Tôn Tử Truyện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 55 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Xii Trời Ngô Đẫm Máu – Cơ Quang Cướp Quyền
Chương Xii Trời Ngô Đẫm Máu – Cơ Quang Cướp Quyền

❊ ❊ ❊

Lính canh gác cửa khẩu chỉ mải đi bắt Ngũ Tử Tư, chẳng ai còn nghĩ gì đến canh gác nữa, với lại Ngũ Tử Tự đã bắt được trong tay rồi còn canh gác làm gì nữa? Nhân lúc lộn xộn đó, Ngũ Tử Tư dắt theo công tử Thắng, cùng với đám đông người chen chúc nhau, ra khỏi chiêu quan.

Vĩ Việt thấy binh lính đã bắt được Ngũ Tử Tư, vội vàng thân chinh xét hỏi, nhưng người ấy không nhận mình là kẻ trốn chạy, thái độ còn tỏ ra ngang ngạnh hỏi vặn lại:

– Ta là ẩn sĩ chân núi Long Động, hôm nay hẹn với bạn qua cửa khẩu để đi chơi xa, các người vô cớ bắt người, rồi trói buộc như thế này, thử hỏi phép vua ở đâu? Lẽ trời ở đâu?

Vĩ Việt cùng đang băn khăn, tuy người này tướng mạo có vẻ rất giống, song tiếng nói thì lại khác, Ngũ Tử Tư tiếng nói oang oang như tiếng chuông, còn người đứng trước mặt đây thì tiếng lại the thé cứ như tiếng đàn bà. Thôi thì hãy cứ đưa giam lại một nơi cái đã, chờ xét hỏi rõ ràng đã rồi hãy giải đi.

Vào tầm trưa Đông Cao Công chống gậy leo lên quan ải, xin gặp Vĩ Việt tướng quân để chúc mừng ông ta. Vĩ Việt phàn nàn về nỗi không phân biệt được thật giả, Đông Cao Công nói:

– Mấy năm trước lão phu đi Thành Phụ chữa bệnh cho thái tử, có gặp Ngũ Tử Tư một lần, để lão coi xem, rồi so với hình vẽ, chắc rằng sẽ nhận được thôi.

Vĩ Việt lệnh cho quân lính mang kẻ tù phạm ra, phạm nhân thấy Đông Cao Công, từ xa đã kêu lên:

– Làm sao mà mãi tới giờ nhân huynh mới tới, ngu đệ chờ huynh ở trước quan khẩu, chẳng hiểu sao bị họ bắt vào đây, còn ép đệ phải nhận là “ô Tử Tu” quái quỷ gì đấy thật vô lý hết sức.

Đông Cao Công nhìn thấy thế cười lên ha hả, nói:

– Lầm rồi! Lầm rồi! Thưa Vĩ tướng quân, vị này chính là bạn chí thân của lão, tên là Hoàng Phủ Nột, hai người hẹn nhau hôm nay ra ngoài quan khẩu chơi một chuyến và đợi nhau ở trước quan khẩu, chưa gặp nhau, chưa đi. Nói thế xong lại quay sang Hoàng Phủ Nột – Lão phu không ngờ rằng đệ lại đến sớm thế, để cho anh phải chờ lâu ở ngoài quan, trong khi đó đệ lại vào đây chơi trò ú tim thế này!…

Đông Cao Công nói giọng khôi hài, khiến những người có mặt khóc cũng dở mà cười cũng dở. Vĩ Việt thấy đã bắt lầm người, vội vàng xin lỗi:

– Lính tráng người ta nhầm lẫn, mong hai vị rộng lòng tha thứ!..

Đông Cao Công nói:

– Lầm to! Đúng là lầm to! Có điều Vĩ tướng quân chẳng qua cũng vì việc công cả. Có thể lượng thứ được. Có thể lượng thứ được!…

Vĩ Việt lại ra lệnh tiếp tục kiểm tra những người qua lại.

Ngũ Tử Tư trà trộn ra khỏi chiêu quan, chẳng khác gì cá thoát lưỡi câu, vội vội vàng vàng chạy ngay ra bờ sông. Trời đã tối, may sao gặp được một lão chài chở giúp qua sông, còn kiếm cả cơm nước để hai người ăn uống no nê. Trước lúc chia tay, Ngũ Tử Tư cởi cây kiếm vẫn đeo bên mình tặng cho lão chài, nói:

– Ơn cứu mạng của lão trượng, Ngũ Viên này không bao giờ quên, song cũng chẳng có gì gọi là để đền ơn, cây kiếm này là của tiên vương ban cho ông nội tôi, giá đáng hàng trăm lạng vàng, nay xin dâng tặng lão trượng, gọi là bầy tỏ tấc lòng…

Lão chài cười đáp:

– Năm trăm thạch lương thực của Sở vương với tước vị đại phu, tôi còn chả thiết, thì tôi tham bảo kiếm giá trăm lạng vàng của anh làm gì… – Nói xong chống sào vào bờ, nhảy lên thuyền, cất một điệu hò, rồi mất hút trong màn đêm, ngay cả tên tuổi là gì cũng không để lại.

Ngũ Tử Tư quay mặt ra dòng sông rộng mênh mang vái dài một vái, để chào ông lão chài, rồi đi mấy ngày nữa, thì tới biên giới nước Ngô.

Cuộc đấu tranh giữa các chư hầu trung nguyên với kinh Sở, từ sau khi Tống Hướng Nhung triệu tập chư hầu họp hội nghị bàn chấm dứt binh đao trở đi, đã hình thành một trạng thái hoà bình nghỉ ngơi. Trong thời gian này, nước Ngô vươn dậy ở đông nam, không ngừng đấu tranh với nước Sở, thế là những vùng đấu tranh dần dần từ trái tim của Trung Nguyên di chuyển đến lưu vực sông Hoài và vùng hạ lưu Trường Giang. Tộc người Ngô gọi là Kinh Man, tập tục của họ là cắt tóc ngắn và xăm hình, không giống với những tộc người ở Trung Nguyên búi tóc vạt áo chéo sang phải, hoặc người tộc Nhung Dịch xoã tóc và vạt áo chéo sang trái.

Việc xây dựng nước Ngô bắt đầu từ khoảng thế kỷ mười ba trước công nguyên khi Ngô Thái Bá chạy sang Ngô, hồi ấy vào khoảng thời đại Đế tổ giáp của Ân Thương đời thứ hai mươi hai, khoảng năm 1231 trước công nguyên.

Nguyên là Thái Vương nhà Chu là Cổ Công Đản Phụ có ba người con trai, con trưởng là Thái Bá, con thứ là Trọng Ung, con thứ bà là Quý Lịch. Quý Lịch sinh con là Cơ Xương (tức là Chu Văn Vương) từ bé đã thông minh và nhiều tài. Cổ Công Đản Phụ khen ngợi sự hiền đức của cháu mình, cho rằng sau này cháu mình tất sẽ làm vẻ vang cho nhà Chu. Thế là Thái Bá, Trọng Ung lấy cớ đi Hành Sơn hái thuốc (đến một nơi xa xôi ở Nam Sơn, chứ không phải Hành Sơn tỉnh Hồ Nam ngày nay) dần đi xuống phía Nam theo tộc người Kinh Man để tỏ ý nhường ngôi. Về sau Thái Vương Cổ Công Đản Phụ chết; con là Quý Lịch nối ngôi; Quý Lịch chết, con là Cơ Xương nối ngôi, gọi là Văn Vương. Quả nhiên Văn Vương đã làm rạng rỡ cho gia tộc nhà Chu, đến đời con là Vũ Vương thay nhà Thương mà có được thiên hạ, đúng như lời Cổ Công Đản Phụ. Đại Bá và Trọng Ung đã theo Kinh Man, cũng cắt tóc xăm mình theo phong tục Man di, người Man di hâm mộ phong thái nghĩa cử đó cho nên có tới hàng ngàn người đã đi theo. Thái Bá bèn. tự xưng là Câu Ngô, đóng đô ở Mai Lý.[1] Từ khi Thái Bá mười chín truyền đến Thọ Mộng, bắt đầu tự xưng là Ngô Vương lúc đó vào khoảng 585 trước công nguyên.

Thời Xuân Thu, hai tộc người Ngô – Việt vẫn còn đang ở trong giai đoạn thị tộc, nhưng khu vực họ ở khí hậu ôn hoà, đất đai màu mỡ, cuộc sống khá sung túc. Lại do vùng đất này sông ngòi ngang dọc, hồ đầm mênh mang, cho nên người dân quen việc thuyền bè sông nước, bởi thế nghề đóng thuyền cũng có từ rất sớm và phát triển nhanh. Đóng thuyền tất phải dùng đến sắt, cho nên nghề luyện sắt thép cũng tiến bộ hơn ở Trung Nguyên.

Đến nước Ngô rồi, Ngũ Tử Tư tuy không một xu dính túi, phải cùng công tử Thắng đi ăn xin qua ngày, nhưng không phải lo lắng gì cho an toàn tính mạng, có hy vọng trả thù, nên trong lòng thấy thư thả được ít nhiều. Một hôm đi đến Ngô Xu, gặp một tráng sĩ, trán dô, mắt lõm, dáng như hổ đói, tiếng nói vang như sấm, chân tay không, đứng trước hàng chục kẻ hung dữ tay mang gậy gộc mà không hề run sợ, bên mép còn lộ ra nét mỉm cười khinh miệt. Ngũ Tử Tư nhìn thầy thế, ngầm kinh ngạc và như thầm: “Chà! Thiên hạ lại có thứ người lạ đến thế!”. Rồi nghĩ bụng mai sau mưu việc lớn, cũng phải kết thân với nhiều hào kiệt dạng kỳ hiệp thế này…

Run sợ trước uy nghiêm của tráng sĩ, hàng chục gã hung hăng kia chỉ dám gầm ghè hò hét bên ngoài, cấm thấy tên nào dám bước lên ra đòn. Bỗng nhiên trong cửa có tiếng một người gọi ra:

– Chuyên Chư hãy về nhà ngay, không được gây chuyện rắc rối ngoài ấy!

Nghe thấy tiếng gọi của người đàn bà ấy, như thể nghe thánh chỉ, Chuyên Chư vội vã phủi tay vào nhà.

Nhìn thấy thế, Ngũ Tử Tư bỗng sinh thắc mắc, bèn hỏi một cụ già gần đó:

– Một tráng sĩ như vậy, tại sao lại sợ một người

Cụ già bảo với Ngũ Tử Tư:

– Đấy là tráng sĩ của làng tôi, sức có thể chọi muôn người, chẳng sợ một ai, bình sinh rất hiếu nghĩa, gặp bất kể việc gì bất bình đều mang hết sức ra cứu giúp. Tiếng gọi ở sau cửa vừa mới rồi, là mẹ anh ta đó. Chư vốn rất có hiếu, chưa bao giờ trái lời mẹ, đang cơn thịnh nộ như thế, nhưng nghe tiếng mẹ là dừng lại ngay, gặp mẹ tất là phải tươi sắc mặt.

Nghe cụ già giới thiệu như thế, Ngu Tử Tư thêm phần kính tọng Chiêm Chư, hôm sau liền khăn áo chỉnh tề đến thăm, sau khi xưng họ xưng tên, liền kể lại gót đầu nỗi mình oan ức, nói đến nỗi Chuyên Chư cũng cảm động rơi nước mắt, nghiến răng căm giận. Người tài thì mến người tài, hảo hán thêm yêu hảo hán, mới gặp nhau chưa được nửa buổi, hai người bỗng trở thành bạn chí thân, Chuyên Chư mổ gà thết đãi, mừng như anh em gặp nhau. Chuyên Chư nói với Ngũ Tử Tư, Ngô Vương Liêu hiếu thắng nhưng kiêu ngạo, không như công tử Cơ Quang biết thân người hiến, nhìn nhận đến tỏ sĩ, sau này tất sẽ thành đạt. Đồng thời cũng bày tỏ:

– Để giúp anh trả thù nhà rửa hận cho nước, dù gan nát óc lầy, Chư này cũng không từ chối?

Ngủ lại nhà Chuyên Chư một đêm, sáng sớm hôm sau, Ngũ Tử Tư gạt lệ chia tay mẹ con Chuyên Chư, mang công tử Thắng vội vã lên đường. Lại lặn lội bôn ba một số ngày nữa, Ngũ Tử Tư và công tử Thắng cuối cùng đã đến được Mai Lý, kinh đô nước Ngô, nơi có những bức tường thành cao ngất, phố xá phồn vinh, người qua kẻ lại rộn ràng, thuyền xe nườm nượp, rộn rã khác thường, phong tục tập quán nhiều cái khác xa nước Sở. Ngũ Tử Tư muốn trước hết được bái kiến Cơ Quang. Không những theo như lời giới thiệu của Chuyên Chư, Cơ Quang là người hiền đức hơn Ngô vương Liêu, sau này hẳn sẽ thành đạt, hơn nữa trong một lần hoạt động ngoại giao trước đây, Ngũ Tử Tư còn có ơn với Cơ Quang, ngày nay gặp nạn đến cầu, chắc rằng ông ta không đến nỗi khoanh tay đứng nhìn. Ấy thế nhưng lại rất không may, Cơ Quang lúc này đang đi chơi ở phía Nam, ngày ba mươi mới quay về, Ngũ Tử Tư ngoài việc phải kiên nhẫn chờ đợi, cũng chẳng còn cách gì hơn. Chờ đợi thì chẳng khó gì, mà khó một nỗi là túi không tiền, việc ăn ở của hai người không biết trong cậy vào đâu. Nghĩ hết mọi cách, Ngũ Tử Tư đành để công tử Thắng ở một nơi vùng ngoại thành, còn mình thì đi thổi sáo xin ăn ở chợ nước Ngô. Không ngờ thấy tiếng tiêu sầu não ruột ấy lại có tác dụng tự mình tiến cử mình, Ngô Vương Liêu đã cho vời đến gặp, rồi phong cho làm thượng đại phu, giúp Ngô vương công việc triều chính và còn bày tỏ rằng sẽ mang hết sức giúp Ngũ Tử Tư trả mối thù bị chém giết cả nhà.

Cơ Quang vốn nghe Ngũ Tử Tư là người trí dũng song toàn, mừng rỡ quay trở lại nước Ngô định bụng sẽ thu nhận người này, thế nhưng nghe nói Ngũ Tử Tư đã yết kiến Ngô Vương Liêu, lại còn được phong làm thượng đại phu, Ngô vương lại muốn giúp Ngũ Tử Tư báo thù mà dấy quân đánh Sở, Cơ Quang thấy không yên lòng nên đã khéo léo dùng kế li gián, sau đó gần gũi để lung lạc, kéo co về mình. Ý định đã dứt khoát, Cơ Quang vào chầu, bái kiến Ngô Vương và nói:

– Quang tôi nghe nói, một bầy tôi lưu vong của nước Sở là Ngũ Viên, đã chạy sang nước ta, Vương cho rằng người này thế nào?

Vương Liêu đáp:

– Hiền đức mà có hiếu!

Cơ Quang lại hỏi:

– Làm sao mà biết được?

Vương Liêu giải thích:

– Ngũ Viên dũng cảm và khỏe mạnh vô cùng, lo việc nước với quả nhân, sẽ không có việc gì sơ hở, đó là cái hiền của người ta. Luôn luôn nhớ nỗi oan ức của cha anh, chưa từng có lúc nào quên trả thù, xin quân của quả nhân đó là đạo hiếu của người ta vậy!

Nhắc đến chuyện dấy binh giúp Ngũ Viên trả thù nhà, Cơ Quang nói:

– Chúa một nước lớn có muôn cỗ chiến xa, không lấy binh vì một gà thất phu. Nay Ngô, Sở cấu binh cũng đã lâu, mà chưa thấy thắng lớn, nếu như vì Ngũ Viên mà dấy quân, là coi mối hận của kẻ thất phu nặng hơn mối nhục của đất nước vậy. Thắng thì người được hả giận, mà thua thì ta phải gánh lấy nhục nhã, không thể làm như thế được!

Vương Liêu cho rằng Cơ Quang nói có lý, thế là thôi không bàn đến chuyện đi đánh nước Sở nữa, và dần dần cũng xa lánh Ngũ Tử Tư. Bản thân Ngũ Tử Tư cũng biết ý, đã từ chức thượng đại phu, cùng với công tử Thắng về cầy cấy ở vùng quê Dương Sơn.

Một hôm Cơ Quang đến Dương Sơn thăm Ngũ Tử Tư, và đem tặng thóc gạo vải vóc. Với cuộc đến thăm này của Cơ Quang, Ngũ Tử Tư tỏ thái độ không vồ vập cũng không hững hờ, một mặt Ngũ Tử Tư còn đang ấm ức trong lòng về chuyện Cơ Quang đã can gián Ngô Vương xa lánh mình. Mặt khác Ngũ Tử Tư thấy rằng Cơ Quang làm như thế không có ý ghét bỏ gì mình, mà ngược lại, là kính trọng mình, bởi vì chỉ có thế, mới có thể lôi được mình ra khỏi tay Ngô Vương, mà Cơ Quang đã là người hiền đức hơn Ngô vương, thì chỉ có dựa vào Cơ Quang việc báo thù mới có hy vọng.

– Ngũ Tướng quân hẳn là giận Quang này đến tận xương tận tuỷ – để phá vỡ bầu không khí căng thẳng, Cơ Quang chủ động bên tiếng trước – Tôi đã khuyên Ngô Vương xa lánh tướng quân, không đem quân đánh nước Sở, giúp tướng quân trả thù cho cha anh, rửa hận cho đất nước.

– Cái đó – Ngũ Tử Tư không biết hé răng như thế nào và trả lời ra sao cho phải.

Thấy Ngũ Tử Tư lúng túng không trả lời được, Cơ Quang liền giải thích:

– Kỳ thực, Quang này không để tướng quân như ngọc đặt vào chỗ tối, hy vọng bị tắt ngấm…

Ngũ Tử Tư thấy khó hiểu, liền hỏi:

– Viên tôi ngu tốt, không hiểu ý Vương tử nói gì, dám xin nói rõ hơn.

Cơ Quang định nói lại thôi, dừng một lát, sau mới nói:

– Chúa của ta vốn tính tham lam, như bầy hổ sói, há đâu phải vì họ Ngũ giúp tướng quân phục thù, là lời hứa ở cửa miệng, làm sao có thể tin được!

Ngũ Tử Tư nghĩ rằng Ngô Vương với Cơ Quang, về mặt công là nghĩa vua tôi, về mặt riêng là tình anh em họ, cứ cho rằng Ngô Vương có tính tham lam, thì ít ra Cơ Quang cũng chẳng nên phơi bày ra trước một người nước ngoài vừa chân ướt chân ráo đến đây… phải chẳng Cơ Quang cũng đang ngấp nghé nhòm ngó ngôi vua mà muốn cướp quyền? Nếu quả như thế thực, thì mình nên đối xử thế nào? Nghĩ đến đây, Ngũ Tứ Tư cố ý ướm hỏi:

– Vương tử bảo rằng Ngô Vương tham lam, tất phải có sự thực, có thể nói cho Ngũ Viên tôi biết được chăng?

– Cái đó thì… – đến lượt Cơ Quang hầu như có điều gì khó nói, vừa định mở miệng nói ra lại thôi – Sau này, Ngũ tướng quân tất sẽ rõ.

Sự thực quả không ngoài dự đoán của Ngũ Tử Tư, đã từ lâu Cơ Quang từng ngấm ngầm nhòm ngó ngôi vua. Vả lại, Cơ Quang sở dĩ có thứ dã tâm đó cũng chẳng có gì là không hợp tình hợp lý.

Ông nội của Cơ Quang là Ngô Vương Thọ Mộng sinh hạ được bốn người con: Con cả là Chư Phàn, Chư Phàn sinh ra Cơ Quang; con thứ hai là Dư Sái, con thứ ba là Dư Muội, Dư Muội sinh ra Liêu đang ở ngôi lúc này; con thứ tư là Quý Trát.

Theo Chu Lễ và truyền thống, Thọ Mộng đúng ra phải truyền ngôi cho con cả là Chư Phàn, rồi truyền tiếp cho con trai Chư Phàn là Cơ Quang. Thế nhưng trước lúc lâm chung, Thọ Mộng lại căn dặn rằng sẽ nhường ngôi cho người con thứ tư mà ông cho là hiền minh nhất, đó là Quý Trát. Nhưng Quý Trát khiêm nhường không chịu lên ngôi, bất đắc dĩ phải để người con trưởng là Thư Phàn đăng quang, sau đó mới truyền ngôi cho con thứ hai Dư Sái, con thứ ba Dư Muội.

Việc nối ngôi lẽ ra phải theo chế độ thế tập trực hệ, thế mà một lời di chúc của Thọ Mộng đã làm cho việc nối ngôi của nước Ngô đã nảy sinh ra một chế độ anh chết thì em thay, từ Chư Phàn rồi đến Dư Sái, rồi lại từ Dư Sái tuần tự mà lập. Sau khi Dư Muội qua đời, lẽ ra người con thứ tư là Quý Trát lên ngôi, nhưng Quý Trát rất lạnh nhạt với danh lợi, không thích làm vua, trốn vào núi ở ẩn. Đến đây, ngôi báu lẽ ra phải truyền trở lại cho cháu đích tôn là Cơ Quang, nhưng Liêu lại ỷ vào cha mình là Dư Muội đang làm vua, nghiễm nhiên lên nối ngôi.

Do ngôi báu bị em họ cướp đi, Cơ Quang luôn thấy ấm ức trong lòng, nỗi oán giận càng ngày càng sâu, đi đến quyết tâm giành ngôi báu về tay, cho hợp với lẽ trời. Đúng lúc đó Ngũ Tử Tư đến nước Ngô, đúng là trời có mắt, nâng đỡ người chính trực trừ khử lũ gian tà, cơ duyên đã đến rồi, cho nên trước hết Cơ Quang đã gièm pha với Ngô Vương rồi sau lại mơn trớn Ngũ Tử Tư. Qua mấy lần đi lại, hai người bỗng trở thành bạn thân, quyết định cùng nhau ra tay phế Ngô Vương, sau đó sẽ dấy quân đánh nước Sở.

Ngũ Tử Tư đã tiến cử Chuyên Chư với Cơ Quang và đề nghị dùng Chuyên Chư làm thích khách, mưu sát Ngô vương Liêu, Cơ Quang rất lấy làm cảm kích. Một hôm, Cơ Quang sửa một món lễ hậu, cùng ngồi chung xe với Ngũ Tử Tư tới thăm nhà Chuyên Chư. Lúc ấy Chuyên Chư đang đi mài dao trên phố chuẩn bị giúp nhà hàng xóm mổ lợn, thấy ngựa xe qua nườm nượp đang định tránh đi, Ngũ Tử Tư ngồi trên xe nhìn thấy và cất tiếng gọi:

– Đứng lại chú em ơi! Anh Ngũ Viên đến thăm em đây mà!

Chuyên Chư nghe tiếng gọi, vội vàng dừng bước, chờ Ngũ Tử Tư ra khỏi xe để gặp mặt. Ngũ Tử Tư chỉ vào Cơ Quang ngồi cùng xe với mình nói với Chuyên Chư:

– Đây là công tử trưởng của nước Ngô, mộ tiếng anh hùng của em nên đến thăm em, nếu đòi hỏi gì, mong em đừng từ chối.

Chuyên Chư từ lâu đã biết tiếng hiền đức của Cơ Quang, và đã từng giới thiệu với Ngũ Tử Tư, nhưng chưa từng gặp mặt bao giờ, nay công tử lại hạ cố đến tận nơi nhà cửa xuềnh xoàng này, làm gì mà chẳng khiến cho Chuyên Chư cảm thấy được yêu mà sinh lo, cảm động đến rơi nước mắt và nói:

– Tôi chỉ là dân thường nơi xóm nhỏ, có tài có đức gì đâu mà dám phiền công tử hạ cố ạ?

Chuyên Chư cung kính mời khách vào nhà, nhà tranh mái thấp, họ phải cúi đầu mới vào được. Cơ Quang vái chào trước để tỏ ý mến mộ của mình. Chuyên Chư đáp lễ, ra chiều hoảng hốt lúng túng. Cơ Quang đưa biếu vàng bạc, châu báu và vải vóc, Chuyên Chư khăng khăng không nhận, Ngũ Tử Tư ở bên cạnh hết lời khuyên, lúc ấy mới miễn cưỡng nhận lấy. Ngũ Tử Tư cũng nói với Chuyên Chư ý định lần này đến đây của công tử Cơ Quang và nêu lên căn cứ và ý nghĩa của việc này đồng thời nhấn mạnh rằng công việc này rất nguy hiểm, có thể đầu lìa khỏi cổ bất kể lúc nào. Chuyên Chư nghe xong, bực bội dậm chân đấm ngực thùm thụp nói:

– Thằng giặc Liêu này không trừ, đất nước không có ngày yên hàn, Chư tôi nguyện giúp công tử làm nên việc lớn! Tuy nhiên Chư tôi còn có mẹ già tuổi đã cao, nếu hai vị có chăm lo giúp thì Chư tôi chẳng sợ gì hết.

Cơ Quang bước lên nắm chặt lấy tay Chuyên Chư, cảm động đến nỗi không nói được ra lời, nghẹn ngào một lát sau mới nói:

– Tráng sĩ có nghĩa cả như vậy, Quang này tất đối xử với lệnh đường như mẹ mình, tên tuổi của tráng sĩ sau này sẽ mãi mãi được nêu trong sách.

Chim hồng chim hộc sở dĩ cất cánh bay được lên bầu trời chín vạn dặm; bởi chúng có đôi cánh khoẻ, nếu chặt đôi cánh ấy đi hẳn là chúng không bay được nữa. Ngô Vương Liêu vốn có tính cả nghi, em ông ta là Yểm Dư, Chúc Dung với con ông ta là Khánh Ky luôn luôn ở sát bên mình, không rời nửa bước. Hai anh em Yểm Dư, Chúc Dung, vô cùng khoẻ mạnh và dũng cảm, không sợ cả quỷ thần. Vương tử Khánh Ký gân cốt như bằng sắt, muôn người khó địch nổi, tay có thể bắt được chim bay, chân có thể ngăn được thú dữ. Có ba người này bảo vệ, muốn giết được Vương Liêu quả thật là một việc khó hết sức, thế nên trước khi giết Vương Liêu, phải dò la được vây cánh của hắn, trừ được ba người này đi, nếu không cho dù có giết được Vương Liêu đi, Cơ Quang cũng khó có thể nối được ngôi vua.

Năm 515 trước công nguyên, Sở Bình vương qua đời, Mễ Trân là một đứa bé mới mười một tuổi lên nối ngôi, gọi là Sở Chiêu Vương. Nghe tin Sở Bình vương đã chết, Ngũ Tử Tư buồn bã thở than, oán trời khéo vô tình bất công khiến tự mình không được tự tay giết tên hôn quân, trả thù cho cha anh và hơn ba trăm người lớn bé trong dòng họ nhà mình. Tuy nhiên, thời cơ chặt gẫy cánh chim hồng chim hộc đã tới, dưới sự sắp đặt của Ngũ Tử Tư, Cơ Quang căn gián với Vương Liêu nhân khi nước Sở có tang, triều chính rối loạn hãy mang quân đi đánh nước Sở và tiến cử Yểm Dư, Chúc Dung làm nguyên soái và đại tướng, cử Khánh Ky sang nước Vệ mượn viện binh. Lúc này hoàng thúc Quý Trát đã xuống núi về cung, mời ông ta đi thăm các nước, tìm kiếm đồng minh, Vương Liêu không ngờ được rằng đó là mưu kế, lại muốn nắm bá quyền, nên đã nhất nhất chuẩn tấu, hơn nữa còn rất cảm kích trước sự trung thành của Cơ Quang.

Thời cơ đã chín muối, Cơ Quang và Ngũ Tử Tư đã đến thăm Chuyên Chư lần nữa, nói rõ tình thế tốt đẹp này. Chuyên Chư nghe xong tỏ ra do dự, lúc lâu mới nói:

– Chuyên Chư tôi không phải hạng người sợ chết, mà chỉ lo cho mẹ già tuổi cao. Người ta bảo tóc tơ da thịt mình là của cha mẹ cho, không dám làm tổn thương hay huỷ hoại, đó là bắt đầu của sự hiếu. Nay nếu để người tóc bạc đưa tiễn ngươi tóc xanh, thì hết sức là bất hiếu, Chuyên Chư không làm hạng người bất hiếu.

Nghe những lời nói đó, Cơ Quang vô cùng thất vọng, nhưng vẫn khẩn khoản:

– Cơ Quang tôi rất hiểu lòng tráng sĩ, tất sẽ coi lệnh đường như mẹ mình.

Chuyên Chư lắc đầu nói:

– Vì mẹ già tuổi cao, Chuyên Chư này đành bội ước, mong công tử và ông anh hãy hết lòng lượng thứ.

Đang giữa lúc Cơ Quang và Ngũ Tử Tư đều thất vọng và chán nản, bà mẹ của Chuyên Chư đến trước mặt ba người lúc nào không rõ, đã quở tránh Chuyên Chư:

– Ở trong buồng, ta đã nghe rõ mọi chuyện của ba người. Con ơi con đã thề với Vương tử Cơ Quang một dạ trung thành, sao có thể vứt bỏ điều tín nghĩa! Trung với hiếu vốn chỉ là một lẽ, há sao có thể vì hiếu mà bỏ trung, vì cái nhỏ mà bỏ cái lớn. Đừng lo nghĩ nhiều cho mẹ già, mau mau tận tâm đi mà phò tá cho vương tử ngay đi…

Người mẹ già tám mươi tuổi ấy sau khi nói với Chuyên Chư con mình như vậy, quanh trở về phòng mình, tự thắt cổ chết, để bớt mối lo sau này cho Chuyên Chư.

Cơ Quang, Ngũ Tử Tư và Chuyên Chư đã chôn cất chu đáo người mẹ già đó trong nước mắt đầm đìa, rồi họ bắt đầu trù tính việc giết Vương Liêu như thế nào.

Mỗi khi ra ngoài, Vương Liêu thường mặc hai lần áo giáp bằng da sư tử, dao kiếm tầm thường không thể nào đâm thủng được. Cơ Quang từng có một thanh kiếm thần, tương truyền đây là tác phẩm chứa đầy tâm huyết của người thợ nổi tiếng nước Việt là Âu Dã Tử. Thanh kiếm này dài chưa đầy ba tấc, cho nên gọi là kiếm dạ cá, sắc nhọn vô cùng, gọt sắt như gọt đất, thanh kiếm ấy nhất định sẽ xuyên qua hai lần áo giáp bằng da sư tử. Có thanh kiếm này trong tay để đi giết Vương Liêu, niềm tin của Chuyên Chư được tăng lên gấp nhiều lần.

Mọi việc sắp đặt đầu vào đấy, kín đáo đủ mọi nhẽ, Cơ Quang vào cung mời Vương Liêu đi dự tiệc:

– Ngày mai, vi thần sẽ sửa một bữa tiệc dã ngoại ở đình Thái Hồ, cùng các vị đại thần hưởng thú buông câu nếu đại vương cùng hạ cố đến dự, thì đẹp mặt cho vi thần quá!

Ngô Vương khoái chí cười đáp:

–Vương huynh thân chinh đến mời, quả nhân đâu có lẽ nào từ chối, nhưng chẳng hay có món cá gì ngon vậy?

– Đương nhiên là cá lô mà đại vương thích ăn nhất – Cơ Quang cười hì hì đáp.

– Mấy khi có được tấm lòng trung như vậy của vương huynh – Vương Liêu mừng rỡ ra mặt – quả nhân thế nào cũng đến dự tiệc!

Sau khi được Vương Liêu đồng ý, Cơ Quang liền đến ngay chỗ Ngũ Tử Tư để bàn bạc, quyết định cho hàng trăm quân mai phục xung quanh đình Thái Hồ, Chuyên Chư cải trang thành người đầu bếp, mượn cớ gần gũi Vương Liêu.

Hôm sau, Vương Liêu mang theo năm trăm quân hộ vệ, đến đình Thái Hồ dự tiệc.

Tiệc rượu bắt đầu, Cơ Quang thân chinh rót rượu mời Vương Liêu, nói:

– Đại vương đại giá đến dự thế này, vi thần cảm thấy rất sung sướng. Đây là thứ rượu thơm, đại vương uống vào tất sẽ sống lâu trăm tuổi…

Vương Liêu đỡ lấy chén rượu, nhìn Cơ Quang nói nhỏ để đánh trống lảng:

– Đêm qua quả nhân vừa qua một cơn ác mộng, trong lòng cảm thấy có gì không hay, song lại không nỡ thất hứa, nên mang cả quân hộ vệ đến đây, vương huynh đừng lấy làm lạ.

Cơ Quang bất giác thấy chột dạ, giật mình, vội vàng đáp:

– Vi thần không dám ạ, sự khoẻ mạnh bình an quý thể của đại vương, là niềm hạnh phúc của xã tắc, đáng lý ra phải phòng phạm từng giờ, nhất là những ngày gần đấy trộm cướp quá nhiều, mong đại vương hãy tự giữ mình.

Cơ Quang bụng nghĩ một đằng, miệng nói một đằng, giả lời như vậy, không nén làm sao khỏi trống ngực đập liên hồi.

Sự hộ vệ hôm nay quả thực là có khác mọi ngày, tiêu điều như cảnh cuối thu, nặng nề như giữa mùa đông, không những bên cạnh Vương Liêu có đến hàng mấy tên vệ sĩ tay cầm dao bén, mà bên cạnh những người có mặt cũng đều có một tên vệ sĩ đứng kè kè, những người đến gần Vương Liêu đều phải qua khám xét rất kỹ lưỡng mới được bước đến, ngay cả người rót rượu cũng có đến ba tên vệ sĩ kèm riết.

Thấy tình hình này, Cơ Quang áy náy không yên không biết Chuyên Chư có hiểu được rằng ở đây được canh giữ cẩn mật thế này không…

Lúc này Chuyên Chư cũng đang đau đầu về nỗi làm thế nào để đến gần được Vương Liêu, bỗng nhiên trong lòng chợt loé lên một điều và trước mắt như sáng ra, vội vàng đặt lưỡi kiếm dạ cá vào trong bụng con cá lô rồi hai tay bưng đĩa món ăn đặc sản đó dâng lên Vương Liêu. Theo quy định trước nên đã có ngay một tên vệ sĩ bước tới khám người, khám xong báo cáo lên:

– Bẩm báo đại vương, tên đầu bếp này không mang thứ gì trên người, cũng chẳng có khí giới gì cả ạ!

Đã không có gì mang theo, thì Chuyên Chư có thể lên dâng món ăn rồi, tay nâng đĩa thức ăn, bước đi rất đàng hoàng, ung dung bước lên đến sát bậc thềm, cúi mình làm lễ và thưa lên:

– Dạ thưa, thảo dân là đầu bếp, bình sinh tất thạo làm món ăn bằng cá, nay xin dâng lên một món cá lô kính mời đại vương thưởng thức ạ!

Ngô vương hỏi:

– Cá này ở đâu có?

– Dạ bẩm ở Thái Hồ ạ!

– Câu được ở đâu?

– Dạ câu được ở Dương Loan, mùi vị rất tươi ngon ạ.

– Ai câu được vậy?

– Để bày tỏ lòng trung, ông chủ nhà con là công tử Quang đã tự tay câu con cá này, dầm sương gội gió ba ngày đêm, mới câu được một con đấy ạ!

Vương Liêu hỏi rất nhanh, câu nọ nối câu kia như chớp, Chuyên Chư trả lời trơn tru, không hề hàm hồ ngắc ngứ. Vương Liêu hơi nghiêng mình, mỉm cười nói với Cơ Quang:

– Thật hiếm có tấm lòng trung như vương huynh, làm cho quả nhân vô cùng cảm kích.

Cơ Quang đứng dậy, vái tạ nói:

– Anh em trong nhà cả, đại vương quá khiêm tốn như thế làm gì, với lại, bề tôi lấy lòng trung làm công việc cho vua, là lẽ thường xưa nay, thần chẳng qua là làm theo lẽ đó, cần gì phải nhắc đến! Xin đại vương hãy ngự dùng món cá hồng xíu, để nguội mất ngon ạ!

Vương Liêu bảo với gã “đầu bếp” dưới thềm:

– Hãy gỡ bỏ xương cá đi đã rồi quả nhân mới ăn.

“Đầu bếp” vâng lệnh, vái chào Ngô Vương, bước lên giả vờ gỡ xương, nhanh như chớp chụp lấy thanh kiếm giấu trong bụng cá, xỉa thẳng vào tim Vương Liêu, chọc qua ba lớp áo giáp xuyên ra sau lưng, Vương Liêu rú lên một tiếng, chết ngay tại chỗ.

Đám vệ sĩ xông lên bâu lấy như ong, chém nát Chuyên Chư.

Cơ Quang vội lẻn vào nhà trong, bọn vệ binh như điên cuồng, hô lên:

– Giết chết Cơ Quang đi!

Ngũ Tử Tư ẩn trong phòng kín đợi thời cơ vội xông ra, như giao long gặp nước, mãnh hổ xuống núi, rút thanh kiếm dài ra, hàng chục tên vệ sĩ lần lượt kêu lên và ngã nhào ra đất. Ngũ Tử Tư hô lên một tiếng, như một làn sóng dậy, hàng trăm lực sĩ mai phục quanh đó đã ào lên và hai bên giao đấu nhau. Bên này biết Chuyên Chư đắc lực nên oai tăng hàng chục lần, trong khi đó thấy Vương Liêu đã chết, thế giảm đi mấy lần. Sau khi hai bên chém giết nhau một chập, lính tráng do Vương Liêu đưa tới bị giết chết một nửa, nửa còn lại thì chạy trốn hết.

Ngũ Tử Tư hộ tống Cơ Quang đánh xe về triều, tụ tập quần thần lại, nói:

– Từ khi hoàng thúc Quý Trát từ chối ngai vàng, ngôi báu lẽ ra phải do người đích tôn là cháu trưởng nối tiếp, làm thế nào lại để cho Vương Liêu chen ngang vào cướp ngôi, làm hỏng cả thể thống trong vương thất. Nay Liêu đã chết, để uốn nắn lại thể thống ngôi vua phải do cháu đích tôn là vương tử Cơ Quang nối tiếp, các vị có ai không đồng ý?

Quần thần đương nhiên là đồng thanh tán thưởng, thế là Cơ Quang đã cướp được ngôi vua rất dễ dàng, đó là Ngô vương Hạp Lư.

Vì Ngũ Tử Tư có công lớn, Hạp Lư phong cho làm thượng đại phu, gặp việc gì cũng hỏi han tư vấn. Con trai của Chuyên Chư là Chuyên Nghị được phong làm hạ quân đại phu.

Yểm Dư và Chúc Dung đang đem quân đi xa, nghe tin trong nước xảy ra đảo chính, một người trốn sang nước Từ, một người chết ở Chung Ngô.

Quý Trát sau khi đi thăm các nước trở về, Cơ Quang đã nhường ngôi, song Quý Trát không nhận, tự cam chịu làm bề tôi.

Vương tử Khánh Ky đi nước Vệ mượn quân, nghe có biến đã chạy đến Ngải Thành, liên kết với nước láng giềng, muốn chờ thời lựa thế đánh nước Ngô trả thù.

Hạp Lư nghe tin Khánh Ky có âm mưu đánh nước Ngô, suốt ngày ăn không ngon, ngồi đứng không yên, lệnh cho Ngũ Tử Tư hỏi khắp cả mọi kẻ sĩ mưu trí trung dũng trong thiên hạ, để tìm cách trừ khử Khánh Ky như Chuyên Chư giết Vương Liêu.

Một hôm Ngũ Tử Tư đến bờ biển Đông nước Tề, trên bãi cát mịn, hàng trăm dân chúng tấu nhạc ca hát, xem ra có vẻ như đang hát mừng thắng lợi. Trong đám đông, có một gã đàn ông mình cao chín thước, giơ cao viên ngọc như ý đang lấp lánh phát sáng, đang hiên ngang hãnh diện đón nhận lời hoan hô chào mừng của dân chúng. Gã đàn ông ấy tên là Tiêu Khìu Hân, được Tề hầu tin cậy, cất nhắc lên làm sứ thần. Hiện nay ngựa của ông ta bị long thần cướp đi. Trong cơn tức giận, Tiêu Khìu Hân nhảy ào xuống nước, đánh nhau với long thần ba ngày ba đêm, lấy được viên ngọc như ý trên trán của long thần. Thấy Tiêu Khìu Hân thần dung không ai bì, Tề hầu đã ban tặng rất hậu, cho nên dân thôn mới mở tiệc trên bờ biển chúc mừng.

Trên bờ biển, tiếng cười xen tiếng hát chan hoà với nhau tưng bừng rộn rã. Bỗng nhiên trong đám đông có một người rêu rao lên:

– Tiêu Khìu Hân chẳng qua chỉ là thằng bịp chứ đâu có phải cái thế anh hùng…

Đám đông nhốn nháo lên, người ta đưa mắt lướt tìm cái người nào dám to ngan làm xằng thế, bản thân Tiêu Khìu Hân thì nắm chặt hai tay, mặt đầy giận dữ, đưa mắt nhìn quanh một vòng, không thấy kẻ dám khinh bỉ mình và không nén nổi, gầm lên như sấm:

– Kẻ nào dám làm nhục ta; có giỏi hãy bước ra đây, để ta xem có ba đầu sáu tay hay sao mà ghê gớm thế…

Mọi người bị tiếng quát làm cho sợ xo lại, người nào người nấy giương mắt nhìn nhau, đến thở cũng không dám thở mạnh, chẳng ai dám ho he câu gì, hầu như chỉ cần nói ra một tiếng, nắm đấm như sắt kia của Tiêu Khìu Hân sẽ đập cho tan nát.

Một lần nữa, Tiêu Khìu Hân lại cao giọng chửi rủa:

– Thằng nảy nòi nào thì bước ra đây, ông mày dạy cho một bài…

Trong đám đông bước ra một người thấp bé, cao chưa đầy ba thước, mặt mũi thì xấu xí, trông như một đứa trẻ con, người ấy chậm chạp bước tới trước mặt gã cao lớn kia, trông hình dáng ấy lại càng tỏ ra nhỏ gọn. Người thấp bé ngẩng mặt, ưỡn ngực hỏi:

– Tiêu công cần gì phải nóng nảy doạ nhau thế, câu vừa rồi là chính miệng ta nói ra đấy, ông định làm gì?

– Cái đó…- Gã cao lớn nhìn người nhỏ bé ấy bất giác giật lùi mấy bước.

– Thế nào? Chẳng lẽ Yếu Ly này nói thế lại không là sự thực chính xác hay sao?

“Yếu Ly? Chẳng hoá ra đây là Thạch Yếu Ly nổi tiếng ở các nước hay sao?”. Ngũ Tử Tư thầm nghĩ như vậy bất giác bỗng thấy chột dạ. Thạch Yếu Ly có nhiều câu chuyện có tính truyền kỳ, khắp gầm trời này, đàn bà trẻ con ai ai cũng biết, Ngũ Tử Tư lại càng nghe nói từ lâu, không ngờ hôm nay lại gặp ở đây, đúng là “người không thể chỉ dựa vào tướng mạo, nước biển không thể đong”. Ôi! nhìn trước mặt lúc này, hai con người đang đấu khẩu với nhau; một người đồ sộ như con quái vật, một người nhỏ thó đến mức chẳng ai nhìn, chẳng khác gì một con gà trống trước một con dế. Con dế tuy nhỏ nhưng lại có thể nhảy lên mào con gà trống, đá cho máu chảy ròng ròng cho đến chết. Con gà trống muốn mổ con dế, lại chỉ như một ý nghĩ ngây ngô viển vông, đó chính là sự đời nhỏ thắng lớn, lấy ít thắng nhiều trong thế gian này. Chẳng phải thế là gì, hãy cứ nhìn Tiêu Khìu Hân kia kìa, lúc đầu huênh hoang nhất đời như thế, Thạch Yếu Ly vừa xuất hiện, hắn bỗng xẹp như quả bóng xì hơi, cuốn cờ tắt trống. Thạch Yếu Ly nhẩn nha ca cẩm:

– Đã là dũng sĩ, việc quái gì phải tự khoe mình. Tiêu tráng sĩ lúc trước nói rằng ngựa của mình bị thần long cướp mất, sau lại bảo lấy được cả ngọc như ý gắn trên trán thần long, cái thực thì mất cái hư thì được, thế thì làm sao để người ta tin được. Lừa dối vua chúa, để được mang tên là hỗn thế anh hùng, đó chẳng qua là tự mình lại dối mà thôi. Nếu như còn một chút lương tri thì hãy nên tự kiểm điểm lại mình mà sửa chữa đi mới phải!

Thạch Yếu Ly vừa nói dứt câu, liền quay sang đi chỗ khác. Tận mắt nhìn thấy tình cảnh này, Ngũ Tử Tư bàng hoàng như trong cơn mê.

Ngay sau buổi đó, Ngũ Tử Tư đã đến thăm Yếu Ly, hai người trước đó đã biết tiếng và mến mộ nhau, nên gặp nhau là quấn lấy nhau, dần trở nên như người thân nhau từ lâu. Ngay đêm ấy, ở nhà Yếu Ly, Ngũ Tử Tư đã xem một vở kịch vui.

Yếu Ly và Ngũ Tử Tư dốc bầu tâm sự, nói chuyện với nhau mãi đến giờ tý mới chịu chia tay nhau. Sau khi sắp đặt chỗ nghỉ ngơi cho. Ngũ Tư Tư, Yếu Ly mở cửa ra, thắp sáng đèn nến ở lối đi, rồi nằm ngay trên mặt đất ở lối đi ngủ khò khò.

Một khắc giờ qua đi, dưới ánh trăng, có một bóng đen lay động, cái bóng vừa lớn vừa cao, rõ ràng là Tiêu Khìu Hân. Yếu Ly sớm đã đoán chắc rằng thế nào đêm nay Tiêu Khìu Hân cũng đến đánh úp trộm, bởi thế mới sắp đặt như vậy. Yếu Ly thừa biết rằng Tiêu Khìu Hân là hạng to xác nhưng nhát gan, lòng chim dạ chuột, hôm nay ngoài bãi biển bị mình mắng cho giữa chỗ đông người, đương nhiên là sẽ không cam chịu và nhất định sẽ trả thù. Bóng đen thấy cửa lớn bỏ ngỏ; dọc lối đi đèn nến lại sáng trưng, Thạch Yếu Ly thì đang nằm dưới đèn ngủ say, nên không bước thêm lên đằng trước nữa, nép vào bóng tối ở bên cạnh cửa im lặng xem xét hồi lâu, như thể sinh nghi trong bụng, sợ rằng trúng ổ mai phục. Nhìn như thế một lúc lâu, vẫn không thấy có gì khả nghi hơn, bóng đen mới rón rén đi lên phía trước, đột nhiên, tay cầm bảo kiếm nhảy lên bậu cửa, thuận tay xỉa mạnh về phía chỗ Yếu Ly đang nằm ngủ. Cùng lúc ấy, Yếu Ly bật dậy như bay, nhằm vào đầu tên thích khách tung một cú đá, chỉ nghe thấy một tiếng “ối” thích khách ngất lịm trên mặt đất; thanh kiếm trong tay văng ra một quãng xa tới hơn hai thước, Dưới ánh sáng nến nhìn rõ mồn một thích khác ấy không phải ai khác, chính là Tiêu Khìu Hân. Không biết là bao nhiêu lâu sau, Tiêu Khìu Hân dần dần tỉnh lại, Yếu Ly mắng nhiếc:

– Tiêu Khìu Hân, bị ta làm nhục trên bãi biển, đã không cãi lại, lại không đường đường chính chính đến mà trả thù, mà lại lò mò đến tối chờ đánh trộm, thế thì sao có thể gọi là cái thế anh hùng, mà chỉ là một tên ti tiện vô liêm sỉ không hơn không kém – Yếu Ly đưa kiếm trả lại cho hắn, nói tiếp – Nào! Có là trang hảo hán, hãy cùng sống mái một phen.

Tiêu Khìu Han nhận lấy kiếm trong tay, quỳ xuống đất nói:

– Anh hùng ở đây, Khìu Hân này thực là xấu hổ, còn mặt mũi nào mà sống trên đời – Nói xong, rút kiếm tự vẫn.

Ngũ Tử Tư bước ra, nắm chặt hai tay Yếu Ly, vô cùng xúc động nói:

– Thạch công trí dũng song toàn, một lời nói ra, đủ khiến cho Tiêu Khìu Hân phải xấu hổ mà tự vẫn, thật khiến cho Ngũ Tử Tư này khâm. phục sát đất..

Nguyên là, Ngũ Tử Tư cũng dự đoán rằng thế nào Tiêu Khìu Hân thế nào cũng đến trả thù, nằm trên giường trằn trọc không yên, không sao chợp mắt được, liền lấy kiếm ra nấp ở một nơi đề phòng bất trắc.

Ngũ Tử Tư nói với Yếu Ly ý định của mình, Yếu Ly nói mấy câu khiêm nhường, rồi nhận lời, cùng Ngũ Tử Tư đến yết kiến Ngô vương. Hạp Lư đã mở cuộc tiệc long trọng tiếp đãi và thân chinh mời Thạch Yếu Ly vào ngồi tiệc Và sau bữa tiệc ấy đã cùng nhau bàn việc lớn.

Trong một buổi chầu sớm, trước mặt bá quan, Hạp Lư tuyên bố:

– Thạch Yếu Ly người nước Tề, đã mỉa mai cười cợt quả nhân, tôi không thể tha thứ được. Nay đem chặt tay trái của y xong tống giam, rồi cho quân sang Tề giết vợ con y, để răn đe mọi người.

Các quan trong triều người nọ giương mắt nhìn người kia, lo sợ không hiểu ra sao.

Thì ra đó chỉ là một kế, gọi là khổ nhục kế, do Yếu Ly nghĩ ra, Hạp Lư đắn đo mãi, Ngũ Tử Tư lại khuyên nhủ nhiều lần, cuối cùng mới quyết tâm làm như vậy.

Thạch Yếu Ly lẩn trốn một số ngày, vượt Ngô giang đến gặp Khánh Ky, qua nhiều phen vất vả, mới giành được sự tin cậy của Khánh Ky. Thạch yếu Ly nói, lúc đầu Ngũ Tử Tư muốn mượn quân Ngô để đánh nước Sở, giúp Cơ Quang cướp được ngôi vua, điều hơn lẽ thiệt hai người xem ra hai người đều thống nhất với nhau. Tuy nhiên, ngày nay hai người này ngủ chung giường nhưng mơ mộng khác nhau. Sau khi Cơ Quang xưng vương, không chịu đem quân đi đánh Sở, kỳ thực, có ai lại muốn để cho đất nước yên hàn của mình bị cuốn vào cuộc chiến tranh ở nước khác. Thế nên giữa Ngũ Tử Tư với Cơ Quang, từ chỗ bất hoà đi đến quyết liệt với nhau, Ngũ Tử Tư đã bỏ quan, về ở ẩn, Hạp Lư hoàn toàn cô lập. Vương Tử có thể ngầm gửi thơ cho Tử Tư, bảo hắn làm nội ứng cùng đánh Hạp Lư, đồng thời nhận mọi đòi hỏi của hắn, lên ngôi xong, lập tức sẽ đem quân đánh nước Sở, để cho hắn báo thù rửa hận. Đánh Sở để báo thù, là mục đích duy nhất của Ngũ Tử Tư, hắn nhất định sẽ không từ chối. Yếu Ly cũng bày tỏ rằng để trả mối thù giết vợ diệt con, trả mối hận bị chặt mất bàn tay trái, trong cuộc đấu tranh trừ khử Hạp Lư, giúp Khánh Ky giành lại ngôi báu, bản thân mình sẽ phấn đấu hết sức, dù có gan nát óc lầy, cũng không từ chối.

Thạch Yếu Ly bỗng trở thành tâm phúc của Khánh Ky, là phần tử trung kiên đánh Hạp Lư báo thù cha.

Một ngày giữa mùa hè, Yếu Ly tháp tùng Khánh Ky bơi thuyền ngắm hoa, hoa sen nở rộ, Khánh Ky hái mấy bông, ghép cánh lại thành một chiếc chén lớn, đựng đầy rượu ngon, dâng lên Yếu Ly. Yếu Ly nói:

– Thảo dân tay đau còn chưa khỏi, không được uống nhiều rượu, thôi để mời vương tử hãy tự ngụ dùng thôi ạ!

Trong lúc quá vui, Khánh Ky uống liền mấy chén, bất giác say lảo đảo, cởi bỏ áo ngoài ra, nằm ngay ở khoang thuyền ngủ say như lợn chết, lưỡi đao găm cài ở thắt lưng rơi ra một bên. Nhìn lưỡi dao đó, Thạch Yếu Ly suy nghĩ giây lâu, rồi đi đến bên Khánh Ky gọi nhỏ:

– Xin mời vương tử hãy mau mau trở dậy, cẩn thận kẻo cảm lạnh.

Yếu Ly ở bên cạnh gọi mấy tiếng, Khánh Ky đều không hay biết gì, hầu như đang đắm chìm trong giấc mộng bá vương, khoé miệng còn lộ ra một nét cười, không có biểu hiện gì đã tỉnh lại. Yếu Ly rón rén nhặt lấy lưỡi dao rơi cạnh mình Khánh Ky, rồi đâm thật nhanh vào tim hắn. Khánh Ky bật lên như một con cá và đứng dậy, đưa tay lên giữ lấy nắm dao, không cho nó trượt rơi ra. Do dao chưa rút ra, máu chưa chảy hết, Khánh Ky còn vật vã được một lúc nữa.

Tướng sĩ trên các thuyền đi hộ vệ thấy vậy, nhanh chóng chèo thuyền áp sát tới để bắt Yếu Ly…

❀ ❀ ❀

[1] Đông nam thành phố Vô Tích, tỉnh Giang Tô ngày nay.

Nguyễn Bá Thính
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Tào Nghiêu Đức

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.