Tôn Tử Truyện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 46 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Viii Cháu Đi Khảo Sát – Ông Đánh Nước Cử
Chương Viii Cháu Đi Khảo Sát – Ông Đánh Nước Cử

❊ ❊ ❊

Điền Vũ đến khảo sát ở Ô Điều.[1]

Y Doãn là đại thần đời Thang Thương của nước ta cách đây ba ngàn năm trước, tên chức quan là “a hoành” tương đương chức Tể tướng kiêm quân sư các triều đại sau này. Để thăm dò thực lực quân sự của Hạ Kiệt, Y Doãn đã hiến kế sách lên Thương Thang rằng:

– Thực lực của Kiệt mạnh đến đâu, sức kêu gọi của nó lớn tới đâu, chúng ta đều chưa biết cả. Có thể ta chống không cho Kiệt chở đồ tiến cống, mà chọc tức họ, để họ đánh ta, qua đó mà dò hư thực.

Thương Thang tiếp nhận ý kiến đó của Y Doãn, không chở đồ tiến cống cho Kiệt nữa, quả nhiên Kiệt tức giận, điều quân Cửu Di[2] đi đánh Thang Thương. Y Doãn nói:

– Nếu Kiệt có sức kêu gọi, thì chớ nên giao chiến.

Thế là Thang vội vàng xin lỗi Kiệt và đưa bù nhiều hơn vật tiến cống đẹp và lạ hòng để cho Kiệt bớt giận.

Năm sau Thang lại chống triều cống, Kiệt giận dữ hơn, lại định điều quân Cửu Di. Cửu Di phản đối việc gây chiến hàng năm, mệt quân mà hao tài tốn của, không nghe lệnh điều động, cuối cùng Kiệt chỉ thu gom quân lính của Tam Di đi đánh Thang được thôi. Y Doãn hiến kế nói:

– Kiệt không còn sức kêu gọi nữa, quân sĩ của Tam Di sĩ khí không cao, sức chiến đấu không mạnh, xin hãy mau mau mang quân đi đánh trả ngay.

Thế là Thương Thang liên hiệp với quân của các chư hầu, mai phục ở Ô Điều, nhử địch vào vòng chiến, rồi tiêu diệt toàn bộ quân địch, xây dựng lên vương triều nhà Thương. Đó chính là trận Ô Điều diễn ra vào năm 1763 trước công nguyên.

Trận Ô Điều đã nói với Tôn Vũ rằng: Tướng soái cần phải biết lường thời lựa thế, chờ thời cơ diệt địch.

Đường biên giới quan trọng giữa nước Sở nước Tống là Hoàng Hà: Chi nhánh của nó là sông Hoàng Thuỷ đã từng là một chiến trường ngày xưa quân đội của hai nước Sở, Tống giao chiến.

Lúc bấy giờ hai bên đóng quân ở hai bờ sông, quân Sở có chừng hai mươi vạn, mà quân Tống chỉ có năm vạn. Thế nhưng không kể quân đông hay ít, vượt sông ngay trước mắt địch mà sang, là điều ngu xuẩn nhất, ấy thế mà quân Sở lại khinh địch nghênh ngang cho lính vượt sông.

Mưu sĩ của nước Tống bấy giờ là Tử Ngư, thấy quân Sở vượt sông thì mừng vội tâu vua nước Tống:

– Quân Sở ngu dốt, nghênh ngang vượt sông, xin đại vương ra lệnh đánh, rất có thể thừa cơ tiêu diệt hết bọn chúng.

Tống Tương công vốn sẵn dạ từ bi, lắc đầu bảo:

– Tuy đối địch thật nhưng làm sao lại có thể hạ lệnh đánh khi quân địch đang qua sông chứ.

Sau khi quân Sở qua sông, thế trận bỗng rối loạn lên, Tử Ngu lại lần nữa tâu lên vua Tống:

– Dịp may không thể bỏ qua, xin đại vương ra lệnh đánh ngay ạ!

Tống Tương vương vẫn lim dim mắt không nói; ý vẫn không muốn ra lệnh đánh, và còn nói:

– Tuy là địch, nhưng quân đội bày thế trận còn chưa ổn định, quân tử đâu há lừa lúc người ta nguy khốn mà đánh…

Tử Ngư không nhịn được nữa, bực bõ nói:

– Chiến tranh là quyết một phen sống chết, trên chiến trường sao còn giữ được lòng bi chí – Nói xong phất tay áo, bỏ đi.

Kết quả của trận Hoằng Thuỷ, đương nhiên là quân Sở chẳng cần mấy mấy hơi sức mà diệt hết được quân Tống – đó chính là kết quả của cái gọi là “lòng nhân kiểu Tống Tương”.

Nếu nói về điều kiện tự nhiên của Hoằng Thuỷ, thì ngay khi quân Sở vượt sông, Tống Tương công nên dứt khoát quả quyết ra lệnh đánh, thì quân Sở sớm đã chui vào bụng cá sạch sành sanh chẳng còn một mống. Nhưng vua nước Tống lại để cho lòng nhân làm chậm trễ, làm lỡ mất thời cơ giành thắng lợi, kết quả là thất bại thảm hại.

Điền Vũ bồi hồi quanh quẩn mãi ở bờ sông Hoằng Thuỷ, trong đầu đang phân tích giữa lòng nhân và chiến tranh. Con người ta khác với muông thú ở chỗ có một trái tim nhân ái, bởi thế lòng nhân có sự tất yếu phải tồn tại của nó, nhưng lòng nhân không thể dùng ở mọi nơi mọi lúc. Nhân là tấm lòng từ bi của con người, mà quá trình chiến tranh tuy thủ đoạn có khác nhau, nhưng mục đích của chúng thì lại nhất trí với nhau, tức là dùng chiến tranh để ngăn chặn những hành vi hiện tượng bất nhân, tiêu diệt kẻ bất nhân, thì nhân mới có thể lan truyền khắp trong thiên hạ được. Những người mong dùng thuyết giáo để thi hành nhân chính, chẳng qua đó chỉ là một ước vọng tốt đẹp một ảo tưởng không sát với thực tế mà thôi.

Khảo sát xong chiến trường xưa ở Hoằng Thuỷ, Điền Vũ trở về quán trọ, ghi lại những điều mình sáng tỏ ra về lý luận binh pháp: “Không lợi dụng thoả đáng những điều kiện có lợi về địa điểm giao chiến, tất sẽ thất bại thảm hại”.

Sở Trang vương thời kỳ đầu mới nối ngôi, đắm đuối vào tửu sắc không để tâm gì để việc triều chính, tình thế đất nước ngày một suy thoái. Sau được các lão thần như Ngũ Tham, Tô Tòng nhiều lần can gián, mới sửa đổi thói hoang đàng chuyên tâm trị nước, chiêu tập được nhiều người hiền ở Ninh Hải là Tôn Thúc Ngao phong cho làm lệnh doãn. Để củng cố vương quyền, chấn hưng uy tín đất nước, Tôn Thúc Ngao đã khuyên can nhà vua đánh nước Trịnh. Nước Trịnh vốn bị kẹt vào giữa hai nước Tấn, Sở, lại kết đồng minh với Tấn. Nước Sở có đánh nước Trịnh, nước Tấn tất sẽ cứu viện, những cũng không thể nào kéo hết cả quân đội của nước mình đi, nước Sở tất sẽ dễ dàng đánh bại viện binh nước Tấn, uy danh sẽ vang xa. Trang vương chấp nhận lời can gián, giao cho Tôn Thúc Ngao làm nguyên soái, Ngũ Tham, Tô Tòng, Phạm Sơn, Quan Việt làm tứ đại tướng quân, thống lĩnh hai mươi vạn quân đi chinh phạt nước Trịnh.

Trịnh vốn là nước nhỏ, nên chỉ trong vòng ba hôm đã bị quân Sở bao vây chặt. Tấn Thành công được biết tình thế nước Trịnh quá nguy cấp, vội lệnh cho Trần Lâm Phụ làm nguyên soái, thân chinh đem mười lăm vạn quân chi viện nước Trịnh đánh nước Sở. Chẳng may là vừa xuất phát được hai ngày, Tấn Thành công chết trận. Để khỏi làm tăng khí thế của quân Sở, nước Tấn đã sai tướng đưa linh cữu Thành công về kinh, đồng thời đại quân vẫn tiếp tục hành tiến. Mười mấy ngày sau, đã đến bên bờ Hoàng Hà. Lúc ấy nước Trịnh không chờ đợi thêm được nữa, đã đầu hàng quân Sở. Sau khi nhận đầu hàng, quân Sở lập tức kéo quân về nước. Trần Lâm Phụ biên chế lại quân đội, lệnh cho Tiên Cốc làm tiên phong, Nguy Kỳ, Triệu Chiên, Triệu Anh, Triệu Quát làm đại tướng, vượt sông Hoàng Hà. Tiên Cốc tính khí thô bạo, vừa vượt qua sông, lập tức bám sát phía sau quân Sở. Lúc này, quân Sở đã hành quân đến đất Tất, các tướng đều hoang mang. Trang vương rất không yên lòng, nguyên soái Tôn Thúc Ngao thì tin chắc như đinh đóng cột, đã phân tích nhược điểm của địch và ưu thế của quân Sở:

Một là sĩ khí cao là yếu tố thứ nhất để quyết thắng, mà quân Tấn vừa bắt đầu ra quân đã bị chết vua, sĩ khí tất giảm sút.

Hai là chủ soái của địch là Tuần Lâm phụ thiếu lực thống soái, lại không am hiểu về binh pháp.

Ba là tiên phong của quân Tấn là Tiên Cốc có tâm lý về công lợi rất nặng, tính khí lại thô bạo, với mọi người thì kiêu căng, không hợp với các tướng lĩnh khác.

Bốn là giữa đường hành quân, đã thay đổi biên chế quân đội, hệ thống truyền lệnh chắc chắn là chưa được xác lập.

Thứ năm là quân ta vừa đánh bại quân Trịnh, sĩ khí còn hăng, quân địch thì sĩ khí sa sút, thế nên về mọi mặt quân ta đều chiếm ưu thế.

Ngũ Tham hoàn toàn đồng ý cách nhìn nhận của Tôn Thúc Ngao, còn bổ sung thêm:

– Nước ta từ xưa đến nay đều bị nước Tấn coi khinh, nay có thể nhân cơ hội này mà rửa nỗi nhục ngày trước.

Thế là Trang vương hạ lệnh tổng công kích. Ngũ Tham cử quân tiên phong đón đầu đánh cho quân Tấn một đòn đau. Tôn Thúc Ngao dẫn chủ lực của quân Sở vòng đến Hoàng Hà phục sẵn ở đó. Tôn Thúc Ngao trù tính rằng: sau khi Ngũ Tham tiêu diệt xong đội quân tiên phong của địch; quân địch còn lại sẽ chạy trốn ra Hoàng Hà, chủ lực của quân Sở mai phục ở đây tất sẽ tiêu diệt được toàn bộ quân địch. Có người đã dị nghị về cách bố trí như vậy: Nếu quân địch mai phục ở đấy trước ta, thì quân ta sẽ thất lợi. Tôn Thúc Ngao đã trả lời dứt khoát: Không thể như thế được, vì tiên phong của quân địch là Tiên Cốc, người này tính nóng như lửa, kiêu căng khinh địch, háo hức lập công, quyết không thể có đủ kiên nhẫn nấp ở một khe suối nào đó mà đợi quân Sở, trong khi chưa biết nó sẽ đi đâu.

Tôn Thúc Ngao đã dẫn chủ lực của quân Sở mai phục ở một khe núi vừa sâu vừa hẹp gọi là Bình Để là cái đít chai – đợi quân địch đến để tiêu diệt chúng.

Đúng là không ngoài dự đoán của Tôn Thúc Ngao, Tiên Cốc quả nhiên bị trúng vào ổ phục kích. Khi chừng một phần ba số quân Tấn đã lọt vào vùng “đít chai”, quân Sở bỗng nổi trống reo hò xông ra khỏi rừng cây, hăng hái xông lên giết địch. Lát sau, tiếng đao kiếm, tiếng ngựa hý, tiếng người kêu rú liên tiếp bên tai, chém đầu Tiên Cốc, ở dưới xe, toàn bộ quân Tấn bị tiêu diệt hết.

Đọc đến đoạn lịch sử chiến tranh này giữa quân Tấn và quân Sở, Điền Vũ rút ra được một câu kết luận như thế này: “Biết người biết mình, mới có thể trăm trận không thua”.

Điền Vũ đến Thành Bộc.[3] Năm 632 trước công nguyên, Tấn Văn Công đem quân của ba nước Tấn, Tề, Tần cứu nước Tống, từng quyết chiến ở đây với quân Sở đang vây quân Tống.

Trước khi giao chiến, vua tôi nước Tấn đã phân tích phán đoán rất tỉ mỉ các nhân tố có lợi và bất lợi của cả hai bên. Trong sử viết:

“Mùa đông, con vua Sở cùng các chư hầu vây Tống. Công Tôn Cố nước Tống là cháu của Tống Trung công cùng Như Tấn cáo cấp. Tiên Chẩn sau này là nguyên soái trong quân Tấn, nói: “Báo ơn và cứu người hoạn nạn (vì khi Tống Văn công sống lưu vong, từng được nước Tống giúp đỡ) lấy oai, lại xác định được vị trí bá chủ, chính là ở việc này.” Hồ Yển (là tướng nước Tấn) nói: “Sở mới được Tào, lại mới kết hôn với Vệ nếu đánh Tào, Vệ, Sở tất đến cứu, còn Tề, Tống thì lại thoát nạn (đây cũng là nguyên tắc sớm nhất vốn mang trong việc vây Nguy cứu Triệu sau này)”.

Trung tâm tư tưởng của Tiên Chẩn ở đây là muốn nhân dịp này, gây một cuộc chiến tranh để xác lập bá quyền. Sách lược của Hồ Yển lại cho rằng: Sở vừa mới thống trị Tào, lại có quan hệ thân thích với nước Vệ, nếu trực tiếp tiến công Tào, Vệ thì Tề, Tống sẽ thoát khỏi ách xâm lược của Sở. Tấn Văn công đã tiếp nhận sách lược này.

Mùa xuân năm sau, nước Tấn đem quân đi đánh nước Tào nước Vệ, đều giành thắng lợi, nhưng quân Sở vẫn tiếp tục vây Tống. Nước Tống lại sai Môn Doãn Ban đến chỗ quân Tấn cáo cấp. Tấn Văn công nói: “Người Tống đến cáo cấp, nếu bỏ qua không tìm cách cứu giúp, thì e hai nước sẽ đứt mất quan hệ ngoại giao, nói với nước Sở là không hoà giải, ta muốn đánh. Còn Tề, Tần tại sao không xuất quân?”. Tiên Chẩn đáp: “Giả sử người Tống bỏ ta, ta đút lót Tề, Tần mượn cớ đó đến nói với Sở? Ta nắm được vua Tào, lại lấy ruộng đất đã phân cho Tào, Vệ ban cho người Tống. Sở yêu Tào, Vệ tất sẽ không ưng cho làm thế. Tề Tần hí hửng vì được hối lộ và căm ghét nước Sở ngoan cố, như thế lại không đánh nhau sao?” Sách lược này của Tiên Chẩn quả thật là sáng suốt, chẳng những tranh thủ được Tề, Tần, mà lại còn chọc tức được nước Sở, buộc họ không thể không đánh. Như vậy sẽ đạt được mục đích “lấy oai mà xác định vị trí bá quyền”. Tấn Văn công đã hoàn toàn làm theo ý của Tiên Chẩn, hình thành một thế chiến lược vô cùng có lợi trước khi bước vào chiến đấu.

Khi cuộc chiến bắt đầu, nước Tấn hạ lệnh cho quân đội dưới quyền dùng da hổ trùm lên mình ngựa kéo xe, trước hết tiến công vào hữu quân của nước Sở. Hữu quân của Sở do hai quân đội nước của hai nước đồng minh là Trần, Thái hợp lại với nhau, sức chiến đấu rất tồi, gặp phải trận đòn xuất kỳ bất ý thế này, lập tức tan rã. Để dẫn dụ rồi tiêu diệt tả quân nước Sở sức chiến đấu tương đối yếu, chủ tướng thượng quân của Tấn là Hồ Mao sau khi đụng độ đã cố ý kéo hai lá cờ trắng dẫn xe vờ lui, chủ tướng hạ quân là Loan Chi cũng lệnh cho các chiến xa ở phía sau kéo cành cây ở sau xe làm bụi mù đường lên, ngụy trang là thua chạy. Thống soái quân Sở là Tử Ngọc không biết đó là mưu kế, hạ lệnh đuổi theo. Nguyên soái quân Tấn là Tiên Chẩn chỉ huy chủ lực của trung quân thừa cơ đánh cắt ngang quân Sở, thượng quân của Tấn cũng quay lại hiệp đồng, tả quân của Sở một phần lớn bị tiêu diệt hết. Tử Ngọc vội vàng hạ lệnh rút lui, mới giữ được trung quân mà trốn về đất Sở.

Khảo sát chiến trường xưa ở Thành Bộc, Điền Vũ thấy có ba điều tâm đắc:

Một là trước khi bước vào chiến đấu, phải phân tích tiến hành cuộc chiến đấu một cách nghiêm túc, tỉ mỉ và toàn diện, sau đó mới có thể nêu quyết tâm, vạch ra từng bước đi, tuyệt đối không được ứng chiến bừa bãi.

Hai là nghiệm lại được lời dạy của thầy Vương Hử khi ở khe Quỷ Cốc: Hình thái quân sự giống như nước; hình thái của nước là tránh chỗ cao mà chảy xuống chỗ trũng; hình thái quân sự là tránh chỗ thực mà đánh vào chỗ hư.

Thứ ba là việc quân sự không ngán gì dối trá.

Từ Thành Bộc, Điền Vũ đi đến Trường Chước của nước Lỗ. Năm 684 trước công nguyên, nước Tề tấn công nước Lỗ, đánh nhau ở Trường Chước. Lúc đầu, Lỗ Tráng công không chờ cho quân Tề mệt mỏi, đã dóng trống ra trận, bị Tào Quệ khuyên ngăn lại. Đợi đến lúc quân Tề thúc trống ba lần, đợt tấn công bị bẻ gẫy, cờ xí đổ, xe ngựa loạn xạ. Tào Quệ nói, có thể phản kích được rồi. Thế là quân Lỗ phản kích mạnh mẽ, đánh bại quân Tề. Sau trận đó, Lỗ Tráng công hỏi Tào Quệ về lý lẽ tại sao đánh thắng, Tào Quệ nói: “Kẻ dũng phu ra trận, đầy dũng khí đấy, một hồi trống còn hăng, hồi thứ hai đã giảm sức, hồi thứ ba thì kiệt sức, nó kiệt sức ta đang hăng, nên ta thắng”.

Từ cuộc chiến ở Trường Chước giữa nước Tề và nước Lỗ, nhất là từ những lời lẽ chắt lọc của Tào Quệ, Điền Vũ đã rút ra được một luận điểm nữa về binh pháp: Chỉ huy tác chiến, phải tránh chỗ sắc bén của địch, đánh vào chỗ ươn hèn của chúng.

Năm 781 trước công nguyên, nước Trịnh tấn công nước Vệ, nước Yên đem quân đi cứu viện, đụng độ với quân nước Vệ ở Bắc Chế.[4] Nước Trịnh đem ba quân bố trí ở mặt chính của quân nước Yên, một bộ phận khác đánh lén vào ngang sườn và phía sau. Quân Yên chỉ chăm chú phòng vệ ở chính diện, bị quân Trịnh đánh bất ngờ ở sau lưng, kết quả là thua to.

Thời Tề Hoàn công, đại tướng của Man tộc Lệnh Hữu vương và Hồ Trúc vương lần lượt mang mười vạn quân hợp lực xâm phạm nước Tề. Tề Hoàn công vội vàng triệu kiến tướng quốc nổi tiếng bấy giờ là Quản Trọng, bàn bạc xem nên đánh lại như thế nào. Quản Trọng nói: “Quân của Man tộc lực lượng hùng hậu, nếu đánh chính diện tất khó mà thắng nổi. Nếu cắt đứt được tuyến chi viện ở sau lưng địch, rồi phá huỷ kho lương của chúng, thì ba vạn quân tinh nhuệ của. ta có thể địch nổi hai mươi vạn quân địch.”

Quản Trọng sai đại tướng Cao Khê dẫn một vạn quân mai phục ở mé tây núi Thiên Trụ, cắt đứt đường tiếp viện của địch. Tôn Quản Thu mang năm ngàn binh mã đến Hạc Tử Cốc đốt kho lương của địch. Đại tướng Tân Tư Vô dẫn hai vạn quân đón đánh địch ở chính diện, đánh úp vào ban đêm. Quân Tề phía trước cho người nộm bằng rơm thật to đi tiên phong, đại quân núp sau những người rơm đó mà đẩy lên. Giờ phút tiến công đã đến, Tân Tư Vô mang hai vạn quân, trong đêm tối dóng trống hò hét, làm cho quân Man giật mình tỉnh giấc giương cung bắn loạn xạ. Quân Tề đã được chuẩn bị trước, tên của quân Man toàn bắn vào những người rơm, chẳng ai bị sây sát gì. Quân Man dần dần trở nên một lũ ô hợp, chạy tán loạn bốn phía. Tiếp đó Cao Khê mai phục ở phía sau, dẫn một vạn quân tinh nhuệ, chặn ở những cứ điểm quan trọng mà quân Man sẽ đi qua, chém giết đám quân lính tan tác bỏ chạy. Tôn Quản Thu mang năm ngàn binh mã đến Hạc Tử Cốc đốt sạch kho lương của địch. Lúc tảng sáng,. toàn quân đột kích đã giết sạch hơn một vạn tên còn lại của quân Man.

Khảo sát chiến trường xưa ở Bắc Chế và đỉnh Thiên Trụ, Điền Vũ tổng kết ra được một điều lý luận thế này: “Phàm là trong chiến đấu, lấy chính hợp, lấy kỳ thắng. Cho nên người nào giỏi xuất kỳ, thì sẽ bao la như trời đất, không cạn như sông ngòi.”

Năm 700 trước công nguyên nước Sở đánh nước Giảo, quân Giảo giữ thành không ra, quân Sở bèn dùng những người gánh củi không có lính hộ vệ để dụ quân Giảo, để cho người Giảo bắt được ba mươi người của Sở. Thấy có mối lời, ngày hôm sau quân Giảo ra đông hơn. Lúc bấy giờ, quân Sở phục sẵn ở chân núi mới bất ngờ xông ra, đánh bại quân Giảo.

Trận đánh này xem ra rất giản đơn, nhưng từ trong đó, Điền Vũ lại rút ra được một điều về lý luận binh pháp: “Lấy những lợi ích nho nhỏ để nhử mồi và lôi kéo được địch; lấy quân mai phục chờ thời cơ mà tiêu diệt địch.”

Năm 615 trước công nguyên, nước Tần đánh nước Tấn, nước Tấn cử Triệu Thuẫn làm trung quân nguyên soái đến Hà Khúc[5] để đớn đánh. Nhằm đúng đặc điểm quân Tần là phải viễn chinh ra nước ngoài, khó có thể giữ lâu được, nên quân Tấn đã áp dụng phương châm “đóng lì trong đồn luỹ” chờ chúng rút mà đánh. Do đánh lâu không thắng, quân Tần quyết định rút lui nhưng để giữ kín ý đồ đó, sai sứ giả dùng lời lẽ cứng rắn, hẹn quân Tấn hôm sau lại đánh. Ý đồ đó của quân Tần bị Du Biền, một phó tướng của thượng quân Tấn phát hiện ra, đề nghị nhân lúc chúng rút lui hãy đem quân chia cắt mà đánh. Nhưng do những người như thượng đại phu Triệu Xuyến vv… phản đối nên đề nghị ấy không được thực hiện, để cho quân Tần ngay trong đêm ấy đã rút lui an toàn.

Trận đánh này đã nói với Điền Vũ rằng: “Kể cả bên địch có sai sứ giả đến dùng những lời lẽ cứng rắn đe doạ và trong hành động cũng tìm ra vẻ ép sát, đấy thường thường lại là dấu hiệu của sự rút lui.”

Năm 645 trước Công nguyên, nước Tần nước Tấn đánh nhau ở Hàn Nguyên,[6] do không thuộc địa hình, quân Tấn đã để chiến xa sa vào vùng lầy lội, không tiến lên được, toàn quân bị tiêu diệt, Tấn Huệ công bị bắt sống.

Năm 589 trước công nguyên, Tề Khuynh công bị quân Tấn đánh thua, trong khi rút lui cũng không thông thạo địa hình, chiến xa bị cây rừng cản lối không tiến lên được, thương vong rất nặng nề, Khuynh công suýt nữa bị bắt.

Hai ví dụ này trong chiến tranh đều nói lên một điều trong chiến đấu, thông thuộc địa hình là một yếu tố vô cùng quan trọng, Điền Vũ đọc xong cũng đúc rút rà một điều: “Nói về địa hình, nó giúp ích nhiều cho quận đội. Liệu địch mà thắng nó, tính toán đến sự hiểm trở, xa gần, đó là cái đạo của chủ tướng vậy. Biết điều đó mà vận dụng vào chiến đấu; tất sẽ thắng, còn ai không biết điều đó mà đánh thì chỉ có thua.”

Ngày xưa Triều nhà Thương hưng thịnh, là do đã biết trọng dụng người làm quan từ thời nhà Hạ là Y Doãn; nhà Chu hưng thịnh, là do biết trọng dụng bầy tôi tại triều là Lữ Nha. Từ đó Điền Vũ rút ra được một điều quy luật: “Cho nên những bậc minh quân, hiền tướng, biết dùng những người có trí cao mưu sâu làm nội gián, thì công lớn sẽ thành, đó cũng là việc hết sức hệ trọng trong việc cầm quân chiến đấu, cả một đạo quân đều dựa vào những tin tức do gián điệp cung cấp mà áp dụng hành động”.

Lặn lội đường dài hơn hai năm trời, Điền Vũ lại quay về Lâm Tri để báo cáo lại với ông nội. Một hôm, Điền Vũ ra phía tây kinh thành Lâm Tri, thuận theo dòng Thời Thuỷ đi lên theo hướng Tây bắc, đến khảo sát ở chiến trường xưa mà trong sử gọi là “Trận Cán Thời”

Năm 685 trước công nguyên, Tề Hoàn công mới lên ngôi, tranh chấp ngôi vua với công tử Trợ. Lỗ Tráng công thân chinh mang quân đi đánh nước Tề. Quân nước Lỗ đi tới chân thành ở biên giới nước Tề, thấy cổng thành đóng im ỉm, trên thành gươm đao tua tủa như rừng, canh gác rất nghiêm ngặt, rất nhiều binh lính tay cầm cung tên, mặt đằng đằng sát khí. Quân Lỗ hô vang, trên thành vẫn chẳng ai nói ai rằng, Lỗ Tráng công thấy cảnh đó tự dưng nổi nóng ầm ầm, lập tức ra lệnh công kích vào thành. Đại tướng Tào Mạt đi trước hết dẫn mọi người leo thang mây lên mặt thành, huơ cây hoá kích lên, một lúc giết chết hơn chục tên lính Tề. Quân Lỗ được thể lũ lượt leo lên mặt thành. Tướng giữ thành của quân Tề thấy thế, huýt gió một tiếng, quân Tề lập tức rút xuống khỏi thành, lên xe bỏ thành mà chạy. Quân Lỗ mở toang cổng thành, chiến xe rầm rầm rộ rộ vào biên thành cửa nước Tề. Lỗ Tráng công ra lệnh thừa thắng truy kích, đến thẳng Lâm Tri.

Dọc đường, chốc chốc quân Lỗ lại nhặt được khí giới, đồ dùng của quân Tề vứt lại, hầu như không còn có thể gặp sự ngăn cản nào của quân Tề nữa, cứ thế xông thẳng vào, rất nhanh đã đuổi đến Thời Thuỷ (hay còn gọi là sông Cán Thời).

Thời Thuỷ là con sông nằm ở phía tây kinh đô Lâm Tri của nước Tề, thuận theo thế đất chảy từ nam lên bắc và đổ vào Lạc An. Ở phía tây bắc Lâm Tri chừng mươi dặm, ngang sông có một cây cầu gỗ, đây là đường từ nước Lỗ đi sang kinh đô nước Tề là Lâm Tri, hai bên sông tuy chẳng có núi cao vách đứng nhưng ngòi lạch lại chằng chịt, cây cối mọc kín đất, chiến xa không còn đường nào khác để đi.

Quân Lỗ đuổi tới bờ sông, thấy cầu trên sông đã bị dỡ bỏ đi rồi, nhưng nước sông thì không đến nỗi nước chảy ào ào cuồn cuộn, cho nên vội lệnh cho chặt cây bắc cầu. Qua cuộc hành quân đường dài, quân Lỗ đã mệt mỏi lắm rồi, nay nghe thấy Lỗ Tráng công hạ lệnh, cũng chẳng dám nghỉ ngơi, lập tức chia nhau vào rừng chặt cây rồi chuyên chở, qua một hồi vất vả, khó khăn lắm mới bắc được cây cầu tạm. Quân Lỗ đang vừa định nghỉ ngơi một lúc, bỗng thấy từ bờ sông bên kia, hàng chục cỗ chiến xa của quân Tề đang lớn tiếng hò hét định xông sang bờ bên này. Thấy số quân Tề không đông lắm, Lỗ Tráng công cười lạnh lùng rồi hạ lệnh cho Tào Mạt dẫn quân qua cầu.

Tào Mạt là một viên mãnh tướng, có sức khoẻ hơn người, hắn hô một,tiếng rồi là người đầu tiên đánh xe qua cầu, quân Lỗ ở phía sau cũng nhao nhao ùa lên, xông về phía quân Tề. Quân Tề bắt đầu giương cung bắn trả, quân Lỗ mải xông lên trước, nên chết khá nhiều. Nhưng quân Lỗ mỗi lúc một nhiều, quân Tề không chống cự nổi, tháo lui hết đợt này đến đợt khác.

Thấy quân Tề tháo lui, Lỗ Tráng công mừng như mở cờ trong bụng, luôn mồm hô hét: “Mau! Mau qua cầu! Xông thẳng đến Lâm Tri, giết cho không còn một đứa trẻ con nào, để cho ta hả giận…” Xem ra có đến một nửa số chiến xa của quân Lỗ đã qua cầu, không ngờ, khi “nhung xa”[7] của Lỗ Tráng công vừa đi tới đầu cầu bỗng nghe thấy tiếng “ì ùng” rất lạ vang lên, Tráng công ngẩng đầu lên nhìn, bỗng thấy từ thượng du nước sông như một con rồng khổng lồ đang vùng vẫy phun bọt trắng, cuồn cuộn lao tới, cùng lúc ấy, lại thấy ở hai bên cầu ở phía bờ bên kia, từ trong rừng, từ các ngòi lạch vang lên tiếng hò la ầm ĩ, trong nháy mắt, xông ra vô số quân Tề, cả đám quân Tề rút chạy ở phía trước, cũng đột nhiên quay xe lại, đánh tới. Từ ba mặt, quân Tề vây chặt vây chặt đám quân Lỗ vừa qua sông, lại còn hai cánh quân Tề nữa ở hai bên xông thẳng đến đầu cầu, nhằm thẳng vào đám quân Lỗ đang ở trên cầu mà bắn tên. Chiến xa của quân Lỗ ùn lại trên cầu, tiến không được mà lui cũng chẳng xong. Lỗ Tráng công bỗng sợ đến vàng cả mắt, đứng ngây ra một chỗ như gỗ như đá tạc ở đấy. Cũng may mà mưu sĩ Thi Bá ở cạnh nhà vua lệnh cho võ sĩ Tần Tử và Lương Tử đẩy những chiếc xe cản đường phía sau xuống sông để “nhung xa” của Lỗ Tráng công quay được đầu lại chạy về.

“Nhung xa” của Lỗ Tráng công vừa đi đến đầu cầu, bỗng nghe thấy một tiếng “ùm” rất lớn, cây cầu gỗ bị nước cuốn phăng đi mất. Nhìn những con sóng hung dữ cuồn cuộn dưới sông, Lỗ Tráng công bất giác đưa tay lên gạt những giọt mồ hôi đầm đìa trên trán mình, lại nhìn sang đám quân Lỗ ở bờ bên kia, đang bị quân Tề chia cắt ra làm mấy đoạn, đằng chết, đằng bị thương. đằng thì tàn phế, tên nào sống sót cũng bị bắt sống hết…

Khảo sát xong chiến trường xưa ở Cán Thời, Điền Vũ đã đúc kết ra hài điểm lý luận về binh pháp.

Một là lấy kẻ nghỉ ngơi đánh người mệt mỏi.

Hai là nếu quân địch vượt sông mà tới, đừng có đợi chúng qua hẳn rồi mới đánh, mà nên đánh ngay khi chúng đang còn ở giữa dòng, sẽ có lợi hơn.

Hơn hai năm nay, Điền Vũ cứ ban ngày thì lặn. lội bôn ba khảo sát các chiến trường xưa, đến đêm mới lui về ở nơi quán trọ hẻo lánh, phủ phục dưới ánh đèn tù mù, hoặc là đọc lịch sử chiến tranh, hoặc chỉnh lý những điều đã đọc, ghi chép kết quả khảo sát, lần lượt tập hợp được hàng chục quyển. Đương nhiên, những ghi chép và cảm nhận đó đều vụn vặt và nông cạn sau này cần phải tập trung thời gian và tinh lực để chỉnh lý, sửa chữa, hệ thống và nâng cao.

Để khoe khoang thế nước hùng mạnh, và cũng để đe doạ chư hầu, năm 523 trước công nguyên, Tề Cảnh công muốn tuần du xuống phía nam tới nơi biên cương xa xăm, sau đến Thái Sơn để phong thần, tế trời lễ đất, bày tỏ với thần linh rằng nước Tề là nước lớn ở phía đông, hiện lúc này đang quốc thái dân an, vua nước Tề hiện nay không hổ thẹn là con cháu của Hoàn công…

Từ Lâm Tri đi theo hướng nam, chưa tới một trăm dặm là đến vùng núi Thái – Nghi, vùng này vốn do thế núi hiểm trở, đường đi gập ghềnh, xe đi vô cùng vất vả lại thêm mấy năm liền mưa lụt, đường núi nhiều chỗ bị sạt lở. Để đảm bảo chuyến tuần du xuống phía nam được thông đồng bén giọt, ngay từ đầu mùa xuân, Tề Cảnh công đã sai sứ thần đến nước Cử, giao cho Cử Cộng công tổ chức dân công, sửa chữa đường sá. Cử là một nước nhỏ, sớm đã là nước phụ thuộc vào nước Tề, hàng chục năm nay, đối với nước Tề luôn tỏ ra ngoan ngoãn, bảo thì nghe nói thì làm, chưa bao giờ dám tỏ ra bướng bỉnh. Ba bốn năm gần đây, lại năng đi lại với nước Sở (chắc nước Cử định dựa vào đấy để khỏi phải lo sợ chăng) vì thế nên lạnh nhạt quan hệ với nước Tề. Đối với mệnh lệnh của Tề Cảnh công về sửa chữa đường sá, Cử Cộng công tuy vâng vâng dạ dạ nghe theo, nhưng lại lẫn lữa không chịu bắt tay vào việc. Mùa hạ qua, mùa thu tới, ngày tuần du phương nam của Cảnh công sắp tới, nước Cử không hề có ý lo lắng đến công việc. Tin tức truyền đến tai, Tề Cảnh công nổi trận lôi đình. Đúng lúc đó lại có đại thần ngoại giao dâng sớ, nói nước Cử đã ba năm nay bỏ không tiến cống, thật đáng ghét lắm thay, không đánh không thể hiện được cái oai của nước Tề, diệt nước Cử để tăng thêm khí thế. Tề Cảnh công đang tức nước Cử đầy một bụng, sớ tấu này của đại thần ngoại giao chẳng khác gì như đổ dầu thêm vào lửa, thế là lập tức ban ngay chiếu chỉ, sai Cao Phát đem quân đi đánh nước Cử, để dạy cho nước này một bài học. Quân Tề đi đánh nước Cử chẳng khác gì như hổ vào lán cừu, quân nước Cử mới nghe đã sợ mất mật, chưa đẩy đã đổ tan tác tơi bời… Mấy ngày sau quân Tề đã tới kinh đô nước Cử. Cử Tử không dám đưa quân ra đón đánh, mới nghe tin đã bỏ thành mà chạy đến Kỷ Chướng.[8] Cao Phát kéo quân về triều, do không bắt được Cử Cộng công nên bị biền chức, Tề Cảnh công lại cử Điền Thư đi đánh dẹp. Điền Thư gửi quân lệnh trạng[9] lên Tề Cảnh công bày tỏ rằng nếu không bắt sống được Cử Cộng công, thì sẽ tự xách đầu mình đến gặp nhà vua.

Kỷ Chướng là một thành ấp của nước Cử. Thành tuy không lớn, nhưng địa thế lại cực kỳ hiểm yếu. Nó hùng cứ trên một gò cao giữa vùng núi non chót vót, không đi gần đến nơi rất khó phát hiện ra. Những đỉnh núi sườn non ấy chính là bức bình phong thiên nhiên của nó, cũng có thể nói là bức tường thành bên ngoài của nó, mức hiểm yếu của địa thế đúng với câu “một người chặn giữ, muôn người khó qua”. Bốn xung quanh gò cao, lại là những rãnh sâu hào rộng tạo nên cho Kỷ Chướng một thứ thành trì thiên nhiên. Những núi cao vách đứng, những hào rộng rãnh sâu đó cùng vây quanh Kỷ Chướng, có thể nói là làm cho nó vững như bàn thạch. Hèn nào Cử Tử lại chẳng co cụm vào đây, bằng chân như vại. Thảo nào mà Cao Phát lại không dám đánh lên Kỷ Chướng, bỏ dở mà về. Thảo nào Tề Cảnh công lại chẳng cử Điền Thư đi đánh nước Cử lần thứ hai để bắt sống Cử Cộng công.

Chưa nói đến chuyện Điền Thư đi đánh nước Cử, trèo đèo lội suối rầm rầm rộ rộ thế nào. Chưa nói đến việc Cử Cộng công cứ việc ở thành Kỷ Chướng mà ca múa thanh bình, say sưa với rượu ngon gái đẹp như thế nào. Cũng chưa nói đến tướng sĩ trong quân đội nước Cử ỷ vào thế hiểm giữ thành, muốn quyết sống mái một phen với quân Tề như thế nào… Mà chỉ nói đến chuyện một bà cụ già ở trong thành Kỷ Chướng, sống trơ trọi một mình, lẻ loi đơn chiếc, từ khi nước Tề đánh nước Cử đến lúc này, ăn uống thất thường, đêm ngày phiền muộn.

Bà cụ già ấy tên là Lưu Đích Phạm, khi còn con gái cũng vào hàng xinh đẹp, đủ để cho nhiều chàng trai say như điếu đổ. Chồng bà là Triệu Uy Hổ, mình cao hơn trượng, lưng to hàng ôm, đầu như cái đấu, mắt như chuông đồng, đứng đâu thì lừng lững như tháp như gò. “Uy hổ” vốn là cái biệt hiệu, nói rằng hình dáng ấy đến hổ báo cũng phải sợ mà tránh xa. Người coi biệt hiệu ấy là xấu thì gọi để ghét bỏ ông; người coi biệt hiệu ấy là tốt thì gọi với ý quý mến ông. Người này gọi, người kia gọi, lâu lâu rồi người ta quên khuấy mất tên thật của ông. Còn người được gọi thế, cũng sẵn sàng cam chịu lấy giả hay thật, tự xưng béng ngay là Triệu Uy Hổ cho xong. Triệu Uy Hổ không những tướng mạo khác người, mà lại có sức khoẻ như trâu, dũng mãnh như hổ, bởi thế mới được Cử Cộng công phong cho làm tướng quân, nhiều lần nhận lệnh cùng Điền Thư tham gia trận mạc. Điền Thư với Triệu Uy Hổ tuy là hai vị tướng của hai nước Tề, Cử, hơn nữa quan hệ giữa nước Tề với nước Cử là quan hệ giữa thầy và tớ, thế nhưng hai bên lại hợp tác với nhau rất chân thành, phối hợp với nhau rất ăn ý, cuộc sống chinh chiến trận mạc chung đã khiến hai người kết nên tình bạn thắm thiết như tình anh em, cho dù sau này không chinh chiến, sự đi lại giữa hai người vẫn rất là thân mật.

Cử Cộng công là một thứ hôn quân, không biết đâu là thật giả, chìm đắm trong gái đẹp rượu ngon, thường chẳng ngó ngàng gì đến việc triều chính. Trước mặt nước Tề hùng mạnh, chẳng qua chỉ như là thứ tay sai chó săn cúp đuôi theo sau, để sống bằng sự o bế của người khác. Cộng công có một người ái phi tên là Trương Tiệp Dư, anh ả là Trương Sùng Nghiêu, dựa vào thế lực cô em nắm quyền bà chúa trong lục cung, hắn cũng ngoi lên đến ngôi thái tể, nắm trong tay mọi quyền bính của nước Cử. Đây cũng lại là một gã vô học bất tài nhưng vô cùng hám sắc. Hắn sớm biết được phu nhân của Triệu Uy Hổ là Lưu Đích Phạm có sắc đẹp cá lặn chim sa, nghiêng nước nghiêng thành, nên rắp tâm muốn chiếm về mình, suốt ngày cuống cuồng vò đầu gãi tai ngơ ngẩn cả người, mất hồn mất vía. Mượn cớ một lần Triệu Uy Hổ đem quân đi đánh dẹp, Trương Sùng Nghiêu vờ đến phủ tướng quân với danh nghĩa công cán, dùng những trò đê tiện làm nhục Đích Phạm. Sau khi bị làm nhục, Lưu Đích Phạm lẽ ra muốn chết để giãi tỏ lòng trinh bạch. Nhưng nghĩ lại thấy rằng chồng mình đang đi xa, một mình chết âm thầm như thế, lúc chồng về, không rõ gót đầu ra sao, thì nỗi oan của mình mãi mãi không sao sáng tỏ được. Nghĩ như thế, bà đành chịu khuất nhục, không bước ra khỏi nhà, đợi mãi cho đến ngày chồng đi đánh giặc trở về. Triệu Uy Hổ tuyệt đối tin ở vợ mình, càng hơn ai hiểu rõ đường ăn ở của Trương Sùng Nghiêu, ông tạm nén cơn lửa giận trong lòng, an ủi vợ mình hãy nhẫn nhục mà sống, đợi ông tìm cơ hội giết chết thằng giặc này trừ hại cho dân cho nước rửa nhục trả thù cho vợ. Lần này mang quân đi đánh giặc, Triệu tướng quân là người ca khúc khải hoàn về triều. Để mừng công, Cử cộng công sai bày tiệc lớn để thết đãi quần thần. Đây chính là dịp tốt, Triệu Uy Hổ nhất định phải làm cho Trương Sùng Nghiêu phải trắng mắt ra, để văn võ quần thần trong triều nhìn rõ bộ mặt xấu xa bỉ ổi của hắn. Thế là nhân lúc trong mâm tiệc, thái tể đứng dậy đến chúc rượu, ông mượn rượu đưa tay thộp lấy ngực hắn và hỏi tội. Trương Sùng Nghiêu còn đang tìm lời chối cãi, thì Triệu Uy Hổ đã vung tay phải lên, giáng một đấm thật mạnh vào đầu hắn, Trương Sùng Nghiêu chết ngay tại chỗ, óc vọt ra tung toé khắp nơi, làm cho phòng tiệc trở nên vô cùng thảm hại. Một quả đấm của Triệu Uy Hổ giáng xuống biến tiệc mừng công thành buổi lễ tang. Vị thái tể đứng trên mọi người, chỉ dưới có một người thế là toi mạng. Song thế há lại chẳng là quốc tang? Nhưng cũng lại là hội mừng, vì đã trừ được một tên quốc tặc, một cái thây ma hại nước hại dân. Các quan văn võ trong triều, ai chẳng hân hoan mở cờ trong bụng, thầm vỗ tay reo mừng. Có điều tất cả nỗi vui mừng đó mọi người đều phải giữ kín trong lòng, không thể để lộ ra sắc mặt. Triệu Uy Hổ đứng giữa triều đình đông đảo, qua mặt cả nhà vua, đấm chết cả thái tể, còn là quốc cữu, tội không thể tha chết được, nên lập tức bị xử tội chết. Có điều nghĩ đến Trương Sùng Nghiêu làm nhục vợ một công thần lương tướng, cũng thuộc một trong mười tội ác không tha được, hơn nữa Triệu Uy Hổ lại bao lần có công với nước, nên đã miễn tội cho quyến thuộc họ hàng của ông, vợ và các con của Triệu Uy Hổ vẫn được sinh sống ở kinh đô nước Cử.

Sau khi chồng chết, Lưu Đích Phạm đã không ngại đường xa ngàn dặm, không sợ phải lội suối trèo non, bỏ ra mấy ngày trời, lặn lội đến Lâm Tri, bái kiến Điền Thư và kể lể điều oan khuất, bày tỏ nỗi hận thù, xin Điền Thư hãy giúp bà báo thù rửa hận. Điền Thư vô cùng thông cảm với cảnh ngộ không may của Triệu tướng quân, vị lão tướng dày dạn nơi sa trường mà cũng cầm lòng chẳng đậu để cho nước mắt tuôn rơi. Điền Thư khuyên Lưu Đích Phạm hãy cố nén giận nén sầu trong lòng, chờ đợi thời cơ đến. Gặp việc gì cũng chớ nên nóng vội, muốn nhanh cũng chẳng được, quân tử báo thù, ba năm chưa phải là muộn. Lưu Đích Phạm nghe theo lời khuyên chân tình của Điền Thư, ở lại Lâm Tri mấy bữa, rồi Điền Thư sắp xe đưa trở lại kinh đô nước Cử. Từ đó về sau, Điền Thư luôn luôn quan tâm săn sóc đến hoàn cảnh của cả nhà Lưu Đích Phạm, thường xuyên chu cấp về mặt kinh tế. Mấy năm sau, cả nhà Lưu Đích Phạm đã từ kinh đô nước Cử chuyển đến ở Kỷ Chướng.

Sinh thời, Triệu Uy Hổ yêu tướng như con, tự tay mình vun đắp nên hàng loạt quan quân các cấp. Những sĩ quan này về sau không ai là không kính mến Triệu Uy Hổ như cha như chú, đội ơn bằng trời. Đứng trước mặt hôn quân Cử Cộng công, họ đều coi hắn như phường thảo khấu căm đến tận tuỷ tận xương, một lòng một dạ muốn tìm cớ trả thù rửa hận cho Triệu tướng quân. Sau khi sự kiện đó xảy ra, những người tâm phúc của Triệu Uy Hổ phần lớn là bị liên luỵ, người thì bị bãi quan, người thì bị giáng chức. Tuy nhiên trước sau họ vẫn là những bậc anh tài, ngồi một nơi mà biết vận trù tính toán tìm ra quyết sách, trên chiến địa biên cương cũng đã từng chinh chiến nhiều phen. Qua một thời gian dài quan sát và khảo nghiệm, thấy họ không hề có gì tỏ ra chống đối, Cử Cộng công dần dần cũng thôi không có ý đề phòng và đề bạt cất nhắc họ như cũ.

Không đợi đến lúc quân Tề đến sát biên cương nước Cử mà đã có mật thám đến Kỷ Chướng báo tin, liên hệ được với bà Lưu Đích Phạm rồi bàn bạc thế này, thế nọ, vạch chước bày mưu. Từ đó Lưu Đích Phạm bận rộn suốt ngày suốt đêm: ban ngày thì bí mật tiếp xúc với đám quan quân bảo vệ thành Kỷ Chướng, đêm đến lại ngồi tước đay ra thành từng sợi, rồi từng sợi nhỏ ấy lại bện với nhau thành sợi lớn, rồi tết thành dây thừng, những sợi đây thừng ấy cứ từng đêm từng tấc một, từng thước một dài mãi ra…

Nghe tin Điền Thư mang quân đến chinh phạt Kỷ Chướng, tuy tự cho mình có thiên hiểm để dựa, nhưng Cử Cộng công vẫn run sợ và sốt ruột như ngồi phải gai. Bởi so với Điền Thư, Cao Phát thật chẳng thấm vào đâu. Ông cầm quân như thần, lại rất giỏi đánh lừa làm cho địch nhiều phen cuống quít và lúng túng không biết làm gì. Nước nhà còn hay mất, là ở phút này. Cử Cộng công nhận thức đầy đủ được ý nghĩa và lợi hại của cuộc chiến tranh một mất một còn này, nên đã mang hết cả lực lượng quân sự của mình ra để đề phòng, cầm cố làm cho cả thành Kỷ Chướng kín như một chiếc thùng đựng nước, có thể nói là kim châm không lọt, nước rò không ra. Thế nhưng Cử Cộng công lại đặt trọng điểm của công việc phòng bị ở những đỉnh cao vách đứng, ở hào rộng khe sâu, cứ ba bộ một chòi canh, năm bộ một lính gác, chỗ này là trạm, chỗ kia là đồn, canh gác thâm nghiêm đến nỗi dù một con chim sẻ cũng khó bề mà bay tới gần thành Kỷ Chướng. Trong khi đó, việc canh phòng ở trong thành lại tỏ ra lỏng lẻo. Việc bố trí chiến lược của Cứ Cộng công như vậy không sai, quân Tề do Điền Thư chỉ huy sẽ không vào được lớp thành ngoài thiên nhiên, mà bị ngăn lại ngay từ phòng tuyến đầu tiên nên công thành đương nhiên là việc không thể bàn được. Tất cả mọi việc sắp đặt đâu vào đấy cả rồi, Cộng công ngồi nhung xa đi kiểm tra hai lượt, rất lấy làm hài lòng, hòn đá đè nặng trong lòng đã được lấy đi, thở phào nhẹ nhõm, cho rằng hoàn toàn có thể kê cao gối mà ngủ say.

Buổi chiều ngày mười hai tháng bảy, quan quân dưới chân thành Kỷ Chướng tự nhiên tăng lên gấp mấy lần, chiến xa chen chúc nhau, lính đông như kiến. Tướng giữ thành ở trên không hề sinh nghi, cứ đinh ninh đây là sự sắp xếp của nhà vua hay chủ soái. Do bảo vệ ở thành ngoài với số lượng tướng sĩ đông đảo như thế nên trên thành hoàn toàn không phải run rẩy lo lắng như mọi lần. Thêm nữa, giữ thành đã hơn chục ngày nay, hôm nay kêu quân Tề đến, ngày mai la quân Tề đánh, thế nhưng mãi chẳng thấy một nửa cái bóng quân Tề nào ló ra, các tướng sĩ một là quá mệt mỏi, hai là đầy lòng oán ức, cho rằng cấp trên cố tình hành hạ họ, suốt ngày này ngày khác toàn dùng những lời lẽ dối trá lừa họ, khiến cho họ cả ngày cả đêm không lúc nào được yên. Vừa mệt mỏi, lại oán giận, thấy tướng sĩ bảo vệ dưới thành đi đi lại lại, ùn ùn từng đám, đêm ấy họ lơi lỏng canh phòng, chuyện đó cũng hợp tình hợp lý thôi.

Sau khi qua giờ Tuất, từ trên thành ròng xuống một sợi thừng và có cả lính nước Cử theo thừng leo xuống, ghé tai một vị tướng dưới thành nói câu gì đó. Vị tướng đã chỉ huy quân sĩ leo lên thành. Các binh sĩ nhao nhao theo nhau leo lên thành, chỉ một loáng đã đông tới sáu chục người. Dây thừng tuy to song hiềm vì người leo lên nhiều lần, khó mà chịu nổi. Đung đưa một hồi, bỗng đầu dây bị tường thành cứa đứt, một tiếng kêu đánh rầm, hàng sáu chục con người cùng một lúc từ trên cao rơi xuống. Bên trên ngã đã đau, bên dưới đụng vào nhau càng dữ. Người chen vào nhau, thịt đè lên nhau, kêu cha kêu mẹ, thật là thảm thiết. Những người chưa leo nghe thấy tiếng kêu, không biết đã xảy ra chuyện gì, đều chạy ùa cả lại để xem cho rõ đầu đuôi, tiếng ồn ào náo động, trong đêm khuya rền lên như tiếng sấm. Tiếng ồn ào bên dưới làm bên trên cũng xôn xao, tiếng ồn ào bên ngoài dội vào trong thành. Thế là cả trên, cả dưới, cả ở trong lẫn ở ngoài thành một cảnh hỗn loạn, rối như mớ bong bong, nát như bát cháo. Trong thành bỗng có người vừa chạy vừa kêu: “Hỏng to rồi! Quân Tề vào thành rồi! Chạy thôi! Chậm chân thì chết đấy!”

Cử Cộng công đang cao gối ngủ ngon, bị tiếng kêu đánh thức, vội vàng cho nội thị tâm phúc ra ngoài cung nghe ngóng. Tên nội thị trở lại sợ dúm người run như cầy sấy, lắp ba lắp bắp báo với Cộng công rằng quân Tề đã vào thành, phố lớn ngõ nhỏ, đi lại lũ lượt toàn là quân nước Tề. Cộng công nghe tin, sợ đến mức vãi đái ra quần, mãi một lúc sau dần trấn tĩnh lại, vội sai người nhặt nhạnh đồ tế nhuyễn, mang theo gia quyến ra cửa tây thành trốn đi.

Đang lúc trong thành ngoài thành rối rít tít mù, có người mở cổng thành, quân nước Tề ở ngoài thành ùa vào trong thành như nước vỡ bờ. Cùng lúc đó, quân Tề bị chặn ở các quan khẩu đã vượt qua những đỉnh núi hiểm khe sâu hào rộng ào ào đến thành Kỷ Chướng.

Khi ông mặt trời e ấp sau màn sương ló vẻ mặt tươi cười lên đỉnh núi, tất cả rừng múi như bừng giấc say cây cỏ đều nhuộm ánh ngày, Điền Thư chỉ huy quân Tề cất cao lời ca chiến thắng, rầm rầm rộ rộ tiến vào thành Kỷ Chướng. Hôm ấy là ngày mười ba tháng bảy, năm Tề Cảnh công thứ hai mươi lăm.

Kỷ Chướng núi bọc sông vây vững như bàn thạch như thế, Điền Thư làm thế nào mà chẳng tốn bao nhiêu công sức, chỉ ra tay một phen mà lấy được thành. Thành Kỷ Chướng đã hạ được rồi, nhưng Cử Cộng công lại lẻn ra cửa tây thành trốn mất thì khi Điền Thư đem quân về nước, sẽ ăn nói thế nào với Tề Cảnh công đây? Lời hứa trước lúc xuất quân, không phải là trò đùa con trẻ!…

❀ ❀ ❀

[1] Ở An Ấp tỉnh Sơn Tây ngày nay.

[2] Di: gọi chung cho các tộc người miền đông Trung Quốc thời xưa. Cửu Di là người chín vùng phía đông. Từ Hải tập 74.

[3] Ở Tây nam thành Sơn Đông ngày nay.

[4] Huyện Huỳnh Dương, Hà Nam ngày nay.

[5] Vĩnh Bế – Sơn Tây ngày nay.

[6] Vùng Hàn Thành, Thiểm Tây ngày nay.

[7] Một loại chiến xa dùng riêng cho vua chúa.

[8] Kỷ Chướng tên đất thời Xuân Thu ở trấn Lại Du tỉnh Giang Tô ngày nay. Từ Hải tr.1298.

[9] Một loại văn bản hứa hẹn khi ra quân, như thư quyết tâm ngày nay.

Nguyễn Bá Thính
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Tào Nghiêu Đức

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.