Tôn Tử Truyện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 39 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Vi Lưu Luyến Tình Thân – Tìm Tòi Khám Phá
Chương Vi Lưu Luyến Tình Thân – Tìm Tòi Khám Phá

❊ ❊ ❊

Vừa kể Vương Hử đang phê duyệt bài văn “Nhiệm thể”, Điền Vũ đứng ở bên cạnh, bỗng từ trong bóng tối, một con rắn đầu to đuôi dài, khắp mình lốm đốm bò ra, mổ vào gót chân của Điền Vũ. Điền Vũ rú lên một tiếng rồi ngã lăn ra, bất tỉnh nhân sự. Vương Hử thấy thế, sợ tái cả mặt. Đây là con rắn lạ mà Vương Hử nuôi để dạy học, sinh ra ở núi Bắc Khưu Hoàn, có tên là “Suất Nhiên”, răng có chất độc, cắn vào cây cỏ còn chết huống chi là người với muông thú. Người ta thường nói, thứ nọ thứ kia, bọ nẹt thì đã có dẻ cùi, thầy Vương Hử bào chế ngay ra một loại thuốc bằng cây cỏ, có thể giải được nọc độc của “Suất Nhiên”. Trong uống, ngoài đắp, Điền Vũ mới qua được cơn nguy khốn. Tục ngữ có câu “Dao chém rồi lại lành, nhưng tốt nhất là đừng chém”, thuốc do Vương Hử chế ra tuy rất tốt, nhưng con người một khi đã trúng phải nọc độc, thì thế nào cũng tổn thương đến cơ thể. Mấy tháng liền Điền Vũ luôn tỏ ra không được phấn chấn, tay chân mệt mỏi, không thiết ăn uống, vết thương bị loét ra, máu mủ nhầy nhụa, vừa đau vừa ngứa, bồn chồn không yên. Vương Hử thừa biết răng nọc độc này rất ghê gớm, nêu chữa không kịp thời, nọc độc chạy vào tim phổi, chạy lên não, thì có phải huỷ hoại mất một người tài hay không? Như thế, chẳng những không biết ăn nói thế nào với ông bạn tốt như Điền Thư, hơn nữa tất sẽ có tội với lịch sử. Cho nên ngay từ khi thấy Điền Vũ ngã lăn ra đất mê man đi, Vương Hử mới hồn bay phách lạc mặt như chàm đổ như thế.

Vương Hử đã coi Điền Vũ như con mình sinh ra, săn sóc đến nơi đến chốn, để tâm từng li từng tí, hơn nữa còn lo việc ăn uống đi lại của Điền Vũ với tình cảm của một người chuộc tội, hàng ngày chăm lo thuốc thang, bưng cơm rót nước, chạy ra chạy vào, hỏi han săn sóc. Được Vương Hử tận tâm chữa trị và săn sóc, cuối cùng sức khoẻ của Điền Vũ đã được hồi phục. Không đợi đến khi có thể xuống khỏi giường đi lại được, Điền Vũ sớm đã hỏi ý kiến nhận xét cua thầy về bài “Nhiệm thế”. Vương Hử e rằng sẽ ảnh hưởng đến trí lực của cậu cho nên cứ lần lữa mãi và khuyên cậu hãy chờ khỏi bệnh rồi hãy bàn cũng chưa muộn. Thế nhưng, tính tình của Điển Vũ ngang ngạnh như một con trâu đực, thầy giáo cũng chẳng ép được cậu, đành phải ngồi ngay bên giường bệnh để phân tích giảng giải cho cậu. Một thời gian dài, thấy Điển Vũ cứ nằm mà nghe như vậy vất vả quá thầy giáo bèn đỡ cậu ngồi dậy, tựa lưng vào bọc hành lý hoặc nhiều lúc để cậu tựa hẳn vào lòng, rủ rỉ bên tai. Vương Hử không phải lấy văn chương mà nói về văn chương, mà khơi rộng mở ra, lấy những điều cảm nhận qua hơn một năm trời chung sống làm căn cứ để nói về binh pháp, đương nhiên, trọng điểm là nói về nhiệm thế.

Thế của nhà binh giống như nước, nước không có hình dạng cụ thể, nên nhà binh không có thế cụ thể, người có thể dành thắng lợi do sự biến hoá của địch, gọi là thần. Có nghĩa là cầm quân thì không chủ trương ở một dạng cố định, phải biến động không ở hẳn đâu một chỗ, phải vu hồi lắt léo mới đạt được mục tiêu. Giống như sự sinh khắc trong ngũ hành, sự biến đổi của mặt trăng mặt trời, sự thay đổi bốn mùa… đều là những cục diện hoạt động. Mấu chốt là phải biến đổi theo tình hình địch, để ứng với cái vô cùng, tuyệt đối không để bị ràng buộc bởi những nguyên lý phổ biến và những cách đánh đặc biệt, tuy cũng không ôm lấy cách đánh cứng nhắc không thay đổi, để ứng với vạn biến.

Người cầm quân, phải giỏi về tạo thế, gọi là thế, không phải là hình thức chiến đấu chẳng hạn như kiểu dáng của đội hình hay phương thức chiến đấu vv…, mà là cái thái thế có lợi về mặt chiến lược, thế sắp đặt có lợi trong một chiến dịch, khiến cho mình luôn đứng ở thế chủ động, cơ động, linh hoạt, và có nhiều biến đổi có lợi.

Phàm những ai có lực lượng hùng hậu và trang bị hơn hẳn; những ai chiếm giữ địa thế, địa hình có lợi, những ai quân lính được huấn luyện tử tế, sĩ khí hăng hái, những ai có người chỉ huy nhiều mưu mẹo, giỏi nắm thời cơ chiến đấu… thường thường đều có thể tạo nên thế có lợi.

Thế, không phải là thứ có sẵn mà do chiến lược chiến thuật cao sâu của người chỉ huy vun đắp nên, một nghệ thuật chỉ huy vững vàng và tính toán giỏi, một kinh nghiệm chiến đấu hết sức dồi dào, cũng như sự suy nghĩ kỹ lưỡng trên chiến lược chiến thuật… mới có thể tạo nên được.

Người giỏi cầm quân phải thực hiện có thế hiểm, có tình tiết ngắn gọn, điều đó đòi hỏi cầm quần phải linh hoạt, phải giỏi nắm thời cơ chiến đấu; tập trung được ưu thế, binh lực, lấy nhiều để thắng ít, người nào cũng diệt địch, thế đó như thác bay. Ở Quỷ Cốc, như đá nhào ở Mông Sơn, như đá mài đập trứng; chuyển dùng binh lực được mau lẹ, thời gian chiến đấu ngắn ngủi, tức là đánh nhanh thắng nhanh, giải quyết nhanh, như chim ó từ trên cao bổ nhào xuống đất đề bắt mồi; làm thế nào trong khi vận động mà vẫn diệt được địch.

Ngoài thế hiểm và tình tiết ngắn gọn còn phải nắm thật vững sáu hành động chiến đấu:

Một là mau lẹ, tình hình quân đội chủ yếu là phải nhanh, chậm trễ tất dẫn đến lỡ việc. Cho nên khi thừa chỗ trống trải mà đánh úp, hành động của nó phải như gió lốc như thỏ trốn, khiến cho địch trở tay không kịp, nên không kịp phòng ngừa hoặc chống lại.

Hai là phải yên lặng. Khi cả một đội quân tiến đi, hành động của nó phải yên lặng như rừng cây, hàng ngũ phải ngay ngắn, dáng vẻ phải nghiêm trang khiến kẻ địch mới nhìn đã sợ, không dám đánh úp.

Ba là phải mãnh liệt. Đội quân đi đầu, khi đã vào đến đất địch, hành động của nó phải như một đám lửa, khiến cho bên địch không còn đường nào mà trốn tránh hoặc ngăn cản lại.

Bốn là, phải kín đáo. Ý đồ và phương hướng hoạt động của quân ta, trước khi đưa ra thực hiện, thì sự kín đáo phải như mây đen che phủ cả bầu trời, không nhìn thấy trăng sao, mặt trời, như thế thì bên địch mới không biết nên ứng phó thế nào.

Năm là phải vững vàng. Khi thời cơ chiến đấu còn chưa chín muồi, còn đang lựa chỗ dở mà nhòm ngó, thì hành động phải vững vàng, đứng uy nghi như một quả núi, như thế bên địch mới không dám động đến.

Sáu là phải quyết liệt. Khi ém quân để đột kích, hành động phải như chớp giật sấm rung, nhanh và quyết liệt, khiến kẻ địch hốt hoảng tan rã, không biết phải làm gì, đúng như câu “nhanh như chớp giật không kịp nháy mắt, sấm không kịp bưng tai”, như thế, trong khi bên địch hết hoảng lo sợ, ù tai hoa mắt, thậm chí chân tay còn mất cả cảm giác, sẽ không sao mà đánh trả được.

Điền Vũ đã khỏi hẳn, cũng may là vết thương không để lại tàn tích hoặc di chứng gì đáng ngại.

Con rắn gây nên tội nghiệt này, đáng phải trừng phạt, thế nhưng đã là loài rắn rết, thì làm sao có thể đôi co như thế với chúng được, Vương Hử chỉ tự oán trách mình đã không coi giữ cho tử tế, còn con rắn, vẫn phải để cho có phát huy được tác dụng, để lấy công chuộc tội.

Một hôm, Vương Hử đã mang cái lồng sắt vẫn nhốt con rắn “Suất nhiên” ra – trước đây, nó vốn được nhốt trong cũi gỗ, nó đã cắn gẫy nan cũi, chui ra gây tai hoạ, cắn bị thương Điền Vũ. Từ đó Vương Hử đã làm ra cái lồng sắt rồi nhốt nó vào đấy, lấy que sắt đập vào đầu nó, nó dùng đuôi ứng cứu, đánh vào đuôi, nó lại lấy đầu bảo vệ, đánh khúc giữa, cả đầu cả đuôi đều đỡ đòn.

Con rắn “Suất nhiên” tuy hung ác, nhưng cũng rất lý thú, Điền Vũ xem đến phát mê và đã nhận cái roi từ trong tay thầy giáo của mình, cũng đánh một lượt như thế, con rắn cũng vẫn phản ứng như vậy. Đây hoá ra lại là một đồ dùng dạy học rất tốt. Sau khi diễn tả, khiến cho người ta không nói mà cũng hiểu, người giỏi cầm quân, phải làm sao như con rắn đó, khiến cho ba quân hình thành một thể thống nhất, hoàn chỉnh và gắn bó hữu cơ, các bộ phận có sự phân công mà không xa rời nhau, khi cần thiết phải có sự ứng cứu lẫn nhau, để cho mình mãi mãi đứng trên thế không thua. Mà đâu chỉ cầm quân mới thế, các loại công việc, chẳng việc gì không thế!…

Từ những việc được diễn tả ở trên, có thể thấy rằng, việc giảng dạy của Vương Hử, phần lớn đi từ cảm tính đến lý tính, từ cụ thể đến trừu tượng, từ thực tiễn đến lý luận, đó là quá trình và quy luật nhận thức của loài người. Có lúc cũng bắt tay từ lý luận và thực tiễn dưới sự chỉ đạo của lý luận, thí dụ việc ông giảng giải về “kỳ binh và chính binh” chính là làm như thế.

Chính buổi chiều hôm sau, sau khi trêu chọc con rắn “Suất nhiên”, trên tảng đá xanh giữa sân, thầy Vương Hử đã giảng giải cho Điền Vũ về lý lẽ, về trong “kỳ” thì có “chính”, trong “chính” có “kỳ”, “kỳ, chính” tương sinh, biến hoá vô cùng. Vậy cái gì là chính binh? Nói đại thể, cứ theo nguyên tắc chiến thuật thông thường dùng phương pháp tác chiến chính quy để tiến hành chiến đấu, đều có thể gọi là chính binh. Căn cứ tình hình chiến trường, phải dùng đến mưu kế, đánh vào chỗ địch không đề phòng, xuất kỳ bất ý, đánh cho địch trở tay không kịp. Không áp dụng phương pháp tác chiến chính quy, đều có thể gọi là kỳ binh.

Mưu quý ở chỗ biết dùng kỳ binh; kỳ lại do chính sinh ra, không có chính khó có thể tìm thấy kỳ.

Kỳ ẩn ở chỗ mật, mật không những tránh được tầm nhìn của địch, mà quan trọng là ở chỗ làm mê loạn tâm trí của địch.

Kỳ với hiểm thường thường là đôi bạn đồng hành, trong lúc nguy nan thì tìm đến chỗ an toàn, ở chỗ hiểm yếu tìm đến thành công, thời gian, địa điểm mà người ta cho rằng không thể giành được thắng lơi được, thì thường thường lại là con đường bằng phẳng đi đến thắng lợi.

Không giỏi không thành sách, có giỏi mới nên “kỳ”. Trên chiến trường luôn luôn có những dịp ngẫu nhiên, có những dịp may ngoài ý muốn. Những vị tướng có phản ứng trí lực nhanh, thường lại có thể tiếp được những vị khách bất chợt không mời mà đến, một đích đã trúng rồi, cả cục diện sẽ được thay đổi.

Kỳ sở dĩ gọi là kỳ, vì nó ngoài sự hiểu biết thông thường, quy luật thông thường và phương pháp thông thường, hoạt động không có dấu vết nào cố định hành động rất khó phỏng đoán.

Kỳ mưu là mưu lạ, có thể ngẫu nhiên loé lên trong óc nhưng đó không phải là một sự ăn may, mà là do tư duy đã phá vỡ cái vòng trình tự logic cũ. Đại phàm là những nhà tư tưởng có thể “xuất kỳ binh”, đều không câu nệ những phương pháp thông thường, cho nên trên một chiến trường cực kỳ phức tạp, họ có thể nắm bắt được những cái điểm mấu chốt nhất, thuộc về bản chất nhất, để cân nhắc hành động và quyết sách của mình. Rơi vào cảnh tiến thoái lưỡng nan, họ vẫn có thể phát huy được tư duy sáng tạo, từ một điểm có thể, cho dù chỉ là một phần trăm, họ sẽ suy nghĩ một cách nhảy vọt và không theo quy tắc nào, liên tưởng nhưng không suy xét lại lập tức phá bỏ cái màng lưới của cách nhìn nhận tầm thường, của thành kiến, của cách nhìn lệch lạc cách nhìn nông cạn… chau mày một cái, kế bật ra trong lòng.

“Kỳ tướng quân” – nhà quân sự tài ba, chỉ có nhảy lên mình con tuấn mã đột nhiên và mau lẹ, mới có thể trong cùng một giờ khắc, cùng một địa điểm, tung hoành bốn cõi tạo nên những kỳ tích như trong thần thoại.

Hôm nay xem ra Vương Hử có điều gì hởi lòng hởi dạ, mà lại vui vẻ nói ra một thôi một hồi khiến Điền Vũ nghe mụ cả người, thầy và trò đã ngầm giao kèo phối hợp với nhau, nên dạy và học mới hài hoà thống nhất với nhau như thế.

Điền Vũ hai tay bưng bát nước đưa lên cho thầy, Vương Hử uống say sưa ngọt ngào, lại còn chép chép miệng, như đang nếm một thứ rượu ngon mới cất. Uống nước xong, nghỉ ngơi thêm một lát, Vương Hử vọt đứng dậy, rút kiếm ra khỏi bao, đâm mũi kiếm vào đám cỏ bên tảng đã xanh, vừa đâm vừa nói:

– Khi ta đâm mũi kiếm, dáng đứng ban đầu của võ sĩ là “chính”, quay trở lại đâm một nhát nữa, lại tương đương với “kỳ”. Danh thủ đứng ở tư thế này, hô lên một tiếng rồi đâm – là “kỳ”, đồng thời quay trở lại thế phòng ngự – lại là “chính”. Như thế gọi là xuất ở thế “kỳ”, mà đứng ở thế “chính”. Khi bị người ta đánh lại, quay sang trở thành phản kích, đó chính là ở thế “chính” mà xuất “kỳ”. Từ đó thấy rằng, danh thủ mà đâm kiếm, trong mỗi một nháy mắt đều đang có sự chuẩn bị và chuyển hoá hai thế công và thủ.

“Đâm kiếm là như vậy, chỉ huy cả một cuộc chiến tranh cũng thế”. “Chính binh” hợp lại chiến đấu, xuất “kỳ” để giành thắng lợi, hai thứ đó soi dọi vào nhau tạo nên sự kỳ thú. Thể hiện ở phía tiến công, hoặc là kiềm chế chính diện, là chính, vu hồi ở bên sườn, là kỳ; hoặc là hai cánh quân phối hợp, là chính, rồi đột phá ở chính diện, là kỳ; hoặc là giương đông, là chính, nhưng lại kích tây, là kỳ; hoặc để lộ ra ở đây, là chính, nhưng lại đánh ở chỗ kia, là kỳ vv… Thể hiện ở phía phòng ngự, hoặc là chống chọi chính diện, là chính; nhưng lại kết hợp phía sau làm nguội địch đi, là kỳ; hoặc ngăn cản ở nhiều đường, là chính, tập trung tiêu diệt một đường, là kỳ vv…

Nếu về mục đích tác chiến mà nói, lấy “chính hợp” để phục vụ cho “kỳ thắng”; Về thủ đoạn mà nói, cái công khai là “chính”, sự ngấm ngầm là “kỳ”.

Kỳ chính giao hoà với nhau, biến hoá vô cùng, khiến cho địch không lần ra thực hư, không biết ngả nào là “chính binh”, ngả nào là “kỳ binh”. Bởi vậy mà trước khi bước vào chiến đấu, kẻ địch cũng chẳng biết nên chuẩn bị thế nào cho tốt, phối hợp làm sao cho đẹp, thích ứng thế nào cho phải, kết quả hễ động đến là y như rằng ở thế yếu. Thế nên tướng tài mới có thể “xuất kỳ” để thắng trận.

Thời giờ thấm thoắt tựa thoi đưa, mới đấy mà Điền Vũ đã tới Lăng Vân quan gần hai năm trời rồi! Theo phong tục miền Hoa Hạ, học nghề phần lớn lấy thời hạn là ba năm, ấy thế nhưng mới chưa đầy hai năm, Điền Vũ đã moi rỗng cả kho bọc vấn và tri thức về mặt quân sự của thầy Vương Hử. Nửa năm trở lại đây, Vương Hử ngày càng cảm thấy việc dạy dỗ Điền Vũ của mình đã lực bất tòng tâm, bởi cậu thông minh đĩnh ngộ hơn người, suy nghĩ mau lẹ, mắt lướt qua đã thuộc ngay, hỏi một hiểu mười, động đến đâu hiểu đến đấy, thường thường đưa mắt lướt qua mặt thày, quan sát qua lời lẽ và sắc mặt đã cảm nhận và lĩnh hội được hết ý đồ của thầy, hơn nữa, còn sâu sắc, thấu biệt, toàn diện và thấm thía. Sự hiểu biết, học vấn và tài ba của con người muốn thế nào cũng chỉ có một hạn độ nhất định, trước một học trò như thế ai cũng sẽ cảm thấy mình nghèo nàn và bất tài. Vương Hử ý thức sâu sắc rằng, cứ tiếp tục để Điền Vũ ở bên mình, là làm lỡ làng con cái người ta ra, cho nên đã chớm nảy nở ra ý định để cậu rời xa nơi này trước thời hạn. Nghề làm thầy, như ông lái đò ngang, đón tới đưa đi vốn là nghiệp dĩ, là hiện tượng bình thường, làm gì có học trò đến học rồi ở lại với thầy suốt đời? Vậy mà Điền Vũ sắp phải ra đi rồi, điều đó khiến Vương Hử cảm thấy như có ai bào sói tâm can, đau đớn không chịu nổi. Không giống như Khổng Tử coi dạy học là một nghề của mình, học trò có tới ba ngàn, rải rác khắp trong thiên hạ, thế nhưng học trò của Vương Hử nhận về dạy dỗ cũng không dưới trăm người, trong số trăm người đó chẳng có một ai sánh bằng Điền Vũ. Người đời sau đã coi việc “có được người anh tài trong thiên hạ để dạy dỗ” là một trong ba niềm vui lớn của đời người, họ thậm chí còn sướng hơn là làm “vua thiên hạ”. Sự thực đúng như vậy, tình thày trò đã nảy sinh ra sự thương mến ruột rà, tình cảm như cảm như chân với tay. Thầy giáo đã dồn hết tâm huyết và niềm tin cậy vào học trò của mình. Sự trưởng thành hoặc làm nên hay có đóng góp của học trò là niềm kiêu hãnh, tự hào và hạnh phúc của người thầy và chỉ có những người làm thầy mới thực sự được hưởng tình cảm đó. Những người làm nghề khác, kể cả nhưng người cao sang, quyền bính trong tay cũng không thể có quyền hạn và phúc phận đó được. Làm thầy cả đời, cho dù chỉ dạy được có một đến hai “anh tài”, thì cống hiến của người thầy đó với xã hội với loài người, không thể có một người nào có thể sánh kịp. Bởi những “anh tài” đó sẽ thúc đẩy cả xã hội tiến lên, thay đổi được vận mạng của cả một đất nước, một dân tộc và trăm họ, mang lại hạnh phúc cho muôn đời con cháu mai sau. Vương Hử cho rằng, Điền Vũ chính là một “anh tài” hiếm có trên đời, giờ đây sắp phải chia tay, làm gì ông chẳng thấy bịn rịn quyến luyến, tiếc nuối như mất đi hòn ngọc.

Điền Vũ vốn là một thiếu niên tinh anh nên tâm tư của thầy giáo Vương Hử thế nào; làm gì cậu chẳng nhìn ra. Bởi vậy, gần những ngày này tình cảm của cậu như bị hẫng hụt, suốt ngày ỉu xìu xìu, tựa hồ như người bị ma ám, thường không biết mình đang làm gì, mình đang nghĩ gì. Thế nhưng Điền Vũ ngay từ nhỏ đã là một đứa trẻ có lý trí, nên cậu đã biết cố kìm nén tình cảm của mình, một mặt cố gắng và khắc khổ học tập, cố làm sao để thầy bớt đau buồn và hao tổn tinh thần, một mặt, ân cần hầu hạ, làm vui lòng thầy, cố hết sức để thầy rút ra được một kết luận. Có Điền Vũ ở bên mình, cuộc sống thuận tiện thêm rất nhiều. Cậu vốn là con người có tính hướng nội, không khéo biểu hiện mình. Hàng ngày nếu không phải là hỏi thầy giáo việc gì hoặc trả lời những câu hỏi của thầy, thì cậu rất ít nói, suất ngày lầm lì, thế mà lúc này cậu luôn luôn chủ động nhiệt tình trò chuyện với thầy, hết chuyện cửa chuyện nhà, lại nói chuyện lịch sử, kể chuyện hoặc hỏi thầy đi sâu vào học vấn. Tất cả những điều đó chỉ nhằm một mục đích duy nhất, tức là làm thế nào để thầy từ bỏ ý định bảo mình ra đi trước thời hạn. Từ khi đến với thế giới loài người này, tuy đã sống gần hai chục năm trời, nhưng những người mà Điền Vũ đã từng tiếp xúc và chung sống thực ra không nhiều: cha thì nghiêm khắc đến mức cạn tàu ráo máng khiến làm con kính trọng mà không dám gần; mẹ tuy rất dễ gần, đáng yêu; đáng kính nhưng lại mềm yếu và bất tài; thầy giáo Trương Phụng Chi tuy học rộng hiểu nhiều, đối xử rất chân thành, nhưng phải cái hoài bão rất hẹp hòi, khí lượng nhỏ bé; thày giáo Phương Bác Cổ thì y như một cái thây được đào trong mộ cổ, cứng nhắc và cũ kỹ đến phát ngấy lên; thầy giáo Triệu Hựu Phúc quả cũng trung hậu thật thà, tâm địa cũng hiền lành nhưng mỗi tội nhu nhược và cổ hủ, thậm chí không xứng đáng là một đấng nam nhi… Cho đến lúc này, thần tượng mà Điền Vũ sùng bái tôn thờ trong lòng chỉ có hai người, đó là ông nội mình, Điền Thư và thầy dạy mình, Vương Hử. Nhất là trong những ngày Điền Vũ bị rắn cắn rồi nằm liệt giường, sự săn sóc bù trì và chăm lo mọi đường của thầy Vương Hử với Điền Vũ đã vượt xa sự nhân từ của một bà mẹ. Phải nói rằng: Không có thầy Vương Hử thì không có mạng sống của Điền Vũ lúc này. Nếu nói về mặt này, ơn đức của thầy Vương Hử còn trên cả ông nội. Nghĩ trước nghĩ sau, làm sao mà Điền Vũ chẳng thấy thầy Vương Hử gắn bó với mình như keo sơn, khó có thể chia lìa nhau được…

Làm một người bề trên lớn tuổi, Vương Hử không thể làm việc theo cảm tình. Ông cần phải hiểu được đại nghĩa, thấy được những cái lớn lao. Qua nhiều phen dằn vặt và mấy lần lau nước mắt, cuối cùng ông đã nêu ra một vấn đề mà cả hai bên đều không muốn tiếp nhận. Cái giờ khắc khiến cả thầy lẫn trò đều phải rưng rưng mắt lệ đó, cuối cùng cũng vẫn do Vương Hử vạch ra. Thời gian này, Vương Hử nhiều khi đã làm trái với lòng mình kể cho Điền Vũ nghe về lý lẽ ở trên đời này chẳng bao giờ lại có thể xảy ra những buổi tiệc không tàn, ngay như con chim én trước hiên nhà, chim sẻ dưới mái nhà kia cũng vậy, sau khi chúng đã đủ lông đủ cánh rồi, cũng vẫn phải xa cha xa mẹ, huống chi là con người tìm thầy học nghề? Nhân quần trong thiên hạ, có họp tất có tan; các quốc gia trong thiên hạ có phân ly tất có hợp. Hợp tan phân hợp, cũng xuất phát từ tự nhiên như mặt trăng mặt trời thay đổi cho nhau, cái thế phải làm, bất tất phải đau lòng rơi lệ. Điều hệ trọng hơn là sau khí trò rời khởi đây rồi, phải mài sắc chí tiến thủ, cố gắng để học rộng hiểu nhiều, để mai ngày đủ sức chọi cùng sóng lớn, cứu vớt muôn dân, đem hạnh phúc cho thiên hạ. Được như thế, làm thầy cũng được an ủi và ấm lòng lắm rồi… Vương Hử khuyên Điền Vũ chớ nên thương tâm rơi lệ, nhưng chính mình nói đến đâu thì nước mắt ứa ra đến đó. Mỗi khi như thế, hai thầy trò lại ôm lấy nhau mà khóc ròng, nước mắt chan hoà…

Vương Hử lại lặn lội nơi núi cao rừng thẳm, giương cung lên săn bắn, kiếm những đặc sản ngon nhất của núi rừng để làm một bữa ăn tiễn biệt Điền Vũ…

Hai thầy trò lại lần nữa dốc bầu tâm sự suốt ba ngày đêm, trong Lăng Vân quan, ánh đèn nhợt nhạt sáng sáng lại hoà chung vào ánh sáng ban mai…

Điền Vũ phải ra đi, Vương Hử đưa tiễn học trò hết chặng này sang chặng khác, cho đến lúc đưa ra khỏi khe Quỷ Cốc, núi Nghi Mông. Dọc đường, Vương Hử đinh ninh dặn dò Điền Vũ, về đến nhà phải cố công tổng kết các cuộc chiến trong lịch sử, bỏ sức lực ra đi khảo sát chiến trường xưa, tự mình phải đi tìm tòi, mà khám phá, mà sáng tạo, mà phát hiện những điều mà mình cần phải phát hiện…

Hai năm, với hành trình của một đời người chẳng qua chỉ như một nháy mắt, vậy mà trong hai năm ấy, Điền Vũ đã lớn bật thành một chàng trai chững chạc và khoẻ khoắn. Về đến nhà, những người lớn tuổi thấy chàng thì mừng không để đâu hết, lớp trẻ hơn gặp mặt, ai cũng tỏ ra kính nể, cả nhà mừng vui chung hưởng niềm vui lớn trong đời.

Những ngày đầu mới gặp lại, từ trên xuống dưới thế nào cũng có chuyện hỏi han tình hình từ ngày chia tay nhau tới giờ, rồi chuyện cuộc sống ở nơi ăn học, những gì thu lượm được sau thời gian học nghề, tập võ. Tuy từ trước tới giờ vốn là người ít nói, vậy mà hôm nay Điền Vũ lại tỏ ra khác thường, hào hứng sôi nổi hết khoe về Quỷ Cốc lại kể về Nghi Mông, nhất là nói rất nhiều rất kỹ về thầy Vương Hử mà mình vốn sùng kính. Khoảng mươi hôm sau, được sự đồng ý của ông nội và cha mẹ, tuân theo lời dặn của thầy, Điền Vũ bắt đầu một chặng đường mới gian nan là tìm đọc lịch sử chiến tranh và khảo sát những chiến trường cổ xưa.

Trước hết, Điền Vũ đi khảo sát Quỳ Khưu.

Quỳ Khưu là một làng thôn ở phía bắc Thương Khưu kinh đô nước Tống. Từ kinh đô nước Tống đến Quỳ Khưu phải đi năm ngày đường. Đây là nơi rất hẻo lánh, rất nhiều cây liễu, mặt đất phủ dày một lớp cát trắng. Trên đồng cát nhô lên mấy cái gò cao, và khắp các gò cũng lại phủ đầy cát trắng, một gốc cây nhỏ cũng không mọc nổi, nhưng giữa gò nọ với gò kia lại điểm xuyết một ít cây liễu tạo nên một khung cảnh u nhã êm đềm, cả vùng đồi gò này gọi là Quỳ Khưu.

Năm 651 trước công nguyên, chư hầu các nước tranh quyền bá chủ trung nguyên do Tề Hoàn công đứng đầu cùng các nước Lỗ, Tống, Trịnh, Vệ vv… đã họp với nhau ở Quỳ Khưu, ký kết với nhau minh ước là không thay đổi tuyến đê giữ nước Hoàng Hà.

Lúc bấy giờ khi ký kết minh ước, đều lấy súc vật làm vật hy sinh, cử hành nghi thức truyền thống là “sáp huyết”,[1] nhưng hội nghị Quỳ Khưu lại không làm cái hành động cao cả nghiêm trang ấy, mà chỉ đặt tờ minh ước cùng lễ với con vật bị trói mà thôi.

Trước khi có minh ước, dòng nước Hoàng Hà ào ào gây nên không biết bao nhiêu vụ “chiến tranh”, mỗi lần như thế là một lần tàn phá ruộng vườn, huỷ hoại nông trang, khiến cho muôn ngàn người dân vô tội tan cửa nát nhà, lưu lạc bốn phương.

Minh ước Quỳ Khưu ký kết hơn trăm năm sau, thời đại đổi thay, minh ước ấy lại càng được thực hiện nghiêm chỉnh, nước Hoàng Hà không còn lần nào dám hoành hành. Ngay cả những khi chiến tranh liên miên, đất nước chẳng một ngày nào yên, nhưng thế gian vẫn còn có một thứ để mà trông cậy.

Điền Vũ vừa khảo sát vừa xem sử sách.

Đầu đời nhà Chu, Văn Vương tu thiện tích. đức, thiên hạ đều thần phục. Ngu, Nhuế tranh lợi, chẳng nước nào nhường nước nào, thế là vào nước Chu, nhờ Văn Vương bình luận và phán xét giúp. Vào qua biên giới nước Chu, thấy người cày ruộng nhường bờ cho nhau, tục lệ của dân thì người dưới nhường người trên, người của nước Ngu, nước Nhuế thấy vậy xấu hổ không biết lánh mặt vào đâu, quay sang bảo nhau: “Ta tranh nhau thế, chỉ tổ cho người nước Chu họ cười cho, nay có gặp Văn Vương, cũng chỉ là để nghe lời cười chê”. Chưa kịp gặp Văn Vương, họ nửa đường quay lại, nhường nhịn lẫn nhau. Văn Vương dấy đội quân nhân nghĩa, lần lượt chinh phạt Khuyển – Nhung, Mật Tu, nước Kỳ, nước Hàn, như gió thu cuốn lá vàng chẳng bao lâu thống nhất được thiên hạ.

Vũ Vương phạt Trụ, quân của Trụ tuy nhiều nhưng không muốn đánh mà chỉ nghển cổ trông ngóng đội quân nhân nghĩa đến sớm. Vũ Vương đến, dân chúng cơm nắm cơm đùm đi đón, quân của Trụ bảo nhau bó giáo quy hàng hoặc quay mũi giáo đánh trợ lực cho Vũ Vương. Vũ Vương động đến đâu, quân Trụ tan rã đến đó.

Thời Xuân Thu, vì nước Trịnh đồng minh với nước Tấn, Sở vương đem quân đi đánh nước Trịnh. Quân Sở vây nước Trịnh ba tháng, và Trịnh đã dâng thành hàng Sở. Sở vương vào đến hoàng môn; Trịnh Tương công cởi trần dắt dê ra đón.

Những sự thực lịch sử ấy nói với Điền Vũ rằng, quân đội nhân nghĩa là vô địch trong thiên hạ. Sau này trong cuốn “Binh pháp” của mình, Điền Vũ đã nhấn mạnh rằng dấy binh phải từ lòng nhân, cầm quân nên có nghĩa.

Năm 627 trước công nguyên, Tần Mục công giao Mạnh Minh làm đại tướng, Tây Khất Thuật, Bạch Ất Bính làm phó tướng, dẫn quân về phía đông với ý đồ bất ngờ đánh úp nước Trịnh. Nước Trịnh có một gã lái trâu tên là Huyền Cao, hắn lùa hơn ba trăm con trâu bò đến Lạc Dương để bán. Đi đến bến Lê Dương, từ miệng một người bạn cũ, mới ở nước Tần về, cho biết một tin tức là nước Tần sắp đem quân đi đánh nước Trịnh, dự định ngày mười hai, tháng mười hai sẽ cất quân, không lâu nữa sẽ tới nơi. Là một chí sĩ trung với vua hiếu với nước, Huyền Cao muốn giải mối nguy này cho đất nước. Khi khốn khó bỗng ló ra mưu, Huyền Cao một mặt sai người quay lại, đi ngày đi đêm để về kinh đô báo tin cho nhà vua biết, một mặt cải trang thành sứ giả, chọn lấy hai chục con trâu bò béo nhất lùa đi, còn lại gửi quán trọ trông giúp, rồi tự thắng một cỗ xe đi thẳng đến chỗ quân Tần. Đi đến Diên Tân của nước Hoạt thì gặp quân Tần, theo lễ tiết của sứ thần, Huyền Cao gặp được Mạnh Minh là chủ tướng quân Tần và nói rằng: Vua nước tôi nghe tin ba vị tướng quân mang quân đến đây, nên đã chuẩn bị sẵn một chút lễ mọn, cử tôi đến đây đón rước và thăm hỏi các vị. Vì chúng tôi ở kẹt vào giữa các nước lớn, luôn luôn bị quân đội nước ngoài xâm lấn, cho nên lúc nào cùng phải khí giới xe ngựa sẵn sàng, tướng sĩ biên phòng cũng không lúc nào được lơ là, khí giới luôn luôn bên mình, các vị có thấy xin cũng đừng làm lạ và đừng để ý làm gì. Mạnh Minh nghe xong, bỗng giật mình kinh hãi, hắn thấy quân lính của mình mệt mỏi, từ phương xa ập đến với ý định là đánh vào chỗ người không phòng bị, nay nước Trịnh đã biết tỏng hành động này rồi, lại đã chuẩn bị đầy đủ các mặt như thế, đánh vào cũng khó thắng. Thế là quân Tần thay đổi kế hoạch, tiện tay vơ vét một mẻ nước Hoạt, rồi rút quân về nước, tâu trình sự việc với Tần Mục công.

Năm 634 trước công nguyên, nước Tấn liên quân nước Tấn đánh nước Trịnh. Là nước nhỏ nằm kẹt giữa hai nước lớn, nước Trịnh tuy có liên minh với nước Sở, mong nước Sở đem quân đến cứu viện. Tuy nhiên nước Sở lại sợ oai hai nước Tần, Tấn, không dám xuất quân, cứu nước Trịnh đang cơn nguy ngập. Vua nước Trịnh biết vị lão thần Chúc Chi Vũ là một nhà ngoại giao lão luyện, có tài hùng biện, lại có gan, nên đã cử Chúc Chi Vũ xuống khỏi thành lầu, đi thẳng đến trại quân Tần xin gặp Tần vương. Tần vương đã tiếp kiến Chúc Chi Vũ. Chúc Chi Vu nói với Tần vương rằng: “Nước Tần tham dự vào việc vây nước Trịnh, không biết là tại làm sao?”. Tần vương nói: “Nước Tần tham dự chinh phạt nước Trịnh, là giúp nước Tấn thảo phạt kẻ đã vong ân bội nghĩa, đó là một hành động chính nghĩa”. Chúc Chi Vũ lại nói: “Với nước Tấn, nước Triệu quả là có điều thất lễ, nhưng đối với nước Tần hùng mạnh thì lại dốc lòng kính phục, sùng bái hết mức. Tần vương vẫn là một đấng minh quân hiền đức, nay lại giúp nước Tấn từ xa mang quân đến đánh úp. Trịnh với Tần hai nước cách xa nhau muôn núi ngàn sông, đánh Trịnh, sau khi mất nước Trịnh, thì nước Tấn sẽ chiếm lĩnh, như thế nước Tấn sẽ hùng mạnh thêm. Tấn với Tần là hai nước láng giềng của nhau, sau khi nước Tấn hùng mạnh rồi, đối với nước Tần há lại chẳng phải là mối đe doạ chờ sẵn đó sao? Cho phép thần được nói thẳng, hành động này của đại vương, chính là tự gọt chân mình, nước mình, làm sao không khiến người ta lo lắng cho được? Tấn lại không phải là nước biết điều tín nghĩa, nhớ chuyện xưa Tấn từng hứa cho Tần đất Tây Hà, sau rồi lại tự nuốt lời hứa, điều binh khiển tướng, đe doạ đến an toàn của nước Tần. Đại vương sáng suốt như thế sao lại có thể để một láng giềng như hổ như sói thế? Theo ngu ý của thần, nước Tần tốt nhất là rút lui ngay ra khỏi cuộc chinh phạt này, bãi binh quay về hướng Tây, như vậy nước Tần sẽ có trăm cái lợi mà không có cái hại nào. Tần bãi binh rút về phía tây, Trịnh nguyện làm nước bảo hộ cho Tần, sau này Tần tiến ra trung nguyên, có phải lợi biết bao nhiêu không?” Những câu nói đó của Chúc Chi Vũ đã thuyết phục được Tần vương, hai bên ngầm cam kết với nhau, chủ động rút quân. Nước Tấn thấy Tần rút quân, Trịnh và Sở hai nước vẫn liên minh với nhau, nước Sở tất cho quân tiếp viện, Tấn không còn sức một mình đánh nhau với Sở, đành chịu bẽn lẽn cúp đuôi mà lui quân, cuộc vây Trịnh chẳng đánh cũng tan.

Năm 656 trước công nguyên, Tề Hoàn công liên hiệp các nước đồng minh với mình là Lỗ, Tống, Trần, Trịnh, Vệ, Hứa… cùng nhau đánh nước Sở. Trong tình trạng quân đã áp sát biên giới, Sở tuy là nước khá hùng mạnh, cũng hiển nhiên ở vào thế bí. Sở vương liền sai sứ giả đến giao thiệp với quân Tề, chất vấn Tề Hoàn công. “Ông ở Bắc Hải, ta ở Nam Hải, đôi bên chẳng có gì dính líu va chạm với nhau. Không hiểu ông mang quân can thiệp vào đất của ta là cớ làm sao?”. Quản Trọng trách hỏi nước Sở tại sao không triều cống Chu thiên tử, đồng thời còn chất vấn đến chuyện cũ Chu Chiêu vương bị chết đuối ở Hán Thuỷ. Sứ thần nước Sở đáp rằng: chuyện thứ nhất là lỗi lầm, lập tức sẽ khôi phục lại việc triều cống, còn về cái chết của Chiêu vương, thì nước Sở không chịu trách nhiệm. Nước Tề không hài lòng với những câu trả lời đó, tiếp tục tiến quân.

Sở vương lại sai sứ giả Khuất Hoàn tiếp tục giao thiệp với quân Tề. Tề Hoàn Công đã bầy liên quân ra thành trận thế, đe doạ Khuất Hoàn, đòi hỏi phải ký ngay bản điều ước với nội dung có lợi cho nước Tề. Khuất Hoàn không chịu nước lép vẫn cứng cỏi trả lời: “Nhà vua nếu đùng sức mạnh, nước Sở sẽ lấy Phương Thành để làm thành, lấy sông Hán Thuỷ làm trì, quân nhà vua có đông cũng chẳng làm gì được”. Đó quả thật là những lời lẽ ngoại giao thẳng thắn và khúc triết, Tề Hoàn công không thể không ký kết bản hoà ước mà không phải điều nào cũng có lợi cho mình rồi rút quân.

Đọc mãi, đọc mãi, Điền Vũ thấy xuất hiện hai sự việc xảy ra ngay trong triều đình lúc này.

Nước Yên nước Tấn liên quân lại tấn công nước Tề, nước Tấn đánh đất A Quyên, nước Yên xâm phạm Hà Thượng, quân Tề thua to. Cảnh công lo sợ, Yến Anh tiến cử Nhương Thư. Cảnh công bổ nhiệm Nhương Thư làm đại tướng, ra lệnh cho ông này mang quân đi chống chọi với quân nước Yên và nước Tấn. Cuối cùng do Nhương Thư giữ nghiêm pháp lệnh, yêu thương quân lính, quân Tấn nghe thế bãi binh, quân nước Yên thấy vậy vượt sông mà trốn.

Bảy tám năm trước đó Yến Anh đã đem quân Tề đánh nhau với quân Tấn, quân Sở, để ra oai của nước Tề, trong đó ba vị tướng là Công Tôn Tiệp, Điền Khai Cương, Cổ Dã Tử là người có công lớn nhất!

Sau khi chiến tranh kết thúc, ba vị tướng ấy cho mình là người phi thường, hách dịch vênh váo. Đại công thần thực sự như Yến Anh lại khiêm tốn lễ độ, ba ông tướng kia lại càng không coi ai ra gì, không coi trời đất pháp luật ra gì, thế là kỷ cương phép nước bị rối loạn, không còn ngày nào được yên hàn nữa.

Một hôm, Cảnh công cho vời Yến Anh nói: “Ba tướng Công Tôn Tiệp, Điền Khai Cương, Cổ Dã Tử không coi pháp luật ra gì, không thể tiếp tục mãi thế này được. Theo thái tể thì nên làm thế nào?”

Yến Anh sớm đã không thể nhịn được, thấy hỏi vậy, liền lập tức trả lời: “Không phải không biết đến công trạng của ba người, nhưng nghĩ là nghĩ cho nước cho dân, phải trừ ba kẻ hung bạo này đi càng sớm càng tốt mới được!”. “Ái khanh với trẫm không mưu mà hợp – Cảnh công vuốt nhẹ chòm râu bạc, trên mặt để lộ ra nét, hài lòng và nói tiếp: “Việc này để ái khanh xử lý thôi!”. Yến Anh đáp: “Thưa đại vương! Xin vâng!”

Vua tôi hiểu nhau, mệnh lệnh cũng dứt khoát, trả lời cũng gọn gàng!

Ngày hôm sau, Yến Anh sai người ra vườn hái về hai quả đào, đặt vào chiếc đĩa ngọc thật đẹp, sau đó mời ba ông tướng kia đến nói: “Nước Tề ngày nay, đều trông cậy vào ba vị tướng quân anh dũng giết giặc nơi chiến trường biên giới, nay có hai trái đào thơm, không nỡ ăn một mình, nên mời ba vị đến đây cùng thưởng thức. Đáng tiếc là đào ít mà người nhiều, cho nên chỉ giành cho hai vị có công lớn được ăn” – Yến Anh chỉ mấy quả đào trong đĩa ngọc nói tiếp: “Đào ở đây ai tự cho rằng có công nhất, xin cứ đến lấy mà ăn!”

Yến Anh còn chưa nói hết câu, cả ba người cùng bâu cả lại, cùng một lúc đưa tay vồ lấy đào, kết quả, Công Tôn Tiệp và Điền Khai Cương mỗi người vồ được một quả, Cổ Dã Tử chộp hụt, giận quá hoá cùn, hét lên: “Các người có tài có đức quái gì, mà lại dám cầm đào mà ăn…”

Hai ông tướng vồ được đào nghe nói cứng họng, lát sau quay ra vặc lại: “Còn ngươi thì có cái gì ghê gớm, mà dám lồng lộn lên trước mặt thái tể?”.

Ba người cãi nhau, mỗi người một câu, chẳng ai nhường ai, một lúc một thêm kịch liệt, cuối cùng cả những câu tục tĩu khó lọt tai nhất cũng với nước bọt cũng được văng ra bắn tung bốn phía.

Yến Anh không hề thay đổi sắc mặt, ngồi im một bên, mãi lúc lâu sau mới bảo: “Ba vị tướng quân oai phong lẫm liệt, thật khó mà biết ai hơn ai kém, tốt nhất là lấy sổ sách ghi chép chiến công ra mà so để bì cao thấp.”

Yến Anh nói thế, đã có người lấy từ trong tủ ra bản ghi chiến công, bầy trước mặt ba ông tướng. Yến Anh lại nói tiếp: “Chiến công của ba vị, đều ghi hết ở đây thì cứ lấy sổ này mà so sánh cao thấp thôi!”

Yến Anh làm như vậy, đương nhiên cả ba ông tướng đều không có ý gì khác.

Theo sự ghi chép về chiến công, sở dĩ Công Tôn Tiệp và Điền Khai Cương lập được công lớn như thế, đều là nhờ ở quân tiếp viện của Cổ Dã Tử hăng hái diệt địch.

Đang giữa lúc tranh cãi kịch liệt, Công Tôn Tiệp và Điền Khai Cương đã ăn hết đào thơm từ lâu rồi, lúc này nhè không ra, moi không được nữa, thẹn đến nỗi không có lỗ nẻ mà chui cho thoát, ngay đêm ấy lần lượt tự tử chết. Hôm sau, Cổ Dã Tử được tin hai ông tướng kia đã chết, hổ thẹn quá chừng, không còn mặt mũi nào nhìn thấy người đời, cũng dùng bội kiếm tự kết liễu đời mình.

Yến Anh không dùng vũ lực, nhẹ nhàng khử được ba tên tướng bệnh hoạn hại nước hại dân.

Đêm khuya, Điền phủ rộng thênh thang, khắp nơi đều im phăng phắc, chỉ có căn phòng cửa Điền Vũ là vẫn còn leo lét ánh đèn. Điền Vũ đi đi lại lại một mình trong phòng, trong óc đang xáo trộn lên các thứ sử liệu vừa đọc trong ngày và câu chuyện Tề Cảnh công với Yến Anh. Thoáng một cái, tình hình của cái gọi là “đại hội đấu bảo” cùng hình tượng người cha ùa vào trong đầu óc chàng. Sự thâm nghiêm của Tấn Dương Cung, sự bá đạo của Tấn Bình công, mặt mũi cú vọ của Triệu Vũ, những viên châu báu lấp!ánh muôn màu ở sảnh đường, vẻ chính khí hiên ngang của cha mình và dáng điệu thảm hại nực cười của vua tôi nước Tấn… Những cảnh ấy, những hình ảnh ấy và cả những tư liệu lịch sử và hiện thực, tất cả nhảy múa, lấp loáng, đan xen trước mặt Điền Vũ, biến thành ánh mây hồng rực rỡ và ánh ngày ngời ngời, quầng sáng màu da cam hắt lên và chiếu vào người chàng, trùm lấp chàng, khiến cho trái tim Điền Vũ thoáng đạt và rộng mở hơn. Chàng vội vàng lấy thanh giản độc ra, vung bút lên viết những điều nhìn nhận như sau:

“Bách chiến bách thắng là ở người giỏi trong những người không giỏi; thứ quân không đánh mà khuất phục được người; giỏi trong những người không giỏi vậy. Cho nên trước hết phải đánh bằng mưu, sau đó là đánh bằng ngoại giao, thứ ba là đánh bằng quân lính sau cùng mới là đánh thành”.

Đó là điểm cơ bản về lý luận trong binh pháp của Điền Vũ, và là chủ tuyến của tư tưởng quân sự.

Nói cho cụ thể ra, nó bao hàm nội dung của ba mặt sau đây: Thứ quân làm gục người khác mà không phải đánh, hai là lấy thành người ta không phải công, ba là phá nước người khác mà không cần lâu.

Muốn đạt được mục đích ấy, phải có thế nước vững mạnh như núi đồi, có một binh lực khiến người khác nghe thấy oai đã mất mật; phải xây dựng một đạo quân nhân nghĩa không những quân dân nước mình vui vẻ mà theo; ngay cả dân chúng của nước bị đánh cũng cơm đùm cơm nắm ra đón; cần phải có nhà mưu lược quân sự thiên tài và nhà ngoại giao cừ khôi.

Điền Vũ mắt không rời sách, chân không dừng bước, vẫn tiếp tục đọc lịch sử chiến tranh, khảo sát chiến trường cổ xưa, tìm tòi, khám phá để thu lượm mọi thứ cần thiết cho mình.

❀ ❀ ❀

[1] Sáp huyết: là bôi máu súc vật lên môi khi tuyên thề thời xưa, sau phát triển thành tục uống máu.

Nguyễn Bá Thính
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Tào Nghiêu Đức

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.