Hôm ấy, ăn cơm trưa xong, Phạm Ngọc Lan đang bàn công việc với mẹ chồng, bỗng thấy ông Phương Bác Cổ xưa nay vốn rất chín chắn, đi xồng xộc vào nhà xin thôi việc vì cậu học trò Điền Vũ đã lấy oán trả ơn, tung chó săn ra cắn chết năm con cừu non của nhà ông. Nghe nói thế cả nhà đều kinh ngạc mọi người chẳng ai bảo ai cùng nói:
– Không phải thế! Dứt khoát không có chuyện như thế!
– Đó là sự thực hoàn toàn chính xác! – Đang lúc mọi người xôn xao bàn tán, Điền Vũ xuất hiện trước đám động, giọng nói non nớt trẻ thơ của cậu nghe ra rất lảnh lót và rõ ràng. Cậu tỏ ra dám làm thì dám nhận, không hề ngập ngừng ấp úng, dứt khoát như đóng đinh lên cột.
Hôm ấy là tiết Thanh minh, trường tư của Điền phủ nghỉ học, thầy trò đi dạo chơi một ngày. Khi mặt trời vừa từ từ ló lên ở phương đông, Điền Vũ một tay dắt con chó săn, một tay cầm cây thương ngắn đi thẳng đến lán cừu của nhà thầy giáo Phương. Con chó săn đã ngửi thấy mùi hôi của cừu, thè dài lưỡi ra, tai dỏng lên, dãi nhỏ ra hàng thước và sủa lên inh ỏi, xồng xộc lao lên phía tước. Điền Vũ buông tay ra, con chó kéo theo sợi xích kêu xoang xoảng, xông vào lán nhốt cừu, thấy cừu là cắn. Mấy con cừu lớn núp vào chỗ kín, con chó săn xông vào một con cừu non lông trắng như tuyết, há mõm ra ngoạm lấy cổ nó, con cừu nhỏ đáng thương còn chưa kịp kêu lên tiếng nào đã bị cắn chết tươi. Theo thói quen đã được huấn luyện, con chó săn cứ cắn chết một con lại ngoạm tha ra để một bên, tiếp tục xông vào con khác. Sáng sớm, Phương Bác Cổ đang ở trong lán vắt sữa cừu thấy con chú săn xông vào lại dữ tợn như thế, tức quá muốn nổ cả ruột, dụi mắt nhìn cho kỹ, hoá ra là chó săn của Điền phủ, ông càng chẳng hiểu ra sao. Đúng lúc ấy, Điền Vũ hổn hà hổn hển đuổi theo vào lán cừu, ngỏ lời xin lỗi Phương Bác Cổ:
– Thật là có lỗi! Thưa thầy giáo Phương! Con chó ranh này đã giằng tuột xích, chạy đến đây gây sự chẳng lành. – Tiếp đó cậu quay sang con chó, nghiêm trang mà có ngành có ngọn mắng nó. – Con kia, mày là đồ bất nhân, là quân vô nghĩa, vô cớ đến đây xâm phạm “quyền của lũ cừu”, để đến nỗi mấy con cừu non vô tội phải chết oan. Hành động dã man của mày, Chu lễ không dung thứ, nếu Chu công mà còn sống, thế nào cũng sẽ chửi mắng và trừng phạt mày. Mày phải nhớ rằng, cừu và chó đều là vật nuôi trong nhà, là chỗ thân cận như anh em, lẽ ra mày phải thương yêu hoà thuận với nhau, phải nhân ái với nhau, phải đối xử với nhau bằng lễ, sao có thể ngang ngược vô lối, chẳng lẽ mày lại không sợ các bậc chân nhân quân tử trong thiên hạ mắng quở phạt hay sao?…
Súc vật thì làm sao hiểu được cái gì là đạo nghĩa, đang lúc Điền Vũ thao thao dạy dỗ như thế, lại thêm hai con cừu non nữa bỏ xác trong tiếng kêu thảm thiết. Điền Vũ thấy vậy, liền van nài thầy giáo Phương:
– Con đã nói như thế mà con chó này không nghe, xin ân sư hãy thương đến những con cừu non kia mà làm cho con chó săn kia hiểu được đại nghĩa của nhân đức khuyên nó đổi ác thành thiện, đừng có dùng bạo lực thế này với đồng loại của nó nữa ạ.
Phương Bác Cổ tức đến run người, lắp ba lắp bắp chỉ vào Điền Vũ:
– Mà… mà… ỳ!…
Điền Vũ bỗng thấy thầy giáo Phương quả thực đáng thương, vội vàng cầm cây thương chạy theo con chó săn đang định vồ con cừu đực, nhằm trúng đầu nó xỉa mạnh, con chó săn lập tức lăn quay ra đất rú lên và lăn lộn mấy vòng rồi tắt thở. Điền Vũ làm như trêu cợt chỉ vào con chó nói:
– Giỏi nhỉ! Thì ra cũng không chịu được đâm như thế này, mới có một nhát mà đã toi mạng. – Cậu cúi xuống vỗ vỗ vào đầu con chó nói. – Thế nào? Anh bạn của tôi, còn dám giở trò ngang ngược nữa hay thôi? – Rồi lại tỏ ra cảm động, cậu than thở tiếp. – Ôi!… không phải ai cũng có thể trở thành Nghiêu,Thuấn, chỉ có dựa vào sự thuyết giáo suông về nhân đức, thì chẳng có cách gì làm thay đổi bản tính ham muốn của loài người, vẫn cứ là vũ khí trong tay mới có thể nói chuyện được. – Vừa nói cậu vừa bước tới chỗ xác một con cừu còn bê bết máu, cúi xuống nhấc nó lên, ôm vào lòng vuốt ve, vỗ về nó, làm như vô cùng thương tiếc, xót xa nó. – Cừu non đáng thương ơi, giá như trong tay mày cũng có một cây thương nhọn, hay một hàm răng sắc, thì mày đã không phải chết thế này. Hãy nhớ lấy bài học này nhé, trước một kẻ thù hung ác, thì chớ có tỏ ra quá lành hiền…
Điền Vũ còn đang muốn nói nữa, nhưng thầy giáo Phương tức đến run người, rồi lăn ra đất, co giật chân tay, sùi cả bọt mép ra, cậu vội gọi người khiêng về nhà để nằm nghỉ yên một chỗ.
Khoảng nửa canh giờ sau, Phương Bác Cổ mới dần dần tỉnh lại, đầu óc cũng dần sáng suốt và ông thực thà thừa nhận rằng: Mình mang tiếng cả một đống tuổi tác thế này, mà lại trở thành bại tướng dưới tay một đứa trẻ ranh. Ông không hề quở trách Điền Vũ, cái trò tai ác của cậu, mặc dù có làm cho ông thật thảm hại, nhưng cách nghĩ của cậu, mưu lược của cậu cũng như gan dạ của cậu, quả là kinh người, khỏi phải nói, sau này chắc hẳn đây sẽ là một bậc hùng kiệt trên đời, là rường cột của đất nước. Một đời làm thầy, chỉ cần dạy ra được một người học trò như thế, cũng đã đủ lắm rồi! Tuy rằng nghĩ như thế, nhưng ông vẫn không chịu thay đổi ý định thôi việc của mình, bởi vì Điền Vũ làm như thế, đã quá khiến cho ông mất mặt với mọi người.
Câu chuyện mang tình tiết hài hước đó, như một làn gió xuân thổi khắp kinh thành Lâm Tri, Điền Thư nghe xong, hể hả cả cười. Từ đó ông đã dự đoán ra rằng, Điền Vũ sau này sẽ trở thành nhà mưu lược quân sự bậc nhất trên đời; bởi ngay từ lúc này, cậu đã tỏ ra biết nhìn nhận, có tài thao lược cũng như gan dạ và hiểu biết.
Thầy giáo Phương cố tình xin thôi việc, Điền phủ cũng chẳng biết làm thế nào hơn, đành để ông nghỉ việc mới món thù lao có một con số kinh người. Danh nghĩa là trả công, nhưng thực tế là lấy tiền xin lỗi, lấy tiền để chuộc lấy điều không phải với thầy.
Thôn Điền Ban có một nhà tên là Lưu Nghĩa Đức, tổ tiên để lại cho mấy chục mẫu điền sản, cuộc sống rất phong lưu khá giả. Hắn suốt ngày mặc thì gấm vóc lụa là, ăn thì luôn luôn thịt cá, ra khỏi cửa không xe thì ngựa, về đến nhà thì luôn mồm sai con ở nàng hầu. Tên hắn cha mẹ đặt cho là “Nghĩa Đức”, nhưng thực tế việc hắn làm thì lại chẳng nghiêm trang, rượu chè cờ bạc, chẳng thiếu việc gì hư hỏng mà hắn chưa làm, lường gạt lọc lừa, bóp nặn hết làng trên xóm dưới. Trong nhà hắn, thê thiếp đã hàng đàn, nhưng vẫn đến mọi nơi trêu hoa ghẹo nguyệt.
Thôn Đoạn Hà có một người nông dân đôn hậu, tên anh ta là Đoạn Thừa Thuận, người vợ là Liễu Dương Hoa, xinh đẹp hơn người, tính khí lẳng lơ, vốn từ lâu đã tằng tịu vụng trộm với Lưu Nghĩa Đức. Năm Lưu Nghĩa Đức sáu mươi ba tuổi, người vợ kết tóc xe tơ của hắn là Loan thị ốm chết, hắn bèn nghĩ kế giết hại Đoạn Thừa Thuận, cưới Liễu Dương Hoa về nhà mình, lấn át mọi người khác, trở thành vợ cả kế của hắn. Đoạn Thừa Thuận có một đứa con trai mồ côi, tên tục là Lai Phúc, năm ấy vừa tròn mười hai tuổi, theo mẹ tái giá, về ở nhà họ Lưu. Bất kể bề bậc thế nào, thì Lai Phúc cũng chỉ là một cậu ấm trong nhà họ Lưu, thế nhưng cậu lại mặc rất lam lũ, ăn thì không bằng chó bằng lợn. Hàng ngày, dưới làn roi của Lưu Nghĩa Đức cậu phải đi chăn cừu, chăn lợn, chăn chó, tưới rau, hót phân, đào đất, quét cửa quét nhà. Rất rõ ràng là Lưu Nghĩa Đức đang rắp tâm cố tình đày đoạ cậu, những chỉ mong đẩy được cậu đến chỗ chết mới hả. Lưu Nghĩa Đức còn sợ rằng Lai Phúc lớn lên thành người, sẽ trả thù người “cha” dượng lòng lang dạ thú, kẻ thù đã giết cha cướp mẹ của cậu. Bởi vậy nên tâm địa hắn mới ác độc đến thế, thủ đoạn mới tàn khốc đến thế.
Tận mắt nhìn thấy đứa con rứt ruột đẻ ra của mình bị đày đoạ đến mức gầy như que củi, lẽ nào Liễu Dương Hoa không thấy xót xa trong lòng? Làm người ai chẳng có một trái tim, trâu bò còn biết âu yếm liếm con, huống chi là con người? Thế nhưng đau lòng xót ruột thì phỏng có cách gì? Lúc đầu hai người mới tằng tịu với nhau, Lưu Nghĩa Đức dùng đủ lời ngon ngọt, hẹn biển thề non, nói hết đủ mọi lời tốt đẹp ở trên đời. Hai người đến với nhau, đêm ngày hú hý, như keo như sơn, đảo điên loan phượng, làm mây làm mưa… Đến khi chiếm được Liễu Dương Hoa về tay, Lưu Nghĩa Đức đã thực sự biến nàng thành con mèo hoa ở đầu giường của hắn, lúc thích lên thì ôm ấp vỗ về, âu yếm yêu chiều, khi chán chường rồi thì chửi cha mắng mẹ, thượng cẳng chân hạ cẳng tay. Hoa nở phỏng tươi được mấy ngày? Đến khi Lưu Nghĩa Đức lại đi tìm của lạ, Liễu Dương Hoa bị vứt bỏ như một chiếc giày rách, ngoài chuyện bị chà đạp giày vò, còn phải đi làm những công việc nặng nhọc trong nhà, chẳng khác chi một con hầu trong phủ. Lưu Nghĩa Đức mở miệng ra là chửi, đưa tay lên là đánh, đến mức thực sự không còn coi nàng là một con người nữa. Liễu Dương Hoa lúc này, vừa là chỗ để Lưu Nghĩa Đức thoả mãn dục vọng, lại là nơi để hắn trút bực dọc, đúng là một vật nuôi biết nói trong nhà họ Lưu. Tượng đất qua sông, lúc này Liễu Dương Hoa lo cho mình còn chưa xong, sức đâu còn lo thay cho con trai được nữa.
Điền Vũ từ lâu đã biết được cảnh ngộ không may của Lai Phúc, tỏ ra hết sức cảm thông. Một hôm, hai người gặp nhau trên phố, thấy Lai Phúc trên đầu chằng chịt gân xanh, Điền Vũ vô cùng thương hại vội vàng giúp đỡ, móc túi đưa cho Lai Phúc mấy đồng tiền lẻ rồi chủ động chuyện trò. Mới đầu, Lai Phúc thấy trước mặt mình là một cậu ấm sang trọng mà lại rất xa lạ, cậu bỗng như một chú chuột ngày, lấm lét nhìn trước ngó sau, chỉ sợ có mèo đến bắt. Dần dần, cậu phát hiện ra Điền Vũ là con người hiền lành, đôn hậu, lại sôi nổi nhiệt tình, đối xử hoà nhã, không như lũ chó má trong nhà họ Lưu, động mở miệng ra là chửi cậu “đồ lộn giống”. Trong lòng đã hết nghi ngại, Lai Phúc cũng trở nên cởi mở hơn, cậu cũng tỏ ra rất nhanh nhạy, lại hay nói chuyện. Điền Vũ hỏi đến đâu, cậu trả lời trôi chảy đến đấy, chỉ mỗi tội kể đến đâu khóc đến đấy, thật khổ! Nghe những lời kể lể của Lai Phúc, từ chỗ thương hại, cảm thông, Điền Vũ bỗng trở nên phẫn uất bất bình, oán hận với kẻ ác, định bụng sẽ làm cho Lai Phúc hả giận một phen, dù có phải dạy cho Nghĩa Đức một bài học cũng được. Điền Vũ dò hỏi Lai Phúc:
– Muốn trị bọn người xấu này, cậu có dám làm không?
Lai Phúc nghển cái cổ bọ ngựa của mình lên đáp lại:
– Có hễ mà trả được thù, tôi chẳng sợ cái gì hết! Chết cũng xong! Sống mà chịu tội với nó thế này, chẳng thà liều một phen rồi chết cũng sướng!
Điền Vũ lại dò hỏi thêm:
– Cậu có gần nơi Lưu Nghĩa Đức ăn uống được không?
– Có, sáng nào Lưu Nghĩa Đức cũng uống trà sâm, đều do tôi bưng từ dưới bếp lên tận buồng ngủ cho hắn. – Lai Phúc trả lời rất gãy gọn.
Điền Vũ nửa tin nửa ngờ, hỏi:
– Bên cạnh Lưu Nghĩa Đức đông đảo con ở người hầu như thế, tại sao lại sai có mình cậu bưng trà sâm?
– Cái đó thì… – Lai Phúc không biết trả lời thế nào.
Điền Vũ cau mày, làm ra vẻ phân tích, nói:
– Tớ nghĩ rằng, hắn làm thế đúng là chỉ mượn cớ để giày vò cậu. Ví dụ cận bưng lên sớm hay muộn, nhanh hay chậm, trà nóng hay nguội, vv… hắn đều lấy đó làm có để đánh cậu, mắng cậu, trừng phạt cậu…
– Đúng thế! Chính là vì mục đích ấy đấy. – Lai Phúc ngắt ngang lời Điền Vũ. – Có một lần, tớ bưng sâm đến cửa phòng ngủ của hắn, quên gõ cửa, đẩy cửa bước vào, thấy Lưu Nghĩa Đức đang đè một cô gái hầu xuống giường. – Lai Phúc thẹn thò cúi đầu, mãi sau mới xụt xịt nói tiếp – Sáng hôm ấy, Lưu Nghĩa Đức đã đánh tớ chết đi sống lại…
Điền Vũ bỗng hớn hở nói:
– Nếu như thế, là chúng ta có chỗ để thừa cơ rồi? – Cậu vẫy tay gọi Lai Phúc: – Lại đây, ghé tai đây tớ bảo cái này.
Lai Phúc ghé sát lại, Điền Vũ thì thầm một thôi một hồi như thế, như thế, cuối cùng hỏi:
– Cậu dám làm theo mẹo tớ thế không?
– Chuyện đó thì có gì nhà không dám, cậu cứ chờ đấy mà xem. – Lai Phúc mừng rỡ, tất bật đi ngay.
Buổi sáng sớm ba ngày sau đó, như mọi ngày, Lưu Nghĩa Đức vẫn uống trà sâm, đang kiếm cớ để gây chuyện với Lai Phúc, bỗng thấy nhâm nhẩm đau bụng, rồi tiếp đó từng cơn đau nối nhau, đau quằn quại, như có đao đâm, như xé gan xé ruột. Thế rồi bỗng nhiên thấy lục phủ ngũ tạng như cũng biến ra nước ùng ục ùng ục như nước lũ phá đê chỉ muốn tuôn ra ngay. Hắn vội vàng xông ra cửa, chân không kịp xỏ vào giày, tay xách lấy cạp quần, chạy một mạch ra nhà xí. Lúc ấy ngoài trời, những bông tuyết to như lông gà bay tới tấp, dưới mặt sân, tuyết cũng phủ dày hàng thước, Lưu Nghĩa Đức bước đi trong tuyết ngập ống chân, tuy chỉ có một đoạn đường, mà còn khó hơn vượt đèo leo núi, hắn bước thấp bước cao, ngả nghiêng xiêu vẹo như gà con mắc tóc, vất vả lắm mới ra tới cửa nhà xí, vừa định bước vào thì thấy trên bức tường thấp có vắt một giải thắt lưng bằng lụa đỏ. Trời mịt mờ, đất tối tăm, nhà cửa, sân vườn, cây cối, hoa cỏ đều trắng xoá một màu, mênh mang một giải, chỉ có chiếc thắt lưng là màu đỏ, lấp ló như một ngọn đèn, nở tung như một bông hoa, cháy rực lên như ngọn lửa. Chiếc thắt lưng đỏ ấy nói với Lưu Nghĩa Đức rằng nàng dâu thứ tám của hắn vừa mới cưới hiện đang ở trong đó, đương nhiên không thể tự ý bước vào. Đành đứng ở ngoài chờ một lát vậy sao? Không được! Một là hai bàn chân trần đã buốt như kim châm, hai là để nàng dâu thứ tám nhìn thấy thì quá bất nhã, thế là vội vội vàng ôm bụng quay về phòng ngủ.
Phong tục của nước Tề, bất kể nhà giàu đến đâu, đàn ông đàn bà đều cùng dùng chung một hố xí, mà đều làm lộ thiên, chứ nếu làm riêng như ở thành phố bây giờ thì Lưu Nghĩa Đức đã không phải khổ sở đến thế.
Lưu Nghĩa Đức về đến phòng ngủ, khăn áo chỉnh tề rồi lúc thì phủ phục trên giường ép bụng cho đỡ đau, lúc thì cuống quýt chạy quanh phòng, tay bưng lấy hông, nhăn nhăn nhó nhó, chốc chốc lại rên lên từng chập. Mãi đến lúc đoán chừng nàng dâu đã về phòng mình rồi, hắn mới lại lò dò ra nhà xí. Thế nhưng còn chưa ra đến nơi, mãi từ xa đã nhìn thấy ở trên bức tường, chiếc thắt lưng đỏ vẫn vắt ngang ở đấy, không làm thế nào hơn, lại phải co ro bóp bụng trở lại phòng ngủ, ngồi im mà chờ. Tuy nhiên, những thứ gì sục sôi trong bụng lại không buông tha hắn, buộc hắn phải ra nhà xí lần nữa với tốc độ nhanh nhất. Chiếc thắt lưng đỏ vẫn chặn hắn lại ở bên ngoài, đẩy hắn trở về phòng ngủ. Lưu Nghĩa Đức cứ thế lật đật quanh đi quanh lại ba bốn lần, thế nhưng cái thắt lưng đỏ trên tường vẫn cứ như một ngọn đèn chưa đến lúc cạn dầu, nằm nguyên ở đó, như hoa vẫn chưa tàn, như lửa còn chưa tắt. Hắn không thể chịu đựng thêm được nữa, bỗng nghe thấy một tiếng “bục” âm vang, cả phân lẫn nước tung toé ra trong đũng quần, một thứ nước dơ bẩn vàng vàng theo ống quần tuôn chảy ra ngoài, cả căn phòng thối nồng thối nặc…
Thế là Lưu Nghĩa Đức phải một phen mất mặt với tất cả người già, người trẻ, chỉ những muốn tụt quần ra mà che lấy mặt. Hắn không hiểu sao cô con dâu thứ tám vào làm gì trong ấy mà lâu đến thế, hay là nó cũng bị tháo dạ thế này? Liệu có bị lả đi rồi chết cóng ở trong hố xí không? Nghĩ đến đây, tự dưng hắn thấy chột dạ, vội sai người hầu gái ra hố xí xem sự thể ra sao, nhưng ở đấy làm gì có ai? Đương nhiên, cái thắt lưng đỏ trên tường cũng không thấy nữa. Lưu Nghĩa Đức lại cho người đến tận phòng ở của nàng dâu thứ tám hỏi xem sao, mặt trời lên ba con sào rồi đôi vợ chồng trẻ vẫn còn ôm nhau ngủ say như chết.
Lưu Nghĩa Đức biết mình đã trúng kế gian, bị người ta lôi ra làm trò cười, liền cho gọi mọi người lại hỏi tội, để làm cho ra ngô ra khoai rồi sẽ trị tội đến nơi đến chốn. Lai Phúc cố nhiên trở thành trọng điểm của cuộc xét hỏi. Thế nhưng dù ầm ĩ lên hàng mười mấy hôm liền khiến cho cả phủ đệ xôn xao náo động, ăn không ngon ngủ không yên, ai cũng bị nghi ngờ, ai cũng phải xét hỏi, nhưng chẳng có kết quả gì, Lưu Nghĩa Đức đành cuốn cờ tắt trống, vội vã thu quân. Mọi việc đều xảy ra trong phủ và đều bí mật tiến hành, không để tin tức lọt ra ngoài, nhưng tin đồn vẫn không cánh mà bay, làm cho cả kinh thành xôn xao, trẻ già đều biết câu chuyện mang tựa đề “Lưu Nghĩa Đức và cái thắt lưng đỏ của nàng dâu thứ tám”.
Mưu kế Lai Phúc trừng trị Lưu Nghĩa Đức là trộn thuốc tả vào trà sâm, vắt thắt lưng đỏ lên tường nhà xí… tất cả đều do Điền Vũ sắp đặt. Lai Phúc suy cho cùng cũng chỉ là một đứa trẻ, thấy có vẻ sóng yên bể lặng rồi và cũng để bày tỏ lòng biết ơn đối với Điền Vũ nên đã vô tình để lộ câu chuyện ra. Sau khi biết chuyện, Lưu Nghĩa Đức nghiến răng nghiến lợi tỏ ra căm ghét Điền Vũ, chỉ những mong làm sao ăn sống nuốt tươi. Thế nhưng Điền phủ là một nơi thế tập danh môn lệnh tộc của nước Tề, Điền Thư lại là nhân vật làm mưa làm gió khiến ngả nghiêng cả triều chính nước Tề, một cái lông chân còn lớn hơn tấm lưng của Lưu Nghĩa Đức, cho nên hắn không dám tự ý làm.
Ba tháng sau, vườn hoa trong Điền phủ bị một ngọn lửa không tên đốt cháy sạch sành sanh, sau đó không lâu, Liễu Dương Hoa bị đem bán, Lai Phúc mất tích.
Điền phủ đúng là có truyền thống về nhân đức, vườn hoa bị đốt cháy cũng chẳng đáng gì, không dò hỏi căn nguyên. Điền Vũ cũng không hề bị cha ông trách mắng. Thấy cháu mình gặp việc nghĩa dám làm, tinh thần đáng quý, kế đem ra dùng lại không chỗ nào sơ hở, Điền Thư cho rằng, cháu mình đạt được hai điều ấy, dù có phải trả giá bằng một khu vườn cũng đáng. Đồng thời, ông cũng nhân dịp này dạy cho Điền Vũ biết rằng: Làm việc gì cũng đừng có chỉ biết sướng bụng trong chốc lát, mà phải cân nhắc thiệt hơn, phải cân nhắc tới hiệu quả. Nếu so với việc cầm quân đánh trận thì trận này đã thất bại thảm hại, không làm hại gì lớn cho Nghĩa Đức, cháy một một khu vườn không nói làm gì, mà hại là hại cho mẹ con Liễu Dương Hoa…
Thầy giáo mới đồi đến của Điền Vũ họ Triệu, tên là Hựu Phúc, người cao to, khuôn mặt trắng trẻo, cử chỉ nhã nhặn, nói năng ôn tồn, làm việc chắc chắn, rất được mọi người trên dưới trong Điền phủ kính nể. Gần đây, thầy giáo Triệu có điều gì tâm sự nặng nề, suốt ngày mặt ủ mày ê, lầm lỳ chẳng nói, không thiết gì ăn uống… Qua sự dò hỏi mấy lần của Điền Vũ, ông mới nói ra điều tâm sự của mình.
Phía đông thành Lạc An có một nhà viên ngoại họ Trương, tài sản có mười mấy mẫu ruộng thượng đẳng điền, vài nếp nhà lá khá to, cuộc sống cũng khá sung túc. Trương viên ngoại sinh hạ được một trai một gái, con gái đã gả cho Quả Thường Sơn ở thôn Đông, con trai là Phúc Thuận mới lên năm tuổi. Trời có khi mưa khi nắng, con người có lúc phúc lúc hoạ khôn lường, vợ của Trương viên ngoại bỗng đâu mắc bệnh hiểm nghèo, nằm liệt giường mấy tháng rồi về chầu tiên tổ. Trương Viên ngoại quá đau buồn cũng mắc bệnh tim, nằm liệt trên giường. Phúc Thuận thơ ngây mới vừa năm tuổi còn ham nghịch ham chơi, không có ai lo liệu việc cửa nhà, viên ngoại đành phải đón con gái, con rể về ở để chia nhau hoạn nạn. Nào ngờ con gái và con rể đều là những hạng tiểu nhân thấy tiền quên nghĩa, thấy tình hình bệnh tật của Trương viên ngoại ngày một xấu đi, xem chừng không còn hy vọng gì sống nổi, trong bụng chúng đã tính toán làm sao để nắm trong tay gia sản của nhà này. Hai vợ chồng nhỏ to bàn soạn mấy hôm, cuối cùng đã vạch ra một kế độc:
Một buổi sáng, Quả Thường Sơn lấy cớ vào nâng giấc trong tay cầm sẵn hai tờ “di chúc” đã viết sắn, đến trước giường bệnh của ông bố vợ đang hấp hối, ép ông phải điểm chỉ vào hai tờ “di chúc” ấy. Trương viên ngoại nghe nói thế, đưa tay run run đón lấy tờ “di chúc” cố hết sức mở mắt ra, thấy trên đó viết rằng: “Trương viên ngoại thành đông chỉ sinh một con, tất cả gia sản toàn bộ để lại con rể, người ngoài không được lấy đi”. Thấy con rể nhân lúc nguy nan tính bài vơ vét bịa ra “di chúc” hòng bá chiếm toàn bộ tài sản của ông, Trương viên ngoại bất giác tức giận quá, lắp bắp nói chẳng nên lời, thều thào từng tiếng, mắng rằng: “Mày… mày là đồ súc… vật…”. Chưa nói hết câu, hộc máu ra mà chết. Quả Thường Sơn thừa dịp kéo tay Trương viên ngoại lần lượt điểm chỉ lên hai tờ “di chúc”.
Có “di chúc” trong tay, vợ chồng Quả Thường Sơn đã có chỗ dựa không còn lo gì nữa, họ coi Phúc Thuận không còn ra con người nữa, suốt ngày không đánh thì chửi, còn bắt nó rửa nồi, nhóm bếp, đổ thùng phân,.. sự ác độc của họ, còn hơn cả rắn rết. Vợ chồng nhà họ Quả còn lo Phúc Thuận lớn lên sẽ giành lại gia tài, nên đã đuổi nó ra khỏi nhà, thành kẻ ăn mày. Làng trên xóm dưới ai ai cũng thấy bất bình, nhưng trong tay vợ chồng họ Quả lại có “di chúc” của Trương viên ngoại, giấy trắng mực đen, thì biết làm thế nào?…
Trương viên ngoại ở thành đông này lại không phải ai khác mà chính là anh rể của thầy giáo Triệu Hựu Phúc, Phúc Thuận là cháu ngoại của ông, lúc này ông đang rất đau khổ buôn rầu về cảnh ngộ không may của cháu mình mà trở nên rầu rĩ.
Nghe thầy giáo Triệu kể thế, Điền Vũ hỏi:
– Sao thầy không lên quan phủ mà kiện vợ chồng nhà họ Quả ạ?
– Kiện? Thầy làm sao lại chẳng muốn đi kiện chúng nó? – Thầy giáo Triệu làm ra vẻ rất băn khoăn. – Trong tay chúng nó đã có “di chúc” của bố vợ, thầy làm sao mà kiện nổi được chúng nó.
Điền Vũ như có điều suy nghĩ, nói:
– Trong tay Phúc Thuận chẳng phải cũng có một bàn “di chúc” đó sau? Đó chính là chứng cứ.
Triệu Hựu Phúc buồn bã nói:
– Hai bản “di chúc” chẳng sai nhau chữ nào, đều viết rành rành là “tất cả gia sản toàn bộ để lại cho con rể, người ngoài không được lấy đi”, lấy đó làm chứng cứ thì có khác gì hai tay dâng gia tài cho vợ chồng tên súc vật ấy – Thầy giáo Triệu vừa nói vừa đưa bản “di chúc” cho Điền Vũ.
Cầm bản “di chúc” trên tay, Điền Vũ đọc qua một lượt rồi bảo:
– Ân sư sai rồi! Cứ theo như ngu kiến của trò, thì “di chúc” đã viết rất rõ ràng: “Để toàn bộ gia sản lại cho con trai là Phúc Thuận”.
Thầy giáo Triệu tỏ ra rất không hài lòng:
– Thầy đang lo như lửa đốt trong lòng, xin cao túc đừng có nói rỡn.
– Trò đâu dám nói rỡn, xin thầy hãy xem đây. – Điền Vũ cầm “di chúc” đọc. – Trương viên ngoại thành đông, chỉ sinh một con, tất cả gia sản, toàn bộ để lại, con rể người ngoài, không được lấy đi.”
Qua sự ngắt câu như thế của Điền Vũ, thầy giáo Triệu như sáng tỏ ra, thấy trước mắt như thoáng rộng thêm. Ông cầm lại bản “di chúc” xem lại, rồi đọc lên, mỗi con chữ trong bản di chúc như nhảy lên, lấp lánh, toả ra ánh hào quang hy vọng.
Điền Vũ còn phân tích thêm rằng Trương viên ngoại đã có con trai, nhưng còn nhỏ dại, sao lại có thể mang toàn bộ tài sản truyền lại cho con rể chứ? Nếu như thế, thì để cho con trai là Phúc Thuận mới lên năm sống thế nào? Với lại, từ xưa đến nay, có con trai sờ sờ ra đấy, đâu lại có lý đem tài sản truyền lại cho con rể kia chứ?…
Những điều phân tích của Điền Vũ, rõ ràng là đã nêu ra cho thầy giáo Triệu nội dung lời tố tụng. Thầy giáo Triệu nghe qua là hiểu ngay.
Ngày hôm sau, đơn từ tố tụng của Triệu đã đệ lên sảnh đường của phủ huyện, cũng rất may, huyện lệnh là một ông quan thanh liêm “gương sáng treo cao”, vừa trình đơn lên đã được duyệt ngay. Đèn trời phán quyết, toàn bộ gia tài của Trương viên ngoại được trả về cho Phúc Thuận, vợ chồng Quả Thường Sơn bị phạt vạ bốn mươi roi, lập tức phải cút khỏi nhà họ Trương, không được ở thêm ngày nào.
Có một thời gian, do không mời được ông thầy nào vừa ý, Điền Vũ buộc phải đi đến trường công học, thời gian ấy không dài, nhưng Điền Vũ đã có thêm nhiều bạn bè ở lứa tuổi thiếu niên.
Phía bắc thôn Đoạn Hà có một ngôi miếu Long Vương, trong miếu đó có một lão thủ tự vừa tham vừa ác. Phía dưới miếu Long Vương có một vịnh nước sâu gọi là vịnh Rồng. Vịnh này rộng không thấy bờ, sâu không thấy đáy, nước màu xanh đen, âm u khí lạnh, vẻ uy nghiêm khiến người ta dễ sởn da gà. Tương truyền đây là cửa phụ để Đông Hải Long vương ra vào Long cung, mỗi lần Long vương đi ngang qua đây, nước đen dựng lên cột nước vút lên đến trời, gió lay gẫy cả cây, sấm chớp như xẻ núi ra, mưa đá to bằng quả đấm, mưa bão xối xả đem lại tai nạn lớn lao cho dân chúng cả vùng này. Để cầu xin Long vương ban phúc, hàng năm dân chúng đều phải tế lễ Long vương, đổ một số lớn rượu thịt và đồ tế lễ xuống vịnh.
Thôn Đoạn Hà lại có một người thợ mộc khéo tay, tên là Đoạn Ngọc Tài, ông thứ gì cũng làm được và làm thứ gì cũng khéo, ngay cả những việc tinh xảo trong cung vua Tề, cũng thường phải mời ông đến làm. Một hôm lão thủ tự đến tìm Đoạn Ngọc Tài, vừa hay là gặp Đoạn Ngọc Tài vừa khoác túi đồ bước ra khỏi cổng, định sang thôn bên làm việc. Gã thủ tự nói:
– Người sống trên đời giúp người là thiện, ông làm cho ta cái tủ bạc, rồi ta sẽ cầu Long vương ban phúc cho ông.
“Thủ tự” tức là người coi miếu, thế mà lão thủ tự này lại có lai lịch khá dài dòng, tương truyền vốn là một tên thị vệ hộ giá cho Long Vương, từng có lần cứu sống Long vương, nên lúc về già mới đến cái vịnh Rồng này để gác cửa…
Đoạn Ngọc Tài nói:
– Tôi lao động để kiếm cơm ăn, kiếm tiền bằng nghề nghiệp của mình, việc quái gì cần phải Long vương ban phúc!…
Lão thủ tự bị cụt hứng, bị tẩy chay bẽ mặt, thẹn quá hoá cùn, vùng vằng bỏ đi. Ngày hôm sau, hăn đi xin gặp Thiên Thừa quận thú, nói:
– Đêm qua lão già này về Đông Hải chơi, Long vương có lệnh cho lão mang về một bức thư, trình quan phụ mẫu xem. – Nói xong hắn dâng bức thư mạo danh Long vương lên cho Quận thú.
Quận thú mở thư ra xem, thấy trong viết rằng “Người là chúa Thiên Thừa, ta là vua Đông Hải. Từ lâu nghe nói trong vùng ngươi quản hạt có tên thợ mộc là Đoạn Ngọc Tài kỹ nghệ cao siêu, mà như sấm rền bên tai, xin cho hắn tới Long cung ít ngày, để xây cho tiểu vương một toà long môn. Người ta vẫn nói lợi người tức là lợi mình, nếu xong việc này, ta sẽ giữ cho Thiên Thừa luôn luôn gió hoà mưa thuận, ngô lúa bội thu; nhược bằng hơi trái lời, tất phải ra tay nghiêm trị…”
Câu “ra tay nghiêm trị” của Long vương, Quận Thú đã biết trong đó hàm chứa những gì, đó tức là sấm chớp là bão dông, là nhà đổ, là cây gãy, là chìm ngập ruộng đồng, là con người làm mồi cho tôm cá… nghĩ đến đấy, quận thú thấy không rét mà run, vội sai gọi Đoạn Ngọc Tài đến kể rõ tình đầu, lệnh cho ông ta chuẩn bị cho mau, ba ngày sau sẽ đem ông tiến Long cung. Còn như đường đi đến Long đình, trong thư Long vương đã nói rõ: “Sẽ do thủ tự của miếu ta chỉ đường” Vịnh Rồng là cửa thông ra biển Đông, khỏi phải bàn, đến lúc ấy cứ vứt Đoạn Ngọc Tài xuống vịnh Rồng để ông ta tự ra biển Đông.
Đoạn Ngọc Tài thừa biết, đây là đòn trả thù của lão thủ tự, chỉ vì mình không chịu làm tủ bạc cho hắn, lại còn đấu khẩu với hắn, cho nên hắn đã mạo danh Long vương, mượn tay quận thú, định đưa mình vào chỗ chết. Một lão thủ tự coi miếu thì chẳng khó gì mà không đối phó được, đáng sợ là với quận thú, hắn nắm quyền bính trong tay, trị chết một người dân thường cũng như lấy chân di chết một con kiến. Đoạn Ngọc Tài tuy cũng là con người bụng đầy thao lược nổi tiếng làng trên xóm dưới, nhưng lúc này lòng ông như một nồi cháo loãng, có bao nhiêu mạch nguồn của sự tài giỏi khôn ngoan đã bị lấp kín hết, không làm sao nghĩ cho ra một kế thoát thân, hoặc một cách trị cho tên thủ tự kia một mẻ. Đang giữa lúc ông rầu rĩ, bởi mình như đang bị treo trên vách đá cheo leo thì bỗng có một tia sáng chiếu cho con đường trước mặt ông trở nên bằng phẳng thênh thang, từ dưới chân ông dẫn thẳng tới một tương lai xán lạn.
Đại Bảo là con trai của Đoạn Ngọc Tài học ở trường công, bạn cùng lớp cùng bàn với Điền Vũ, họ là đôi bạn thân nhau nhất trong trường, đôi bên chẳng bao giờ giấu nhau điều gì. Cha mình đang bị tên thủ tự tàn ác hãm hại, xem chừng tai nạn sắp giáng xuống đầu, Đại Bảo đương nhiên trước hết đã nói cho Điền Vũ biết cảnh ngộ không may này của nhà mình. Và Đại Bảo chẳng qua là thuận miệng thì kể để cho vơi đi niềm u uất trong lòng, không ngờ Điền Vũ lại có cẩm nang diệu kế, khiến cho cả nhà bạn từ tuyệt vọng bỗng có ngày sống lại mà còn trừ cho dân được một gã ác ôn.
Điền Vũ theo Đại Bảo về nhà họ Đoạn, hỏi lại cho rõ gót đầu, rồi như thế như thế vạch ra phương án, Đoạn Ngọc Tài thì không ngớt gật đầu lia lịa, nghe theo lời, làm theo kế.
Thời gian ba ngày đi như chớp mắt, thời gian hạn định đã đến nơi, quận thú,. thủ tự, huyện lệnh, bô lão quan thuộc, hào sĩ và cả dân chúng đến xem có tới cả ngàn người, tất cả đều tập trung ở bên bờ vịnh Rồng để đưa tiễn Đoạn Ngọc Tài. Đoạn Ngọc Tài được tắm rửa thay quần áo, trang điểm cho mới mẻ từ gót đến đầu, đúng với dáng vẻ của một người sắp sửa đi xa. Bên bờ vịnh đã sẵn bày tiệc rượu, người dự tiệc đều lần lượt nâng cốc, lũ lượt thay nhau đi chúc rượu nhau, mọi người đều tỏ ý tiễn biệt Đoạn Ngọc Tài cho ra vẻ. Mặt trời ngả về tây, tiếng sáo của người chăn cừu vang lên lánh lỏi, cừu bò lũ lượt về chuồng. Lão thủ tự nói:
– Đã đến giờ Thân, Đoạn sư phụ phải bắt đầu khởi hành.
Thế là bữa tiệc tàn, lão thủ tự chỉ huy bốn gã mình beo đã được bảo sẵn từ trước, nâng Đoạn Ngọc Tài lên rồi gieo xuống vịnh, chỉ thấy Đoạn Ngọc Tài vùng vẫy rồi chìm dần, rồi ùng ục nổi lên hàng loạt bong bóng nước, và chỉ trong nháy mắt đã tiêu tán hết. Bà con đứng ở trên bờ người thì khóc lóc, người thì than thở, người thì đấm ngực, người thì dậm chân, người thì luôn mồm chửi rủa…
Đêm ấy, ở miếu Long vương, lão thủ tự ngồi một mình tự rót tự uống, rồi ê a hát một mình, uống cho đến khi say mềm ra.
Ba tháng sau, vào một buổi sáng, Đoạn Ngọc Tài xuất hiện ở trước mặt viên quận thú, ông ăn mặc quần áo rất cầu kỳ và hợp thời trang, cử chỉ nhã nhặn, phong độ đàng hoàng, da dẻ mịn màng như một gã thư sinh. Quận thú vừa nhìn thấy, giật mình kinh hoàng, vã mồ hôi hột, bủn rủn chân tay, hồn lìa khỏi xác, không làm chủ được mình, ngồi giữa công đường mà ngây ra như con rối. Không biết như thế bao nhiêu lâu, hắn mới dần dần tỉnh lại, nhìn kỹ vào Đoạn Ngọc Tài, nghĩ rằng gặp ma giữa ban ngày, như thế thì mình cũng chẳng sống trên đời được bao lâu nữa. Cái tướng thảm hại của quận thú, Đoạn Ngọc Tài nhìn thấy tận mắt và cười thầm trong bụng, nhưng ông cứ làm như không thấy, kính cẩn nói rằng:
– Đội ơn ông lớn sai khiến, Ngọc Tài tôi mới được xuống Long cung thi thố tay nghề, làm vui lòng Long vương, kinh động các loài thuỷ tộc. Ba tháng Long môn đã khánh thành, hôm nay được ca khúc khải hoàn, đồng thời cũng mang theo một bức thư của Long vương, trình để ông lớn quận thú thân chinh lĩnh đọc.
Đến lúc này, quận thú mới hơi hơi định thần, tay run run nhận lấy bức thư rồi bóc phong bì ra đọc; thấy trong thư viết rằng: “Kỹ nghệ của sư phụ Đoạn thật là hơn hẳn mọi người trên đời, Long môn được dựng lên nguy nga huy hoàng, mong sẽ được trọng thưởng! Tái bút! Ba ngày sau trong cung sẽ làm lễ khánh thành Long môn, xin báo cho biết thủ tự ở miếu của tôi cũng đến dự, đương nhiên là cũng tới Long cung bằng con đường trước đây ông thợ mộc đã đi.”
Quận thú đương nhiên là ban cho Đoạn Ngọc Tài cả trăm lạng vàng và sai người gọi thủ tự vào chầu rồi đưa cho hắn xem thư của Long vương. Thủ tự đọc thư, hết hồn hết vía, mặt như đổ chàm… Hắn định thần nhìn rõ ông thợ mộc, da mịn và trắng, khác hẳn so với ba tháng trước, bất giác nghĩ rằng: Lão thợ mộc mình trần mắt thịt, mà còn có thể vào được Long cung, gặp Long vương, ta giữ miếu cho Long vương bao nhiêu lâu nay, lại có công tiến cử, đã mời dự tiệc khánh thành, hẳn là có trọng thưởng; rồi làm gì mà chẳng được quan tâm cất nhắc! Thủ tự nghĩ như vậy, liền vui vẻ nhận lời.
Vào giờ Thân của ba ngày sau đó, lão thủ tự được ném xuống vịnh Rồng đúng như lần trước. Tuy nhiên, hắn ừng ực uống luôn mấy ngụm nước vào bụng, rồi chìm nghỉm tận đáy nước mãi mãi không bao giờ lên được nữa, chắc hẳn là được Long vương giữ lại mãi ở trong cung để sai khiến.
Lại nói về ba tháng trước đó, căn cứ vào sự sắp đặt của Điền Vũ, Đoạn Ngọc Tài đã đi kiếm một cái bồ rách, một cái ống tre dài, một hòn đá lớn. Đến đêm, ông bỏ hòn đá vào cái bồ buộc cái ống tre vào miệng bồ sau đó dìm cái bồ xuống đáy vịnh Rồng, đặt đầu kia của cái ống tre vào búi cỏ ở ven bờ vịnh, sau khi Đoạn Ngọc Tài bị vứt xuống nước, sẽ mò đến chỗ cái bồ, rồi ngồi vào đó, miệng ngậm vào chiếc ống tre, ngồi im không động đậy. Chờ cho đến tối, ông mới ngoi lên bờ lẻn về nhà, trốn liền ba tháng ở trong nhà. Trong ba tháng đó, chẳng những cứ ngày ba bữa thịt cá đầy đủ lại còn rửa mặt bằng sữa bò, cho nên da thịt mới trắng như thế.
Ở Đạo Trang xóm tây thôn Đoạn Hà có một lão nhà giàu tên là Hách Trọng Tường, hắn là con thứ hai nên mọi người gọi là ông hai Hách. Anh ruột hắn là Hách Mạnh Tường ốm chết sớm, bỏ lại vợ goá con côi, trông cậy hết vào ông hai giúp đỡ. Hách Trọng Tường là một gã gian giảo điêu toa, bề ngoài tỏ ra quan tâm hết mực, thể thiết từng ly từng tý đến chị dâu và cháu mình, nhưng tận xương tận tuỷ thì lại để bụng vào đống tài sản mà họ được hưởng. Người chị dâu làm sao mà hiểu được bụng dạ xấu xa đó của hắn, luôn luôn bày tỏ bằng những lời biết ơn. Hách Trọng Tường cũng từng bày tỏ rằng chị dâu già coi ngang như mẹ, hiếu kính với chị dâu, cưu mang cháu ruột, là nghĩa vụ và trách nhiệm không thể chối từ. Người chị đâu là Lưu thị vốn dòng dõi khuê tú, ngay từ nhỏ đã được tiếp thu một nền giáo dục tốt đẹp, hiểu biết sách vở và thông đạt lễ nghi, coi trinh tiết còn quan trọng hơn cả sinh mạng của mình. Hách Trọng Tường đã nắm lấy đặc điểm này của chị dâu mình, tìm cách cố làm ra thân mật, có ý tạo cho người khác một cảm giác sai lầm rằng chị dâu em chồng có quan hệ mờ ám, ngày một ngày hai trong thôn xóm bông đồn thổi ầm ĩ cả lên. Lời người đáng sợ, điều đó gây cho Lưu thị một áp lực rất lớn trong tâm linh, sợ rằng sẽ xảy ra điều gì không hay bất ngờ. Lưu thị cũng đã từng mấy lần nhắc nhở Trọng Tường, bảo hắn về sau phải chú ý nhiều hơn. Trọng Tường luôn tỏ ra không thèm để ý và nói:
– Sự nhìn nhận của tiểu nhân, hà tất phải bận tâm.
Dần dần, vợ của Hách Trọng Tường cũng linh cảm thấy điều này, lục vấn hắn mấy lần, thậm chí thường thường còn để ý theo dõi hành động của hai người. Càng như thế, Hách Trọng Tường lại càng nửa nạc nửa mỡ, cho thêm chanh vào giấm,[1] càng tỏ ra săn sóc mẹ con Lưu thị chu đáo hơn, ôn tồn dịu dàng hơn khiến cho vợ hắn đã phải mấy lần ngầm cãi nhau với hắn. Thấy lửa đã sắp bén, Hách Trọng Tường quyết định đóng kịch như thật, khiến cho Lưu thị phải xấu hổ mà chết.
Hôm ấy nhà họ Hách mở tiệc lớn, họp mặt đông đủ mọi thứ khách, Hách Trọng Tường sắp xếp cho vợ xuống bếp phủ trông coi nấu nướng, còn hắn và Lưu thị ở trên nhà mời cơm rượu khách, nghiễm nhiên thành đôi vợ chồng, khiến cho trong bữa tiệc có khối người nháy mắt cho nhau. Hết mời lại ép, Hách Trọng Tường sớm đã đỏ mặt tía tai, lấy rượu mà che mặt, bắt đầu có hành động bằng chân bằng tay với Lưu thị, khách mời có nhiều người thấy ngứa mắt không chịu nổi, nên đã bỏ về. Đúng lúc ấy, Hách Trọng Tường nhìn thấy vợ hắn bưng thức ăn lên phòng tiệc, hắn cố làm ra lả lơi khiến cho vợ hắn ném cả đĩa thức ăn và làm ầm ĩ cả lên, chỉ vào đầu Lưu thị mà nhiếc mắng xỉ vả rằng là đồ tanh hôi, là hồ ly tinh, rủ rê quyến rũ chồng người.
Bữa tiệc tàn không mấy vui vẻ, mụ đàn bà đanh đá làm cho trời đất rối mù.
Lưu thị không chịu nổi nỗi nhục quá lớn lao, ngay đêm ấy đã treo cổ tự tử.
Sau khi Lưu thị chết rồi, con trai bà là Kế Nghiệp như rơi vào hố băng, như tụt xuống hố sâu ngàn trượng, bị vợ chồng Hách Trọng Tường ngược đãi, giày vò, sống cuộc sống không bằng trâu ngựa. Năm mười tuổi, cậu bị đuổi ra khỏi nhà, đi ăn xin qua ngày. Năm cậu mười lăm tuổi, cậu được người giới thiệu đã lên huyện ly học nghề, hầu như tất cả mọi khoản thu nhập đều phải trao cho chú, còn mình thì sống khổ sống sở, áo không đủ che thân, ăn không đủ ấm bụng.
Gia tài của Hách Trọng Tường tăng lên gấp đôi, nhà cửa vườn tược được chiếm cả hai phần nên cuộc sống ngày càng thêm khấm khá. Chẳng mấy chốc mà ba năm đã trôi qua, sau khi Kế Nghiệp xa nhà, không bao giờ còn trở lại nữa. Mỗi năm đến tháng chạp người ta đua nhau đi sắm tết để chuẩn bị năm mới. Năm ấy Hách Trọng Tường, mua rất nhiều hàng Tết và cũng rất đầy đủ mọi thứ. Tiền vào như nước không tiêu thì để làm gì đúng là “không ăn không uống, chết đi cũng uổng”…
Buổi tối ngày ba mươi Tết, Hách Trọng Tường mang ra đủ các loại bài vị của tổ tiên nhiều đời rồi đặt theo thứ tự để các ngài lần lượt ngồi vào, sau đó bầy lên đủ thứ gà vịt thịt cá, vật tế bằng lợn bằng cừu để cúng thỉnh tổ tiên về cùng hâm hưởng, để năm tới sẽ ban phúc cho họ nhiều hơn. Mọi thứ sắp sửa đâu vào đấy rồi, Hách Trọng Tường thắp đèn lồng lên, mở cửa ra phố, gọi là đi “đón thần”. Chắc rằng trước đó, thần linh của các bậc tổ tiên đều còn đang bay vơ vẩn trên không, chỉ có đến lúc này mới theo chân của hiếu tử, hiếu tôn để về đây ngồi vào giữa nhà này hưởng những đồ tế lễ của cháu con.
Cửa lớn của Hách phủ rộng mở, Hách Trọng Tường dẫn ba người con trai nâng cao đèn lồng cùng bước vào trong sân rồi thắp hương – chuốc rượu – đọc văn tế – lễ tạ vv… mời các vị thần về phủ để hâm hưởng. Nghi thức vừa xong, Hách Trọng Tường bò dậy, trong mung lung thấy bên ngoài cổng có một chàng trai đang đứng, trên mình giáp mãng chỉnh tề như một vị tướng sắp sửa ra trận.
– Này! Kế Nghiệp đấy phải không? Đã về ăn Tết, sao không vào nhà? – Hách Trọng Tường rất lấy làm lạ hỏi.
Vị tướng trẻ mình đầy giáp mãng có vẻ như rất sợ người, nghe thấy hỏi, co giò định chạy. Muốn chạy nhưng lại bịn rịn không nỡ đi, cho nên động tác mới chậm chạp lại thế.
Hách Trọng Tường đang nhẩm tính trong bụng, không biết đây là người hay ma. Giả sử như đây là Kế Nghiệp, thì nó lấy đâu ra mũ đỏ giáp vàng? Nếu không phải, thì tại sao lại giống Kế Nghiệp như đúc vậy? Vừa nghĩ thế, hắn vừa nhào lên phía trước định tóm người ấy lại xem rốt cuộc là cái gì, thế nhưng lại chỉ túm được cái vạt áo. Theo đà, vị “tướng quân” ấy giằng ra, “soạt” một tiếng, vạt áo bào rách, “tướng quân” chạy thoát, không thấy bóng dáng đâu nữa. Hách Trọng Tường vội vàng về nhà, dưới ánh sáng của ngọn nếp chập chờn, vạt áo bào trong tay lại là những mảnh lá xâu lại với nhau, bất giác hắn rú lên, ngã kềnh ra đất, hôn mê bất tỉnh nhân sự!…
❀ ❀ ❀
[1] Người TQ dùng từ “ăn giấm” chỉ người phụ nữ nổi cơn ghen – ND.