Tôn Tử Truyện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 55 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Xvi Nhận Chức Tướng Soái – Trừng Trị Hủ Bại
Chương Xvi Nhận Chức Tướng Soái – Trừng Trị Hủ Bại

❊ ❊ ❊

Lại nói Hạp Lư đang ngồi trên đài Vọng Vân, thấy vệ sĩ theo lệnh Tôn Vũ bắt trói nàng cơ dẫn ra trước hàng quân, hai tên đao phủ lăm lăm lưỡi đại đao sáng loáng trong tay bước lên… vội vàng lệnh Bá Bỉ tế ngựa ra bãi tập, truyền dụ đặc xá của Ngô Vương. Tôn Vũ nghe xong chỉ dụ, nói:

– Trong quân không nói chuyện đùa giỡn. Thần đã nhận lệnh ra làm tướng, tướng đang ở trong quân, tuy lệnh vua cũng không được nhận. Huống hồ nếu theo lệnh vua mà tha cho kẻ có tội, thì làm sao thuyết phục được mọi người.

Nói xong lệnh cho vệ sĩ “chém ngay hai nàng cơ” bêu đầu trước hàng quân.

Hai nàng phi tử bị bêu đầu giữa đám đông, cả bãi tập ai ai trông thấy cũng đều sợ đến ngây người, các cung nữ hồn bay phách tán, lính tráng đứng ngây như tượng gỗ, dân chúng trợn mắt há mồm, cả bãi tập đông đảo là thế bỗng lặng ngắt như tờ…

Tôn Vũ cho tập lại từ đầu, trước hết đưa mắt chọn ra hai người làm đội trưởng và bảo họ:

– Do vi phạm những quy định trong quân đội, hai đội trưởng kia đã bị chém đầu, nay lệnh cho các ngươi lần lượt làm đội trưởng của hai đội. Các ngươi không cần phải lo sợ chi hết, miễn là như mọi ngày luyện tập trong cung, tuân theo quy định, theo lệnh mà làm, cho dù có gì sai sót, thì chủ tướng ta cũng không trách tội các ngươi.

Biết rằng các cung nữ lúc này do kinh sợ nên tinh thần chưa ổn định, Tôn Vũ còn chần chừ mãi mới ra lệnh, để mọi người bình tĩnh trở lại, ổn định tinh thần xong, mãi sau mới cất tiếng nhắc nhở:

– Các đội chuẩn bị! Thao diễn lại từ đầu!

Lệnh vừa ban ra, chưa đợi nghe tiếng trống, các cung nữ đã răm rắp đứng vào hàng, người nào người nấy dỏng tai lên, chỉ sợ không nghe thấy tiếng trống. Hai đội trưởng uy võ hùng tráng, nét mặt rạng rỡ, rất ra dáng võ quan chỉ huy, ra trước hàng quân nói to với mọi người:

– Này! Mọi người không ai được cười nữa, phải tập trung tư tưởng để nghe tiếng trống và khẩu lệnh.

Bên trong câu nói ấy muốn ngầm bảo: Nếu còn cười nữa, thì chúng ta đây cũng sẽ đầu lìa khỏi cổ. Thực ra, đâu cần phải đến đội trưởng bận tâm, các cung nữ lúc này đã trấn tĩnh được tinh thần và hăng hái trở lại rồi!

Một hồi trống vang lên, hai đội cung nữ xếp hàng song song đối diện nhau, vừa nhanh vừa thẳng, như kẻ bằng chỉ, như cắt bằng dao. Hồi trống nữa vang lên, cung nữ hai đội đưa lá chắn ra và múa đao lên, tiến nhanh lên trước quay sang trái, ngoái sang phải, biến đổi vô cùng, chẳng khác chi đang xung trận ở nơi chiến trường. Hồi trống thứ ba vang lên, cung nữ hai đội xông vào đánh chém vật lộn, giáo đâm qua, dao chém lại, như rồng cuốn hổ vờn, dữ dội và đẹp mắt. Tôn Vũ nhìn thấy thế, bỗng mừng thầm trong bụng, đừng coi đây là những thứ đàn bà con gái chân yếu tay mềm, mà với một đội quân thế này, có đánh trận thực sự thì phía trước có là rừng gươm núi giáo, họ cũng có thể liều chết quên mình mà xông lên. Tôn Vũ vừa ra lệnh thu quân, lập tức tiếng lệnh đồng “phèng phèng phèng” vang lên, cung nữ trong hai đội thu ngay khí giới, xếp thành hàng quay trở lại, bước lên mấy bước, đứng nghiêm trước mặt Tôn Vũ, như một hàng quân nghi vệ.

Hai đội trưởng đã hết thắc thỏm trong lòng, ba trăm cũng xử cũng mừng vui ra mặt trước sự biểu diễn thành công của mình, bà con đứng xem bốn phía cũng rào rào vỗ tay khen ngợi, ầm ầm như sấm, vang dội cả một vùng trời.

Người đời sau đã từng làm thơ ca ngợi Tôn Vũ luyện quân:

Lớn mạnh tranh nghiệp bá

Thử võ khoe binh hùng

Mang hết tài con gái

Chẳng kém gì đàn ông

Vung gươm tay áo cuộn

Rạng rõ sắc mặt hồng

Dưới cờ cười nửa miệng

Thẹn thò giữa đám đông

Nghe tiếng im răm rắp

Trái lệnh phép không dung

Đầu yêu cơ đã lấy

Mới rõ tướng oai hùng

Dù vào nơi nước lửa

Trăm trận hẳn thành công.

Dưới sự chỉ huy của Tôn Vũ, ba trăm cung nữ liên tiếp biểu diễn ba lần, lần sau càng làm cho người ta bồi hồi xúc động hơn lần trước và phải suy nghĩ xa xôi hơn lần trước.

Lại nói đến Hạp Lư ở trên đài Vọng Vân, thấy không có cách gì giải cứu vì Tôn Vũ không chịu tha tội chết cho hai nàng cơ, tức muốn nổ phổi ra, nghĩ thầm trong bụng: Ta đường đường là ông vua trong một nước, thế mà hắn lại không hề nể. Tôn Vũ! Ngươi thật không coi ai ra gì. Hạng người xem thường cả lệnh vua thế này, thật ta chưa từng gặp bao giờ, chưa từng nghe nói bao giờ nữa. Hiện giờ chẳng qua mới chỉ là một tên chủ tướng luyện quân, mà còn coi vua không ra gì như thế, sau này thực sự trở thành đại tướng cầm quân, thì có khi hắn còn ngồi ỉa trên đầu mình cũng nên. Càng nghĩ Hạp Lư càng thấy bực, càng nghĩ càng sinh cáu, tình cảm tôn kính Tôn Vũ trước đây ở trong lòng đã hết sạch không còn gì, điều đó cũng chẳng có gì khó hiểu, trong lịch sử lâu dài của Trung Quốc, từ xưa đến nay vẫn cứ là quyền hành lớn hơn pháp luật, tình người lớn hơn phép vua, nhất là các vua chúa phong kiến, mở miệng ra là luật với pháp, thế nên mới có câu “miệng nhà quan có gang có thép”. Đánh giá một sự việc một con người, đều lấy lợi ích của một con người làm chuẩn mực, thế mà cân nhắc thiệt hơn lại bằng ánh mắt thiển cận, một cái lá che cả khu rừng, cho nên làm người ở Trung Quốc đã khó, đánh giá một con người lại càng phức tạp hơn. Nỗi bực tức chứa chất trong lòng Hạp Lư, như cả một cơn lửa giận không tiện để bùng ra, đành lặng im run người lên, mắt nhìn đờ đẵn, ngồi đực ra như ngây như dại, không hề cựa quậy. Cũng may mà tất cả mọi người đều mải miết để mắt vào tình hình nơi bãi tập không ai nhìn lên chỗ Ngô Vương, vẫn cứ đinh ninh rằng nhà vua cũng đang chăm chú xem như mọi người. Một lúc sau, Hạp Lư thấy các cung nữ lại thao diễn lại từ đầu, tiếng trống lại nổi lên thùng thùng, tiếng hô vang từng đợt, đang “dàn hàng ngang quay mặt vào nhau”, lại “tiến nhanh lên trước”, rồi “xông lên giáp chiến”, sau đó là khua lệnh đồng thu quân. Theo đà diễn biến của đội hình cung nữ, tình cảm của Hạp Lư cũng diễn biến theo, đôi mắt từ đờ đẫn trở nên lay động linh hoạt, ánh mắt từ chỗ vô tình đã dần dần tươi sống lại, trên mặt dần dần hiện lên mọt nét cười chua chát: Thật không ngờ rằng cung nữ lại có thể trở nên những người lính, vung gươm múa giáo, chém giết thực sự như thế, mà động tác lại đâu ra đây, bước chân vững chãi chỉnh tề, bất giác từ trong đáy lòng phải ngầm thốt lên một lời khen “hay”, chỉ có điều tiếng “hay” ấy chưa buột ra khỏi miệng, chưa vang lên thành lời, còn các quan văn võ đứng hai bên thì đã trầm trồ khen hay rầm rầm. Ngũ Tử Tư lại càng khen ngợi luôn miệng không ngớt. Trong tiếng khen nức nở của mọi người, Hạp Lư bất giác ngước đâu lên hai chiếc đầu lâu của hai nàng cơ treo cao trên cột gỗ, ngọn lửa đang bốc cháy trong lòng ông bỗng dưng tắt ngấm. Ôi! Ngay từ đầu mình vốn mang ý tốt là muốn để cho hai nàng được ra khỏi nơi cung cấm mà giải buồn cho khuây khoả nào ngờ lại thí mất hai mạng người, nếu sớm biết thế này, ngay từ đầu đã chẳng để cho họ ra làm đội trưởng, từ nay trở đi, không còn bao giờ được thấy nàng Khương phi với Hạ phi đáng yêu mọi khi nữa.. Hạp Lư càng nghĩ, càng như muốn bật khóc lên, nhưng nghĩ đến mình là vua trong một nước, trước mặt văn võ bá quan thế này lại đi khóc than cho hai người đàn bà, thì còn đâu là vẻ tôn nghiêm, còn đâu là thể diện; mà không khóc, thì không biết nước mắt ở đâu ra cứ tràn lên khoé mắt và chỉ muốn tuôn ra, không biết làm thế nào, đành vội vàng nhổm dậy, vẫy tay áo bước đi. Nội thị liền theo chân Hạp Lư trở về hành cung Linh Nham Nhà vua đã đi khỏi, các quan văn võ cũng không dám ở lại đành ai về phủ nấy. Ngũ Tử Tư thừa biết lúc này Ngô Vương Hạp Lư đang cơn nóng nảy, không nên nhiều lời với ông ta, nên đành cũng quay về công quán.

Thấy trên đài,Vọng Vân trống hoang, người đã đi hết sạch, Tôn Vũ đành ra lệnh cho thu quân, các cung nữ về cung, lính tráng về trại, quan chấp pháp, quan truyền lệnh, những tay đao phủ… ai về dinh người ấy hoặc về quán xá nghỉ ngơi, đóng cửa nằm khểnh, để xem Hạp Lư xử trí ra sao.

Hạp Lư về đến hậu cung, chẳng thiết uống, chẳng thiết ăn, như một tàu rau héo, uỷ mị rũ rượi, hai mắt luôn luôn ướt lệ, dần dần bỗng có ý muốn cho Tôn Vũ ra đi. Do đau thương quá mức, nên buổi sớm hôm sau, Hạp Lư đã cho nội thị truyền dụ “Hôm nay miễn chầu, các quan văn võ hãy giải tán”. Sau giờ Thìn, Ngũ Tử Tư đã vào cung vấn an, Hạp Lư mượn cớ tuôn hết nỗi bực bội:

– Ngũ tướng quân! Đa tạ ông đã tiến cử cho tôi một bậc đại hiền sĩ!

Ngũ Tử Tư đã nghe ra những điều gai góc trong câu nói, im lặng không trả lời.

Hạp Lư cho rằng Ngũ Tử Tư còn chưa nghe rõ, nhắc lại lần nữa:

– Ông có biết rằng hai nàng ái phi của ta đã bị các vị đại hiệp sĩ đem ra làm “quà trình diện” rồi không?

Lại vẫn những lời gai góc, Ngũ Tử Tư vẫn trả lời bằng sự lặng im.

– Ngũ tướng quân, ông bảo chuyện này quả nhân chịu làm sao nổi chớ… Hạp Lư đã tới mức lồng lộn lên vì tức giận rồi.

Ngũ Tử Tư biết bằng Hạp Lư vẫn còn đang thương nhớ hai nàng cơ của mình nên mới tức giận điên cuồng như thế. Vừa rồi chưa nói câu gì, vì ông thấy Hạp Lư đang trong cơn nóng giận, không thể lửa cháy đổ thêm dầu. Đợi cho đến lúc ông ta nói một thôi một hồi như thế, cho vợi bớt lửa trong lòng đi mới cất tiếng với vẻ mặt hơi tươi cười:

– Vậy theo ý của minh công, thì với anh bạn Tôn Vũ ấy của thần, nên xử trí ra sao ạ?

Hạp Lư bực đọc trả lời tuột ra:

– Ở đây ta là chỗ nước nông, không nuôi cá lớn, cứ để quách cho nó ra ngoài hiển Đông kia mà vùng vẫy mà làm mưa làm gió.

– Ồ! Ý của minh công phải chăng là muốn ông ta đi khỏi đây ạ? – Ngũ Tử Tư cố tình vờ ướm hỏi.

– Đúng như vậy! Kẻo sau này sẽ có ngày đầu ta đây cũng bị hắn “xử theo quân pháp” mất. – lửa giận trong lòng Hạp Lư càng bốc càng cao.

Ngũ Tử Tư hỏi vặn lại:

– Nghe minh công nói vậy, chẳng hoá ra Tôn Vũ đã giết nhầm hai đội trưởng kia sao?

– Cái đó… quả nhân không có ý nói thế – Hạp Lư bỗng trở nên ấp úng.

Ngũ Tử Tư từ chỗ lặng lẽ bỗng hoạt bát lên, từ chỗ nhẹ nhàng bỗng trở nên sôi nổi, ông hỏi dồn:

– Nếu không phái là giết nhầm, cớ sao minh công phải ấp úng như mắc trong họng thế! Mà tại sao lại trút giận cho Tôn Vũ?

Hạp Lư thẳng thắn mạnh mẽ nói:

– Tôn Vũ không coi vua ra gì, quả nhận đã phải cầu xin, hắn vẫn không chịu tha tội chết cho hai nàng cơ.

Ngũ Tử Tư cũng lẫm liệt tâu lên:

– Thần trộm nghe “làm việc quân như cầm dao sắc”, không thể chỉ nói không, giết kẻ có tội mà không quả quyết, quân lệnh không thi hành, thì làm sao có thể thống lĩnh ba quân mà giành chiến thắng được ạ! Đại vương chinh phục nước Sở để xưng bá trong thiên hạ, muốn được tiếng tài, thì phải coi quả đoán cương nghị là tài năng. Tôn Vũ quả đoán cương nghị lạnh lùng mặt sắt như vậy, không vì tình cảm mà khinh nhờn pháp luật, chém hai nàng cơ có tội, sao lai có thể đuổi đi? Không có Tôn Vũ làm tướng, ai là người có thể mang quân đi vượt sông Hoài, qua sông Tứ, xông pha ngàn dặm để đánh Trung Nguyên? Con gái đẹp dễ tìm, tướng tài mới khó kiếm, nếu chỉ vì hai nàng cơ mà vứt bỏ một vị tướng tài, thì có khác gì là yêu cây cỏ mà bỏ cây lúa hay không?

Hạp Lư suy cho cùng dù sao vẫn là một ông vua có chí hướng, muốn làm nên một sự nghiệp lớn lao, nghe xong những câu nói chối tai đó của Ngũ Tử Tư, sự tức giận bỗng nguôi đi, ngọn lửa giận cũng dần tắt, một hồi lâu không nói không rằng, hình như đang đấu tranh tư tưởng rất căng thẳng và đang cân nhắc điều lợi hại, thiệt hơn.

Ngũ Tử Tư nói thêm:

– Ngày xưa Khương Thượng ở với nhà Ân thì không được trọng dụng, sang với nhà Chu thì Chu có thiên hạ. Bách Lý Khê ở nước Ngu không được tin dùng, nhưng sang nước Tần thì Mục công được xưng bá… tấm gương xưa nay có thể soi, mong minh công hãy cân nhắc cho nhận trọng nhìn nhận cho kỹ!

Hạp Lư bỗng xoay hẳn thái độ, như cả quyết một

điều gì ướm hỏi ý Ngũ Tử Tư:

– Vậy theo ý của ái khanh thì…

Chưa đợi Hạp Lư nói hết câu, Ngũ Tử Tư liền đáp:

– Khen ngợi Tôn Vũ cầm quân nghiêm ngặt, chấp hành pháp luật nghiêm minh, lên đài tôn lên làm đại tướng, thống soái ba quân, cùng mưu nghiệp lớn!

Ở đây Ngũ Tử Tư dùng chữ “tôn”, mà không dùng chữ “phong”, tức là muốn trước mặt văn võ bá quan Ngô Vương phải tỏ ra tôn trọng Tôn Vũ. Đừng có xem thường sự khác nhau của hai chữ này, ý nghĩa của chúng khác nhau nhiều lắm, “phong” là ban phát, còn “tôn” là có ý nhờ vả mời gọi. Nghi thức cũng không hoàn toàn giống nhau, “phong” thì chỉ cần nhà vua ở trên điện nói một câu là đủ, người được phong còn phải vái chào cảm ơn nhà vua, còn “tôn” thì phải dựng đài, tức là nhà vua phải chuẩn bị sẵn ấn kiếm, sau đó làm lễ, nhà vua phải đến lễ người được “tôn”, mời người đó nhận chức.

Ngũ Tử Tư không những muốn Hạp Lư tôn Tôn Vũ lên đại tướng, còn muốn tôn ông lên làm soái trong quân đội kiêm quân sư, nắm cả văn cả võ, khống chế các quan chức khác, lệnh của ông thi hành chỉ cần là theo lệnh nhà vua, còn vua không bao giờ can thiệp. Hạp Lư đã tỏ ra rất rộng lượng, những gì Ngũ Tử Tư nói ra, ông đều nhất nhất thuận theo. Ngũ Tử Tư cũng thấy rất hài lòng, cho rằng Hạp Lư biết nghe theo những lời can gián, bởi thế nên đã bày tỏ rằng: Sau khi đánh nước Sở trả được thù vẫn sẽ quay trở lại nước Ngô để đền đáp Ngô vương. (Chính vì đã bày tỏ như thế, cho nên đối với cha con Hạp Lư, Ngũ Tử Tư đã trung thành bền bỉ như thế, nhưng rồi cũng chết uổng mạng). Hạp Lư vội lệnh cho xây công quán, soái phủ cho Tôn Tử, đúc ấn soái, dựng một đài cao trên đài Vọng Vân và xây một đình diễn võ trên núi Hiệu Trường, cất nhắc người hầu hạ, mua sắm đồ dùng vv… Chọn ngày lành tháng tốt, trước đó một ngày sai người mang thư cho Tôn Tử rồi lại sai người đến mời hẹn các quan văn võ điều lính tráng, truyền nội thị chuẩn bị xong xuôi tất cả mọi việc. Sáng tinh mơ ngày hôm sau, binh lính của các dinh các đội sắp xếp hàng tập hợp đông đủ ở hiện trường nhỏ – tức là nơi Tôn Vũ thao luyện cung nữ và giết hai nàng Hạ phi và Khương phi. Sở dĩ Hạp Lư tiến hành nghi thức tôn Tôn Tử lên làm soái ở bãi tập này là để bày tỏ rằng ông không còn nhớ đến mối thù đã giết hai nàng phi, đã biết yêu tướng hơn yêu phi. Vào lúc giờ Mão mặt trời mọc, Ngô Vương Hạp Lư đã đến, đi phía trước là bốn viên nội thị: một người bưng ấn, một người bưng kiếm, một người bưng binh phù, một người bưng quyển sổ ghi tên các quan văn võ, phía sau ông là văn võ bá quan, ngoài ra còn đội âm nhạc với nhạc sư, rồi người chấp sự và hai hàng vệ sĩ đi hai bên hộ vệ, đi đến trước ụ cao, tất cả đều xuống ngựa, leo từng bậc mà lên đàn và vào trong sảnh. Tiếp đó, Tôn Tử cũng đến, cùng đi ở phía sau là các nhân viên tuỳ tùng, đến trước đàn cũng xuống ngựa, theo bậc mà lên đàn và vào trong sảnh. Trong sảnh đã bày sẵn bàn gỗ trên để đồ tế lễ. Bắt đầu vào nghi lễ nhạc nổi inh tai, Hạp Lư và Tôn Tử cùng bước vào vái chào nhau theo đại lễ. Làm lễ xong,.Hạp Lư ngồi vào góc án trên cùng, Tôn Tử ngồi vào góc án đầu tiên hàng dưới, các quan văn võ bước lên chúc mừng, sau đó ai về chỗ của người ấy. Tôn Tử mở cuốn sổ ghi tên các quan văn võ rồi gọi từng tên, nhận mặt một số quan văn quan võ chủ yếu, sau đó binh lính các nơi trở về chỗ cũ. Hạp Lư đưa theo các quan văn võ tiễn nguyên soái về phủ, các quan văn võ cũng giải tán.

Để kỷ niệm nơi Tôn Vũ được tôn làm tướng ở trên núi này, người đời sau đổi tên núi Vọng Vân thành Tướng Đôn, tướng với tưởng trong tiếng Hán đồng âm, nên mới lại có tên là Tưởng Đôn.

Hạp Lư thương nhớ hai nàng cơ, chôn cất tử tế ở Tiểu Thành sơn mé sau núi Hiệu Trường và lập đền thờ gọi là đền ái cơ.

Tôn Tử được tôn lên hàng đại tướng, nguyên soái kiêm quân sư, dồn cả ba chức vụ quan trọng vào một con người, nhưng cứ lần lữa mãi không thấy nhắc gì đến chuyện đem quân đánh nước Sở, Ngô Vương và cả Ngũ Tử Tư đã thấy sốt ruột không chịu nổi, từng mấy lần hỏi han nhắc nhở, nhưng Tôn Tử vẫn lờ đi không đáp. Nhưng người ta lại thấy Tôn Tử luôn luôn vội vội vàng vàng, đi chỗ này một chút ghé vào chỗ kia một lát, những người đến soái phủ để thăm hỏi ông, rất ít người có may nắm gặp ông. Một hôm, Hạp Lư cho vời Tôn Tử, lại hỏi lúc nào thì đem quân đánh nước Sở. Tôn Tử không trả lời thẳng vào vấn đề, đợi Hạp Lư nói hết câu, liền dẫn nhà vua đi thăm các cung điện, làm như ông là chủ nhân của những cung điện này, còn Hạp Lư lại trở thành một người khách phương xa. Một đoàn đông đảo, hoặc ngồi xe cưỡi ngựa; hoặc ngồi thuyền chèo đi với đầy vẻ nhàn tản, những người được dẫn đi thăm chẳng ai là không xì xào bàn tán. Nguyên là hành cung của Ngô vương thì nhiều vô kể, rải rác như bàn cờ trên khắp mọi nơi có phong cảnh đẹp của nước Ngô. Vật gì cũng thế, hễ cứ nhiều là bị coi rẻ, cung điện cũng vậy, Ngô Vương không đặt chân đến, cũng chẳng ở làm sao cho khắp; người khác thì không dám đến ở, lại thêm nhiều năm không tu sửa, trông coi không đến nơi đến chốn, tránh sao khỏi bị hư hỏng tàn tạ, không ai muốn nhìn. Tôn Tử dẫn Hạp Lư đến một cung và bước vào trong điện, khắp nơi là bụi bặm và mọt gỗ, dưới cửa sổ và ở nơi chân cột lại càng nhiều hơn, như có ai đó rắc lên một lớn mạt cưa. Tôn Tử lấy cây đồng gõ vào một thân cột rỗng hoác, tiếng kêu vang lên như tiếng mõ, lại gõ lên khung cửa sổ chỗ nào cũng thế. Một trận cuồng phong thổi tới, cả cung điện đung đưa như muốn đổ. Hạp Lư không hiểu đầu cuối ra sao, chẳng rõ Tôn Tử định bày đặt ra chuyện gì, ông thấy bồn chồn; và vẻ mặt tỏ ra lúng túng. Tôn Tử nói với ông rằng, rường cột, xà, mái, cửa lớn, cửa sổ, cột, vv… của gian điện này đều bị mọt đục ruỗng ra rồi, những mùn mạt ở kia chính là mạt gỗ và phân mọt, chẳng bao lâu nữa căn nhà sẽ đổ. Những căn nhà thế này, sớm còn chưa chắc giữ nổi đến chiều, làm sao còn có thể lấy nó mà che mưa chắn nắng, lấy chỗ hội họp quần thần, bầy tiệc tiếp khách cho được? Dỡ đi để làm lại, cố nhiên không phải là cách làm hay, nhưng cung điện mới xây lên mà sâu mọt vẫn còn, ai dám bảo rằng nó sẽ không khoét rỗng ra lần nữa đến mức sụp đổ lần thứ hai mới thôi, bởi vậy trừ khử và tiêu diệt sâu mọt mới là biện pháp căn bản.

Tôn Tử không phải là thợ mộc thợ xây hay nhà kiến trúc, tại sao lại dẫn mình đi thăm cung điện, nói chuyện sâu mọt? Việc này thì có dính dáng gì đến chính sự của nước Ngô… Hạp Lư đang nghiền ngẫm sự ý nhị trong câu nói của Tôn Tử, như nhấm nháp ý vị ở trong đó mà phân tích dụng ý sâu xa của ông.

Tôn Tử đi trước dẫn đường, đoàn người lại bước vào một gian điện kỳ khôi chưa ai từng thấy, mái của toà điện này nghiêng đi, và nhà cong veo lên, cả toà điện như một con diều hâu bị trúng đạn, đang nghiêng mình thõng cánh cho nó rơi xuống, khiến ai nhìn thấy cũng phải dừng bước. Hạp Lư bước vào điện, ngửa mặt nhìn lên mà toát cả mồ hôi hột, vội vàng lui ra.

Bươn bả suốt một ngày, chiều tối trở lại vương cung, theo yêu cầu của Hạp Lư, với những gì tai nghe mắt thấy trong ngày, Tôn Tử đã nói thẳng ra những điều nhận biết của mình.

Cơ thể chính trị của nước Ngô, cũng giống như những toà cung điện đầy mạt cưa và phân mọt, rường cột xà mái, chẳng đâu là không bị đục rỗng, và có những chỗ đã rỗng hoáng như lòng mõ, lúc nào cũng có thể đổ sập xuống ngay lập tức. Những con sâu mọt đó không phái ai khác, mà chính là lũ tham quan ô lại ở các cấp ở nước Ngô lúc này, chẳng có viên quan nào lại không ăn hối lộ, ở đâu cũng thấy cát vàng mênh mông, khó có thể tìm đâu ra một ốc đảo phì nhiêu hay một xó xỉnh nào là sạch sẽ. Bọn quan lại người nào cũng như mới từ hàng mắm bước ra, trên thân thể họ ai ai cũng đều toát ra một thứ mùi tanh tởm lợm, có người thối đến nồng nặc, khiến người ta phát buồn nôn. Những quan lại như thế mà nắm chính quyền, không luồn lọt xin xỏ, không dâng lễ tặng quà, không mời ăn mời uống, không đút lót mua chuộc, thì khó có làm xong một việc gì cho dù là nhỏ nhất! Lề thói hủ bại đã làm cho dân tình oán thán sục sôi, giữa quan với dân hình thành một cái hố sâu thăm thẳm, thậm chí đã đối lập với nhau gay gắt, lâu dần mãi, chính quyền sẽ lung lay, làm gì còn có điều kiện mà dấy quân đánh Sở nữa…

Bên bờ hồ Dương Trừng có một chủ vựa cá họ Thích, tên là Thích Thiên Đại, ỷ vào thế có quan hệ bố vợ con rể với huyện lệnh Điền Kinh, nên ra sức hoành hành trong thôn xóm, bóp nặn dân lành, khiến cho dân chúng cả một vùng oan khuất chẳng biết kêu ai, khổ sở không có người than thở, suốt ngày kêu rên trong đói rét, vật vã trong lửa bỏng nước sôi. Trước đây không lâu Thích Thiên Đại khởi công rầm rộ, xây dựng quán xá, bắt hàng trăm người thợ đến đổ mồ hôi sôi nước mắt ra bán mình cho hắn. Quán xá đã xây xong, tiền sảnh lầu tạ, hiên xanh mái đỏ, hết sức sang trọng, ấy thế nhưng tiền công thợ thì hắn cứ ỳ ra không chịu trả. Người làm thợ trông vào việc đi bán sức lao động và tay nghề để nuôi sống cả nhà, trên là bố mẹ già dưới còn vợ con, vất vả cả năm trời, không nhìn thấy một đồng xu nào, cơm ăn áo mặc cho người lớn người nhỏ trong nhà không biết trông cậy vào đâu, thế tất họ luôn luôn phải đến cổng để đòi. Có một người thợ mộc họ Trương, đã đi tám lần đến cổng nhà họ Thích đòi nợ, lần ấy, đúng vào lúc Thích Thiên Đại đang ngồi uống rượu với bạn của hắn, đầy mâm thịt cá gà vịt, khắp nhà nồng nặc mùi rượu xông lên. Hai người đánh đố nhau, Thích Thiên Đại chịu thua liên tục, và phải uống rượu phạt lia lịa… đúng lúc ấy sư phụ Trương đã đến trước bàn tiệc để đòi tiền công, Thích Thiên Đại chẳng những không chịu trả, còn bảo lão thợ mộc thối tha mang yêu khí đến làm cho hắn phải cơn đen, mất cả hứng thú uống rượu, bèn sai người hầu lôi ông vào sân, hết đấm lại đá, còn lấy gậy đánh người ta, khiến sư phụ Trương chết ngay tại chỗ. Thế chưa hết, hắn còn thả ba con chó dữ ra, xông vào xác người chết cắn xé đến nỗi máu me bê bết, thảm thương không ai nỡ nhìn… xưa nay giết người thì phải đền mạng, vậy mà tên Thích Thiên Đại gian ác ấy, giết hại một người thợ có công với hắn một cách dã man như thế, lại cớ thể nhơn nhơn ngoài vòng pháp luật, dân chúng làm gì mà chẳng đấm ngực dậm chân, nghiến răng nghiến lợi…

Chuyện vừa kể trên,. là những điều mà sau khi đến nước Ngô, qua những người bạn mới quen biết ở đây mà Tôn Tử biết được. Trong những ngày ông đi thăm phong cảnh núi non của đất nước phương nam này, cũng đã từng tai nghe mắt thấy vô số những hiện tượng tương tự, đem nối những sự việc này lại với nhau, nó đã hình thành nên sự hiểu biết và nhận thức của ông đối với hình thái chính trị và hiện thực của nước Ngô và rút ra được một kết luận hết sức rõ ràng: Nước Ngô muốn giàu mạnh nhất định phải trừng trị bọn hủ bại. Một đất nước, một triều vua, một chính thể… khi chính trị đã bị thối nát đến gốc rễ, thì mọi điều đều không thể nói được gì, đó là điều mấu chốt rất quan trọng mà Tôn Tử cho dù một lúc kiêm ba chức trọng, vẫn lẫn lữa không chịu đem quân đi đánh nước Sở vậy.

Nghe những điều Tôn Tử vừa giãi bày và tố cáo, Hạp Lư bỗng thấy máu trong người như sôi lên, đầu óc như giãn to ra, trong lòng như dậy lên từng lớp sóng, ông thấy mình làm vua trong một nước, vậy mà những sự việc thối tha ô uế như thế ở bên dưới, tại sao lại không hay biết tí gì? Chẳng lẽ mình là con người vừa điếc vừa đui sao?

Hạp Lư nghĩ quả là xác đáng, có nhiều ông vua, tuy cũng đầy đủ tai mắt, ngũ quan như mọi người, nhưng cuối cùng vẫn là kẻ vừa điếc vừa đui, bởi vì họ chỉ ưa nghe những lời ngợi ca tâng bốc, những tiếng vạn tuế đã tràn đầy lỗ tai, không còn đâu mà nghe được lấy nửa lời phê bình hay những câu xem ra có vẻ chối tai. Bởi thế không có ai chịu nói ra sự thực trước mắt họ, lâu dần mãi, lại chẳng hoá ra vừa điếc vừa đui sao! Làm vua chúa đã thế thì những kẻ cầm quyền các cấp cũng quá nửa là như thế, cùng với sự thành công của sự nghiệp lúc ban đầu, với sự hiểm hách của công lao ấy với sự vang dội của tiếng tăm, sự bành trướng của quyền lực, sức nghe và tầm nhìn của họ dần dần thay đổi đi. Những lời ca ngợi đã chọc thủng màng tai họ, khiến họ dần dần trở nên điếc lác, hoa tươi muôn màu múa may trước mặt họ, khiến cho họ hoa mắt loá màu, kẻ nào nhẹ thì cũng mắt nhìn không thật, còn kẻ nặng quá thì mù hẳn hoàn toàn.

Hạp Lư đã nhờ Tôn Tử phân tích giúp cho nguyên nhân nào đã gây nên những hiện tượng đó, và vạch ra sách lược làm thế nào để gạt bỏ nó đi. Tôn Tử là người thẳng thắn không xu nịnh, xưa nay chưa hề che giấu quan điểm của mình bao giờ, không nói những điều trái với lòng mình, không làm những điều ngược với ý mình, trước hết đã gợi ý cho Hạp Lư nhớ lại hình ảnh toà cung điện mà ở đó xà trên không thẳng thì xà dưới lệch, sau đó đã không ngại xót xa mà chỉ thẳng ra rằng, quan trường nước Ngô sở dĩ dơ bẩn như thế, chính là do sự “xà trên không thẳng” đã dẫn đến, đó là kết quả tất nhiên của sự vô đạo của Hạp Lư.

Hạp Lư đang nghe, mà như có sấm giội trong đầu, bỗng thấy trời đất quay cuồng, đứng ngồi không vững. Ông ta không rõ, Tôn Tử sao có thể nói ra những điều như thế, bản thân mình dù có trăm cái sai, ngàn cái sai, cũng không thể đến nỗi trở thành một tên hôn quân vô đạo được. Lời nói của Tốn Tử khiến ông ta không thể lý giải nổi cùng như khó có thể bình tĩnh lặng yên, càng khó có thể tiếp thu. Ông bồn chồn, đi đi lại lại ở trong điện, lúc thì nhanh lúc thì chậm, gót chân nện xuống sân nghe rõ mồn một. Không biết đi như thế bao lâu, ông quả thực là không sao chịu đựng nổi, đột nhiên đứng hẳn lại, xoay mình sang một bên nhìn vào Tôn Tử, mặt cố làm ra ôn tồn song vẫn trách hỏi:

– Nguyên soái sao có thể nói ra những lời như vậy, quả nhân không rõ, xin hãy nói kỹ ra!

Tôn Tử rất chậm rãi, nhưng nhấn mạnh từng lời như nặng đến ngàn cân hỏi lại rằng:

– Phải chăng đại vương đã quên chuyện đám tang múa hạc trên phố, giết người đưa tang sao?

Hạp Lư có một người con gái cưng, tên là Thắng Ngọc, từ tấm bé đã được yêu chiều quen thân, muốn làm sao thì được vậy. Một hôm Hạp Lư đang mở tiệc mời sứ thần nước ngoài, đầu bếp bưng lên một đĩa cá hấp, khách và chủ cùng ăn, khen không ngớt miệng. Ăn được một nửa, Thắng Ngọc ở đâu bước vào phòng tiệc, Hạp Lư vội vời con gái ngồi xuống bên cạnh mình, rồi ban cho nửa con cá vừa đang ăn dở. Đó đã là một điều làm mất thể thống rồi, quốc vương mở tiệc đãi khách nước ngoài, đâu có cái lý là để con gái cùng dự tiệc? Ấy thế nhưng Thắng Ngọc chẳng những không biết tạ ơn sự sủng ái của phụ vương mình, ngược lại đã nổi cơn lửa giận lên nói rằng: “Vương đã lấy con cá ăn thừa ra làm nhục con, con còn mặt mũi nào sống ở trên đời này nữa…”, nàng khóc lóc rồi vùng vằng bỏ đi ra vườn sau tự vẫn. Hạp Lư nghe báo, đau khổ như không thiết sống nữa, bèn cho hậu táng ở bên ngoài cửa Tây Xương. Ở chỗ đó lại cho đào hồ đắp núi, hồ đó người đời sau gọi là hồ Nữ Phần (mộ con gái). Rồi lại cho phá núi đục đá thành hình quan quách, lấy các đồ châu báu như đỉnh vàng, chén ngọc, bình rượu bằng bạc, xiêm bằng hạt châu và thanh gươm quý “Bàn Sính”… làm đồ tuỳ táng. Ngày cất đám, múa hạc trắng đi giữa phố phường nước Ngô, lệnh cho muôn dân phải ra xem và đưa ma ra đến cửa đường hầm. Trong đường hầm có đặt then hãm, con gái con trai đã vào trong đó cái hãm bật lên, cửa hầm sẽ đóng lại, đất sẽ lấp chặt, con trai con gái chết tới hơn vạn người, Hạp Lư bảo rằng: “Khiến con gái ta có hàng vạn người chết theo, như thế sẽ không bị buồn tẻ nữa”…

Trong điện lúc này chỉ còn hai người là vua và tôi, lại mặc nhiên không ai nói một lời, im lìm như chết, lặng lẽ đến nỗi hai người nghe thấy tiếng tim đập của nhau. Hoàng hôn trùm lên cả cung điện vua Ngô, nỗi lòng Hạp Lư cũng ảm đạm y bóng chiều tà. Một tia nắng quái qua lớp song the chiếu vào trong điện đỏ bừng lên rực rỡ, đó phải chăng là giọt máu lai láng chảy ra từ tâm can tan nát của Ngô Vương… Nội thị bước vào, thắp sáng mấy ngọn nến trên án thư, ánh nến lung linh, cả cung điện sáng bừng lên. Không biết bao lâu sau, Hạp Lư đau đớn thốt lên:

– Giết người để đưa tang! Quả là tội của quả nhân., tội không thể nào tha chết, vô đạo đức hết mức! Nhưng ván đã đóng thuyền, gạo đã nấu thành cơm mất rồi, chẳng hay nguyên soái có kế sách gì hay hơn không, để mà chuộc tội cho quả nhân, rất mong hãy có lời chỉ vẽ – Ngô Vương vừa nói, nước mắt vừa tuôn ra như mưa, nỗi thương tâm của ông lúc này, còn hơn cả nỗi thương con gái chết yểu.

Đường đường là vua một nước, mà dám mạnh dạn thừa nhận lỗi lầm của mình như thế, quả thực là hiếm thấy và đáng quý, Tôn Tử rất lấy làm cảm động, đã thẳng thắn và chân tình vạch ra cho ông hai biện pháp để “chuộc tội”: một là ban chiếu chỉ trong cả nước, công khai nhận tội; hai là dùng tiền bạc để an cư cha mẹ những người con trai con gái đã chết, đề bày tỏ tấm lòng thành đã thực sự tỏ ra ăn năn.

Nếu đem ra mà so, sửa lỗi quả là khá hơn nhận lỗi rất nhiều, nhất là ở những con người vốn có quyền thế và địa vị, đối với họ, thể diện còn lớn hơn cả tính mạng. Đương nhiên đó chẳng qua chỉ là thứ hư vinh, đi vào thực chất, những hạng người ấy thường là vô liêm sỉ nhất. Tuy nhiên, qua một hồi giằng co rất dữ dội trong tư tưởng, cuối cùng Hạp Lư đã chấp nhận lời can gián đó của Tôn Tử. Thấy Hạp Lư dám sửa lỗi lầm như vậy, Tôn Tử tỏ ra rất hài lòng và càng thêm tin tưởng trong việc phò tá Hạp Lư giành bá quyền.

Qua lời đề nghị và thỉnh cầu của Tôn Tử, Hạp Lư ủng hộ việc ông cải trang vi hành trong dân gian, thị sát công trạng và tội lỗi vi phạm pháp luật, kỷ cương của quan lại các cấp, thấm thía dân tình sau đó đề ra biện pháp trừng trị bọn hủ bại.

Từ đó, gót chân của Tôn Tử đã in khắp trên đất nước núi non của nước Ngô, có lúc ông là một gã tiều phu, có khi lại là anh chàng đi hái thuốc, có lúc làm một lão ăn mày, có lúc lại là một người đi buôn mang hàng lên núi và xuống vùng quanh hồ, có lúc là một dân chài trên thuyền, có khi lại là một nhà tu hành đã hoá duyên…

Có người đem cả trăm thợ thuyền vào sâu trong núi Thiên Trì, giữa thanh thiên bạch nhật, chặt hết cả những loại gỗ quý như tử nam, hoàng đàn, rồi xếp lên xe lên thuyền, chở đi sạch sành sanh, chẳng ai dám hỏi lấy một lời, chẳng ai dám ra trị tội, bởi cậu của người ấy là quan tư đồ của nước Ngô là Thúc Nam Dương.

Sông Ngô Tùng năm nào cũng gây lụt lội, mỗi năm đến mùa lũ, nước sông dâng tràn, huỷ hoại ruộng vườn, nhấn chìm ngô lúa, cuốn trôi gia súc, dân tình cực khổ không biết đâu mà nói. Cấp tể của Ngô Tùng là Ngưu Đắc Thế, chẳng chịu lãnh đạo dân chúng ven sông khơi dòng, đắp đê trừ nạn lụt, lại đi nói rằng do Vu Đông Diễn làm mưa làm gió nên mới ra như thế, còn bịa ra câu chuyện không căn cứ rằng: “Vu Đông Diễn là một con quỷ cái, vì không có con cái nên sinh ra phiền lòng, thế nên mới làm mưa làm gió. Để lấy lòng Vu Đông Diễn, hàng năm phải chọn một thằng bé lên ba thật kháu khỉnh, dâng cho Vu Đông Diễn làm con, mới khỏi bị lụt lội”. Cứ đến đầu năm, Ngưu Đắc Thế lại sai nha dịch đi khắp nơi của Ngô Trung, đến hàng trăm hàng ngàn nhà, phát hiện thấy đứa trẻ lên ba nào ưng ý, là bắt luôn cả bố mẹ lẫn đứa trẻ ấy về ấp nha để chờ chọn lựa, cho ăn uống thật ngon lành, để cho bọn trẻ ấy đứa nào đứa nấy béo trắng ra. Mồng ba tháng ba là ngày sinh cua Vương Mẫu nương nương, cũng là ngày lành tháng tốt để dân chúng ven sông Ngô Tùng dâng trẻ em. Giờ mão ngày hôm ấy, đàn ông đàn bà trong cả ấp tập trung ở phường xe, tổ chức nghi lễ long trọng để dâng con. Trước đó đã có người tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo và trang điểm thật đẹp cho đứa bé sắp đem dâng. Vừa đến giờ Tỵ, đặt đứa trẻ vào trong một cái chậu bằng gỗ nhỏ trôi theo dòng sông, cho đến lúc sóng gió nuốt chìm đi. Ở nơi dâng trẻ, trống phách nổi lên vang trời, người dân dự lễ dâng con vui mừng nhảy múa, cha mẹ của đứa trẻ cũng như ông bà và người thân của nó thì khóc lăn khóc lộn, chết đi sống lại. Những chi phí cho buổi lễ dâng con cũng là tiền thu của dân, đáng mười đồng thì thu cả trăm đồng, phần lớn số tiền đóng góp đó đã chui vào hầu bao của ấp tể. Các ông bố bà mẹ của những đứa trẻ đang bị chọn muốn cho con mình không chọn trúng, phải tranh nhau đút lót cho ấp tể, Ngưu ấp tể do đó mà cũng vớ được nhiều món bở, túi tiền của hắn càng căng, càng giàu nứt khố đổ vách.

Lộ Tân Hảo ở Khoa Đường, ỷ vào thế bố vợ làm quan trong triều bá chiếm hồ Kim Kê, hễ ai là ngư dân mò cua bắt cá ở mặt hồ ấy, đều phải nộp thuế cho hắn mà thuế suất lại cao tới sáu phần mười. Hắn tự cho xây công đường, nhà giam, hễ ai dám chống thuế không nộp, nhẹ thì bị treo lên mà đánh đập, nặng thì bị ném vào lao nước, đề ở đó rồi bị giày vò đến chết. Trong những năm Hạp Lư cầm quyền, những ngư dân bị trừng trị như thế có đến hàng trăm người. Ngư dân kêu trời, trời không thấu, gọi đất, đất không thiêng, vì vậy mà mối thù trong lòng họ còn sâu ơn cả nước hồ Kim Kê.

Bên bờ đầm Thịnh Trạch có một chủ vựa cá họ Hứa tên là Hạo Hán, vì hắn có con rể làm ở ấp tể ở Thường Thục, có chỗ dựa nên chẳng sợ gì ai nên hắn hoành hành ngang ngược, không còn việc gì tàn ác mà không làm. Hắn lây việc buôn tôm bán cá là nghề nghiệp, sống bằng bú sữa người. Những người ở vú để cho hắn bú phải không quá hai mươi tuổi; mà phải là mẹ của đứa trẻ con trai đầu lòng. Khi bú, như một đứa trẻ con, hắn cũng rúc đầu vào lòng vào người vú nuôi, một tay mân mê sờ vú bên này, miệng ngậm vú bên kia. Hắn ăn lại rất khỏe, mỗi bữa phải hàng chục người như thế cho bú thì hắn mới no. Tuổi tác của hắn càng ngày càng cao, thể trạng lại càng ngày càng to lớn đẫy đà, trong khi đó có biết bao nhiêu bà mẹ trẻ sa sút héo hon đi, gầy như que củi, và có biết bao nhiêu đứa trẻ có mẹ mà phải chịu chết đói. Đương nhiên, những người đàn bà ấy, ngoài việc cho hắn bú, nếu ai có tý nhan sắc, cũng khó tránh khỏi bị hắn hành hạ giày vò.

*

* *

Ở Côn Sơn có một tên họ Gia Cát, ỷ vào thế có chút tình thông gia với Hoạn Giả Lệnh ở trong cung nên cung hoành hành làm bậy làm bạ, chẳng nể sợ gì ai. Năm thôn ba làng quanh đó hễ có con gái đẹp mà chưa dâng cho hắn dâm lạc là chưa được lấy chồng, hắn gọi đó là “nếm của tươi”. Hễ nhà nào có đám cưới mà cô dâu dễ coi một chút, đều phải cho ngủ với hắn ba đêm, hắn gọi đó là “quyền hưởng đêm đầu”. Vì có tên ác bá ấy ở đó, cho nên tại vùng Côn Sơn này có không biết bao nhiêu cô gái trẻ đã nhảy xuống sông trẫm mình, có bao nhiêu người già đã thấp thoáng như đèn trước gió mà cũng phải treo đầu tự tử, có bao nhiêu người gia đình đám cưới đã biến thành đám tang.

Tên ấp tể ở Vô Tích, “Mưu lợi cho dân” muốn bắc một cây cầu đá qua sông dài ba dặm, thật đáng gọi là cha mẹ dân, công trình vô cùng to lớn. Để mưu cái lợi đó, ấp tể đã lĩnh trong kho nhà nước ra hai ngàn lạng bạc trắng, thu trong dân một ngàn năm trăm lạng, điều động dân công gần một ngàn người làm vừa đúng ba năm, mới gọi là xong việc. Tuy nhiên, cây cầu gọi là “cầu ba dặm” này chẳng qua chỉ là một chiếc cầu đá một vòm bắc ngang qua một con suối ở mốc ba dặm nơi phía bắc thành, dài có một trượng hai, rộng vừa sáu thước. Còn số bạc kếch xù trên kia, một phần ấp tể bỏ vào tận đáy rương, một phần nữa đem ra xây dựng phủ đệ, biệt thự. Gõ tận xương hút tận tuỷ, vừa mệt dân vừa tốn kém tiền của như thế ba năm trời, hoàn toàn chỉ vì một mình tên ấp tể này, còn dân chúng thì hầu như chẳng được chút lợi lộc gì. Cấp trên cũng từng cử quan viên xuống đôn đốc kiềm tra, ấp tể đã lấy thật nhiều vàng bạc để đút lót, các quan về báo cáo trên toàn việc tốt, ấp tể chẳng còn lo gì bị pháp luật ràng buộc.

Quan lại địa phương với công trình tương tự như thế ở đâu cũng có, đậu chỉ trong con số hàng trăm hàng ngàn chẳng hạn như công trình Ngu Lý Câu (mương năm dặm) Bát Lý khoản (đầm tám dặm) Tam thập lý đề (đê ba mươi dặm), vv… tất cả đều là những trò bịp bợm lừa người.

*

* *

Qua hai tháng trời lặn lội bôn ba, về căn bản, Tôn Tử đã tìm hiểu được bộ mặt chính trị của nước Ngô, trở về kinh đô đã báo cáo lại tường tận với Hạp Lư, rồi cùng với các quan trong triều vào dạng hiền thần như Ngũ Tử Tư bàn bạc tìm cách giải quyết và đưa ra những biện pháp trừng trị. Nói tóm lại, là phải tóm cổ một mẻ, tống giam một mẻ, cho lưu đầy một mẻ, chém đầu một mẻ. Kẻ nào tội ác quá lớn phải bêu đầu ra chợ, hoặc cho xe kéo rong trên đường, hoặc giao cho dân chúng đánh đập sỉ vả cho chết đi để hả giận. Nếu có làm như thế, kẻ tàn ác mới run sợ, muôn dân mới hể hả, trên dưới mới dốc một lòng, cả nước mới yên hàn nghiêm chỉnh lại.

Nguyễn Bá Thính
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Tào Nghiêu Đức

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.