng cơn đã xua tan những đám mây che phủ bầu trời, làm khô đi những giọt mồ hôi trên trán mọi người, những trái tim thấp thỏm lo âu cũng được yên ắng lại, cả gian phòng rạng rỡ ánh mắt tươi vui và đầy không khí phấn khởi. Phạm Ngọc Lan ngủ thiếp đi, mặc cho người khác sắp đặt. Khi nàng chợt tỉnh bởi tiếng khóc oa oa của đứa trẻ, nàng mới ý thức được rằng thế là mình đã hoàn thành được sứ mạng mà người đàn bà nào cũng phải hoàn thành. Mọi nỗi khổ đau như đã bị tiêu tan hết, lúc này bao trùm lấy nàng chỉ còn ấm áp, ngọt ngào và sung sướng. Vất vả lắm, nàng mới trở nghiêng được mình, định đưa đầu vú vào miệng con, thế nhưng chàng tí nhau lúc đó mắt cũng không thèm mở, chỉ biết ra công khóc, hai bàn tay nhỏ xíu nắm chặt lại, đôi chân thay nhau đạp cựa lung tung. Xem chừng đây cũng lại là một con người quật cường, không cam chịu theo sự thăng trầm của thế tục, một võ tướng muốn ra tay chống lại cái xã hội rối loạn này.
Người đàn bà nạ dòng trông như quỷ dạ xoa ấy là Ngô Xuân Nương, lang thang đây đó chữa bệnh kiếm ăn, do sở trường về đỡ đẻ, nên nổi tiếng xa gần, cứu được nhiều người nên người ta gọi bà là Ngô Bồ Tát. Trước đây, do quê hương bị thiên tai đói kém, bà phải theo cha lưu lạc sang Tề, may mà được Điền phủ chu cấp cưu mang, nên mới giữ được mạng sống cho cả nhà từ trẻ đến già, bởi thế mà mang ơn. Gần đây, nghe nói Điền Bằng phu nhân trở dạ đẻ khó, cho nên bà từ tỉnh ngoài đi ngày đi đêm để về kịp và sự việc đã diễn ra đúng với sở nguyện của mình nên lòng thấy được an ủi rất nhiều.
Theo phong tục nước Tề, sau khi sinh (con trai thì sáu ngày, mười hai ngày, con gái thì năm ngày) có nghĩa là sau khi đứa trẻ ra đời, đến một trong những ngày này, phải sửa tiệc đãi khách, chúc mừng rầm rộ. Mức độ long trọng đến đâu, đương nhiên phải cân nhắc theo hoàn cảnh từng người. Như nhà họ Điền, mang tiếng một danh môn quý tộc, đứa trẻ lại là con trai, đương nhiên là không thể không bày tiệc lớn, bè bạn cao sang chật quanh mâm, thân thích họ hàng đến chật nhà trên nhà dưới, rồi dăng đèn kết hoa, trang trí trong ngoài để rầm rộ chúc mừng một phen. Tuy nhiên, họ không làm như vậy, vì cha của đứa trẻ là Điền Bằng đang cùng với vua đi sứ nước Tấn; ông nội của đứa trẻ là Điền Thư, hiện đang đem quân đi đánh lớn ở Hiệp Cốc, muốn chúc mừng thế nào, cũng phải đợi cha và ông đứa trẻ trở về rồi mới quyết định được. Chưa nói đến ăn mừng, mà đứa trẻ ra đời đã mười hôm rồi, cái tên còn chưa đặt được nữa là… Bởi theo phong tục thì tên đứa trẻ là gì, phải do ông nội của nó đặt cho.
Tuy có lời đề nghị “dẹp binh” của Hướng Nhung nước Tống, Triệu Vũ nước Tấn, Khuất Kiến nước Sở vv…nêu ra, rồi hiệp nghị về nghiêm cấm các nước công phạt nhau mà mười ba nước Tấn, Sở, Tề, Lỗ vv… Đã đi đến nhất trí khi họp liên minh ở nước Tống năm 546 trước CN, thế nhưng trong cái thời đại phân tranh này, minh ước tuy cũng có tác dụng ràng buộc nhất định, nhưng những chư hầu thực sự giữ tín nghĩa, nghiêm chỉnh thực hiện minh ước thì chẳng có bao nhiêu, nhất là các nước lớn, các nước mạnh, họ coi việc xé bỏ những lời cam kết như trò trẻ con. Mùa thu năm thứ hai, sau khi mười ba nước liên minh với nhau ở Thương Khưu, nước Lỗ đã gây nên xung đột ở biên giới, Tề Cảnh Công sai đại tướng Điền Thư mang quân đi đánh dẹp.
Tề, Lỗ là hai nước ở sát vách nhau, lại có mối liên duyên lâu đời trong tình cậu cháu, nhưng quan hệ lại rất là tồi tệ, thường xuyên loè bịp lừa gạt nhau, tranh giành nhau, khiến nhân dân hai nước luôn sống trong cảnh nước sôi lửa bỏng. Nước Tề mạnh, nước Lỗ yếu, nên số lần nước Tề mang quân sang xâm lấn nước Lỗ cũng nhiều hơn. Tuy nhiên, nước Lỗ cũng không phải tay vừa, cứ như một con dế ham đấu, thường dám nhảy cả lên mào gà mà ra oai. Mùa xuân năm 545 trước CN, minh ước Thương Khưu còn chưa ráo mực, nước Lỗ lấy cớ quân Tề bắt và giết dê cừu của dân du mục nước mình, nên đã gây cuộc xung đột biên giới, cử một trong “Tam Hoàn” là Mạnh Tôn Thị làm tướng, đem mười vạn quân đi chinh phạt nước Tề. Nhận được tin báo từ biên giới, Tề Cảnh Công cho chiêu tập quần thần để bàn việc trừng phạt lại nước Lỗ. Thế tập đại phu Điền Thư tướng quân, nguyện đem quân đi đánh, và xin rằng:
– Mạnh Tôn Thị của nước Lỗ, chỉ là một phường phàm phu tục tử, sao lại dám ngông cuồng ngang ngược thế, thần sẽ đem quân đi bắt hắn về đây việc ấy thật dễ như lấy đồ trong túi!
Tề Cảnh Công nghe vậy liền nói:
– Xưa nay kiêu binh tất sẽ bại, sao ái khanh lại có thể khinh địch đến thế?
Điền Thư biện bạch:
– Không phải là thần kiêu căng khinh địch. Lỗ Tương Công với “Tam Hoàn” quả thực là không hiểu gì về chiến sự. Đất Hiệp Cốc núi cao rãnh hiểm, rừng sâu cây rậm, đem quân mười vạn chẳng khác chi hùm vào ngõ sâu, cá kình lên suối nhỏ, quân có nhiều đến đâu, tướng soái có mạnh đến đâu, cũng phỏng có ích gì. Thần chỉ xin mang một vạn quân tinh nhuệ, đến đó để ứng chiến, không thu toàn thắng, xin chịu quân pháp!
Thấy lời lẽ của Điền Thư có lý, vả lại thấy ông xưa nay chưa bao giờ nói điều gì quá đáng, chưa làm việc gì liều lĩnh, sự vững mạnh thì có thừa, nhưng hăng hái xem ra còn chưa đủ, Tề Cảnh Công liền tranh thủ sự đồng ý của các bậc lão thần, rồi mới giáng chỉ phát binh, kéo quân đến Hiệp Cốc.
Hiệp Cốc ở vào vùng núi Nghi Mông, là đất cát cứ để phân chia ranh giới giữa nước Tề và nước Lỗ, núi non trập trùng hiểm trở, suối khe dọc ngang chằng chịt, trời không râm cũng tự tối, ngày đang nắng vẫn âm u, lang sói thấp thoáng trên rừng, rắn rết từng bầy dưới đất, ngựa leo lên cũng trẹo chân, xe vào khe cũng mất lối. Quân Lỗ muốn triển khai tác chiến đại binh đoàn ở đây, chẳng có khác gì lùa đàn cừu ra chợ. Đương nhiên, Lỗ Tương Công với “Tam Hoàn” cũng không phải ngốc đến mức không biết ngày rạng đêm đen, cha khôn con dại, mà họ muốn xuất kỳ bất ý, mau chóng vượt qua vùng núi Nghi Mông, đánh thẳng vào Lâm Tri kinh đô nước Tề, đặt nước Tề vào đất chết. Nhưng họ có biết đâu rằng: Nước Tề chẳng hề giống như con chó chết, mà là một con sói đang còn sống, đang lúc Mạnh Tôn Thị gảy bàn tính rào rào, Điền Thư đã đem quân chặn ngang đường, còn bít mất cả đường về của quân Lỗ. Gần mười vạn quân bị vây chặt ở vùng rừng thiêng nước độc, cây đá âm u, muốn tiến không được, muốn lui cũng không xong, cứ y như chuột chui vào bễ lò rèn. Điền Thư không hề đem quân trực tiếp đọ sức với nước Lỗ, mà ém quân mình ở chỗ hiểm yếu của những nơi quan ải, nằm kín ở trong rừng cây bụi cỏ, chiếm lấy đỉnh của núi cao, tìm cơ hội để đánh úp tiêu diệt địch. Do những nguyên nhân hình thành trong lịch sử quân Lỗ xưa nay vốn đã sợ quân Tề, đối với người giỏi cầm quân như tướng quân Điền Thư, nghe đến tên lại càng sợ mất mật. Thêm nữa, từ lúc giao chiến trở đi, quân Lỗ phơi ra chỗ trống, quân Tề ở chỗ kín. Quân Tề đã bỏ xe mà đổi sang dùng ngựa, cơ động linh hoạt, xuất quỷ nhập thần, làm cho quân Lỗ loay hoay bị động, đi đến đâu bị đánh đến đấy, lúng túng tứ bề, không tự chủ được, lòng quân nhốn nháo, hơi tí đã sợ, nhìn đâu cũng thấy quân Tề. Cầm cự chưa được nửa tháng, lương thảo của quân Lỗ mang theo gần cạn, hàng chục vạn người ngựa bị vây hãm giữa rừng sâu, quan quân đói khát không chịu nổi quay ra oán thán lẫn nhau, thường chỉ vì chuyện tranh giành lương thực mà chẳng ai đánh cũng tan hoặc tự chém giết nhau. Trước hiện thực như vậy của quân Lỗ, Điền Thư đã áp dụng hàng loạt chiến thuật dụ địch hoặc đánh vào lòng người.
Một toán con buôn, lùa theo một đoàn ngựa, chở lương thực và đồ dùng đi qua hẻm núi, nhìn bộ dạng có vẻ như đem các thứ sang nước Lỗ bán. Từ xa, quân Lỗ đã phát hiện thấy, đời nào lại chịu bỏ qua, vội vàng đuổi gấp theo sau hòng cướp lấy để nhét vào những cái dạ dày đang lép kẹp. Đương nhiên đám con buôn cũng chẳng chịu khoanh tay chịu trói, nghe thấy tiếng hô hoán, vội vàng bỏ chạy. Thế là một bên chạy, một bên đuổi, đuổi mãi đến hẻm của một quả núi cao; hàng vạn mũi tên bắn ra rào rào như mưa, đá lớn từ trên dốc cao lăn xuống, lần lượt đập cho quân lính nước Lỗ nát nhừ như tương. Chẳng lẽ quân Lỗ lại không biết tìm đường quay lui? Đương nhiên là có! Nhưng đường về của chúng đã bị quân Tề ém chặt, đành phải chịu để cho quân Tề đông gấp nhiều lần từ trên cao xô xuống chém giết mà chết.
Mưa xong trời tạnh, từng đoàn các cô gái quần áo loè loẹt mang làn tre trên tay, miệng hát sơn ca nói nói cười cười, ríu rít đi vào rừng sâu hái nấm. Bị gò bó lâu ngày ở trốn xa trường, quân lính nước Lỗ nhìn thấy bóng đàn bà con gái làm gì mà chẳng nhao nhao lên như ngồi vào lửa, tên nào tên ấy lồng lên như thú muốn ra vồ ngay đến các cô gái. Các cô gái thấy vậy, cũng bỏ chạy tán loạn khắp nơi, trốn vào rừng cây, chui vào búi cỏ. Có biết đâu chỗ các cô gái vào ra đấy, lại là nơi mai phục của quân Tề. Chờ cho quân Lỗ đuổi gần đến trước mặt, sau một tiếng huýt sáo báo hiệu, quân Tề nhất loạt đánh ra, do không có đề phòng, nên quân Lỗ bị đánh cho tơi tả; chạy tán loạn các nơi, máu me bê bết.
Cùng với ngày tháng trôi đi, đói khát đã đe doạ nghiêm trọng đến quan quân nước Lỗ, thậm chí đã tới mức phải giết ngựa để ăn trừ bữa. Từ lính đến quan bỏ ngũ ngày một nhiều. Quanh những chuyện như lương ăn, tìm đường sống, số mệnh, tiền đồ… Giữa Mạnh Tôn Thị và các tướng lĩnh, giữa cấp trên với cấp dưới trong quân đội, giữa các phái hệ với nhau vv… Mâu thuẫn ngày càng phức tạp kịch liệt đến mức độ căng thẳng công khai, tựa hồ như một đám nhựa khô, chỉ cần một tia lửa là có thể bốc cháy thành biển lửa ngút trời. Dần về sau, những chuyện đánh nhau giành lương thực, giết chết quân quan thường xuyên xảy ra. Quân Lỗ đói đến mức như một bầy ong, rối loạn lên như một nồi canh hẹ, như thế khó mà nói đến những gì là sức chiến đấu. Quân Tề vốn hoàn toàn có thể thừa dịp mà mở cuộc tấn công toàn diện, đánh một trận để tiêu diệt địch. Tuy nhiên, Điền Thư lại không muốn làm như thế, bởi vì “chó cùng rứt giậu”, đánh giết chúng, tất cả hai bên đều sẽ bị thương vong, dù cho nó nắm được phần thắng tuyệt đối, thì phía mình cũng phải trả giá, mà ông thì lại không muốn nhìn thấy tướng sĩ của mình phải đổ máu hy sinh. Hơn thế nữa, giết nhiều địch, không hẳn là thiên chức của một nhà quân sự, cầm quân không đánh mà khuất phục được địch, thế mới là một nhà chỉ huy sáng suốt.
Từ trong khe núi, trên bãi cỏ, trong lùm cây, quân lính nước Lỗ đói đến nỗi không cất nổi đầu lên, ôm khí giới trong lòng, đứa nằm sấp, kẻ nằm ngửa, hoặc đứng hoặc ngồi dựa vào nhau, bỗng nhiên từ đâu thoảng tới mùi cơm chín, người nào người nấy thèm nhỏ dãi ra. Trong số binh lính ấy có kẻ nào bạo dạn, hoặc đói quá không chịu nổi, len lén bò dậy, nhoài tới hướng có mùi cơm thơm. Một tên, hai tên, rồi cả chục tên, đám quân Lỗ ấy bấp chấp cả nguy hiểm tới tính mạng, đã sang xin ăn bên quân Tề. Trong trường hợp này, chỉ làm sao giữ được mạng sống của mình, còn bất kể việc gì chúng cùng có thể làm được. Tướng sĩ quân đội nước Tề, chẳng những hữu hảo, mà còn khảng khái và rộng bụng, họ coi quân lính nước Lỗ như người thân, như anh em mình, không những họ cho ăn no, mà còn để người nào người nấy thả sức mang về. Cấp trên của quân Lỗ phát hiện ra, đương nhiên là chửi mắng, đánh đập và cấm đoán họ. Có điều, cấp trên cũng là người do cha mẹ sinh ra, cũng là xương thịt, cũng biết rằng chịu đói “sung sướng” như thế nào rồi nên dần dần họ có thấy thế cũng làm ngơ coi như không biết. Thậm chí còn ngầm xúi giục và ủng hộ cho lính ra đi, bởi đám lính tráng ấy quay về rất có thể còn đem về cho chút cơm thừa canh cặn, đủ ăn để sống.
Binh lính quân Lỗ đã mắt thấy tai nghe sự đãi ngộ quân Tề hết sức nồng hậu, chẳng những có thể được ăn no cơm trắng và ánh hấp, mà lại còn có thịt, có rượu nữa. Rượu của quân Tề mới thơm, mới quyến rũ làm sao khiến cho họ không thể nào không nhỏ dãi ra vì thèm được.
Quân Tề đem cho quân Lỗ từng bao gạo, từng xe bột mì kèm theo những bức thư chan chứa nhiệt tình, khuyên quân sĩ bên Lỗ hãy cải tà qui chính, làm lại cuộc đời.
Ngón đòn ấy của Điền Thư quả là ghê gớm, chẳng mất một nhát dao một cây thương, chẳng thiệt một mạng lính nào, mà làm cho quân Lỗ như tảng băng trong lửa, như tuyết dưới mặt trời, tự động tan rã, mỗi ngày chạy trốn sang trại lính Tề có tới hàng ngàn quân. Mạnh Tôn Thị thấy tình thế tồi tệ, vội vàng xin hàng lại ký minh ước với Điền Thư, thu thập đám quân bại tướng thảm hại quay về chịu tội.
Lúc Điền Thư ca khúc khải hoàn về đến nhà mình, đã là ngày bảy tháng chạp, hôm sau đã là ngày thứ một trăm Tôn Tử ra đời. Theo phong tục nước Tề, thì ngày này phải làm lễ thật to, để lấy may, buổi lễ mừng này tục gọi là “sống trăm năm”. Vì cha là Điền Bằng và ông là Điền Thư đều công cán nơi xa, nên ăn mừng ngày thứ sáu ngày thứ mười hai đều chưa làm được, do vậy nên lễ “trăm năm” đương nhiên là long trọng khác thường, lại rộn rã treo đèn kết hoa, khách khứa đầy nhà, đàn hát rộn rã, niềm vui ngập tràn. Rượu được ba tuần, thức ăn năm món, Điền Thư sai vú em bế ông nhỏ ra cho các vị bạn bè và người thân xem mặt. Đương nhiên điều đó cũng không ngoài ý muốn khoe khoang, mà cũng theo lệ thường, mỗi vị đến dự tiệc đều phải cho tiền mừng tuổi, cho nên tiền mừng và những lời khen ngợi tâng bốc, cứ như nước rửa tội ở nhà thờ tới tấp trút lên mình cậu bé, có lúc tiền còn rơi leng keng cả dưới đất. Có người hỏi đến tên cậu bé, Điền Thư ớ người ra, liền quay sang hỏi mẹ già cao tuổi ngồi bên, bà mẹ nói như có ý trách móc:
– Đã đến lễ trăm năm rồi mà còn chưa có tên.
– Tại sao thế? – Điền Thư hầu như rất lấy làm lạ.
– Có mà ánh mừng quá hoá lú lấp mất rồi! – Bà nội cười lên ha hả, hai mắt tít lại thành một vạch ngang – ông nội nó đi đánh giặc xa, hôm qua mới về, thì lấy ai đặt tên cho thằng bé?
– À ra thế! À ra thế… – Điền Thư thẹn đỏ cả mặt, đó là cử chỉ cáo lỗi với mẹ và với con trai mình. Ông đón cháu nội mình vào lòng, hôn hít một hồi, rồi trêu chọc một hồi, vui mừng hể hả nói – các vị hãy xem đây, thằng bé này vóc dáng to lớn hơn những đứa trẻ bình thường, chân tay to khoẻ, đầu như đầu hổ, hai mắt trong sáng tinh anh, nhất định lại sẽ trở thành một viên võ tướng. Điều đó cũng nói lên rằng: Họ Điền nhà ta về sau sẽ có người nối dõi, võ vận sẽ lâu dài, thế thì lấy tên là Điền Vũ, tự Tử Khanh, các vị thấy thế nào?
Sảnh đường bỗng ran lên tiếng vỗ tay khen ngợi và tiếng reo vui hồi lâu không dứt…
Nước Tề khi Điền Vũ ra đời, cục diện chính trị rất không ổn định. Tề Tráng công tư thông với Đường Khương là vợ của quan hữu khanh Thôi Trữ. Đường Khương là người đàn bà có nhan sắc, Tráng Công mong nhớ đêm ngày, quên ăn quên ngủ. Hai người đã giấu Thôi Trữ, đầu gối tay ấp, chung chăn chung gối, chung tình mây mưa. Trên đời này bức vách có tai; có kim bọc giẻ lâu ngày rồi cũng lòi ra. Thôi Trữ về sau cũng phát hiện ra điều bí ẩn đó nên ngày Ất Hơi tháng năm mùa hè năm 548 trước CN đã bầy mưu giết chết Tề Tráng Công và dũng sĩ tuỳ tùng của ông ta là Giả Cử, Châu Xước vv… sau khi Tráng Công qua đời, Thôi Trữ lập em mình là Chử Cữu lên làm vua, tức là Cảnh Công. Khi Tráng Công chết, Yến Anh khóc lóc thảm thiết, vừa khóc vừa chửi rủa bọn gian tặc. Thôi Trữ tuy căm hận hắn đến bầm gan tím ruột, nhưng sợ vì Yến Anh xưa nay vẫn được lòng dân, nên không dám hỏi tội. Bất kể một kẻ nào có âm mưu hay một kẻ nào có dã tâm nào cũng đều không dám nhìn thẳng vào sự thực. Thôi Trữ tuy có gan và có bản lĩnh giết Tráng Công, nhưng lại không dám để cho các thái sử viết những sự thực đó vào trong lịch sử. Ông ta còn bịa ra tin đồn, nói láo rằng Tráng Công chết vì sốt rét, mong bóp méo lịch sử đánh lừa người đời sau.
Thái sử không theo lệnh ấy, với đại nghĩa đường hoàng lẫm liệt đã viết rằng: “Ngày Ất Hợi mùa hè năm Chu Linh Vương thứ hai mươi bốn, Thôi Trữ đã giết vua của mình là Quang”. Ba anh em nối tiếp nhau viết thế, đều bị Thôi Trữ giết hết. Đến người em thứ tư cũng vẫn không chịu khuất phục, vẫn cứ viết như trước. Thôi Trữ giằng lấy cái thẻ gỗ vừa đe vừa dụ:
– Ba anh của ông đều chết, chẳng lẽ ông lại không thiết đến cái mạng của mình? Nếu cũng viết như thế, đêm nay ông sẽ chết.
Người em thứ tư ấy đáp:
– Căn cứ vào sự thực mà viết thẳng ra, đó là chức trách của sử gia. Sống mà không tròn chức trách, thì chẳng thà chết đi còn hơn! Xưa Triệu Thuẫn giết Tấn Linh Công, Thái sử là Đổng Hồ đã viết thẳng ra rằng: “Triệu Thuẫn giết vua của mình là Di Bao”. Thuẫn là chính khanh, không lấy làm lạ, vì biết rằng chức viết sử không thể bỏ đi được. Người nào đó không viết ngay, thì sẽ có người khác viết, lời lẽ vu vơ bằng mực làm sao có thể che đậy được sự thực bằng máu…
Thôi Trữ chẳng biết làm sao, đành vứt thẻ gỗ trả cho thái sử, mặc cho ông viết thẳng ra, bực bội bỏ đi.
Tề Cảnh Công lên ngôi, lấy Thôi Trữ làm hữu thừa tướng, Khánh Phong làm tả thừa tướng, cùng nắm việc triều chính.
Năm Tề Cảnh Công thứ hai, gia đình họ Thôi hỗn loạn, Khánh Phong thừa cơ diệt cả dòng họ ấy. Thôi Trữ tự sát, Khánh Phong một mình nắm quyền bính trong nước.
Năm Tề Cảnh Công thứ ba, cũng là năm Điền Vũ ra đời, các dòng họ Loan, Cao, Trần, Bào cùng đánh họ Khánh, Khánh Phong trước còn lánh sang nước Lỗ, tiếp đó lại theo nước Ngô.
Điền Vũ như một mầm cây non được sống trong mảnh ruộng mà điều kiện mọi mặt đều tốt đẹp, ở đấy chất đất phì nhiêu, nước nôi đầy đủ, ánh sáng chan hoà, khí hậu thích hợp, không khí trong sạch và ẩm ướt mầm cây cứ thế mà đón gió và mặt trời lớn lên nhanh chóng.
Cậu lại giống như một chồi cây ngô đồng mọc ở hốc núi chỗ thừa ánh nắng mà lại khuất gió, xanh ngăn ngắt, mượt như nhung, đẫy đà và bóng bẩy, non mơ màng như củ cải, bấm một cái nước tứa ngay ra. Chồi cây đó kiêu hãnh vươn mình lớn lên từng ngày.
Cậu lại rất giống như một chú ngựa non, mắt to, tai dỏng, bụng thon mông tròn, mặc lĩnh khoác đoạn lên mình, bóng láng như nước, bờm xanh rung lên, bốn vó kêu như gió, vươn cổ hý dài, sư tử quay đầu, hỗ dữ cũng phải tránh.
Những điều mô tả ở trên, không có nghĩa là chỉ nói về vẻ tướng mạo của Điền Vũ, mà nhiều hơn là biểu hiện làm cảnh sống, tài khí, học thức và sự trưởng thành của cậu bé.
Thông minh, nhanh nhẹn là đặc tính chủ yếu của Điền Vũ ở tuổi thiếu thời. Vầng trán rộng và sáng bóng lên của cậu đánh dấu về nhịp độ và dung lượng tri thức mà cậu có thể tiếp thu. Đôi mắt sáng và như bốc lửa của cậu nói lên với mọi người rằng: Thần trí của cậu bé này nhạy bén hơn người, sâu không thể nào dò.
Có một cái hồ chứa nước có dung lượng rất lớn, qua cái ống ngầm thiết kế ở dưới đáy hồ, xả nước ra tưới cho hàng chục vạn mẫu ruộng ở phía hạ lưu. Mỗi khi mở cái cửa kè ở miệng cống, hồ nước sẽ bị xoáy hút, rồi sóng nhô cao lên đập thành bọt trắng, xô nhau vào miệng cống, gầm réo lên, rung động cả vách núi. Nếu như ví vốn liếng tri thức mà loài người sáng tạo ra với hồ nước mênh mông, thì việc học tập của Điền Vũ chính là động tác mở cửa kè để xả nước, vừa hút xuống vừa nuốt trôi đi ùng ục ùng ục, tốc độ nhanh như thế, số lượng nhiều như thế, dung lượng lớn như thế khiến người ta phải trố mắt ngạc nhiên.
Điền Thư và Điền Bằng quanh năm xa nhà, gánh nặng nuôi dạy Điền Vũ hầu như đặt cả lên đôi vai của bà mẹ trẻ Phạm Ngọc Lan. Cũng may mà Ngọc Lan lại xuất thân ở một gia đình danh môn khuê tú, từ nhỏ đã được tiếp thu một nền giáo dục tốt đẹp, tri thức rất phong phú và nắm được rất sâu. Mở đầu, bà mẹ ấy đã kể cho Điền Vũ con mình những thần thoại từ ngày xưa, dùng những hình tượng anh hùng để vũ trang cho đầu óc của cậu bé, hun đúc tiết tháo cho cậu, làm phong phú sức tưởng tượng và tinh thần sáng tạo của cậu. Chẳng hạn như chuyện Bàn Cổ khai thiên lập địa, chim tinh vệ tha gỗ tha đá lấp biển Đông, Nữ Oa luyện đá màu để vá trời và lấy đất sét để nặn ra loài người. Để cho giống người được sinh sôi nảy nở, anh em Phục Hy và Nữ Oa đã lấy nhau làm vợ chồng; Viêm đế dạy nhân dân trồng ngô lúa; Hoàng đế đóng xe đóng thuyền cho dân, Khoa Phụ đuổi mặt trời, Ngu công dời núi, Hậu Nghệ bắn rơi chín mặt trời, Đại Vũ đi trị thuỷ xa nhà ba năm ba lần đi qua cửa nhà mình mà không về vv… Tiếp đó, Ngọc Lan lại giảng cho Điền Vũ nghe về “Thi”, về “Lễ”, về “Thư”, về “Chu Dịch”, dạy con bày bát quái. Hoặc là ngày, hoặc là đêm, hai mẹ con ngồi đối diện bên bàn, một người thì nói có ngọn có ngành, một người thì chăm chú nghe như nuốt từng lời. Đáng tiếc là bà mẹ học vấn uyên thâm như thế nhiều lúc bị cậu con như đói như khát hỏi cho đến cứng cả họng không sao trả lời được. Thí dụ cậu con hỏi, trước khi có trời đất, tất cả đều hỗn độn tối om như trong một quả trứng, thế thì ông Bàn Cổ ở đâu ra? Cái búa ông dùng để khai thiên lập địa là ai làm cho ông ấy? Tại sao chim tinh vệ lại đi tha gỗ tha đá về lấp biển? Mẹ nó bảo nó làm như thế hay sao? Tại sao mẹ nó không dẫn nó cùng đi lấp? Nữ Oa đã là mẹ của loài người, không có Nữ Oa thì không có xã hội loài người ngày nay, thế thì tại sao đàn bà lại bị xã hội khinh ghét như thế, chẳng có một chút địa vị xã hội nào như thế? Ngu công cũng chẳng phải là thông minh lắm, tại sao ông ta không dời nhà ra xa núi mà ở? Dời nhà chẳng dễ hơn dời núi hay sao? Hoàng đế và Viêm đế đều rất vĩ đại, tại sao họ lại gây chiến công phạt lẫn nhau, đoàn kết hợp tác với nhau có phải tốt hơn không? Đế Tuấn là người xấu như thế, suốt ngày làm việc ác, dâng nước lũ trừng phạt loài người, Hậu Nghệ bắn trăm phát trăm trúng như thế, tại sao không bắn chết hắn đi để trừ hại cho nhân gian?… Mỗi lúc như thế, người mẹ trẻ chỉ còn biết đỏ bừng mặt lên, thẹn không biết lánh đi đâu. Để khỏi ảnh hưởng đến sự phát triển trí lực và tăng thêm hiểu biết cho con, nhất là không làm chậm trễ bước đi sau này của con, Ngọc Lan bỗng nảy ra ý định lập trường tư, mời gia sư về dạy học.
Một hôm, Ngọc Lan đang kể cho con nghe câu chuyện Hằng Nga; nói về vẻ đẹp siêu thần thoát tục của Hằng Nga, kể về chuyện nàng theo chồng xuống trần gian, sống không quen với cuộc sống gian khổ tương cà mắm muối, nói về chuyện nàng đã ăn vụng thuốc tiên của chồng, bay lên cung trăng, bỏ lại người chồng sống cuộc sống đơn côi cực khổ ở trần gian, nói chuyện Thượng đế giáng chức Hằng Nga biến nàng thành con cóc xấu xí ai ai cũng ghét. Ngọc Lan bình luận: “Một nàng tiên sinh đẹp như thế, bị biến thành một con cóc xấu xí, thật là đáng tiếc, bụng dạ của Thiên đế cũng thật là quá ác độc”.
Cậu bé Điền Vũ mới lên năm, tỏ ra không đồng ý với cách nhìn nhận của mẹ mình, bác lại rằng:
– Mười mặt trời cùng mọc, mặt đất quá nóng bỏng, lúa mạ chết hết, vườn ruộng hoang vu, chim thú chạy mất hết, mặt đất trở nên hoang vắng, để cứu loài người đang trong cơn nước sôi lửa bỏng, mặc dù bị các thiên thần địa kỳ nhao nhao phản đối, Hậu Nghệ đành phản lại triều đình, bỏ xuống trần gian, giương cung lên bắn chín mặt trời, cứu được nhân loại đang sắp bị tai ương lút đầu đó là một hành động lớn lao anh hùng biết bao? Thế mà Hằng Nga lại phản bội chàng, ăn vụng thuốc tiên để lên cung trăng, thì đó lại là một linh hồn ti tiện nhơ bẩn biết bao, Thiên đế bắt nàng biến thành con cóc xấu xí để ngàn người khinh ghét, vạn người phỉ nhổ, chẳng phải là đáng tội lắm sao? Chỉ có cái xác xinh, mà không có một linh hồn đẹp, thì không bằng đống phân chó của loài người, có quái gì mà đáng tiếc? Mẹ mà cũng chê nghèo yêu giàu, mạnh ai ôm áo người ấy như Hằng Nga, thì con cũng chẳng nhận một người mẹ như thế…
Phạm Ngọc Lan đâm ra e thẹn cúi đầu, một lúc lâu không nói gì.
Lại có một lần Phạm Ngọc Lan kể cho con trai mình nghe về công đức vô lượng của Đường – Nghiêu. Cứ như lời nàng tả, thì Nghiêu là một ông vua chí nhân chí thánh, là một con người trọn vẹn mọi vẻ từ chân đến đầu…
– Theo ý con Nghiêu chưa chắc đã cái gì cũng tốt như thế – Điền Vũ cắt ngang lời mẹ mình, hiên ngang ngẩng mặt lên nhìn thẳng vào mặt mẹ mình không chớp mắt.
Câu nói ấy của Điền Vũ Khiến cho người mẹ trẻ kinh ngạc và sợ hãi đến sởn gai gà, một tí tuổi đầu mà lại dám xấc xược với các bậc thánh triết tiên hiền thế có chết người không kia chứ, đúng là “điếc không sợ sấm”…
Vẻ mặt của người mẹ khiến cậu con trai sững sờ, chẳng hiểu ra làm sao, liền hỏi:
– Mẹ ơi! Con nói sai câu gì hay sao? “Ngọc không thể không có vết., người không thể cái gì cũng tốt”, chính mẹ đã chẳng thường dạy con như thế đó sao?
Phạm Ngọc Lan nghiêm nét mặt nói:
– “Ngọc không thể không có vết, người không thể cái gì cũng tốt”, là nói với người thường, với thánh nhân thì phải nói khác.
Điền Vũ đã thẳng thắn phản bác lại:
– Nghiêu có những bề tôi như Tương Liễu, Khổng Nhâm, Tam Miêu, đều là những hạng hại dân hại nước, là đồ chết còn chưa hết tội, thế mà Nghiêu đối với họ có thể nói là nhân đức hết mực, hết lần này đến lần khác tha cho họ những tội ác tày đình. Cổn theo lệnh vua đi trị thuỷ chín năm, bỏ cả vợ con, chịu đủ trăm ngàn cay đắng. Tuy rằng ông có những điểm lớn như kiêu ngạo tự phụ, ương ngạnh bướng bỉnh, thế nhưng suy cho cùng ông cũng dốc lòng vì việc công, luôn nghĩ đến dân, để cứu muôn dân trăm họ ra khỏi cơn tai hoạ nặng nề, đã chẳng từ nan xông vào nơi khó khăn nước lửa. Về sau chủ yếu là do mưa bão, rò rỉ, động đất vv… nên những con đê to Cổn đắp lên có chỗ bị sạt vỡ, gây nên nạn lụt kinh hoàng cho dân chúng, Nghiêu bèn xử ông ta tội chết ở Vũ Uyên. Đối với bọn độc ác như Tương Liễu, sao Nghiêu lại khoan dung thế, nhưng đối với người phạm sai lầm như Cổn thì sao lại tàn khốc thế. So sánh hai việc, lẽ nào lại là công bằng ư? Việc xử sự của Nghiêu chẳng lẽ lại không có chỗ nào sai sót hay sao? Thế nên mới bảo “người không thể nói cái gì cũng tốt” là kể cả thánh nhân.
Người mẹ trẻ lại một lần nữa cứng họng ra chẳng nói được gì, ửng đỏ hết cả mặt. Bà nhìn đứa con trai trước mặt mình, bỗng thấy nó cao lớn hẳn lên, như Thái Sơn, Bắc Đẩu, phải ngửa mặt lên mới nhìn thấy. Trước mặt người mẹ bỗng xuất hiện một mặt biển với sóng nước ỳ ầm, như rộng lớn khôn lường, như sâu thẳm khôn đoán, đó tựa như hình ảnh về khối óc, về tầm suy nghĩ của con trai mình. Bà mẹ ấy cứ say sưa nhìn, mê mải nghĩ và thấy tự trong lòng mình đang có một dòng mật ngọt từ từ tan ra và ngấm dần, sao nó ngọt ngào đến thế, êm dịu đến thế, thấm thía đến thế. Bỗng nhiên, bà nhào tới phía trước, quờ ôm lấy cậu bé, riết chặt vào lòng, như thể có ai đó sắp cướp đi mất… Nước mắt của người mẹ trẻ lã chã tuôn rơi, nhỏ cả lên khuôn mặt hồng hào bầu bĩnh của cậu bé – đó là những giọt những mắt xúc động, những giọt nước mắt hy vọng, những giọt nước mắt ngọt ngào, những giọt nước mắt sung sướng…
Điền Thư và Điền Bằng ghé qua nhà, Ngọc Lan đã thưa trình lại với bố chồng và khoe với chồng về sự trưởng thành của Điền Vũ, và được sự đồng ý của hai người, đã mở trường tư thục ngay trong phủ, mời gia sư về dạy cho con. Tuy nhiên, làm thầy dạy cho Điền Vũ rất khó, mới có ba năm, đã phải đổi tới bốn ông thầy.
Thí dụ có một ông tên là Trương Phụng Chi, thi thư đầy một bụng, suy nghĩ về văn chương rất nhạy bén, xuất khẩu thành chương. Mỗi lần đi đâu ông đều hay tức cảnh,sinh tình, cùng Điền Vũ ngâm thơ học đối. Lòng đầy xúc động và hứng thú, ông ngâm một câu thơ, trong tình hình không hề có sự chuẩn bị chút gì về tư tưởng, ông bảo Điền Vũ đối vào vế sau, mà lại phải đối thật chỉnh, đúng niêm luật. Ông muốn dùng cách đó để thử tài Điền Vũ và bồi dưỡng cho cậu sự linh cảm, nâng cao tốc độ phản ứng và năng lực ứng biến của cậu.
Một ngày giữa mùa xuân, thầy trò đã trẩy thuyền ven dòng Thời Thuỷ lên phía bắc. Lòng sông khúc khuỷu quanh co, nước sông rì rào cuộn chảy, gió xuân mang lại niềm sảng khoái, liễu xanh rủ dọc bờ đê, én dệt thoi mây, chim ca ríu rít, tình thơ ý hoạ, hun đúc nên tính tình của con người. Phía trước không xa, ai đã bắc lên chiếc cầu cong bằng đá, ven theo chân đê ngoằn ngoèo, chiếc thuyền con lướt lên phía trước và đã tới chân cầu, rồi xuyên thẳng qua. Trương Phụng Chi ngâm lên:
– Xa đáo sơn tiền tất hữu lộ (Xe lên trước núi hẳn có đường).
Điền Vũ như đã đoán định từ trước rằng đến lúc này, thầy giáo không thể không ngâm lên câu đó, nên cậu đã buột miệng thêm rằng:
– Thuyền đáo kiều đấu tự nhiên trực (Thuyền đến chân cầu tự nhiên thẳng).
Thầy giáo Trương vui quá, ôm ghì Điền Vũ vào trong lòng mình hết lắc lại lay, lại ngâm thơ, lại cười cười nói nói, thậm chí cà cả chiếc cằm đầy râu khô cứng lên khuôn mặt bầu bĩnh của cậu bé, rậm đến nỗi Điền Vũ phải rụt xo lại như một con mèo nằm gọn trong lòng thầy giáo. Ở đây chỉ có tình cảm và lòng mến yêu, sự tôn nghiêm của đạo thầy trò đã tạm thời biến mất. Thời Thuỷ hội nhập vào Tri Thuỷ, đến đây lòng sông rộng ra, nước sông cũng chảy lững lờ hơn, người nằm ngửa trên thuyền, như đứa trẻ nằm trong nôi, nhìn mây trời đang bay và cây ở hai bên bờ thì theo nhau lùi về phía sau, nước va vào lòng thuyền nghe róc rách vui tai, thế là thầy giáo Trương bỗng ngâm lên:
– Sóng đẩy thuyền đi bờ không đi.
Điền Vũ liền ứng khẩu đọc theo:
– Gió thổi mây động trời không động.
Lại một lần nữa, mặt sông vắng ran lên một trận cười.
Cũng ngày rằm tháng tám năm ấy, Phạm Ngọc Lan đã sắp sẵn một khoản lễ hậu, sai con mang đến biếu thầy giáo Trương, chúc thầy ăn Tết Trung thu vui vẻ. Thầy trò như cá gặp nước. Thấy người học trò ngoan được nâng niu như ngọc quý trên tay lần đầu đến cửa nhà thầy, còn thầy giáo Trương thì hết sức vui mừng và tỏ ra vô cùng thân mật, sư mẫu vội vàng đi làm những món ăn ngon nhất để thết đãi cậu ấm của Điền phủ. Thời giờ của một ngày thấm thoắt qua đi rất nhanh, chẳng mấy chốc mà mặt trăng đã nhô lên đầu núi đằng đông, to như một cái ô, cả ánh sáng lung linh như nước, chiếu cho khắp nơi sáng tựa ban ngày. Gió hiu hiu thổi như mang theo mùi thơm hoa quế ở nguyệt cung. Điền Vũ bồi hồi ở bên cạnh thầy giáo Trương. Tuy người hầu đã mấy lần giục giã, nhưng cậu vẫn bịn rịn chưa muốn dời chân. Vợ chồng Trương Phụng Chi cố nài giữ cậu ngủ lại một đêm rồi mai hãy về, nhưng lúc sang đây còn chưa hỏi mẹ mình trước, nên Điền Vũ không dám tự tiện ở lại; cậu buột miệng ngâm rằng:
– Thanh phong hữu ý nan lưu ngã (Gió mát có lòng không giữ lại).
Và theo thông lệ xưa nay của thầy trò họ, thầy giáo nhẽ ra nên ứng khẩu đối rằng “Minh nguyệt vô tâm khước chiếu nhân” (Trăng trong vô ý chiếu người đi), thế nhưng thầy giáo Trương lúc này đang đứng ngay trước mặt lại chỉ há miệng ra, không có lời nào đối lại, đứng ngây ra nhìn Điền Vũ và đám gia nhân ra về trên mặt không để lộ một chút tình cảm gì.
Đêm ấy, thầy giáo Trương Phụng Chi mắc chứng bệnh tim, rồi mọc nhọt sau lưng mà chết, hưởng thọ sáu mươi lăm tuổi. Sửng sốt được tin buồn, Điền Vũ khóc đến nỗi chết đi sống lại và ốm một trận rất nặng.
Ông thầy thứ ba dạy Điền Vũ họ Phương tên là Bác Cổ, là một vị lão học cữu,[1] suốt ngày cứ dài thuỗn ra, không hay nói hay cười, mà hay mang bộ mặt “thiết bì” ra để dạy người. Ông ta sùng bái Chu công, giữ nghiêm Chu lễ rất hay bàn về nhân nghĩa, phản đối bạo lực và chiến tranh. Nói thực ra, phải đến nhà võ tướng để làm thầy dạy học, không phải là điều mà ông muốn, chẳng qua vì sinh kế o ép, đành phải cúi lưng “xin ăn”. Xuất phát từ sự tôn nghiêm của đạo làm thầy trong thời buổi phong kiến, ông đòi hỏi học trò phải tuyệt đối nghe theo mình, không được tỏ ra ngang bướng chút nào, và như vậy thế tất sẽ sinh ra mâu thuẫn và sự chống trả của người có tư tưởng sôi nổi như Điền Vũ, quan hệ thầy trò rất không hoà hợp. Một lần, thầy Bác Cổ bắt đầu từ tiên đề đặt ra và làm theo Chu lễ, nói rất nhiều đến nhân nghĩa, nhấn mạnh rằng đây là một nét đẹp ở trong thiên hạ. Điền Vũ không đồng ý với quan điểm đó của ông thầy. Cậu nói, nhân nghĩa chỉ là một phạm vi lý tưởng hoàn mỹ, Chu công là một người mộng tưởng hão huyền không nhìn thẳng vào hiện thực, dục vọng mới là bản tính của con người sinh ra đã có. Ví như chim trĩ và con vịt, cùng là giống chim, chim trĩ từ vỏ trứng nở ra đã bay lên rừng xanh, còn con vịt con thì lại ra bờ sông. Đứng trước hiện thực là các nước đang phân tranh, người có nước tất phải dùng pháp chế để trị vì đất nước, lấy vũ trang để ngăn ngừa. Nhưng lời phản bác lại của Điền Vũ, khiến thầy Bác Cổ nổi giận đùng đùng. Điền Vũ lại dám giữa ban ngày ban mặt chà đạp lên Chu lễ, láo lếu với Chu công, va chạm với người hơn tuổi, như thế thử hỏi, ai còn nhịn được! Trong nóng nảy, chẳng những. thầy đã tranh cãi với trò, còn giơ tay đánh cả Điền Vũ.
Trận sóng gió xảy ra trong trường tư thục ấy, đương nhiên Điền Vũ về nhà không dám hé răng nói ra với mẹ, với bà, chỉ có điều cậu Điền Vũ mọi ngày hồn nhiên và sôi nổi thế mà hôm ấy về bên cạnh mẹ, lại trở nên lầm lỳ, ít nói, cơm tố cũng ăn rất ít. Ngọc Lan cho rằng con mình có sự khó chịu trong người nên tối đến đã đưa con trai đi ngủ sớm.
Ngày hôm sau, ăn cơm trưa xong, ông Phương Bác Cổ xưa nay vốn không hay đi lại lung tung đã hộc tốc tới Điền phủ để xin thôi việc, bởi vì, buổi sáng Điền Vu đã xua chó săn cắn chết con cừu non của nhà ông. Với thầy giáo, học sinh lại lấy oán để trả ơn, ông không thể nào chịu được.
Nghe thấy tin này, mọi người trong Điền phủ từ trên xuống dưới chẳng ai là không kinh ngạc: cậu Điền Vũ làm sao có thể làm những việc như thế.
❀ ❀ ❀
[1] Tên một học vị ở Trung Quốc thời xưa.