Tôn Tử Truyện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 55 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Xxxii Đói Chẳng Kén Ăn – Chán Mặn Thêm Nhạt
Chương Xxxii Đói Chẳng Kén Ăn – Chán Mặn Thêm Nhạt

❊ ❊ ❊

Lại nói Sở Chiêu vương đến được Vân thành, sau khi cơm no rượu say đang định lên giường ngủ, tướng giữ Vân thành là Đấu Hoài đúng lúc ấy đạp cửa xông vào, đòi trả nợ máu, báo thù cho cha mình, vung cao lưỡi dao sáng loá chém xuống đầu Chiêu vương. Không ngờ phía sau Đấu Hoài có một tướng đang đứng đó, thấy chuyên chẳng lành, bèn bước lên ôm chặt lấy Đấu Hoài, Đấu Hoài loạng choạng né vào góc nhà, con dao chém vào quãng không, đầu Chiêu vương không bị lìa khỏi cổ. Vị tướng cứu sống Chiêu vương đó không phỉ là ai khác, mà chính là Đấu Tân, anh họ của Đấu Hoài.

Nguyên là trước đây, Sở Bình vương đã giết hại trung thần Đấu Tử Kỳ, tướng giữ Vân thành Đấu Hoài là con trai cả của Đấu Tử Kỳ, là anh em con chú con bác với Đấu Tân. Sau khi Sở chiêu vương và bầu đoàn của ông ta đến Vân thành, Đấu Hoài liền nảy ra ý định giết hôn quân để trả thù cha và đã bày tỏ với anh họ của mình là Đấu Tân về ý nghĩ đó, Đấu Tân đã phê phán:

– Vua là cha, tôi là con, cha giết con mình, có gì là thù mà phải báo? Hiện nay Sở vương đang gặp nạn, giết vua là trái với nhân nghĩa; tông miếu xã tắc của nước Sở, đều trông vào Chiêu vương, giết Chiêu vương là tuyệt người thừa tự của nước Sở, trái với đạo hiếu. Một hành động bất nhân, bất nghĩa, bất hiếu như thế, vừa trái lẽ trời vừa hại nhân dân, sao em có thể ra tay làm được? Mong em hãy tỉnh ngộ mà suy nghĩ cho chín chắn.

Đấu Hoài nghe nói thế tỏ ra rất không vui, im lặng một lúc lâu, rồi đùng đùng bỏ đi. Đấu Tân vẫn chưa thật yên lòng, e sẽ xảy ra điều gì không hay nên đã ngầm đứng chực ở ngoài phòng ngủ của Chiêu vương, thấy Đấu Hoài hằm hằm tức giận xông vào, liền rón rén bước theo sau và giữa lúc ngàn cân treo sợi tóc đó, đã cứu sống Chiêu vương.

Tình hình đã diễn ra như vậy, Chiêu vương và bầu đoàn cũng không tiện ở lại Vân Thành quá lâu, sáng sớm hôm sau lại lên đường đến Tuỳ thành[1] kinh đô của một nước phụ thuộc khác.

Dân chúng Tuỳ thành trung với Sở vương, thành tâm tiếp đãi, nguyện cùng chiến đấu để Sở vương cứu nước, tự động tổ chức lại, ngày đêm rèn khí giới, thao luyện binh lính, đợi khi nào Sở vương ra lệnh gọi lính thì sẽ tham gia quân đội, Sở vương rất lấy làm cảm động, càng thêm tin tưởng sẽ có ngày quay về làm lại từ đầu.

Từ sau ngày Sính đô thất thủ, thái hậu Bá Doanh đóng chặt cửa không ra ngoài, cánh cửa suốt ngày khoá trái, đồ ăn thức uống đều đưa bằng lối cửa sổ. Bà luôn để bên mình một thanh đoản kiếm, nếu có quân Ngô phá cửa xông vào, định có gì ác ý, thì bà ta sẽ tự vẫn trước.

Sau khi vào được Sính đô, Tôn Tử chẳng kịp nghĩ đến việc cho quân đuổi theo Sở Chiêu vương với đám trọng thần của ông ta đang chạy trốn, mà việc đầu tiên là vội cho người đi phá đập xả nước, không thể để dân chúng chịu mãi cảnh lụt lội khổ cực. Tiếp đó là việc ghi công cho các tướng lĩnh, ra yết thị để yên dân, xem xét lại kho lẫm, sắp xếp cho đám hàng binh, cứu tế cho dân bị nạn. Đồng thời còn cử người trông coi hoàng cung, tập trung mọi người trong hoàng cung vào hậu cung, không cho tự ý đi lại. Binh lính đi xả nước lại ngồi bè ngồi mảng lên Xích Hồ, mở ra mấy chỗ ở những nơi đã xếp bằng túi cát để trước hết làm cho nước ở Xích Hồ sẽ chảy ra xung quanh, tràn vào những sông hồ ngòi lạch khác rồi chảy vào sông Chương, sau đó lại chặn dòng sông nhỏ mới đào lại, nước ở Xích Hồ lúc ấy chỉ có ra mà không có nước vào. Mưa xong trời tạnh, không tới ba ngày nước đã lui hết, ruộng vườn, cây cối hoa màu, sông ngoi, đường sá lại ở lại hình dáng cũ. Đến tận lúc này, Tôn Tử mới sai Ngũ Tử Tư đón Ngô vương Hạp Lư vào thành.

Sau khi vào thành, Hạp Lư lập tức bàn với Tôn Tử việc cất quân đánh Tuỳ thành, bắt sống Sở Chiêu vương. Trước hết ông nói rằng:

– Quả nhân muốn tự mình cầm quân, đánh vào Tuỳ thành để Sở vương không kịp thở, và cũng tránh hoạ về sau. Ý nguyên soái thế nào?

Tôn Tử lặng im suy nghĩ hồi lâu, sau mới tha thiết nói:

– Tuỳ Thành là nơi địa thế hiểm yếu, tộc người Man cũng nhiều, nay nếu đại vương đến đó, chẳng may lỡ bước tới Man bang, Man tộc ắt sẽ xúm đến đánh nước Ngô ta. Nơi hoang dã nam rợ đó, quả thực không phải là nơi để đại vương thân chinh đến đó.

Hạp Lư rất lấy làm lo ngại nói:

– Quân Ngô dừng bước ở đây, để cho Sở vương đến Tuỳ thành ngồi tính toán tìm đường quay lại, thế thì có khác chi thả hổ về rừng.

Tôn Tử lại suy ngẫm một hồi nữa rồi nói:

– Dùng vũ lực để cố đánh hắn, chẳng thà thi hành chính sách nhân đạo với dân chúng Tuỳ thành, thu phục nhân tâm, đề họ quay về với nước Ngô, thế mới là thượng sách.

Hạp Lư thấy rất thích thú với đường lối chính sách đó của Tôn Tử, liền giục:

– Nguyên soái hãy nói tường tận ra xem nào?

– Theo thiển nghĩ của thần, trước hết ta hãy tung người do thám, đến Tuỳ thành dò la và tung tin, tuyên truyền rộng rãi, một là để ban ân huệ của đại vương ở Tuỳ thành, ca ngợi phẩm đức của đại vương; hai nữa là để an ủi võ về dân chúng sở tại, để lòng họ hướng về chúa công. Chờ sau khi thời cơ chín muồi, ra lệnh treo thưởng, bắt sống Sở vương. Kế này ắt hẳn là có thể làm được.

– Hay lắm! Nguyên soái quả thật là sáng suốt – Hạp Lư giơ cao ngón tay cái lên khen ngợi – thôi cứ làm theo kế sách đó của nguyên soái đi!

Những mật thám mà Tôn Tử sát đi, người nào cũng nhanh nhẹn, ai ai cũng thông minh, vừa mới đến Tuỳ thành đã vào được quan đệ, nhận những chức vụ quân trọng, một mặt là ban ơn ban phúc cho dân, không ngừng ca ngợi chính sách nhân đức của Ngô vương để thu hiệu quả phản gián, khiến cho dân chúng nghi ngờ Sở Chiêu vương. Cách đó không lâu, dân chúng Tuỳ thành, ngoài những lão thần trung trinh và đám thạc nho nơi thôn dã ra còn những lớp tuổi trẻ ít được học hành, phần lớn đều bị cảm hoá bởi những lời đường mật của đám mật thám này, lũ lượt ngả theo nước Ngô. Thấy thời cơ đã chín mùi, các mật thám liền tung ra lời yết thị: “Ai bắt sống được Sở vương sẽ nhận trọng thưởng một trăm lạng vàng và được Ngô vương phong cho quyền cao chức trọng”. Yết thị vừa tung ra, đám trai tráng ở Tuỳ thành đều nhao nhao lên định thử sức, người thì nói bọn ta bắt sống Sở vương để sang nước Ngô mà hưởng giàu sang phú quý; người lại bảo “Phải đấy! Kẻo nữa như bọn ta đây suốt đời không ngóc nổi đầu lên”. Cứ thế người nọ bàn với người kia, một xướng một hoạ liên miên không dứt. Những người cao tuổi và các bậc chí sĩ có đôi chút học vấn và các lão thần trung thành một dạ, thì cho rằng bọn trai tráng nông nổi không biết gì, chỉ hám mối lời trước mắt, phản bội lại ân đức của Sở vương, quả thực là đại nghịch và vô đạo. Đã có những lão thần phản ánh với Sở vương dân tình lúc này và xin Sở vương hãy lánh vào rừng sâu nơi cách đó ngoài trăm dặm. Sở vương nghe theo lời can gián của quần thần, đi vào rừng sâu lánh nạn, và cho người tung ra nguồn tin: “Trước đó mấy ngày, Sở vương đã chạy trốn đến trung nguyên, chẳng ai có thể bắt được”. Đó là chuyện về sau này.

Đã không đem quân để đánh Tuỳ thành, Hạp Lư liền hạ cho quân sĩ về đóng tại bãi luyện quân, vua tôi Ngô vương thì vào hoàng cung nước Sở. Đến trước cửa cung vua, mọi người xuống ngựa, tiếng hoan hô dậy đất, trống gióng vang trời tiền hô hậu ủng, đưa Ngô vương lên điện. Các quan văn võ ra chúc mừng rồi đứng chầu ở hai bên. Hạp Lư ra lệnh đặt hai chiếc ghế ở hai bên long án, ghế trên cùng giành cho nguyên soái Tôn Tử, ghế dưới giành cho phó tướng Ngũ Tử Tư để bày tỏ sự kính trọng đối với hai người, bởi vì nếu không có hai vị tướng tá tựa cánh tay phải, cánh tay trái đó, thì làm gì ngày vui hôm nay. Đồng thời còn cho người xuống nhà bếp dặn dò sửa tiệc, bày cỗ linh đình để ăn mừng thắng lợi vào Sính đô.

Hạp Lư ngồi trên bệ rồng, đưa mắt nhìn quanh gian điện hùng vĩ và sang trọng, thấy lòng say đắm ngất ngây. Ông nghĩ: Toà cung điện quý giá đàng hoàng và hoa lệ này của nước Sở, từ nay trở đi, sẽ là của ta, chiếc ngai vàng này của vua Sở, từ lúc này trở đi, cũng do ta yên hưởng. Lòng say sưa thể hiện ra nét mặt, Hạp Lư hể hả tươi cười, cái miệng vốn đã rộng, lúc này đây cười toét ra rộng như miệng chậu. Một người vui cho mọi người mừng, một người mừng cho mọi người hồ hởi, các quan văn võ trong điều hết thảy đều vui mừng theo Hạp Lư, duy chỉ có Ngũ Tử Tư là sụt sùi than khóc. Người ta, không thương tâm thì chẳng ai lại rơi nước mắt, lúc này đây trở lại Sính đô, thấy cảnh mà thương tình, Ngũ Tử Tư nghĩ lại chuyện xưa cha mình với hơn ba trăm người trong toàn gia đình bị giết hại: Chính ở gian điện này cha mình – Ngũ Xa – đã có lời khuyên răn Bình vương mà bị tống giam, cả Ngũ Thượng bị lừa vào Sính đô, còn chưa tới cửa cung đã bị tống vào lao tử tù, cùng bị giam cầm với cha mình, về sau cả hai cha con cùng bị giết trước ngọ môn, bản thân mình cũng bị ép phải chạy trốn đi, rồi Bình vương tàn nhẫn đã giết chết cả nhà từ trai đến gái, từ rẻ đến già tới hơn ba trăm người… đều bị rơi đầu dưới lưỡi dao. Nghĩ tới những cảnh đau thương đó, Ngũ Tử Tư làm gì mà chẳng đau lòng rơi lệ? Tôn Tử ngồi ở bên cạnh lặng im không nói câu gì, bụng nghĩ: “Hạp Lư cười, thì cứ để cho ông cười cho thoả thích đi, và ông đáng được cười, Ngũ Tử Tư khóc, cũng để cho ông ta khóc cho đã, ông không thể không khóc, còn như ta, những việc mà ta đã nhận lời làm giúp các người, ta đã làm gần như trọn vẹn, và lúc này ta cũng nên xác định hành động của ta trong những bước tiếp theo được rồi”. Thật là hay, ba người ngồi trong một gian điện, một người cười, một người khóc, một người lầm lì chẳng nói một lời, một người hả hê, một người thương tâm, một người nghiền ngẫm, mỗi người một nỗi lòng, mỗi người một mối tâm tư.

Ngũ Tư Tư khóc, Bá Bỉ cũng khóc, họ cùng bệnh nên thương nhau, cùng một nỗi buồn nên hiểu nhau. Hôm nay là một ngày vui lớn, vào lúc này, ở nơi này mà khóc lóc xụt xùi, vừa không đúng chỗ, lại cũng dễ làm người vui, Hạp Lư liền an ủi Ngũ Tử Tư mấy lời.

– Xin Ngũ tướng quân hãy ngăn dòng lệ, mối thù lớn của quý phủ, quả nhân chưa hề quên. Ngày mai quả nhân sẽ lệnh cho người phá dỡ hết tông miếu của nước Sở! – Bởi lúc đầu Ngũ Tử Tư từng đã nhờ người nhắn với Sở Bình vương rằng hắn dám giết hại cha anh của Ngũ Tử Tư, thì sau này Ngũ Tử Tư sẽ phá tan tông miếu của hắn.

Ngũ Tử Tư vội gạt nước và quỳ xuống:

– Đa tạ chúa công!

Tông miếu là nơi các bậc quân vương dùng để tế lễ tổ tiên, Chu lễ qui định, Thiên tử có bảy miếu, chư hầu năm miếu, đại phu ba miếu, những người khác nói chung chỉ có một miếu. Có điều cũng đều là nơi dùng để tế lễ, nhưng chỉ có thiên tử với chư hầu mới được gọi là tông miếu, còn đại phu và những người khác nói chung, chỉ được gọi là gia miếu. Tôn Tử vốn từ đầu ngồi bên không nói năng gì, nhưng đến lúc này thì không thể không lên tiếng:

– Chúa công không thể phá dỡ tông miếu của nước Sở, bởi vì phá bỏ tông miếu của nước Sở cũng coi như diệt Sở. Theo ngu ý của thần, hãy cứ để nước Sở tồn tại là hay hơn cả…

– Hả? – tiếng “hả” của Hạp lư buột ra khỏi miệng, cắt ngang lời nói của Tôn Tử – Quả nhân vất vả lắm mới mời được nguyên soái hạ sơn, mệt quân ở chốn xa xôi, cầm quân đi đánh Sở, qua năm trận mới vào được Sính đô, lẽ nào tay không trở về, nhường Sính đô cho Chấn Nhi, cái tên bỏ thành mà chạy đó ư?

Tôn Tử giải thích:

– Ý thần không phải thế! Chúa công đã rõ, phàm là đem quân đi đánh dẹp, thì thắng hay bại, còn hay mất, đều ở hai chữ “nhân nghĩa”, đội quân nhân nghĩa ra đi, mới mong toàn thắng. Bình vương đuổi con đi để cướp vợ, lại tin dùng bọn gian nịnh, trong thì giết hại người trung lương, ngoài thì hiếp đáp chư hầu, dân chúng oán than đầy đường, thiên hạ lòng người không phục, vì thế nên quân ta đánh Sở mới có thắng lợi hôm nay. Mà ngày nay kinh đô nước Sở đã bị chiếm, chúa công lại định phá huỷ tông miếu của họ, bá chiếm lâu dài đất này, lòng dân ắt sẽ oán giận, dân oán thì ta không đứng vững lâu được. Chi bằng giữ nguyên tông miếu của họ và để nước Sở tôn tại, lập công tử Thắng là con của thái tử Mê Kiến làm vua mới của nước Sở. Công tử Thắng trước đây đã từng chịu ơn cùng chia sẻ sống chết với Ngũ tướng quân, sau lại có mối tình cảm là được nước Ngô nuôi dạy nhiều năm, cảm kích trước ơn đức của chúa công, hàng năm ắt sẽ chăm lo tiến cống, thần phục nước Ngô ta mà như vậy dân nước Sở cũng sẽ vui lòng thành phục, chư hầu các nước ắt sẽ khâm phục sự đối xử nhân nghĩa của đại vương. Và như thế chúa công mới thực sự là vừa được tiếng lại vừa có miếng.

Phế truất Chiêu vương, lập công tử Thắng làm vua nước Sở. Nếu làm theo chủ trương đó của Tôn Tử, Hạp Lư chẳng những có tiếng vì đánh được nước Sở, mà không diệt Sở, tiếng tăm lại càng vang dội trong thiên hạ. Ngũ Tử Tư cũng thấy rằng lời lẽ của Tôn Tử là có lý. Lúc đầu bản thân mình chịu hết mọi gian khổ, thập tử nhất sinh mang công tử Thắng chạy trốn, thà bản thân nhịn đói cũng phải để công tử được no bụng, mục đích cũng là để giang sơn xã tắc nước Sở có người nối dõi. Sau khi Bình vương chết, Mê Kiến cũng không còn ở trên đời, đúng lẽ ra là lúc này công tử Thắng phải nối ngôi. Nếu ông ta là vua mới của nước Sở, mình với Ngô vương đều là ân nhân của ông ta, và như thế ông ta ắt sẽ xưng thần với nước Ngô, sau này hai nước Ngô – Sở liên kết với nhau, thì còn sợ gì sức mạnh của Tề, Tấn nữa.

Hạp Lư lại không cho là thế, nghe những lời bàn đó của Tôn Tử, ông ta liên tục lắc đầu:

– Sao nguyên soái lại có thể nói thế, quả nhân từ lâu đã ôm ấp ý chí xưng bá, ngày nay may mắn xuất chinh sang phía tây, chiến thắng được nước Sở, đâu há dễ được rồi lại vứt đi? Đúng lẽ ra là phải diệt Sở lúc này, sau đó nhân cái oai diệt Sở, thừa thắng mà quét thẳng đến trung nguyên, cho thành nghiệp bá. Đừng nói quả nhân ngày nào từng hứa với Ngũ tướng quân là sẽ thay ông trả mối thù lớn về việc cả nhà ông bị giết hại, ngay như không phải để trả thù cho Ngũ tướng quân, thì tông miếu của nước Sở cũng không thể không phá bỏ! Đó không phải là việc quân sự, do quả nhân làm chủ, nguyên soái không cần hỏi gì thêm!

Hạp Lư thế là đã nói trắng mọi nhẽ, Tôn Tử còn nói thêm được điều gì nữa? Ông chỉ thấy như đang có muôn ngàn mũi kim đang cùng một lúc đâm vào tim mình, khiến trái tim ông đang rỉ máu, và đau nhói từng cơn. Ông cảm thấy buồn rầu, không ngờ Hạp Lư vừa mới vào được kinh đô nước Sở, đã trở nên chuyên quyền ngang ngược như thế, không hề nghe lấy nửa câu ý kiến người khác, như thế thì làm sao có thể xưng bá thiên hạ được kia chứ? Ông cũng cảm thấy nực cười, Ngô vương cũng chẳng biết tự lượng sức mình với một ít binh mã hiện nay mà lại định chinh phục cả nước chư hầu, thế thì có khác gì muốn lên cả trời? Cũng bắt đầu từ lúc ấy Tôn Tử đã nảy ra ý định bỏ đi.

Quan điểm bất đồng, ý kiến trái ngược nhau, lời lẽ không ăn nhập, chẳng ai nói câu nào nữa, trong cung điện tràn ngập một bầu không khí u uất nặng nề, nhìn nhau chẳng nói câu nào, ai nấy vô cùng ngượng ngập. Cũng may giữa lúc đó có nội thị vào báo tiệc rượu đã bầy xong, thế là mọi người lần lượt rời cung điện, nối đuôi nhau vào phòng tiệc và theo thứ tự ngồi vào từng mâm. Rượu quả là một thứ rất hay, nó có thể khiến người ta phấn chấn, nó lại có thể khiến người ta đê mê muốn ngủ; nó có thể biến người thông minh thành gã hồ đồ, khiến anh lẩm cẩm thành nhà thông thái; nó có thể làm được ta quên đi hết thảy, nhưng lại cũng có thể gợi cho người ta nhớ lại nhiều điều không vui trong dĩ vàng; nó có thể gây nên tai hoạ, nhưng lại có thể dẹp bằng được sóng gió. Ba chén rượu ngà ngà trong bụng, không khí phòng tiệc bỗng sôi nổi hẳn lên, thế là chạm chén chúc mừng, ngoắc tay đánh đố uống thi với nhau, chén bát chạm nhau, không khí vui mừng tràn ngập. Cũng không biết đã qua mấy tuần rượu, dâng lên mấy đợt thức ăn, Hạp Lư thấy men rượu đã dâng lên, khắp mình nóng rực, phấn chấn vô cùng, liền nói:

– Các vị tướng quân! Mấy tháng nay, các vị đã cùng quả nhân chia sẻ mọi nỗi gian nan, lòng trung trinh của mọi người khiến quả nhân cảm động muốn rơi nước mắt. Ngày nay có được thắng lợi này, công lao ấy thực ra là sự góp sức của các tướng lĩnh, cho nên các quan đệ của tướng Sở sẽ để cho các vị sử dụng, cơ thiếp mỹ nữ của các tướng Sở, cũng giành cho các vị thừa hưởng.

Hạp Lư chưa nói hết câu, căn phòng tiệc bỗng ran lên tiếng vỗ tay và vang dội tiếng tung hô “vạn tuế”.

Xưa nay hai nước giao tranh, tất có bên thua bên thắng, bên thắng trận sẽ thừa dịp mà vơ vét cướp bóc, chuyện ấy đã từng thấy quá nhiều, không có gì lạ, tuy nhiên công khai đứng ra phân phối thế này như Hạp Lư, quả thật là hiếm thấy. Ngô vương đã ra lệnh như vậy, quần thần chẳng ai là không hoành hành vơ vét, kết quả là hai vua Đường – Thái đã chiếm hữu toàn bộ của cải của Thẩm Doãn Tuất, Bá Bỉ thì chiếm hữu toàn bộ cung đệ, cơ thiếp của Tử Tây, Công tử Sơn và Phu Khái đã xảy ra va chạm với nhau trong việc tranh nhau chiếm phủ đệ của Nang Ngoã, đến mức xuýt nữa xảy ra chuyện đao qua kiếm lại…

Từ đó về sau, Ngô vương và các tướng say đắm trong tửu sắc, sống một cuộc sống hết sức xa hoa dâm dật, ý chí ngày một sa sút, thể chất ngày một tồi tệ, tư tưởng ngày một rệu rã, chỉ có hai người là ngoại lệ, một là Ngũ Tử Tư, ông suốt ngày bận rộn với việc tế tổ báo thù, không bụng dạ nào để hưởng lạc cầu an. Một người nữa là Tôn Tử, ngày thứ hai sau bữa tiệc Hạp Lư mở ra để ăn mừng việc đánh được nước Sở vào được Sính đô, ông đã bí mật lẩn đến Tuỳ thành, việc đó là do nhu cầu thi hành nhân chính với dân chúng ở Tuỳ thanh, hay là cố tình lẩn tránh, chưa ai biết được.

Lại nói về cái đêm có bữa tiệc mừng đánh được nước Sở và vào Sính đô, Ngô vương Hạp Lư say lảo đảo đi tới hậu cung của Sở vương, chẳng chọn lựa, cũng không hề đắn đo, bước vào phòng ngủ của một phi tử, trong cung đang có một người đàn bà diêm dúa lẳng lơ, chẳng phải hỏi, cũng thừa biết đây là chủ nhân trong cung này. Chất men say dâng lên cùng với lửa dục cháy trong lòng đã khiến cho Hạp Lư không còn nhận được ra tuổi tác và tướng mạo của người đàn bà ấy, chỉ cần biết đó không phải là đàn ông, mà là đàn bà, lại ăn mặc loè loẹt, thế là nhào lên phía trước, ôm xiết vào lòng, rồi sờ soạng, rồi hôn hít, rồi yêu nựng không ngớt lời. Người đàn bà ăn mặc diêm dúa đó, thấy một ông vua nước ngoài, đã chẳng e dè, lại không thẹn thùng, mà như một ngọn lửa cháy đùng đùng… ả lúc thì tỏ ra suồng sã, lúc lại tỏ ra nũng nịu, cười khanh khách, hôn chùn chụt, rồi nhẹ nhàng mơn man, rồi êm ái ngả mình. Đã lâu ngày rời xa cung cấm và các phi tần, Ngô vương chịu đựng làm sao nổi trước sự quyến rũ và khêu gợi đó, liền mê man ôm lấy người đàn bà ấy vào lòng rồi nới áo cởi xiêm, cùng nhau vào màn. Đêm ấy Hạp Lư đã sống một đêm thực sự là ngọt ngào, thực sự là sung sướng, nhưng cũng quá mệt mỏi, xong mọi chuyện rồi, lăn ra ngủ như lợn, ngày hôm sau, mặt trời lên tới ba con sào, mới uể oải dụi mắt trở dậy. Thế nhưng, vừa mắt nhắm mắt mở, đã nhìn ra người nằm kề bên mình là một mụ già ngoài bốn mươi tuổi, mặt ả đầy những nếp nhăn, nhau nhúm như một bông cúc héo; mặt đã choắt lại gầy, ngũ quan như dồn cả lại một nơi, như một trái hạch đào héo nắng; phấn sáp bôi lên, bản mặt ả như da một quả bầu bôi vôi như một quả bí đao mọc nấm, như một bãi phân lừa bị ngấm sương, môi ả được bôi son, trông chẳng khác gì đít khỉ… Hạp Lư nhìn thấy thế, bất giác quẫy ra khỏi giường như một con cá, kêu rú lên:

– Quân bay đâu!

Nội thị nghe tiếng gọi vội bước vào cung vái dài:

– Đại vương có điều gì truyền dạy ạ?

– Gọi võ sĩ vào đây! – Hạp Lư gầm lên.

Một lát sau, hai võ sĩ hùng dũng, lăm lăm dao sắc trên tay bước vào cung.

Hạp Lư ra lệnh:

– Con mụ yêu ma kia ở đâu lại chui vào long sàng của ta, hãy mau lôi ra chém đầu!

Võ sĩ phụng mệnh nhào lên giường, lôi mụ già từ trong chăn ra, trói gô lại, kéo ra ngọ môn để chém đầu, mụ già oai oái luôn mồm kêu oan.

Mụ già ấy oan thật, ả vốn là Giai Lệ Phi, một sủng cơ của Sở Bình vương, một là bản thân ả càng lớn tuổi thì sắc đẹp phôi pha, hai là Bình vương có mới nới cũ, cùng với thời gian, ả trong cung ngày càng bị thất sủng, nhất là từ sau khi Mạnh Doanh vào cung, ả càng bị ghẻ lạnh, ruồng rẫy. Chó bị đuổi cùng đường, còn ngoái lại cắn mấy nhát, huống chi là con người. Giai Lệ Phi bất mãn, không phục, không cam, mới mâu thuẫn với Mạnh Doanh ngày càng trở nên sâu sắc. Cũng lại vì Giai Lệ Phi không biết điều, trong một lần điều qua tiếng lại, đã dám đánh Mạnh Doanh, gây nên hoạ lớn, thế là bị Sở Bình vương lấy cớ giam vào lãnh cung mười lăm năm. Chiêu vương trốn mất, Sở cung bị Ngô vương chiếm, Giai Lệ Phi được giải phóng. Nghe nói Ngô vương sắp vào hậu cung hành lạc, tần phi khác trong tam cung lục viện đều lũ lượt trốn tránh đi, Giai Lệ phi lại nắm được qui luật của con người lâu ngày rời xa cung cấm, ắt sẽ như kẻ đói không kém ăn, muốn làm vui lòng Ngô vương, cho thành chính quả, không ngờ lại toi mất cái thân già.

Giai Lệ Phi bị chém một lúc lâu rồi, mà trong lòng Hạp Lư vẫn thấy cồn cào, tựa như vừa ăn phải thứ gì thiu thối, luôn thấy lợm giọng, nhưng lại nôn không ra, nén không xuôi, cứ nôn nao mãi ở trong bụng.

Ngay chiều hôm ấy, Hạp Lư ra lệnh, tập trung hết các cơ tần xinh đẹp trong cung Sở lại một nơi, để tự mình thân chinh ngự chọn, tuỳ nhan sắc mà đánh số thứ tự, để lần lượt hưởng dụng sau này. Dưới con mắt của Hạp Lư, tần phi trong vương cung nước Sở thon thả có, xinh tươi có, yểu điệu có, nền nã có, phô bày rực rỡ có, xinh tươi bởi môi đào có, má như sáp nặn có, da trắng mịn màng có, về biểu hiện thì kín đáo trữ tình có, nồng nàn như lửa có, thẹn thò e ấp có, cởi mở hoạt bát có, về phong cách thì ung dung sang trọng như lan quân tử có, nhã nhặn nghiêm trang như phù dung ướt sương có, trong trắng kiêu sa như bạch ngọc lan cũng có, rực rỡ tựa lửa cháy như hồng đỗ quyên cũng có… Nhưng người khiên Hạp Lư hồn xiêu phách lạc vẫn là người được mang thứ tự một, một bậc có thể nói là tuyệt thế giai nhân, thân hình đã cân đối thì hình hài lại cân xứng, tóc xanh như mây lại hợp với khuôn mặt trái xoan và đôi mày lá liễu đôi mắt như quả mơ, đôi môi như trái đào, bước đi nhẹ nhẹ như sen lướt mặt hồ, đung đưa tới lui như liễu rủ trước gió, người con gái xinh đẹp tuyệt sắc đó không phải ai khác, mà chính là Chân Mai Phi, sủng cơ của Sở vương. Khỏi phải nói, dĩ nhiên đêm ấy, Hạp Lư đã ngủ lại ở cung của Chân Mai Phi.

Để nghênh đón thánh giá của Ngô vương, ngay từ đầu hôm, Chân Mai Phi đã chải chuốt vuốt ve, thay xiêm áo, sửa lại mái đầu, tô thêm làn mi, điểm lại son môi… Đương nhiên những việc này đều do cung nga thị tỳ làm mà không phải đến nàng tự tay làm. Nàng phải làm ra vẻ duyên dáng và nũng nịu hơn bao giờ hết để chinh phục Ngô vương. Nàng rất tự phụ, tin chắc rằng mình sẽ nắm phần thắng, cố làm sao ngay từ buổi tiếp xúc đầu tiên đã khiến hắn mắc phải lưới tình, ngoan ngoãn chịu làm tù binh. Cũng như đàn ông, đàn bà cũng đủ hình đủ loại, Chân Mai Phi thuộc tính thuỷ, họ chẳng cần biết đâu là phải trái thiện ác, lại càng chẳng thèm quan tâm gì đến khí tiết và tôn nghiêm, tận hưởng giàu sang sung sướng, là tôn chỉ cuộc sống của họ, đương nhiên, họ có một nguồn vốn là được ta yêu mến. Thứ nữ tính đó cũng khác nào như một đoá hoa tươi, cắm vào bình của ai, thuộc quyền sử hữu của ai, đặt vào phòng người nào, làm đẹp nơi ở cho ai… mà chả thế.

Sau bữa tiệc tối, Hạp Lư còn thưởng thức ca múa của nước Sở, rồi sau đó có nội thị theo hầu, cung nga xóc nách dìu về cung Chân Mai Phi.

Kể cũng lạ, hôm trước cũng vào giờ này, với mụ phù thuỷ đó Hạp Lư đã thể hiện hết thú tính điên cuồng, ấy thế mà lúc này, trước người con gái đẹp tuyệt vời thế này, lại bỗng trở nên đờ đẫn ngây dại, không hề xúc động, cứ y như là đang đứng xem một tác phẩm nghệ thuật quý giá, không nỡ động vào nó, sờ mó nó, như sợ sẽ làm nó hỏng đi mất. Tuy nhiên sự đờ đẫn ngây dại ấy, sự không hề xúc động, không dám động tay ấy chỉ là một thoáng qua, ngay sau đó, Hạp Lư như một con thú dữ trước con mồi mới vồ được, ngấu nghiến ôm chặt Chân Mai Phi vào lòng rồi chui vào trong màn làm gió làm mưa trong ấy.

Từ đó về sau, Ngô vương Hạp Lư như đắm chìm trong cung của Chân Mai Phi không mấy khi ra ngoài, hoặc nghe hát xem múa, hoặc uống rượu mua vui, hoặc gió gội mưa nhuần, không phân biệt ngày đêm, chẳng kể chi sớm tối, tất cả mọi thứ, nào là bá chư hầu, vương thiên hạ vv… đều tung hê lên tận mây xanh.

Hành động ấy của Hạp Lư, khiến những người có học hành hiểu biết của nước Ngô hết sức lo ngại, nhất là những bậc lão thần vốn xưa nay trung trinh một dạ, người nào người nấy ăn không thấy ngon, ngủ chẳng được yên. Những người như Đường Trọng Tiết, Diêu Nguyên Phùng, Đặng Quý Thiên, Thân Bá Đồ, Ôn Kê Cao vv… đều đã xấp xỉ bảy mươi, họ không nề hà vất vả gian nan, với những tấm thân già yếu, đường xa dặm thẳng, từ Cô Tô lặn ngòi ngoi nước tới Sính đô dâng một lời khuyên:

– Theo chúng thần được biết, sự khác biệt giữa con người và loài vật, là ở chỗ biết giữ lễ nghĩa và biết liêm sỉ…

Chưa đợi các lão thần nói hết câu, Hạp Lư đã dằn giọng hô lên:

– Tầm bậy! Lại dám nói với quả nhân những lời lẽ ấy, mục đích của các ngươi từ Cô Tô đến Sính đô làm gì, quả nhân thừa biết đi rồi, cái hạng già nua như các ngươi, hà tất phải khoe sức khoe tài! Các ngươi khỏi phải nói nhiều, kẻo nữa làm quả nhân mất vui.

Xưa nay trung ngôn vẫn hay nghịch nhĩ, quần thần há đâu vì vậy mà buông xuôi, họ vẫn thổ lộ bằng hết nỗi lòng mới đã, thế là tranh nhau nói:

– Tâu đại vương, sự phân biệt vợ chồng, là lẽ luân thường rất lớn của con người. Nước Sở bị diệt vong, cũng bởi Bình vương háo sắc, cho nên chính trị của đất nước ngày một rối loạn, lòng dân ngày càng ly tâm. Xe trước đã đổ thì xe sau phải tránh, xin đại vương hãy cho đóng các kho tàng của nước Sở lại, xa lánh nữ sắc của nước Sở, mau chóng về Cô Tô.

Đã bị nàng cơ xinh đẹp của nước Sở hút hồn, lại đắm đuối trong tửu sắc, Ngô vương Hạp Lư không nghe ra những lời khuyên can của các bậc lão thần, xua tay như xua gà xua lợn:

– Lui ra hết đi, con khuyên nhủ nữa thì chém đầu.

Một lần nữa các lão thần lại quỳ dưới đất hồi lâu, mang cái chết ra thay cho lời nói:

– Xin đại vương hãy nghĩ xem, vua nước Sở biết vợ mình bị làm nhục, ắt là sẽ tím mật căm gan, mang nỗi tức giận và thù địch ấy đến để trả thù, và như thế, tâm huyết cả chục năm của đại vương sẽ ra sông ra biển hết…

Ngô vương đang tức giận không chịu nổi, đã chán ngấy những lời khuyên chướng tai của các đại thần, bây giờ lại nghe thấy nói đến tâm huyết mươi năm đổ ra sông ra biển hết lại càng tức muốn nổ cả phổi ra, buột miệng chửi mắng ầm ĩ:

– Toàn nghe lời nói láo! Toàn nghe nói láo! Các ngươi mới là một lu phản tặc chỉ mong cho đất nước diệt vong!…

Hạp Lư không khống chế nổi mình, nổi nóng lên đùng đùng, đi đi lại lại trong phòng, một lát sau, hình như đã dứt khoát trong lòng, ông hô lớn:

– Quân bay đâu! Lôi mấy lão già chết tiệt này ra chém hết cho ta!

Các võ sĩ ùa vào, túm lấy các lão thần, nhưng các lão thần coi khinh cái chết, liên tục ngoái đầu tâu lên:

– Chúng thần chết cũng chẳng tiếc gì, chẳng ăn năn hối hận chút gì, chỉ mong được đại vương tỉnh ngộ, mau chóng trở lại Cô Tô, chỉ có như thế, nước Ngô mới được bền vững và yên hàn được lâu dài…

Năm bậc lão thần ở tuổi cổ lai hy bị chém đầu với tội danh là phản nghịch, các vị trung thần khác nghe tin, không ai không ngửa mặt lên trời mà thở dài.

Sự thay đổi của một con người thường có khi chỉ qua một đêm, từng có một thời Ngô vương Hạp Lư đã ôm ấp hoài bão trong lòng, từng làm nên việc lớn, từng khao khát người có đức, coi trọng người hiền, khiêm tốn tiếp nhận mọi lời khuyên giải, dũng cảm sửa chữa sai lầm, để chấn hưng nước Ngô, tình nguyện cùng ăn ở, chung tập tành với lính tráng… ấy thế mà lúc này đây bỗng chốc trở nên ngu độn như thế, thành một con người khác hẳn so với con người Hạp Lư mấy tháng trước, khiến người ta không thể nào tin ở điều đó. Còn như tại làm sao có sự thay đổi ấy quả thực là cả một vấn đề xã hội cần suy nghĩ sâu sắc…

Từ sau khi năm bậc lão thần khuyên ngăn rồi bị chém, chẳng còn ai dám tâu lên điều gì nữa. Ngô vương càng tỏ ra phóng túng suốt ngày chìm ngập trong rượu thịt, cả đêm say đắm trong múa ca.

Một hôm Ngô vương đi thăm các cung, qua hậu điện, thấy có một toà cung điện cửa đóng như bưng, Hạp Lư lấy làm thắc mắc, vẻ không vui quay hỏi thị tỳ:

– Ai ở cung này? Tại sao quả nhân giá lâm mà không biết đường ra mở cửa đón tiếp?

Thị tỳ đáp:

– Muôn tâu đó là nơi ở của Thái hậu Bá Doanh, mẫu hậu của Sở Chiêu vương ạ!

Hạp Lư nghe tâu báo, bất giác chột dạ giật mình, hỏi dồn:

– Thái hậu Bá Doanh? Phải chăng là công chúa Vô Tường nước Tần mà xưa từng gọi là vạn cổ mỹ nhân?

– Dạ bẩm đúng là công chúa Vô Tường ạ!

– Công chúa Vô Tường mà lại ở nơi này à?

– Dạ muôn tâu sau khi Sính đô bị đại vương công hãm, Chiêu vương muốn mang mẫu hậu cùng chạy trốn với mình, nhưng Thái hậu Bá Doanh sống chết không chịu rời kinh đô nửa bước.

Hạp Lư thầm nghĩ, tại sao công chúa Vô Tường lại không cùng chạy trốn với Chiêu vương, chẳng lẽ ngồi lỳ ở đây chờ chết hay sao? Hay là ngồi đây để đón đợi quả nhân tới? Nàng nhất định là biết khêu gợi đong đưa hơn là Chân Mai Phi. Ôi dào, người đẹp trong thiên hạ, có mấy ai mà lại không ong bướm lẳng lơ… Hạp Lư nghĩ thế vội sai quân hầu mở cửa cung ra.

Hạp Lư bước vào cửa điện, thấy thái hậu Bá Doanh xiêm áo chỉnh tề, ngồi ngay ngắn trên chính điện. Hạp Lư từ từ tiến gần lên phía trước, Thái hậu nhắm nghiền hai mắt, như không biết có Ngô vương giá lâm. Hạp Lư nhân dịp này nhìn nàng thật kỹ, thấy một con người tuy đã gần ở tuổi 50 mà sao vẫn sang trọng nền nã và đang còn phong vận. Da dẻ mịn màng, chưa hề có một nếp nhăn, vẫn rạng rỡ mê hồn như thiếu nữ. Thấy công chúa Vô Tường mà mình ngưỡng vọng đã lâu đang ở trước mặt mình, dung nhan và tư thế quả là siêu quần thoát tục, Hạp Lư bất giác thấy thú tính trong người bổng nổi lên, hoàng cung nước Sở có một người đẹp thế này mà mình lại chẳng biết, thì có đáng tiếc hay không? Hạp Lư bước tới trước mặt thái hậu Bá Doanh, thái hậu Bá Doanh vẫn không hề động đậy, hai mắt vẫn nhắm nghiền như cũ, không chịu nhìn thẳng vào Ngô vương. Nhưng Ngô vương cũng không vì thế mà tỏ ra giận dữ, ngược lại còn nhỏ nhẹ nói với Thái hậu Bá Doanh:

– Công chúa Vô Tường! Ta là vua của nước Ngô, ngưỡng vọng công chúa đã lâu…

Thái hậu Bá Doanh vẫn im như khúc gỗ, y như người đang nhắm mắt thả hồn đến tận đâu đâu. Hạp Lư nghĩ, công chúa Vô Tường rốt cuộc vẫn là đàn bà, lại là mẹ vua, đối với chuyện này đâu có thể vồ vập lộ liễu, chỉ có thể e ấp nửa ưng nửa không như vậy… thế là mỉm cười, cho rằng nàng ngồi trước mặt mình, lặng im không nói gì như thế, lại càng có vẻ hấp dẫn hơn, bất giác hí hửng: Đây mới chính là món chiến lợi phẩm quý giá của ta…

Kiên nhẫn chờ đợi thêm lúc nữa, thái hậu Bá Doanh vẫn không hề động đậy, Hạp Lư đành lên tiếng một lần nữa:

– Công chúa Vô Tường! Ta là vua của nước Ngô? Chẳng lẽ nàng không muốn đón nhận ta chăng?

Thái hậu Bá Doanh cuối cùng đã lên tiếng, bà ta lạnh nhạt, nhưng tiếng nói lại rành rẽ từng câu, tròn trịa như ngọc dũa:

– Ai gia không phải là công chúa Vô Tường mà là thái hậu Bá Doanh của nước Sở. Nước Sở nay đã mất, nhưng tông miếu xã tắc vẫn còn ở đây, nên một mình ở lại cung này. Ngô vương nếu hiểu được sự tôn nghiêm của tông miếu và xã tắc, xin xa giá hãy mau rời khỏi nơi này.

Hạp Lư mới nghe thấy thế, liền cười lên ha ha:

– Công chúa Vô Tường, quả nhân từ lâu đã được nghe nói đến vẻ xinh đẹp của nàng, hôm nay mới thấy, quả là danh bất hư truyền, và điều đáng quý hơn là nàng chẳng những dung nhan xinh đẹp mà tâm địa lại hiền lành lại mang theo tình cảm với tông miếu xã tắc của nước Sở, ở lại đây cố giữ, càng đáng kính nể.

Hạp Lư càng thêm ái mộ thái hậu Bá Doanh, bất giác bước tới nắm lấy tay bà ta. Thoáng cái, thái hậu Bá Doanh giương tròn mắt với ánh nhìn sắc lạnh, hằn học chiếu thẳng vào Ngô vương. Hạp Lư bỗng thấy toàn thân rung lên, giống như có một mũi dao gắm xỉa vào trúng ngực. Thái hậu Bá Doanh tay cầm con dao nhọn dằn từng tiếng một hăm doạ:

– Hạp Lư hãy nghe đây, từ thượng cổ đến nay vua có cái oai của vua, chúa có lễ nghi của chúa, ông là vua một nước, há chẳng nghe rằng vua mà thi hành chính sách thất đức, chư hầu không chí tiết, ắt là sẽ mất nước đó sao? Với hạng người ngu tối như các ông, diệt nước người ta, hãm hiếp vợ người ta, mất cả ý chí, đồi bại cả đạo đức như thế, thì ở lại nước Sở được bao lâu?

Là vua một nước, Hạp Lư chưa từng bị ai sỉ nhục thế bao giờ, chẳng những cụt cả hứng thú tình tứ, mà nóng quá hoá giận, nhảy lên gầm như sấm:

– Ai bảo không ở được lâu? Quả nhân đã ra lệnh, dỡ hết tông miếu của các người, đập phá lăng mộ của các người đi, để xem ngươi còn coi giữ cái gì?

Thái hậu Bá Doanh vẫn ung dung nói:

– Bọn sài lang thì cái gì mà chẳng làm ra được. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng càng làm điều ác cho lắm, thì lại càng chóng diệt vong, đó là cái lẽ ngàn đời không thay đổi vậy!

Hạp Lư bỗng trở nên điên cuồng, áp sát vào thái hậu Bá Doanh, rít lên:

– Quả nhân đã diệt được nước Sở, ngươi làm sao có thể thoát khỏi tay quả nhân? – Nói xong muốn chồm lên như chồm vào một con mồi.

Thái hậu Bá Doanh bình tĩnh hiên ngang căm giận nhìn Hạp Lư:

– Nay nếu tên kẻ cướp này mà dám làm nhục ta, ta ắt sẽ cho nó ôm đầu máu mà ra, rồi ta sẽ tự quyết lấy!

Tục ngữ có câu: “Vua cũng thua thằng liều”. Cho nên hành động vừa rồi của thái hậu Bá Doanh hoá ra lại làm cho Hạp Lư dịu đi một chút thật, vừa mới định “giết chết con mẹ này đi” thì trong óc bỗng hiện lên hình ảnh của năm vị lão thần vì khuyên răn nhà vua mà bị chém đầu, bỗng thấy những lời nói vừa rồi lại có những chỗ giống nhau với những lời khuyên của các bậc lão thần. Trong một thoáng trù trừ, Hạp Lư thầm nghĩ: Người ta thường bảo, sói khôn thì đừng đánh nhau với chó, đàn ông biết điều thì đừng đánh nhau với đàn bà, nghe nói đàn bà mà nổi cơn lên thì phiền lắm, thôi thì cứ để cho mụ ta sống. Nghĩ thế, Hạp Lư chau mày, vẻ mặt không vui, quay ra, phẩy tay áo bỏ đi.

Để trút hết nỗi giận trong lòng, về đến cung Chân Mai Phi, Hạp lư càng dâm lạc thả sức hơn, đắm vào tửu sắc hơn, không hỏi han gì chính sự nữa.

Nhiều chuyện trên đời cũng như trong đám cưới, lại cứ hay hỏng ở anh khiêng kiệu, thổi kèn. Một hôm, thái giám đi phố dẫn về hai người hát rong, họ là hai ông cháu, ông gảy đàn cháu gái hát, họ hát điệu bình đàn Cô Tô. Người nước Ngô hát điệu bình đàn Cô Tô, bao giờ vẫn có một âm vị độc đáo, vua tôi Hạp Lư lắng nghe cảm thấy vô cùng gần gũi và hết sức sướng tai. Cô gái hát dạo tên là Thái Phụng, tuổi vừa đôi tám, chẳng những hát hay mà người cũng xinh, mi mắt dài, tròng mắt to, đen trắng rõ ràng lung linh như hai làn sóng bạc, làn da trắng hồng và mịn màng, chẳng khác gì một quả táo chín, lồng ngực hơi nhô, đôi bầu vú vừa hơi nhú, như hai đoá hoa còn e ấp phong nhụy… Nghe xong một khúc hát, Hạp Lư sai người đưa ông già sang ngủ ở một căn phòng khác, còn Thái Phụng thì sai cho tắm rửa thay xiêm áo tinh tươm, trước hết ra hầu rượu nhà vua, sau đó cùng ngủ với nhà vua. Đêm ấy, không biết Thái Phụng đau đớn đến thế nào, chứ riêng Hạp Lư thì thực sự đã được tận hưởng mùi thôn dã, thú vị vô cùng, và cứ nói theo cách nói của Hạp Lư thì như thế gọi là “có thể ăn một miếng, thì đừng ăn một bữa”.

Nghe nói con mèo thời thượng cổ, vốn không biết ăn thịt sống, nhưng một khi nó ăn mà miệng vẫn thèm, thì cái mũi lại hếch lên và dài ra, cho nên về sau này chẳng có con mèo nào lại không biết ăn tanh. Một cô gái như Thái Phụng đã gợi nên cơn thèm khát cho Hạp Lư, khiến cho ông ta suốt ngày hồn xiêu phách lạc, đối với Chân Mai Phi hầu như không còn mê mệt quyến luyến như ban đầu nữa. Lại cũng chính những anh chàng khiêng kiệu, thổi kèn đã nhìn thấu tâm tư của Hạp Lư, họ biết rằng nhà giàu ăn mãi cá cả lợn lớn rồi cũng ngấy, cho nên thường thường muốn thay đổi khẩu vị, ăn những món đạm bạc hơn, thế là đi khắp các hang cùng ngõ hẻm, kiếm những cô thôn nữ đưa vào cung, để cho Ngô vương dâm lạc, Hạp Lư có dịp được ăn cả chay cả mặn, cả chất thị thành lẫn chất quê mùa. Và cũng từ đó Hạp Lư ở tịt trong cung, hầu như cách biệt hẳn với đời.

❀ ❀ ❀

[1] Là thành phố Tuỳ Châu tỉnh Hồ Bắc bây giờ.

Nguyễn Bá Thính
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Tào Nghiêu Đức

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.