Tôn Tử Truyện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 55 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Xix Ba Cánh Quân Quần Nước Sở – Đuổi Địch Chạy Vòng Quanh
Chương Xix Ba Cánh Quân Quần Nước Sở – Đuổi Địch Chạy Vòng Quanh

❊ ❊ ❊

Năm sau, tức là mùa thu năm 511 trước công nguyên, nước Ngô chia làm ba cánh quân đi đánh nước Sở trước khi xuất phát, dưới sự chủ trì của Hạp Lư, Tôn Tử và triều đình nước Ngô đã mở một hội nghị cao cấp các tướng lĩnh, tham dự cuộc họp này, tất nhiên có những nhân vật quan trọng như Ngũ Tử Tư, Phu Khái, Bá Bỉ, Chuyên Nghi, Bị Ly… Trong cuộc họp, Tôn Tử đã nhấn mạnh khi nêu ra rằng mục đích chính của cuộc ra quân lần này, không phải là chiếm nước phụ thuộc của nước Sở, tiêu diệt quân đội nước Sở, mà ba cánh quăn lấy việc làm suy yếu nước Sở, từ nhiều mặt làm chậm trễ nước Sở, tìm đủ trăm phương ngàn kế, làm cho nước Sở mệt mỏi rã rời. Khi nói đến việc tại sao lại phải làm như thế và áp dụng phương châm ấy, Tôn Tử nói rằng trong cuộc chiến tranh lấy ít đánh nhiều, lấy yếu chống mạnh, không thể lấy sức mạnh ra tranh giành được, chỉ có thể dành thắng lợi, không thể trông mong đánh một trận thắng ngay mà cần phải mưu lược lâu dài, ly gián quan hệ giữa nó với các nước phụ thuộc, các nước đồng minh, làm tê liệt ý thức chiến tranh của nó, làm hao mòn sức mạnh của đất nước nó, sau mới thừa dịp đánh tan nó. Để nói thêm vấn đề này, Tôn Tử đã kể cho mọi người nghe một câu chuyện hết sức thú vị.

Ngày xưa, có hai đứa bé hơn mười tuổi rủ nhau vào rừng hái củi, chúng thấy trong hang có hai con sói con, sói mẹ không ở đó, mà sói con thì đang đói gần chết. Hai đứa bé đều thấy rất ngộ, bèn ôm hai con sói ra khỏi hang, mỗi đứa giữ một con, âu yếm vuốt ve như mèo con chó con ở nhà mình. Chợt con. sói mẹ màu lông cỏ úa, miệng tha một con thỏ rừng từ trên sườn núi chạy về. Thấy tình thế không hay, hai đứa trẻ mỗi đứa một con sói con, leo lên cây dương gần chỗ mình. Con sói mẹ thấy vậy, lồng lộn lao thục mạng lên cây. Nhưng sói vốn không biết leo cây, chẳng làm gì được hai đứa trẻ đang ở trên cây cao, nó cuống lên chạy quanh gốc cây, mệt đến thở không ra hơi, nó ngoác cái miệng đỏ như chậu máu và thè cái lưỡi dài ra, thở hồng hộc liên hồi, nhưng nó vẫn không chịu, leo hết lên cây này, lại lên cây khác cho đến lúc không lê được bước đi nữa phải nằm phục xuống đất mà thở. Đứa trẻ ở trên cây dương. phía đông thấy sói mẹ nằm im không cựa quậy được nữa, lấy tay véo vào con sói con đang ôm trong lòng, con sói nhỏ đau quá kêu lên thành tiếng, con sói mẹ nghe tiếng, lại xông pha leo lên cây lần nữa. Con sói con trong lòng đứa trẻ ở bên đông không kêu nữa, thì đứa bé trên cây ở phía tây lại véo cho con sói con kêu lên thảm thiết, sói mẹ nghe thấy lại chạy tới leo lên cây ở phía đó.

Hai đứa bé ở trên cây cứ thế thi nhau hành hạ hai con sói nhỏ làm cho chúng liên tục kêu lên thảm thiết, khiến cho con sói mẹ chạy ngược chạy xuôi quanh hai gốc cây đó, cho đến mệt chết ở gốc bạch dương. Kể hết câu chuyện, Tôn Tử nói:

– Hai đứa trẻ chẳng một nhát dao mũi thương nào, mà trong trò chơi của mình đã săn được một con sói mẹ, chúng chính là khuôn mẫu để chúng ta học tập trong cuộc dấy quân hôm nay.

Khi nói đến việc làm thế nào đối phó với đông đảo các nước ở lưu vực sông Hoài, Tôn Tử chỉ ra rằng, không chỉ dùng vũ lực chiếm lĩnh những đất nước này như nước Sở đã làm, mà phải thân yêu họ, giữ gìn lợi ích của dân tộc Đông Di phải làm sao cho dân của các dân tộc và quốc gia ấy coi mình như đồng bào ruột thịt của họ, quan tâm đến sự no ấm của họ, hỏi han đến nỗi cơ khổ của họ, trừ hại làm lợi cho họ.

Khi nói đến nội dung phải chiến đấu như thế nào Tôn Tử chỉ rõ, mỗi trận đánh phải lấy việc tiêu hao và làm mỏi mệt quân địch là mục đích phải áp dụng hành động bí mật và thần tốc, đánh chúng xuất kỳ bất ý với những trận đánh nhanh như chớp giật, chớ có ham chiến, phải đánh việc kéo dài trận đánh và khi nào trận thị phân tán lực lượng. Phải nắm cho thật chắc tính chủ động của mỗi trận đánh cũng như cả của chiến dịch, phải đánh ép mau lẹ lên đầu địch như gió lốc như nước lũ, làm cho quân địch ăn không ngon, ngủ không yên, nhìn lá cây ngọn cỏ cũng giật mình, lo sợ không được lúc nào yên thân. Lại phải hết sức, chú ý tính linh hoạt trong chiến đấu, áp dụng nhưng biện pháp khéo léo, để lừa gạt, dẫn dụ, mê hoặc địch. Chúng ta quyết không thể đóng lâu một chỗ, hành động phải kín đáo, đến không ai biết, đi không ai hay, luôn xuất quỷ nhập thần thay đổi vị trí của mình, để cho địch không thề nắm được quy luật hoạt động của ta. Tôn Tử nói, chúng ta chắc ai cũng đã từng thấy người nông dân trục lúa trên sân chứ gì? Trong tay họ là sợi dây xỏ mũi buộc con vật kéo, đầu kia của sợi dây là trâu, bò, lừa, ngựa… làm vật kéo. Người nông dân, đứng ở giữa sân, với dáng vẻ hết sức ung dung, bước nhẹ nhàng thong dong tuỳ ý thích của mình, anh ta quay mình theo hướng nào thì con vật kéo ở vòng ngoài mang hết súc ra kéo trục, nếu gặp con vật nào lười nhác ì ra không chịu đi, thì anh ta quất cho nó một roi thật mạnh, thế là nó bắt buộc phải lồng lên như bay, lâu dần mãi, đương nhiên là nó phải mệt mỏi… dấy quân chuyến này chúng ta cũng phải như anh nông dân trục lúa, có điều, trong tay chúng ta, không phải con vật kéo bảo sao nghe vậy, mà là nước Sở lớn mạnh hơn chúng ta.

Sắp đặt đâu vào đấy Tôn Tử ngồi ở Chung Ly chỉ huy từ xa, trước hết sai Phu Khái và Chuyên Nghị mang một phần ba số quân đi phạt Di.[1]

Nửa năm trước Tôn Tử mang quân Ngô đi đánh nước Chung Ngô và nước Từ, đã gieo xuống những nơi đó hạt giống của tình nhân nghĩa, đến lúc này, hai bờ sông Hoài, hoa đã nở rộ; trái đã trĩu cành, bằng đủ mọi hình thức, người ta đua nhau hết lời ca ngợi những hành vi nhân nghĩa của quân đội nước Ngô, Tôn Tử được truyền tụng như một nhân vật thần kỳ. Đó chính là thời tiết chính trị khi Phu Khái và Chuyên Nghị mang quân đi phạt Di, quân đội hành tiến trong bầu không khí ấy, như chim ưng bay giữa tầng không, như cá vẫy vùng trong đáy nước, như những con giun cần cù tiến sâu trong lòng đất, chẳng có một sức gì ngăn cản nổi. Quân Ngô đi đến đâu, trăm họ cơm đùm cơm nắm kéo nhau đi đón, chắn ngang đường reo mừng nhảy múa hát ca nhiệt tình đưa tiễn. Đến ở mỗi thôn xóm nào, bà con nông dân đều tranh nhau nhường ra những gian nhà tốt nhất, để cho các tướng sĩ của nước Ngô tránh gió tránh rét; có người tự ra ngủ tạm nơi đầu đường cuối xóm, nhà cửa giường chiếu lại nhường cho các chiến sĩ của quân Ngô, để cho họ được ấm áp, được có chỗ nghỉ ngơi để hôm sau còn tiếp tục lên đường. Tình cảm của con người vốn có đi có lại, vốn là sự cảm thông nhau, sự trao đổi cho nhau, sự cảm thông và trao đổi với hau đó thường là âm thầm xảy ra từ lúc nào không ai hề hay biết, đúng như người ta thường nói, người kính nể ta một gang, ta kính nể người một thước. Dân chúng ở các nơi sở dĩ đã đối xử với tướng sĩ của quân Ngô như người thân như thế, bởi vì tướng sĩ của quân Ngô đã từng coi dân chúng Đông Di như cha mẹ anh em mình. Họ lại giữ nghiêm kỷ luật, đi đến đâu cũng chẳng xâm phạm tơ hào một chút gì. Lúc ấy lại đang là lúc gặt lúa mùa bận rộn, bất chấp cả nỗi mệt mỏi hành quân lặn lội đường dài, tướng sĩ của quân Ngô tranh nhau đi giúp nông dân gặt lúa và gieo giống, nào gặt hái, nào chuyên chở, nào làm đất, nào gieo hạt… người nào người nấy mệt bở hơi tai, mồ hôi đầm đìa, nhưng chăm chỉ đến mức thường nước cũng chẳng kịp uống lấy một bát, nhiều người dân nước Từ cảm động đến rơi cả nước mắt, ai cũng khen tướng sĩ nước Ngô là một đội quân nhân nghĩa nhất ở trong thiên hạ.

Chiến tranh hết năm này sang năm khác, lũ lụt vụ nọ nối vụ kia khiến cho muôn dân vùng lưu vực sông Hoài luôn sống trong cảnh đói cơm rách áo, khổ cực hết chỗ nói, tuy họ rất yêu mến và ủng hộ và ca ngợi quân Ngô, nhưng chẳng có thức gì ngon, vật gì tốt để uý lạo họ trong lúc này. Bài thứ hai trong “Tôn Tử binh pháp” có nói: “Người cầm quân giỏi, không phải bắt lính nhiều lần, không phải chuyên chở lương thực nhiều lần; khí giới quân dụng thì lấy của nước mình, lương thực thì lấy của nước địch, cho nên mới có thể cấp đủ lương thực cho quân lính”.

Ấy thế nhưng tai nghe thấy trong đám dân chúng Đông Di văng vẳng tiếng trẻ thơ đòi bú, quân Ngô không nỡ lòng nào bắt họ phải giao nộp ra dù chỉ là một đấu lương ăn, ngược lại chính mình còn thắt lưng buộc bụng, tiết kiệm lương thực để cứu tế cho những người dân đang sắp chết đói, quanh vấn đề lương thực, đã xảy ra bao nhiêu câu chuyện khiến ai nghe thấy cũng phải xúc động lệ đầm vạt áo.

Trang Mộng Nghiêu là một viên sĩ quan trung cấp trong quân Ngô, một hôm dẫn quân đến thị trấn Lưu Tập, thấy trời sắp tới, liền hạ lệnh cho tạm nghỉ tại thị trấn này một đêm, sớm hôm sau lại lên đường. Đây là một thị trấn nông thôn với hơn hai trăm nóc nhà, dân trong phố trong làng nghe tin quân Ngô qua đây muốn ngủ lại chẳng ai bảo ai lần lượt nhượng phòng, dẹp nhà, ý họ là không muốn để quân Ngô phải dầm sương dãi gió. Trang Mộng Nghiêu với người vệ sĩ của mình được thu xếp vào ở nhà của Lưu Quốc Lương, nghe nói vợ của Quốc Lương là con người ưa sạch sẽ gọn gàng, điều kiện vệ sinh ở đây là tốt nhất, cho nên đã sắp xếp cho vị sĩ quan dẫn đầu quân Ngô đến ở nhà này. Một vị trưởng lão trong thôn đã dẫn Trang Mộng Nghiêu đến nhà Lưu Quốc Lương – ba gian nhà trên, hai gian nhà ngang, sân riêng cổng riêng, nằm ở góc đông nam của thị trấn, vô cùng yên tĩnh. Vợ của Lưu Quốc Lương đầu bịt khăn mặt, lưng thắt tạp dề, buộc chổi vào cán, đang định quét bụi bặm ở gian nhà ngang phía đông, Chỉ nhìn thoáng qua, cũng có thể biết ngay đây là một con người ưa sạch sẽ, tuy chiếc tạp dề chỉ là thứ dệt bằng gai, lại vá đến mấy chỗ, nhưng được giặt giũ sạch sẽ phẳng phiu. Nàng có dáng người hơi cao, tuổi cũng chỉ ngoài hai mươi, cặp mắt rất thanh tú nhưng lại thoáng có những nét buồn; nước da nàng trắng trẻo, nhưng lại không mịn màng, mà xem ra có phần tiều tụy. Tất cả những cái đó, không hề che dấu gì, nói lên với khách nỗi vất vả khó khăn và cảnh ngộ không may của nàng. Nàng lầm lì ít nói, trưởng lão giới thiệu khách tới nhà, nàng cũng chỉ mỉm cười gật đầu, tỏ ý vui mừng đón nhận. Từ đó về sau Trang Mộng Nghiêu mà không hỏi, nàng cũng vẫn âm thầm lặng lẽ, chỉ biết cặm cụi làm việc luôn tay, cố làm cho nhà cửa lúc nào cũng luôn luôn sạch sẽ, sắp đặt đâu ra đấy ngay ngắn gọn gàng, để khách có một môi trường thoải mái, dễ chịu mà nghỉ ngơi, ngủ một đêm thật ngon lành, cho hết mệt mỏi.

Vừa bước vào sân, Trang Mộng Nghiêu bỗng nghe thấy tiếng khóc của trẻ thơ từ gian phía tây vẳng tới không cần nói cũng biết rằng đó chính là đứa con quý báu của nữ chủ nhân căn nhà này, mẹ con họ đang ở trong gian nhà ngang phía tây đó. Bước vào nhà, trong lúc người thiếu phụ quét dọn nhà cửa, tiếng trẻ khóc từ gian nhà phía Tây vẫn tiếp tục vang ra, tiếng khóc ấy xem ra rất yếu ớt, đứt đoạn từng cơn như không còn hơi sức. Trưởng lão mấy lần giục người chủ nhà bỏ việc đấy, đi cho con bú, nhà cửa như thế là sạch sẽ rồi, không cần phải mất công thêm nữa. Nhưng người chủ nhà ấy vẫn một mực miệt mài làm và mỉm cười chua chát nói:

– Con nhà nghèo, không ai chiều chuộng được! Bà nội cháu đang bế cháu rồi.

Tận đến lúc lên đèn, vẫn chưa thấy chủ nhà Lưu Quốc Lương về nhà, Trang Mộng Nghiêu bất giác hỏi người thiếu phụ. Nghe hỏi đến chồng mình, nước mắt nàng tuôn ra như suối, đau khổ đến cực độ. Thì ra nửa năm trước, vua nước Từ thua trận dời đô đến đất Di, bắt một số lớn nông dân đi phu xây kinh thành mới. Lúc ấy Lưu Quốc Lương đang bị bệnh lao, ho đến bật cả máu ra, nhưng cũng chẳng được tha, bị bắt đi không đầy hai tháng, đã bỏ mạng trên đường đi chở đá. Hiện nay người vợ trẻ này của Quốc Lương đang phải chèo chống cái gia đình này, trên có mẹ già quanh năm đau yếu, dưới còn một đứa con thơ chưa đủ tuổi tôi, gánh nặng nuôi ba miệng ăn trong gia đình này rơi tất lên đôi vai của người thiếu phụ đáng thương này…

Vào lúc nửa đêm Trang Mộng Nghiêu giật mình bừng tỉnh bởi một tiếng khóc như xé lòng, lắng tai nghe tiếng khóc ấy vẫn vọng từ gian nhà ngang phía tây tới và nghe rất rõ là tiếng khóc của người vợ của Quốc Lương. Trang Mộng Nghiêu lệnh cho vệ binh thức dậy, khoác áo sang dãy nhà phía tây hỏi xem có chuyện gì đã xảy ra. Thế nhưng căn nhà phía tây cài cửa rất chặt, hỏi không ai nói, gọi không ai thưa, gõ cửa lại càng vô ích. Trang Mộng Nghiêu ý thức được rằng sự việc lành ít dữ nhiều, vội vàng nhổm dậy, mặc quần áo qua loa rồi chạy tới trước cửa căn nhà phía tây lớn tiếng gọi vào trong, cửa vẫn không mở, người vợ của Quốc Lương nghe rõ là tiếng Trang Mộng Nghiêu gọi cửa; lại càng khóc thảm thiết hơn. Để phòng bất trắc, Trang Mộng Nghiêu và người vệ binh cùng đạp cửa cho gẫy đôi then cài ra, nhảy vào trong nhà, họ bất giác đều sởn cả tóc gáy và hít dài như tức thở. Đứa trẻ chỉ còn da bọc xương nằm co ro trong lòng bà nội, bà cụ già thì nằm trên đống chăn chiếu ngổn ngang, hai bà cháu nằm chết đói trong giàn nhà kho chật chội ẩm thấp này.

Ba người trong gia đình vẫn ở gian nhà mé đông, gian mé tây này vốn là một gian kho đã từ lâu không ai ở. Để có nhà tốt cho quan quân nước Ngô tạm ở, người vợ Quốc Lương mới dời bà cháu sang ở gian nhà mé tây, không ngờ cả hai bà cháu đều chết ở đây. Lúc chồng ra đi, vợ của Quốc Lương đã chợt nảy ra ý định “chết quách cho xong đời”, nhưng nàng lại là một người phụ nữ hiền lành, không thể tự tử như thế, ác độc như thế nỡ không ngó ngàng đến mẹ già con thơ, mà đi cho rảnh xác một mình. Đến giờ này thì thôi rồi, đã đến lúc trên không chằng, dưới không buộc, mà cũng đã hết mọi niềm hy vọng trên đời. Nàng dứt lòng cùng đi theo mẹ già con dại, bởi cũng như ở trần gian, người già thì già quá người trẻ thì trẻ quá, sang thế giới bên kia biết lấy ai khuya sớm đỡ đần, người già cần có nàng phụng dưỡng, con trẻ cần có nàng bù trì. Hơn thế nàng còn ước đoán rằng, bước chân của hai bà cháu dứt khoát không thể nào nhanh được, vì cháu còn bé thì bà phải bế đi, nàng đuổi gấp lên vài bước là có thể giắt già ẵm trẻ mà đi. Nút dây thừng trong tay nàng đã thắt xong, đúng cái thời điểm nàng chỉ còn quàng nó lên cổ nữa là xong thì Trang Mộng Nghiêu và võ sĩ của ông phá cửa nhảy vào…

Mắt nhìn thảm cảnh này, tai nghe những lời kể lể xót xa, lòng Trang Mộng Nghiêu như có ai cầm dao mà cứa, ruột gan cũng xót như bào. Đến lúc này Trang Mộng Nghiêu mới nhớ lại rằng, từ hôm qua nhà họ Lưu này đã không nổi lửa nấu ăn chiều, thì ra họ đã nghèo đến mức không còn hạt nào bỏ vào nồi – mà trên thực tế, hai người một già một trẻ kia đã ba ngày nay không có hột nào dính ruột, bữa tối hôm qua Trang Mộng Nghiêu ăn bằng cơm trắng và bánh hấp cũng trắng, vệ binh bưng lên một liễn cơm, ăn chưa hết một nửa, còn thừa ra đều đưa trở lại. Lúc ấy, giá có đưa cho bà cháu cụ già một bát nhỏ, thì chắc chắn đã không xảy ra cái kết cục bi thảm đến thế này… Trang Mộng Nghiêu tự trách mình quá tự tư, quá đểnh đoảng, khi mình được nếm miếng ngon của lạ, tại sao lại chẳng nghĩ xem ba người trong nhà họ Lưu này phải chẳng đang không có hạt nào cho vào bụng? Đứng ở góc độ này mà nói, cái chết thảm hại xảy ra với hai bà cháu trong nhà họ Lưu này, bản thân mình cũng phải chịu một phần trách nhiệm không thể thoái thác được. Càng nghĩ Trang Mộng Nghiêu càng giận, càng nghĩ càng đau lòng, hết bứt tóc, lại đập đầu, hết giằng xé ngực áo của mình, lại muốn phanh phui lồng ngực mình phơi bày hết lục phủ ngũ tạng, moi hết ra vứt cho chó ăn…

Suốt đêm Trang Mộng Nghiêu không hề chợp mắt, ông đang tính toán xem nên chôn cất bà cháu nhà họ Lưu này như thế nào, an ủi vỗ về người vợ của Quốc Lương này ra sao. Ông phác ra một kế hoạch cho tướng sĩ trong đơn vị của mình bớt khẩu phần ra tiết kiệm lương thực để sẵn sàng cứu tế cho dân chúng Đông Di đói khát này vào bất kỳ lúc nào. Ông cũng đang vạch ra một kế hoạch làm thế nào để công bố rộng rãi câu chuyện này ra trước mọi người, để khơi dậy lòng căm thù sôi sục của các tướng sĩ đối với Chương Vũ vua nước Từ để ngọn lửa thảo phạt Đông Di càng thổi càng bốc cao…

Từ thời Xuân Thu đến lúc này, chiến tranh liên miên, người chết nhiều, lính tráng thiếu rất nhiều, Ngô lại là nước nhỏ, luôn luôn bị nước Sở xâm lăng, đương nhiên, cũng không có gì lạ. Lớp trai trẻ lên đường nhập ngũ, phần lớn đều không được khám sức khoẻ đầy đủ kỹ lưỡng, cho nên tố chất sức khoẻ của binh lính không được tốt lắm. Ở đơn vị nọ có một người lính tên là Giả Điện Khôi, thể chất vốn đã không được khoẻ lắm, lại thêm cuộc sống trong quân đội vừa gian khổ vừa vất vả, ăn uống không điều độ, sức khoẻ ngày càng sa sút, cho nên hay ốm đau trên dọc đường hành quân, trước hết là toàn thân mồ hôi nhễ nhại, sau đó thì xỉu đi bất tỉnh nhân sự. Đơn vị ấy đến đêm đóng lại Chiến Trang, đến lượt Giả Điện Khôi gác phiên giờ Tý. Đứng gác khác với hành quân, bởi hành quân bên mình còn có các chiến hữu khác, chẳng may có ốm đau, tất sẽ có người gọi và cứu giúp, còn đứng gác thì trơ trọi một mình, nhất là giữa lúc đêm khuya, bỗng nhiên mà ngã ra, nằm như người chết, chẳng ai phát hiện ra, chẳng ai báo tin, nếu gặp ngày đông tháng giá, tất sẽ bị chết cóng. Lúc này đang là tháng tám giữa thu, không đến nỗi phải lo chết cóng, thế nhưng bọn chó sói thính mũi sẽ bâu lại như ong, vây kín lấy Giả Điện Khôi. Chó rừng ở thời Xuân Thu – Chiến quốc khác hẳn với chó ở các thời kỳ khác, sau mỗi một trận đánh, xác chết phơi đầy đồng, máu chảy thành sông, bọn chó quen mùi tanh tưởi. Cho dù có không đánh trận, thì xác người chết đói cũng đầy đường đem lại cho chúng những bữa ăn ngon. Lũ chó hoang ở Chiến Trang đã từ lâu không ngửi thấy mùi tanh của thây người, nay bỗng thấy có một cái xác ở đầu thôn, đương nhiên là hí hửng kéo đến. Chó cũng như con người thấy lợi là tranh giành nhau, đấu với nhau để sống, và chúng cũng có từng phe từng phái khác nhau. Lũ chó kéo đến đêm ấy, không biết có bao nhiêu bè phái khác nhau, nên chưa tranh nhau được tới mức công bằng, chúng quay ra cắn nhau, tranh giành nhau kịch liệt, tiếng chúng sủa chói tai, vừa gầm vừa rú, trong đêm khuya lại càng trở nên ghê rợn hãi hùng. Tiếng chó sủa không bình thường đã khiến cho cụ già Chiến Đắc Lợi ở đầu thôn thức giấc cụ vội vàng khoác áo thức dậy, mở cửa nhìn ra, thấy vậy bỗng sửng sốt cả người, vội vàng quay trở vào nhà, rút cây đòng sắt sáng loáng xông thẳng ra cửa, vung cây đòng sắt lên xông vào đàn chó đang kịch liệt tranh giành nhau…

Đàn chó bị đuổi đi, “cái thây” dưới đất được mang về đặt lên giường của cụ Chiến. Vì vừa mới bị đàn chó xâu xé, nên trên mình “cái thây” đầy những vết thương, song vẫn còn thoi thóp thở. Nhìn dấu vết trên mũ áo và khí giới trong tay, cụ già Chiến dễ dàng nhận được ra đây là binh lính của quân Ngô, và thấy rằng lúc này đây, điều hệ trọng nhất là tìm cách làm sao cứu được tính mạng cho người lính đáng thương này. Một là phải bón cho anh ta thức gì ăn, hai là phải mời thầy lang về khám chữa. Thôn nghèo hẻo lánh, lại vào lúc gà gáy nửa đêm, đi đâu mà mời thầy lang bây giờ? Đành chỉ còn cách ngồi chờ đến sáng rồi mới tính chuyện sau. Từ đôi môi khô rạn và đầy mình mồ hôi của anh ta, rất có thể anh ta mắc chứng khiếp sợ, và do ra quá nhiều mồ hôi nên hư thoát, thế nên việc cần kíp này là phải cho anh ta ăn. Thế nhưng anh ta cũng đờ ra thế này, môi còn không hé được ra, thì làm sao mà ăn uống được? Cụ già Chiến bảo cụ bà đi nấu lấy một bát cháo kê, lấy đũa gắp ít một nhét vào miệng anh ta, môi và lưỡi của anh hình như hơi động đậy, mỗi tội cháo hơi đặc, anh ta không còn sức mà húp vào, nên cháo bón vào chỉ chập chờn ở cửa miệng không sao trôi được vào trong mà nuốt xống. Cụ già Chiến ôm Giả Điện Khôi vào lòng, vừa bón cháo cho ăn, vừa lẩm bẩm một mình:

– Bây giờ mà có một bát sữa thì tốt quá…

Bà cụ nãy giờ vẫn đứng cạnh đó cũng phụ hoạ thêm:

– Phải đấy! Một bát sữa vào bụng, cứu sống được một mạng người! Thế nhưng nhà ta lại chẳng có trẻ con đang bú, đi đâu mà kiếm sữa bây giờ? Thứ đó quả thật là khó kiếm!…

Tiều Bảo mới mười ba tuổi vừa ngủ với ông bà, sự việc xảy ra từ nãy đến giờ đã làm nó thức giấc, từ trong chăn ấm, nó nhô hẳn nửa người ra nói:

– Con dê cái nhà mình vừa đẻ dê con đấy thôi! Sữa dê không được hay sao?

– Tiểu Bảo nhà mình hoạ ra thông minh, sau này nhất định sẽ làm nên đấy! – Cả ông cả bà đều đồng thanh khen ngợi.

Chính cậu bé đã gợi ý cho người già, thế là ông cụ vội vàng vào chuồng vắt sữa dê, đun sôi lên rồi cho người lính nước Ngô ấy uống, lại giúp anh ta lau rửa vết thương, kiếm thuốc để bôi, cả nhà tất bật đến tận gà gáy.

Ngày hôm sau, quân Ngô lên đường, đi khỏi thôn Chiến Trang, Giả Điện Khôi tiếp tục ở lại nhà cụ già để chữa trị vết thương.

Trời quả là nhiều phen bất trắc, không ai lường hết được, thời tiết đã quá Thu phân, ấy thế mà vùng Giang Hoài lại đổ mưa tầm tã. Ông trời như sa sầm mặt lại, mấy ngày liền không thấy ló mặt, mưa cứ như trút nước, thâu ngày thâu đêm, lũ quét từ trên núi xuống, sông ngòi mênh mang nước, chỉ trong nháy mắt, cả mấy triệu người lâm vào hố sâu của tai nạn. Nhuận Hà, Dĩnh Thuỷ, sông Tây Phì, Cối Thuỷ, sông Đà, Tuy Hà vv… với hàng ngàn nhánh sông ngọn suối đều dốc nước vào sông Hoài, thế nên xưa nay sông Hoài vẫn là con sông gây tai hoạ, ngay từ thời thượng cổ, Đại Vũ đi trị thuỷ, thì con sông này cũng đã là một công trình trọng điểm, thế nhưng cách đó hơn hai ngàn năm trăm năm sau, nạn lụt ở sông Hoài không những không được chặn lại hoặc trừ tận gốc, mà còn diễn ra mỗi ngày một ác liệt hơn, mang lại cho nhân dân vùng ven sông mối tai hoạ vô cùng lớn lao. Trời mưa nhiều ngày không ngớt, khắp nơi mênh mông những nước, bước đi một bước là gặp đường lầy, cuộc hành quân gặp phải bao nhiêu khó khăn cản trở không ngờ tới. Quân đội của Phu Khái, dẫn đầu phần lớn là bộ binh và binh xa, ít thuyền bè, cho nên hễ gặp khi nước lũ gây tràn, việc hành quân về phía trước chẳng khác gì rồng leo lên núi, hổ xuống đầm lầy, mức độ khó khăn, chẳng kém gì lên trời. Dọc đường đi lẽ ra có thể mượn thuyền bè của dân, thế nhưng những lúc thế này, chiếc thuyền là công cụ để dân chúng bám vào đấy mà sống, lấy thuyền đi, tức là cướp đi mạng sống của dân, quân Ngô vẫn được mệnh danh là đội quân nhân nghĩa, đâu há lại đi làm điều bất nghĩa? Chẳng những thế, đứng trước cảnh đê vỡ, nhà cửa bị nhấn chìm, ruộng vườn ngập nước, dân chúng làm mồi cho tôm cá… quân Ngô sẽ vội vàng tiếp tục hành quân đi đánh Đông Di, hay là lao vào cuộc vật lộn chống lai thiên tai, cứu dân ra khỏi vòng nguy hiểm, tháo gỡ cho dân mối hiểm hoạ trên đầu? Vua Ngô thì ở xa, Tôn tử lúc này cũng đang ở Chung Ly, không kịp đến đó để xin thỉnh thị… suy đi tính lại mãi, Phu Khái và Chuyên Nghị bàn nhau chọn cách sau, bỏ cách trước. Làm như thế, khẳng định là sẽ làm chậm trễ thời gian đi trừng phạt Đông Di và cũng khiến cho quân Ngô lâm vào tình trạng mệt mỏi, đi ngược lại tôn chỉ là làm cho nước Sở tồi tệ, cho nước Sở chậm trễ, nhưng lại thu được tấm lòng của dân chúng Đông Di, mà lòng dân hướng theo hay không là vô cùng quan trọng, nó là nhân tố quyết định sự thành bại của một cuộc chiến tranh. Mọi việc ở trên đời luôn được cái này thì mất cái kia, tạm thời mất đi một chút thời gian, sau này nhân dân Đông Di tất sẽ giúp quân Ngô giành được khoảng thời gian dài hơn, nếu không có những hạt giống nhân nghĩa do Tôn Tử gieo xuống trong cuộc chiến đấu diệt nước Từ, thì làm gì có sự thuận buồm xuôi gió trong cuộc hành quân hôm nay…

Trên mặt đê, dân nước Từ đang dầm trong mưa để đắp đê, nào gánh, nào vác, nào chở bằng xe, nào thồ bằng lừa… những người đi đầu trong mọi việc, đều là tướng sĩ của quân Ngô, những người xông lên những chỗ nguy hiểm nhất, cũng là tướng sĩ quân Ngô. Nước lũ xối mạnh, đê kè sạt lở, có nguy cơ bục vỡ, tướng sĩ quân Ngô cùng hô lên một tiếng và nhảy ào xuống nước, tay nắm tay, vai chen vai, tạo nên một bức tường người, chặn đứng dòng nước lũ hung hăng, dân nước Từ nhân dịp đó đã ném những bao cát vào chỗ đê vỡ, qua cuộc vật lộn suốt ngày đêm; chỗ vỡ đê đã được lấp, chỗ sụt cũng được đắp phẳng, mối nguy hiểm đã qua đi, con đê đã được giữ vững, thế nhưng tướng sĩ quân Ngô lại giảm đi khá nhiều, bởi người thì bị nước lũ cuốn đi, người thì bị những túi cát đè xuống chỗ vỡ đê.

Nước lũ nhấn chìm thôn trang, tường đổ nhà xiêu, trên những con sóng dữ, dập dềnh trôi những mái nhà, những thứ đồ dùng và xác chết, của súc vật. Vì mải cứu dân chúng nước Từ, tướng sĩ của quân Ngô suốt ngày đầm mình trong làn nước phù sa, rất nhiều người do sức khoẻ sa sút mà bị chìm xuống nước và bị cuốn đi theo sóng dữ.

Dân nước Từ phần lớn đã được cứu thoát, di chuyển đến những nơi cao ráo an toàn, thế nhưng họ mất hết cả ruộng vườn, mất hết cả mùa màng thóc lúa và chăn áo, mất đi cả nguồn cung cấp lương ăn hàng ngày, tiếng khóc than đói rét luôn ra rả bên tai, thảm thiết không tài nào nghe nổi. Đáng thương nhất là người già, con trẻ và người ốm yếu tàn tật… lúc này đây mà để những nạn nhân này phải chết vì đói rét, thì chẳng thà ngay từ đầu đứng cứu giúp gì họ hết còn hơn, chính vì thế mà Phu Khái và Chuyên Nghị đã lệnh cho quân Ngô trù tính lại cho thật kỹ, cố gắng bớt ăn bớt mặc, để cấp đỡ phần nào cho dân chúng nước Từ trong cơn gấp rút như lửa cháy hai đầu thế này.

Mưa bão đã dừng, nước lũ rồi cũng rút, lưu vực sông Hoài tuy đây đó còn mang thương tích đầy mình, nhưng những nạn nhân cuối cùng cũng đã được trở lại nơi xưa cũ của mình, bắt tay vào xây dựng lại quê hương. Phu Khái và Chuyên Nghị đem quân lên hướng bắc, trong bầu không khí vui tươi lúc đón cũng như lúc đi và cả sự ủng hộ mạnh mẽ của dân chúng mà tung hoành ngang dọc, nhanh chóng đến được bên bờ Quá Thuỷ. Qua con sông này, bên kia đã là Càn Khê, Thành Phụ và Di Thành rồi. Quân Ngô lúc này đã khác trước khá nhiều, vừa mới nói là cần vượt sông Quá Thuỷ, chưa cần phải đi thu gom, dân chúng đã lũ lượt chèo thuyền tới nơi, tranh nhau chở quân Ngô qua sông, chỉ một loáng, quan quân đã tới chân thành.

Lại nói về Sở Chiêu vương, từ sau khi có được Chân Mai phi, bị sắc đẹp của nàng quyến rũ, quấn quít sớm chiều, chẳng mấy khi chịu rời hậu cung được chốc lát, thường thường mặt trời lên mấy con sào rồi cũng vẫn còn đùi ấp má kề với nhau ngủ kỹ, bỏ bê cả buổi chầu sáng. Một hôm, đã qua giờ Mão, Chiêu vương vẫn còn đang ở hậu cung, vui vầy trăng gió, say cuộc mây mưa Chân Mai phi, bỗng nội thị ở ngoài cung bẩm vào:

– Đặc sứ của nước Từ cáo cấp, nước Ngô đã cho Phu Khái, Chuyên Nghị đem một phần ba số quân đến chinh phạt Đông Di, tình thế vô cùng nguy cấp! Lệnh doãn Tử Tây mời đại vương lên điện để bàn việc đem quân cứu nước Từ.

Tên đặc sứ nước Từ chết tiệt này, sớm không cáo cấp, muộn không cáo cấp, lại nhè đúng lúc này mà cáo cấp với lại chẳng cáo kiếc, làm mất cả hứng, hỏng cả cuộc vui nồng nàn của Chiêu vương. Tuy nhiên, đã có đặc sứ nước ngoài cao cấp có lời mời của lệnh doãn Tử Tây, Chiêu vương đành phải rất miễn cưỡng đẩy nàng cơ xinh đẹp ra khỏi lòng mình, lệnh cho cung nga đến rửa mặt chải đầu cho mình. Cho đến lúc Chiêu vương dềnh dàng ăn xong bữa sáng, lững thững bước lên Kim Điện, lại mất thêm đến nửa canh giờ nữa, quần thần đều rất khó chịu. Nhưng khó chịu mặc khó chịu, chẳng ai dám để lộ ra điều ấy, càng không dám nói ra lời, đành hậm hực mà nuốt giận. Chiêu vương cho vời sứ nước Từ lên điện, nghe ông ta báo cáo tình hình tiến công của quân Ngô và ý định thiết tha trông đợi cứu giúp của vua nước Từ. Trong đông đảo những nước thần phục và đi theo mình, vua nước Từ là Chương Vũ vốn được Chiêu vương vì nể nhất, vì ông ta luôn tỏ ra trung thành dễ bảo, nói sao thì làm vậy, hàng năm cống nạp cũng nhiều nhất. Những thứ khác chưa kể, chỉ riêng nàng Chân Mai mà ông ta dâng lên, cũng đã là công lớn át cả mọi người, không có sự trung thành ấy, mình làm gì được vui thú như ngày hôm nay, thế nên lúc này nước Từ lâm nạn, không thể không cứu giúp. Cứu binh như chữa cháy, Chiêu vương vội vàng ban chiếu chỉ, lệnh cho tả tư mã Thẩm Doãn Tuất mang binh mã của bản bộ lập tức hành quân đến cứu Từ Di, nhất định phải đánh cho quân Ngô một mẻ thật đau đòn, để về sau họ không dám khinh suất đánh liều…

Tuy Chiêu vương hành động vội vàng, nhưng không hề sai lầm, bởi trong đông đảo các tướng lĩnh của nước Sở lúc này; chẳng ai là người trí dũng song toàn hơn Thẩm Doãn Tuất. Ngay từ nhỏ ông ta đã thuộc làu binh thư, chiến sách, lại được người khác dạy dỗ, nên có tài thao lược, cầm quân như thần. Là người dũng cảm nổi tiếng trong ba quân, lại có sức khoẻ di sông chuyển núi, khiến cho quân địch chỉ mới nghe tên đã run sợ mất mật. Tả quân do Thẩm Doãn Tuất cầm đầu, là đội quân chủ lực của nước Sở, xưa nay đánh đâu thắng đấy, chưa hề lui bước, được mệnh danh là “mãnh hổ thường thắng”.

Thẩm Doãn Tuất phụng mệnh xuất quân, đi qua các nước như Tức, Sái, Thẩm, vượt qua các dòng sông như Tuyền, Nhuận, Dĩnh, đến thẳng nước Từ Di.

Phu Khái, Chuyên Nghị dẫn quân vượt Quá Thuỷ, quân lính đã áp sát chân thành của Từ Di. Bỗng có thám mã về báo, Thẩm Doãn Tuất đang phụng mạng Sở Chiêu vương, mang tả quân của nước Sở đi cứu Di, chẳng mấy hôm nữa sẽ vượt qua Dĩnh Thuỷ. Tướng sĩ của quân Ngô nghe tin, ai ai cũng háo hức, ngứa ngáy chân tay, chỉ những muốn xông sang đánh một trận kịch liệt với đám quân Sở ở giữa Quá Thuỷ và sông Tây Phì, để quyết sống mái một phen. Phu Khái và Chuyên Nghi bàn bạc sắp đặt rất kỹ lưỡng, quân sĩ tích cực tập tành, dân chúng quanh vùng lại bất chấp mọi khó khăn sau cơn lụt lội, tích góp lương thực, chuẩn bị xe thuyền, sẵn sàng ủng hộ quân Ngô đón đánh quân Sở. Những người trai trẻ thì hăng hái gia nhập hàng ngũ của quân đội nước Ngô, cho nên quân số của quân Ngô đã tăng lên nhanh chóng. Giữa lúc việc chuẩn bị chiến đấu của quân và dân đang rầm rộ và sục sôi như thế, có người cưỡi ngựa suốt ngày đêm từ Chung Ly mang mệnh lệnh của Tôn Tử tới báo cho Phu Khái và Chuyên Nghị lập tức đem quân xuống phía nam, với tốc độ nhanh nhất để vượt qua muôn sông ngàn núi, đi một chặng đường dài hàng ngàn dặm, chia quân ra bao vây Lục Ấp[2] và Tiềm Ấp.[3] Lục Ấp thì chỉ vây mà không đánh, đề phòng quân ở đó xông ra cứu Tiềm Ấp. Phải cố sức công phá Tiềm Ấp, tìm cách bắt sống tướng sĩ Diên Hoài Viễn. Trong quân lệnh của Tôn Tử đã viết tỉ mỉ cả phương án đánh thành rất cụ thể, phải nghiêm chỉnh làm đúng như vậy, nếu có điểm nào hơi tỏ ra qua loa lệch lạc, tất cả phải xử theo quân pháp.

Quân lệnh như sơn, Phu Khái và Chuyên Nghị đã lập tức chỉnh đốn quân ngũ, kéo quân về phía nam, để thẳng về đánh Lục Ấp và Tiềm Ấp. Dọc đường đi đến đâu cũng được dân chúng ở đấy tận tình giúp đỡ, qua núi thì sửa đường, qua suối thì bắc cầu, thuyền bè xe ngựa, chưa gọi đã đến, quân đội hành tiến nhanh như gió lốc, nhẹ tựa tên bay, hai cánh quân do Phu Khái và Chuyên Nghị dẫn đầu đều lần đến đích trước thời hạn.

Tiềm Ấp là một trong khá nhiều thành ấp xung quanh khu vực Hoắc Sơn, vị trí địa lý của nó tuy chẳng có gì quan trọng, nhưng trong thành có một kho lương thực lớn nhất trên đường biên giới của nước Sở, trong kho chứa tới trên ngàn thạch lương thực, đảm nhiệm việc cấp cho chỗ thiếu hụt về quân lương dự trữ ở các thành ấp. Tướng Tiềm Ấp Diêm Hoài Viễn, là hạng giá áo túi cơm, tham lam xảo quyệt, nhưng văn thì chẳng biết Đường Nghiêu Ngu Thuấn là ai, võ cũng chưa từng khoác áo bào ra trận, ỷ vào con gái là Chân Mai phi được Sở Chiêu vương o bế, cho nên đã leo lên đến cái chức vụ béo bở này, lại còn được tôn xưng là quốc trượng, xưng hô là quốc lão. Tôn Tử lệnh cho Phu Khái tấn công Tôn Ấp, chẳng những phải bắt sống Diêm Hoài Viễn, nhưng lại phải đối xử bằng lễ độ; kẻ nào dám động đậy đến một cái lông chân của ông ta, tất sẽ phải xử theo quân pháp; kẻ nào làm hại đến tính mạng ông ta nhất định sẽ chém đầu không tha. Tôn Tử cò nhấn mạnh, bằng bất kể giá nào, dù nặng nề đến đâu cũng phải bắt sống được Diêm Hoài Viễn, chứ không được để chết.

Phu Khái chỉ huy quân đội vây chặt Tiềm Ấp, tìm đủ mọi cách để nhử địch ra đánh, Diêm Hoài Viễn rất biết mình, thừa hiểu rằng mình còn xa mới xứng là địch thủ của Phu Khái, cho nên trước sau một mực đóng thành, cố thủ, co lại một chỗ ló đầu ra. Ông ta cũng đã có sự tính toán, hễ Phu Khái không công phá được thành trì quân dân trong thành cũng không đến nỗi phải chết đói, vì trong thành không thiếu gì lương thực.

Bữa tối ngày thứ tư sau khi vây thành, theo chỉ lệnh của Tôn nguyên soái, Phu Khái đã mở tiệc khao quân sĩ, sau khi cơm no rượu đủ, ai nấy lại trở về trận địa, làm mọi công việc chuẩn bị để công thành. Đúng lúc ấy, Phu Khái đã tuyên bố một mệnh lệnh của nguyên soái: Tướng sĩ trong toàn quân, ai bắt sống được Diêm Hoài Viễn dâng lên sẽ được thưởng năm mươi lạng vàng, cất nhắc lên ba cấp. Nếu kẻ nào giết chết Diêm Hoài Viễn sau trận đánh sẽ bị xử tội chết. Trong quân sự không có chuyện nói đùa, huống chi đây lại là mệnh lệnh trước khi bước vào trận đánh! Các tướng sĩ ai cũng muốn nhao nhao lên để thử sức mình. Chờ đến giờ Tý lúc nửa đêm, trong thành bốc lửa, khói đặc bay cuồn cuộn, ngọn lửa ngút trời cao, chiếu cho cả một thành trì sáng lên như ban ngày. Không biết tự lúc nào, gió đông nam đã thổi lên, và càng thổi càng mạnh, gió vào hùa với lửa, lửa lại nhờ sức gió, đốt cho khắp thành trì đâu đâu cũng nghe thấy tiếng nổ đôm đốp. Tiềm Ấp biến thành một biển lửa, theo những luồng khói đen ùn ùn toả lên, từ trong đó vang ra những tiếng phèng la, tiếng kêu khóc, tiếng gọi nhau, tiếng bước chân của quân và dân trong thành dồn sức đến để chữa cháy, cả ấp thành to lớn như thế lúc này đã trở nên một bát canh hẹ rối tinh rối mù. Theo lời dặn của Tôn Tử, Phu Khái đã chỉ huy quân lính nhân lúc hỗn độn, nhờ ánh lửa leo thành mà vào và nhẹ nhàng chiếm được ấp thành, bao vây ấp nha phủ bắt sống Diêm Hoài Viễn.

Ngọn lửa cháy là từ những đống rơm mà nước Sở chất ở trên biên giới, người châm lửa đốt chính là một người dân trong thành tên là Chương Bồi Tán. Thì ra Diêm Hoài Viễn chẳng những ham tiền, mà lại còn háo sắc. Chương Bồi Tán có người con gái tên là Đồng Vân, xinh đẹp tuyệt vời, được mệnh danh là hoa khôi của Tiềm Ấp. Diễm Hoài Viễn muốn bá chiếm Đồng Vân để làm thiếp của mình, Đồng Vân không chịu, nhảy xuống sống tự vẫn, Diêm Hoài Viễn vì thế còn bắt cả nhà nàng bỏ tù. Chương Bồi Tán may sao thoát khỏi nơi tù ngục, chạy sang nước Ngô lẩn lút, kết bạn thân với Tôn Vũ đang ẩn cư ở Phụng Long. Trận đánh chiếm Tiềm Ấp, đốt kho lương, bắt sống Diêm Hoài Viễn, là do Phu Khái chỉ huy, nhưng lại là một màn kịch do Tôn Vũ đạo diễn mà ở đó giá phải trả chẳng là bao nhưng lại đổi lấy một thắng lợi lớn lao làm rung động lòng người.

Thẩm Doãn Tuất lùa quân sĩ nước Sở trèo đèo lội suối, ngày đêm không nghỉ đề bươn tới Từ Di, còn chưa qua được sông Tây Phì, thì đã nghe được tin Phu Khái sớm đã đem quân bản lộ kéo xuống phía nam công phá được hai ấp Lục, Tiềm. Thẩm Doãn Tuất cũng chẳng phải tay vừa, lập tức đoán định ngay rằng mục đích quân Ngô đánh xuống phía nam là để đốt sạch kho lương ở Tiềm Ấp, đó chính là một mũi dao nhọn xỉa vào tim của quân Sở. Thử nghĩ xem, quân đội đánh giặc mà thiếu lương thực, thì còn hành quân tác chiến làm sao? Nước Sở làm sao còn tỏ ra hùng mạnh cho được? Bởi vậy phải hoả tốc xuống phía nam, đến Tiềm Ấp trước cánh quân của Phu Khái, đón đầu tiêu diệt quân Ngô, bảo vệ Tiềm Ấp và giữ lấy kho lương thực, vì nếu như để mất, Chiêu vương cũng sẽ không tha tội hắn. Đó hoàn toàn là một nguyện vọng tốt đẹp của Thẩm Doãn Tuất, một ảo vọng ngông cuồng không thực tế. Quân Ngô đã xuống phía nam trước hắn cả chục ngày trời, tướng sĩ nước Sở có mà mọc thêm mỗi người một đôi cánh, cũng khó bay tới trước quân Ngô. Thẩm Doãn Tuất đã tính toán sai tình thế, cứ đinh ninh rằng quân Ngô hành quân nơi đất khách quê người, không thuộc đường đi lối lại, dân chúng lại là thù địch, thì tốc độ hành quân tất sẽ như ốc sên bò trên tường, còn quân Sở thì tiến quân trên đất nước phụ thuộc của mình, có muôn dân viện trợ, tốc độ sẽ nhanh tựa sao băng. Sự thực lại hoàn toàn trái ngược, trên dọc đường, cầu cống bị hư hỏng, đường sá bị phá huỷ, thuyền bè lẩn trốn hết, dân chúng cũng ngoảnh mặt làm ngơ, đành phải đi vài bước lại dừng, mà đã dừng lại một lẩn là cả mấy hôm sau, muốn tìm một người đưa đường cũng rất khó. Thẩm Doãn Tuất càng sốt ruột như lửa cháy trong lòng, thì quân Sở lại càng ì ạch không tiến lên nổi, sốt ruột đến nỗi hơi một tý là hắn lại nổi nóng, nhảy lên ầm ầm, nổi giận lôi đình, quở hiệu uý; mắng lính tráng, giết dân lành, làm cho quân tâm ly tán, dân tình oán thán sục sôi. Với tình hình như thế, quân đội muốn tiến về phía trước quả là vô cùng khó khăn, chỉ còn có dựa vào sức mạnh và sự thúc ép, làm cho tướng sĩ trong toàn quân ăn không ngon miệng, ngủ không yên giấc, suốt ngày căng thẳng mệt mỏi. Dần dần tướng sĩ thì rệu rã, chiến mã cũng mệt mỏi, sĩ khí chìm lắng, lính tráng đào ngũ bỏ trốn ngày càng nhiều, làm cho tả tư mã nước Sở Thẩm Doãn Tuất vốn nổi tiếng là tiếng tài cũng phải bươu đầu sứt trán. Cuộc truy đuổi gấp gáp như thế, nhưng khi đến Tiềm Ấp, kho lương đã bị đốt tự đời nảo đời nào, thành trì như biến ra tro than hết cả, quân Ngộ có Phu Khái và Chuyên Nghị làm tướng đã đi đâu mất tăm không biết, như bầu trời giữa ngày hè, vừa mới còn mây đen cuồn cuộn, như muôn ngựa cùng phi, một trận gió tây bắc từ đâu thổi tới, loáng một cái, mây đen tan biến hết.

Thẩm Doãn Tuất thấy Tiềm Thành đã bị tàn phá, bèn chuyển ấp đến Nam Cương.[4] Đang giữa lúc Thẩm Doãn Tuất dùng số quân còn lại trong tay đi thúc ép dân chúng xây thành mới cho Tiềm Ấp, Tôn Tử lại sai Bá Bỉ mang một phần ba còn lại của quân Ngô, với tốc độ như sao băng, tiến thẳng đến đánh Huyền ấp[5] của nước Sở. Huyền ấp là cứ điểm quân sự quan trọng của nước Sở, là nơi mà các nhà quân sự xưa nay đều tìm cách chiếm lấy trước. Sở Chiêu vương nghe báo tin; một mặt lệnh cho Thẩm Doãn Tuất mang ngay quân về phía tây cứu Huyền ấp, mặt khác sai hữu tư mã kê mang quân bản bộ đi bằng đường khác đón đánh quân Ngô để cùng với Thẩm Doãn Tuất tạo nên thế giáp công tiêu diệt quân Ngô để giữ cho được Huyền ấp là nơi vốn có ý nghĩa chiến lược quan trọng. Tuy nhiên khi tả hữu tư mã của quân Sở chia nhau lặn lội đường dài, tướng sĩ hai cánh quân ai nấy mệt nhoài mới tới được Huyền ấp, quân Ngô lại cũng đã rời từ lâu rồi, quân Sở lại đánh hụt lần nữa. Tư mã nước Sở thừa biết quân Ngô đã về nước từ lâu rồi, bèn kéo quân về triều.

Quân Sở vừa rút Tôn Vũ sai Ngũ Tử Tư và Bá Bỉ đem số quân một phần ba ấy lại tiến về tây bắc, bao vây Dương ấp, tiêu diệt tên phản thần của nước Ngô là Yểm Dư và Chúc Dung.

❀ ❀ ❀

[1] Đông Nam huyện Hào, tỉnh An Huy ngày nay.

[2] Thành phố Lục An tỉnh An Huy ngày nay.

[3] Phía đông bắc huyện Hoắc Sơn tỉnh An Huy ngày nay.

[4] Huyện Tiềm Sơn tỉnh An Huy ngày nay.

[5] Nay là huyện Ly Quang Sơn tỉnh Hà Nam.

Nguyễn Bá Thính
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Tào Nghiêu Đức

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.