Tuy đã xác định đường đi lối lại, chuẩn bị tốt mọi mặt để đánh Sở, nhưng Tôn Tử không dấy quân ngay, bởi các sứ thần sang nước Tề, nước Tấn và Phiếm Khải đi gặp Tử Tất đều cùng chưa về. Vốn từ khi hạ sơn, nắm chính thể của nước Ngô đến nay, Tôn Tử luôn luôn thực hiện đường lối ngoại giao “xa thì giao hảo, gần thì tiến cống” liên kết với Tề, Tấn, cả hai đều hữu hảo, không khinh người cũng không để người khinh, lại có sự gắn bó với nhau nữa. Sau khi xác định được cuộc chiến đấu đánh Sở để vào Sính đô, Tôn Tử đã sai sứ sang Tề, Tấn. Mùa thu đã quá, trà mới đã có bán, bèn gửi đi một ít trà ngon, tơ lụa, hàng điêu khắc… là những hàng đặc sản, để bày tỏ lòng kính trọng và hữu hảo. Tiếng là tặng quà, nhưng thực chất là thăm dò thái độ của họ với việc nước Ngô đánh Sở lần này thế nào nhất là với nước Tấn, vốn có điều ước Tống Tây môn với nước Sở cách đấy không lâu, nước Tống đem quân mười tám nước chư hầu đi đánh Sở, nhưng cuộc tấn công bị chết yểu giữa đường, vậy thì nay với việc Ngô đánh Sở họ sẽ có thái độ thế nào, Tôn Tử không thể không thận trọng. Còn như Phiếm Khải sang Sở gặp Tử Tất, đương nhiên là lại dùng tiền bạc và châu báu, mong hắn sẵn sàng làm nội ứng trong cuộc tấn công nay mai.
Vài ngày sau, sứ thần lần lượt trở về. Nước Tề, nước Tấn đều tiếp đãi sứ thần nước Ngô rất long trọng, và viết thư cho Ngô vương Hạp Lư với lời lẽ chan chứa nhiệt tình, tận đáy lòng cảm ơn Ngô vương đã gửi quà tặng và dãi bày tình cảm thắm thiết giữa đôi bên, với việc Ngô đánh Sở, sẽ ủng hộ về mặt đạo nghĩa, tinh thần, về quân sự và vật chất, không tỏ thái độ sẵn sàng giúp đỡ. Vốn dĩ xưa nay, Tề, Sở Tấn đã từ lâu tạo thành thế chân vạc. Sở là kình địch ở phương nam của Tề, Tấn, là mối trở ngại lớn nhất để họ xưng bá trong thiên hạ. Nay Ngô muốn đánh Sở, hoặc làm suy yếu hoặc tiêu diệt hẳn nước Sở, hoặc cả hai đều sứt đầu mẻ trán, thì Tề, Tấn được một phen ngồi trên núi mà xem hổ cắn nhau, có trăm cái lợi mà không có một điều thiệt, làm gì chẳng vui vẻ mà làm! Ngoài thư từ, vua hai nước này đều có gửi quà tặng lại, giá trị cũng chẳng kém gì những thứ Ngô vương đã tặng.
Phiếm Khải đến Sính đô, đến chào tướng quân Tử Tất. Thấy Phiếm Khải xuất hiện, Tử Tất bất giác ngớ người ra, sao người này có vẻ quen mặt, như đã từng gặp ở đâu, nhưng lại không nhớ lại ra đã gặp nhau lúc nào và ở đâu, trong lòng còn đang nghi ngại băn khoăn. Phiếm Khải đã chủ động xưng tên họ, nói rõ chức danh và xuất trình cả thư tín làm chứng, rồi đưa quà tặng ra và nói:
– Phiếm tôi không ngờ được ba lần đến chào tướng quân, duyên nợ giữa chúng ta thật không phải là nhạt nhẽo!…
– Thế nào! Phiếm tiên sinh đã gặp kẻ vũ phu này những ba lần rồi sao?… – Tử Tất kinh ngạc trông ngây ngô cả mặt ra.
Phiếm Khải thấy vậy cười lên ha hả, cười xong rồi mới nói:
– Tướng quân đúng là quý nhân nên có máu hay quên. Phiếm tôi đã từng xem bói, khám bệnh, kể chuyện cho tướng quân, chẳng lẽ tướng quân không còn chút ấn tượng gì sao?…
Tử Tất bất giác sực nhớ ra, thì ra là thế!…
Tử Tất thừa biết mình đang như ngọc nằm trong đá vàng lẫn với đất, người sống trong hang động và cũng thầm cảm ơn trị ngộ với Tôn Tử. Mình đã thua thảm hại trong núi Thiên mục, quân đội tan vỡ hết, Tôn Tử lại viết cho mình một bức thư làm tan băng giá, còn ấm áp trong lành hơn cả gió xuân, để cho mình có thể ca khúc khải hoàn với tư thế của người chiến thắng. Ông đã ví mình như một con phượng hoàng, mà đã là phượng hoàng đương nhiên không nên sống chung bầy với lợn rừng và quạ đen. Mưu kế quân sự của Tôn Tử cũng khiến cho Tử Tất khâm phục sát đất. Ông có thể cân nhắc vấn đề từ một tầm nhìn chiến lược rộng lớn. Hoài bão của ông mới lớn lao làm sao, tầm nhìn của ông mới xa rộng làm sao, để câu được một con cá lớn, ông đã phải thả một sợi dây dài đến thế!…
Phiếm Khải đã nói rõ ý định đến với Tử Tất lần này và phân tích hình thế trong thiên hạ, nêu rõ quyết tâm diệt Sở của nước Ngô, vạch rõ ra những nguyên nhân khiến Sở sẽ suy vong và Ngô sẽ hưng thịnh, khẩn khoản mong rằng Tử Tất thôi đừng để ngọc trong bóng tối mãi làm gì nữa, hãy lập nên sự nghiệp trong cuộc diệt Sở lớn lao này, góp phần đẩy xã hội tiến về phía trước.
Nghe những lời ung dung đàng hoàng của Phiếm Khải, bất giác Tử Tất thấy mừng rỡ trong lòng, giờ khắc mà ông mong đợi từ lâu cuối cùng đã tới, liền lập tức biên một lá thư, nhờ Phiếm Khải mang về cho Ngô vương và Tôn Tử, trong thư ngoài những lời cám ơn nồng nhiệt, còn bày tỏ rõ ràng nhưng việc làm thế này thế nọ trong cuộc chiến đấu tiêu diệt nước Sở.
Hạp Lư và Tôn Tử lần lượt nghe báo cáo của ba vị sứ thần và xem thư xong, lập tức dấy quân, cho bõ bao ngày mong đợi.
Buổi chầu sớm hôm sau, các quan văn võ tề tựu đông đủ, Ngô vương Hạp Lư đưa mắt nhìn khắp điện một lượt, rồi cất giọng nói lên những lời tha thiết:
– Đánh Sỏ để bá chiêm trung nguyên, là mong ước suốt đời của quả nhân, hơn thê nữa, còn là một việc lớn để nước Ngô ta hưng thịnh hay suy tàn, nay điều kiện đã chín muồi, quả nhân đã bàn với Tôn Nguyên soái và quyết định, trong vòng ba ngày ta sẽ cất quân, không để chậm trễ hơn nữa! Quả nhân cũng sẽ ra trận cùng binh lính, sát cánh tiến thoái với các tướng lĩnh của ta.
Ngô vương nói xong, quay lại nhìn Tôn Tử, mời ông đứng lên ra lệnh.
Tôn Tử hiểu ý, nghiêm sắc mặt nói:
– Theo ý của Ngô vương, mười năm tập tành dạy dỗ, tranh giành bá chiếm trung nguyên, đến nay thời cơ đã chín. Đây là một cuộc chiến xoay chuyển đất trời, chẳng những quan hệ đến việc nước Ngô hưng thịnh hoặc suy tàn, hoặc thế nữa còn quyết định cục thế trong thiên hạ. Ở đây tôi đặc biệt kêu gọi các tướng hãy cùng nhau gánh vác trong cuộc chiến đấu thần thánh này, mang quyết tâm thề chết, để báo đền ơn đức Ngô vương đã hằng yêu mến chúng ta!
Các tướng lĩnh ai cũng đều tự thấy kính phục, để bày tỏ quyết tâm của mình.
Tôn Tử đã ban bố quân lệnh và phân công nhiệm vụ: Chia quân làm hai đường, thuỷ bộ cùng tiến. Ngũ Tử Tư làm thống soái quân trên bộ, Tôn Tử làm thống soái thuỷ quân, trung đại phu Bị Ly và Chuyên Nghị bảo vệ thế tử Ba ở lại giữ Cô Tô, Phu Khái làm thuỷ sư tiên phong tướng quân; quân của hai nước Đường, Thái biên chế thành tả hữu dực, Ngô vương cùng đi với thuỷ quân Bá Bỉ làm bảo giá tướng quân, bảo vệ an toàn cho Ngô vương. Phân công đâu vào đấy, người nào nhận lệnh của người ấy rồi tự đi lo liệu sắp đặt.
Về tuyến đường hành quân, đây là một bí mật quân sự, không được nói với mọi người, sau khi bãi chầu, Tôn Tử đã chỉ thị và trao đổi riêng với Ngũ Tử Tư và lấy ra hai tờ địa đồ giống nhau trao đổi cho Ngũ Tử Tư một bản. Tôn Tử đối chiếu trong bản đồ trao đổi cận kẽ với Ngũ Tử tư về tuyến đường hành quân vả nhiệm vụ chiến đấu. Quân trên bộ đi theo hướng nam, tức là nét vẽ đỏ thể hiện ra trên bản đồ, từ Vân Lâu, Kê Phụ, vượt Ải Môn quan để đến Bá Cứ, sau đó qua Vân rồi vượt Hán Thuỷ, để tới Sinh Đô. Tôn Tử chỉ thị, quân trên bộ phải bí mật hành động, không được phơi bày ra, dọc đường hành quân phải cuốn cờ tắt trống, cố gắng đi cả ngày lẫn đêm với tốc độ thật nhanh để ma không hay, quỷ không biết. Quân thuỷ đi hướng bắc, ngược sông Hoài lên hướng Tây cứu nước Thái, giải vây cho Thái xong thì bỏ thuyền lên bờ, quay xuống phía nam, qua Hoàng, Huyền, qua ba ải ở Nghi Dương nước Việt (Đại Tuy, Trực Viên, Minh Ách) đến Tuỳ thì vượt Hán Thuỷ tới Sính đô. Hành động từ sau khi cứu nước Thái phải giữ bí mật tuyệt đối, tin tức loan tới nước Sở và các chư hầu là: Nước Ngô cất quân đi cứu nước Thái. để giải vây cho Thái, xem ra không có vẻ đánh nước Sở.
Lần này Ngũ Tử Tư rất hài lòng, Tôn Tử không hề dấu giếm bất kể điều gì. Ba ngày sau, điểm binh ở bãi tập, ai lãnh đội người ấy, tế cờ rồi cất quân, thuỷ bộ cùng tiến, đường đi khác nhau, phương thức cũng không giống nhau, nhưng mục tiêu thì là một, đó là vượt Hán Thuỷ để đến Sính đô.
Tôn Tử dẫn thuỷ quân từ trung du của sông Hoài, ngược dòng lên hướng tây, cả trăm chiến thuyền đều căng buồm, cả ngàn con thuyền vượt lên đầu sóng, rầm rầm rộ rộ, rất là có khí thế. Nhưng đi như thế khoảng năm mươi dặm, mặt trời ngả về tây, còn chưa đến lúc hoàng hôn, bỗng gặp một bến cảng, Tôn Tử hạ lệnh, cho thuyền cập bến, người lên bờ, tìm nơi hạ trại, ăn no ngủ kỹ. Hạp Lư bỗng sinh thắc mắc trong lòng, trời còn chưa tối, sao đã vội cho quân lính lên bờ nghỉ ngơi? Ngay sau đó lại nghĩ rằng, có thể vì hôm nay điểm binh tế cờ, làm thời gian chậm trễ, chẳng thà đi nghỉ sớm, ngày mai chính thức lên đường. Quá nửa đêm, gió tây bắc nổi lên từng trận cồn cào, ngày hôm sau nhổ neo, không còn được dễ dàng như hôm trước nữa, gió dồn sóng cao, ngược dòng trái gió, lính trên thuyền người bơi chèo, người bẻ lái, vô cùng vất vả, tuy đã là cuối thu đầu đông, ấy vậy mà người nào người nấy lưng đẫm mồ hôi. Thấy binh lính quá mệt mỏi, tuy mới tiến được chừng sáu mươi dặm, mà phải mất đến quá nửa ngày, nên vừa thấy bến cảng, Tôn Vũ liền lệnh cho thuyền cập bến, rồi lên bờ cắm trại, nấu cơm ăn và đi ngủ. Gió tây bắc thổi hết ngày này sang ngày khác, lúc lớn lúc nhỏ, không ngừng nghỉ bao giờ, thuỷ quân của nước Ngô tiến lên hết sức vất vả, hành trình vì thế cứ mỗi ngày một ngắn lại, thời gian nghỉ ngơi lại càng ngày càng lâu ra. Sau ngày thứ năm, Hạp Lư không thể nhịn được nữa, hành quân thế này, đừng nói từ trước đến giờ chưa ai thấy bao giờ, cũng chẳng nghe thấy ai nói thế bao giờ, cứ y như không phải là đi đánh trận, mà là đi ngắm sông ngắm núi chơi bời không bằng, cứ tiến quân lề mề chậm như rùa thế này, đến bao giờ mới tới được nước Thái? Ngày nào mới qua được Hán Thuỷ? Hạp Lư nghĩ thế, bất giác bật ra miệng hỏi Tôn Tử:
– Nguyên soái thường vẫn bảo binh quý thần tốc, thế mà nay tiến quần ì ạch như bò già kéo xe gẫy thế này, há lại chẳng lỡ mất thời cơ chiến đấu hay sao?
Nghe hỏi vậy, Tôn Tử mỉm cười đáp:
– Việc dùng binh đánh trận, không thể lúc nào cũng như lúc nào, đáng nhanh thì nhanh, cần chậm thì chậm. Nay quân ta không phải đi để giao chiến với quân Sở, mà là đi đưa khách về quê, thế nên không nên vội vã.
Không giải thích còn hơn, Tôn Tử càng giải thích, Hạp Lư lại càng mụ mẫm thêm, cứ như đi trong sương mù, ông nói:
– Nguyên soái nói sao, quả nhân chẳng hiểu gì cả.
Tôn Tử vẫn mỉm cười đáp:
– Xin chúa công hãy nghĩ xem một khi Nang Ngoã nghe thấy tin quân của nước Ngô ta sắp tới, tất không dám giao chiến mà sẽ kéo quân về Sở. Đã không phải giao chiến, thì cần gì phải vội? Nay ở trên đường, quân ta nghỉ ngơi lấy sức, trong khi đó để cho quân Sở phải khổ chiến suốt ngày ở nước Thái, mỗi ngày một mệt mỏi đi, như vậy há chăng có lợi, cho việc đánh quân Sở của ta hay sao?
Nói thì chẳng sai tí nào, nhưng Hạp Lư vẫn thấy không yên lòng, ông sợ rằng do hành quân chậm trễ, nước Thái bị quân Sở đánh tan, thì lỡ mất việc lớn. Tôn Tử đã thừa hiểu tâm sự đó của Hạp Lư, ông giải thích thêm:
– Chúa công không phải lo, nước Thái tuy yếu, nhưng họ có cái oai trước đây đã diệt được nước Thẩm; quân Sở tuy mạnh, song Nang Ngoã không biết cầm quân, có đánh đến ba tháng, cũng chưa chắc đánh tan nồi nước Thái.
Hạp Lư nghe Tôn Tử nói đâu ra đấy, tuy chưa thật an tâm, suy cũng không tiện nói gì thêm, đành cố nán thêm, mặc cho đội quân chậm chạp tiến lên.
Qua Châu Lai không lâu, vào một buổi chiều tà quân Ngô đang đổ bộ lên một bến cảng để cắm trại nghỉ lại, nghe tin Thái Chiêu hầu với Đường Thành công mang quân ra đón. Hạp Lư thắc mắc, quân Sở đang áp sát biên thuỳ, đất nước đang cơn nguy biến, không đem quân mà chống giặc, lại còn dẫn quân ra đón? Chỉ một loáng sau, vua của hai nước Thái, Đường dẫn một số tướng sĩ, binh lính đến gần trướng quân. Thấy Hạp Lư Và Tôn Tử, hai vị vua cùng cúi rạp xuống đất thưa:
– Ngô vương, nguyên soái thân chinh mang đại quân đến để cứu viện giải nguy, chúng tôi đến đón hơi trễ, dám mong được tha tội!
Hạp Lư vội vàng vái lại:
– Hai vị hơi quá lời. Quân Sở hiện nay ở đâu?
Thái Chiêu hầu đáp:
– Cũng nhờ oai hùm của Ngô vương, Nang Ngoã đánh nước tôi nửa tháng không hạ được, nghe tin đại quân của quý quốc cứu viện, không lâu nữa sẽ đến được đất Thái, thế nên ba ngày trước đây đã vội vàng rút lui, hiện nay trong nước chúng tôi, không đâu còn bóng một tên quân Sở nào nữa ạ!
Hạp Lư bất giác nhìn sang Tôn Tử bằng ánh mắt thân tình, trong ánh mắt đó như gửi gắm một lời khen: Chúng ta quả nhiên là đến tiễn khách, ông thật là người đoán việc như thần, thật đáng khâm phục!…
Giữa lúc đó, có rất nhiều binh lính và dân thường của nước Thái kéo đến, nào thì gánh, nào thì khiêng nào đẩy xe, nào dắt bò dắt dê… họ đến mang theo bò dê rượu thịt khao thưởng tướng sĩ, binh lính quân Ngô, dân chúng người thì đội thức ăn, người thì thắp hương làm lễ vật tạ ơn đức của Ngô vương, đường lớn ngõ hẻm, người như mắc cửi, xốn xang vô cùng…
Đã cắm xong doanh trại, hai bên mời nhau vào trong trướng quân, bọn người hầu hạ đã bày sẵn tiệc rượu, đưa thức ăn lên. Hai vị vua của nước Đường, nước Thái liên tục rót rượu mời Ngô vương, thổ lộ nỗi nhục nhã và sự ức hiếp mà họ phải chịu đựng bao nhiêu năm nay với nước Sở, kể đến chỗ thương tâm, nghẹn ngào nói không ra tiếng, nước mắt nước mũi giàn giụa. Sau cùng Thái Chiêu hầu nói:
– Cũng may được Ngô vương và Nguyên soái đã mang đội quân nhân nghĩa đến cứu giúp, nếu không, hai nước chúng tôi sẽ bị Nang Ngoã tiêu diệt mất.
Hạp Lư nghe xong, nghĩ bụng, cất quân đi lần này, là sự tính toán có lợi nhất, quân lính dao không dính máu, chẳng phải đánh trận nào, lại còn vừa đi vừa ngắm non ngắm nước, ta cũng béo cả người ra, rồi cuối cùng lại còn giải vây được cho các người. Ông bỗng thấy vui, và thế là bên phải một chén, bên trái một chén, ai mời cũng không từ chối, lại còn chén nào cũng uống cạn. Đang lúc Hạp Lư uống rượu say sưa hào hứng, Tôn Tử ở bên cạnh khuyên nhỏ:
– Chúa công hãy uống bớt đi vài chén, kẻo uống nhiều, ngày mai đi đường lại nhức đầu!
Ngô vương đã uống đến mức ngất ngưởng muốn say rồi, nhậm nhựa hỏi:
– Lên đường? Ngày mai đi đâu mà lên đường?
– Đuổi đánh quân Sở.
– Sao? Ngày mai đã đi ngay sao? Chúng ta từ xa xôi đến đây, quân Sở lại rút hết rồi, nước Thái được giải vây, sao chẳng nghỉ thêm lấy vài ngày nữa rồi hãy đi?
– Thần đã từng nói, cái đạo của người cầm quân, đáng nhanh thì phải nhanh, nên chậm thì phải chậm. Quân ta cứu nước Thái, phải chậm chứ không nên vội, còn hôm nay đuổi quân Sở, lại phải nhanh chứ không được chậm, bây giờ mới là lúc binh quý thần tốc.
– Quân Sở đã rút được ba ngày, một lúc e rằng không đuổi kịp chúng, vậy thì nghỉ thêm một hai ngày cũng có sao đâu.
– Quân Sở vây nước Thái nửa tháng, mệt mỏi mà bỏ đi, nên chắc chắn là chậm chạp. Lẽ nào ta lại để chúng có dịp mà thở chứ? Hôm nay chẳng qua là hai vua của Đường Thái thịnh tình nên khó từ chối, chứ không thì ta đã phải đi luôn cả đêm.
Với mọi mưu kế và sách lược của Tôn Tử, xưa nay Hạp Lư vẫn khâm phục đến sát đất, cho nên thấy nói vậy, đã vui vẻ nghe theo:
– Được thôi! Sẽ làm theo ý của nguyên soái.
Nghe nói quân Ngô hôm sau đã đi đuổi theo quân Sở, hai vua Đường, Thái mừng không để đâu hết. Họ đang lo rằng: Các người đến đây, quân Sở rút đi, các người đi khỏi, quân Sở lại đến, dân chúng của hai nước Đường, Thái lại chịu tai ương. Còn như thế này thì tốt rồi, các người còn muốn đuổi đánh quân Sở, tốt nhất là đuổi cho chúng chạy thật xa đi, dạy cho chúng một bài, để Nang Ngoã sau này nghe tin cũng khiếp vía, không dám đến nữa, như thế chúng tôi mới được yên ổn. Thái Chiêu hầu nghĩ vậy bất giác hỏi:
– Xin hỏi nguyên soái, ngay mai đuổi đánh quân Sở, thì định đuổi chúng đến đâu ạ?
Tôn Tử nói như đinh đóng cột:
– Đuổi thẳng một mạch đến Sính đô!
– Ôi! Sẽ đuổi đến tận kinh đô nước Sở… – Hai vua Đường Thái không ai bảo ai, cùng thốt lên và cùng mở to đôi mắt kinh ngạc.
Tôn Tử thản nhiên giải thích:
– Nếu quân ta kéo trở về nước Ngô, quân Sở thế tất sẽ quay lại, quân ta lại tới lần nữa, thế có phải là lật đật chạy đi chạy lại. Mà lúc này quân ta đã cất công đến đây, thì ngay lần này đánh Sở và vào Sính đô cùng để bớt được môi lo cho hai nhà vua đây cũng như vua của các nước Trần, Hứa, Đốn, Hồ vv… sau này.
Tôn Tử nói như vậy, nhưng không hề có một lời nào nhắc đến chuyện từ lâu nay Hạp Lư những muốn đánh Sở để bá chiếm trung nguyên cũng như để trả thù cho Ngũ Tử Tư và Bá Bỉ, mà chỉ nói là chỉ vì giải vây cho những nước nhỏ đó mà đánh Sở, vào Sính đô. Đó rõ ràng là ông đang muốn được lòng người, chẳng những để đông đảo những nước nhỏ này phải mang ơn đức mà còn khiến hai nước Đường, Thái cũng phải ra quân. Mà Đường, Thái đã ra quân, nước Ngô sẽ trở thành người cùng vóc Đường, Thái đi đánh lại quân xâm lược theo sự nhờ vả của họ, đúng như người ta nói là “ra quân có cớ” như thế để giành được sự đồng tình và ủng hộ của các nước trong thiên hạ về mặt đạo nghĩa và dư luận.
Thái Chiêu hầu và Đường Thành công nghe những lòi nói thêm, cũng thấy vui lòng hể hả nghĩ bụng, lần trước quân của mười tám nước chư hầu lấy danh nghĩa quân triều đình đi đánh Sở, giữa đường bỏ dở, ngày nay có nước Ngô ra mặt đem quân đánh Sở, thế là chuyện cầu mong cũng chẳng được, thế nên đã vội vàng nói:
– Đã được Ngô vương và nguyên soái có nghĩa cử cao cả như vậy, chúng tôi sao có thể khoanh tay đứng nhìn được, nên xin sẽ thân chinh cầm quân đi theo góp sức ạ!
Ngay sau khi đã bàn và quyết định, nước Thái cho năm ngàn binh lính, nước Đường cũng góp hai ngàn quân kỵ. Hai vua Đường, Thái đều e rằng xuất quân quá ít nên đều thấy ngượng ngập. Tâm sự ấy của họ, Tôn Tử đã hiểu rất rành rọt, ông nói:
– Binh lính nhiều hay ít không ai bắt buộc, có điều phiền hai nhà vua là phải nghe theo lệnh chung.
Hai nhà vua đều bày tỏ:
– Nguyện sẽ theo sự sắp đặt của nguyên soái.
Sau khi tàn bừa tiệc, hai vua Đường, Thái tạm cáo từ, lần lượt đi chỉnh đốn binh mã, cắm trại theo đại cung của quân Ngô, rồi sai tướng sĩ về giữ thủ đô, tiện thể sắp đặt qua công việc trong nước.
Sáng sớm hôm sau, toàn quân ăn một bữa thật no, nhổ trại lên đường đi hai ngày đến Hoài Nhuế. Nhuế Thuỷ từ đây đổ vào sông Hoài, bởi thế toà thành này cũng gọi là Hoài Nhuế, đây cũng là biên giới phía bắc của nước Sở. Tôn Tử hạ lệnh nghỉ ngơi ở Hoài Nhuế hai ngày để chỉnh đốn quân ngũ, sau đó bỏ thuyền lên đi bộ về phía tây nam, vượt qua ba ải ở Nghĩa Dương rồi vượt Hán Thuỷ. Đây là điều tướng sĩ trong toàn quân đều không ai ngờ tới, ngay Ngô vương Hạp Lư cũng u u minh minh. Không thể cứ bám đằng sau đít Nang Ngõa mà lẵng nhẵng đuổi mãi thế này, lề mề hết ngày này sang ngày khác, há chẳng phạm vào lời dạy cổ xưa rằng “binh quý thần tốc” hay sao. Đi theo đường này, tuy rằng núi cao lối hiểm, cỏ rậm cây dày, sói lang lẩn khuất, nhất là ba cửa ải Nghĩa Dương, chim bay còn không tới, vượn khó trèo lên, thế nhưng chặng đường đi lại chỉ bằng non một phần ba chặng đường Nang Ngoã đang đi, hơn nữa không ai ngờ được rằng quân Ngô sẽ làm việc này, quân Sở lại càng không bố phòng mai phục, thế mới đúng là đi vào chốn không người. Để tranh thủ được nhiều thời gian hơn nữa, đi đến tây nam Tức Thành, đã chia quân thành hai mũi, lần lượt vượt hai ải Đại Tuy và Trực Viên, đến đông bắc Vân Thành thì hợp lại với nhau làm một. Còn về xe ngựa cần thiết, đã có công tử Sơn phụ trách áp tải lương thực lo liệu từ trước, thu gom và chở tới đợi sẵn ở cửa sông Hoài Nhuế.
Sau khi bỏ thuyền lên bộ, so với lúc đi bằng thuyền trên đường sông, quân Ngô cả về thời gian hành quân hàng ngày lẫn hành trình và tốc độ… đều sai kém nhau một trời một vực, hôm nào cũng nấu cơm từ canh ba, canh tư ăn thật no, canh năm lên đường, đi trong đêm tối. Bữa trưa thì thường là vừa hành quân vừa ăn com nắm, nhá lương khô, khát thì cúi xuống uống nước suối ở bên đường. Hết một ngày, các tướng sĩ quân Ngô đều mệt mỏi rã rời, sau khi ăn vội ăn vàng cho xong cơm tối, còn chưa kịp buông đũa bát, định cơm nước xong sẽ ngủ một giấc ngon lành cho bõ mệt, nhưng ngay tức khắc đã có lệnh của nguyên soái truyền xuống, đốt đèn đốt đuốc lên tiếp tục hành quân. Quân lệnh như sơn, ai dám không làm theo. Và như thế có khi mấy ngày đêm liền không chợp mắt, không phải là chuyện hiếm, các tướng sĩ nhiều khi phải dắt nhau mà bước hoặc vừa đi vừa ngủ gật. Không biết đi như thế bao lâu, cuối cùng hai cánh quân đã gặp được nhau ở Vân Thành. Tôn Tử hạ lệnh cho nghỉ ngơi ba ngày, sau đó để một số ít tướng sĩ ở lại Vân Thành đợi lệnh, còn phần lớn đội ngũ, rẽ sang hướng đông, đi về phía Cử Thuỷ Bách Sơn, hợp nhất với quân đội tuyến phía nam do Ngũ Tử Tư chỉ huy, để hợp lại đi về hướng tây, quyết chiến ở Hán Thuỷ.
Lại nói đến hữu doãn nước Sở là Nang Ngoã, mang năm vạn đại quân đi đánh nước Thái, cứ nghĩ rằng sẽ thắng lợi dễ dàng, sau đó sẽ kéo quân sang nước Đường. Không ngờ nước Thái quân lương không nhiêu, thế mà lại giỏi cả công lẫn thủ, hắn cho vây thanh tới hơn nửa tháng, nhưng vẫn thấy khó mà phá nổi thành. Trước đó không lâu, bỗng có thám tử báo tin rằng Ngô vương Hạp Lư ngự giá thân chinh đi đánh trận, phong Tôn Vũ làm nguyên soái kiêm quân sư, Ngũ Tử Tư, Bá Bỉ làm phó tướng, thống lĩnh mười vạn đại quân đến cứu nước Thái. Nghe thấy quân Ngô đông tới cả chục vạn người, lại có cả Ngũ Tử Tư, Bá Bỉ ở trong đó, Nang Ngoã đã thấy áy náy không yên, trong lòng đã hoảng hốt, có đánh cũng không còn mạnh mẽ được nữa. Về sau lại nghe tin quân Ngô đã cách kinh đô nước Thái không bao xa nữa, bèn tặc lưỡi đánh bài ba mươi sáu chước, chước chuồn là hơn, nên hạ lệnh thu quân về Sở. Dọc đường đi, hắn định để mọi người đi chậm lại, để cho bõ lúc mệt nhọc đánh thành cả nửa tháng liền, không ngờ mới dễ chịu được có nửa ngày, ngay đêm ấy thám tử lại báo: Quân Ngô đang đuổi sát phía sau, hiện có cách quân ta có ba ngày đường nữa thôi. Ngay lúc đó, Nang Ngoã cũng chẳng lấy gì làm sốt ruột, bởi muốn gì thì gì cũng còn những ba ngày đường kia mà, còn xa lắm! Ngày hôm sau, thám tử lại báo: Hiện giờ quân Ngô chì còn cách ta có hai ngày đường nữa thôi. Sau đó lại báo: Đằng sau không thấy quân Ngô đuổi tiếp nữa, quân Ngô đi đâu không rõ. Nang Ngoã nghe báo, luống cuống chân tay, Tôn Vũ cầm quân xuất quỷ nhập thần, lại giỏi đánh lừa, cái chuyện “đi đâu không rõ” này, dứt khoát không phải là điềm lành, thế là hạ lệnh toàn quân, ra roi giục ngựa, chạy thục mạng, một thôi một hồi đến thẳng bờ Hán Thuỷ, e rằng không kịp qua sông, liền vội vàng hạ lệnh vượt gấp qua sông. Sau khi vượt qua sông Hán Thuỷ, Nang Ngoã lại nghe tin quân Ngô đã từ ba ải Nghĩa Dương để tới Vân Thành, nên một mặt cho người về Sính đô cáo cấp, xin Chiêu vương cho viện binh đến ứng cứu ngay, mặt khác lệnh cho toàn quân hạ trại dọc hai bờ Hán Thuỷ để chiếm giữ, buộc hết thuyền ở bờ sông. Nang Ngoa nghĩ rằng, quân Ngô đã bỏ thuyền lên bộ, từ xa đến đây, không có thuyền bè, muốn qua sông là chuyện ngông cuồng trăm phần trăm…
Nghe tin quân Ngô nổi dậy, rồi sau đó không lâu Nang Ngoã lại sai tướng về kinh đô cáo cấp, Sở Chiêu vương vời văn võ đại thần đến để bàn mưu kế. Công Tử Thân nói:
– Nang Ngoã không có tài của một đại tướng, mau lệnh cho tư mã Thẩm Doãn Tuất mang quân đến đó ngay, đừng có để người Ngô qua được sông Hán Thuỷ. Quân Ngô từ xa đến không có đồ tiếp tế, tất sẽ không ở được lâu.
Chiêu vương nghe theo ý đó, lệnh Thẩm Doãn Tuất mang một ngàn năm trăm quân sĩ đi cứu cấp, hợp sức với Nang Ngoã để chống giữ.
Nang Ngoã đã từng trực tiếp hoặc gián tiếp giao chiến với Tôn Tử, lần nào cũng bị thua nên lúc này như chim chết hụt thấy cành cây cong cũng ngờ là cung, tuy trước mắt có một dòng sông ngăn cách, nhưng trong lòng luôn thấy chẳng có gì chắc chắn, vì Tôn Vũ là con người không có một tướng soái hay nhà quân sự tầm thường nào sánh nổi. Nghe nói ở nước Ngô, ông ta duyệt nữ binh đã chém hai nàng cơ, Hạp Lư chẳng những không quở trách, còn tôn ông lên hàng nguyên soái và quân sư, giao cho nắm quyền bính trong nước. Sự thực cuộc giao chiến giữa nước Ngô nước Sở đã đủ để minh chứng, Tôn Vũ quả thật là một bậc dị nhân từ trên trời xuống, đã thế lại còn có những người văn võ toàn tài như Ngũ Tử Tư, Bá Bỉ làm tướng, có binh mã của hai nước Thái, Đường hỗ trợ, chẳng may Hán Thuỷ không ngăn nổi quân Ngô, viện binh của Sính đô lại chưa đến kịp, thì biết làm thế nào? Nang Ngoã càng nghĩ càng buồn, càng nghĩ càng lo sợ, suốt ngày lầu rĩ, mặt ủ mày chau, chẳng nói chẳng rằng, đến nỗi trà không thiết, cơm không thèm, dần dần sinh bệnh. Các quán văn võ cùng đi lũ lượt đến khuyên nhủ, muốn làm cho Nang Ngoã bớt lo âu. Người thì bảo: “Lệnh doãn cứ yên tâm, Tôn Vũ không phải kẻ có ba đầu sáu tay, luyện quân chém phi, chúng ta đã ai thấy tận mắt, chẳng qua là dựng chuyện giật gân lên mà thôi”. Có người thì bảo: “Thì cứ cho rằng Tôn Vũ có tài thực sự đi nữa, mà thuyền bè đều để cả ở Hoài Nhuế, đến đây bị Hán Thuỷ ngăn cản, cách sông đến hàng ngàn dặm, đến đây không có thuyền bè để qua, quân Ngô không không thể mọc cánh mà bay qua sông được, lệnh doãn khỏi bận tâm”. Có người lại nói: “Lệnh doãn nên hiểu rằng quân Ngô sau khi hạ trại ở phía đông sông Thanh Phát, tại sao đến giờ còn chưa tiến được bước nào? Chắc chắn là do không hợp thuỷ thổ, nên sinh ra bệnh tật, mà số người ốm đau không phải là nhỏ”. Có người còn bất chấp cả sự thực, cố lấy lòng, uốn ba tấc lưỡi: “Lần này đem quân đi, tuy lệnh doãn chưa diệt được nước Thái, nhưng ngày nay lệnh doãn rất có tiếng tăm ở nước ngoài, trước đây mười tám nước chư hầu xâm phạm nước Sở, tại sao lại phải bỏ dở nửa chừng? Tất cả đều do sợ oai lệnh doãn cả đấy, cho nên nửa đường mới bỏ cả bè bạn, mỗi người đi một đường. Nay quân Ngô cũng sợ oai lệnh doãn co cụm lại không dám tiến lên, việc gì chúng ta phải run sợ ạ?”… Cứ thế mỗi người một câu, toàn những lời tốt đẹp, dễ nghe. Nang Ngõa thừa hiểu trong bụng rằng, đó toàn là những lời khoác lác, rỗng tuếch, những lời lẽ dối trá, tự mình lừa dối mình, nhiều lắm thì cũng chỉ ngang một viên thuốc trợ tim.
Một hôm, Nang Ngoã đang rầu rĩ ở trong trướng quán, bỗng nghe tin Thẩm Doãn Tuất và Võ Thanh Hắc đem quân tới. Thế là trái tim thắc thỏm của hắn bỗng được bình tĩnh lại, vội vàng ra trướng để đón tiếp. Thấy Nang Ngoã ra đón, hai tướng kia liền xuống ngựa hỏi han, đôi bên nói với nhau những câu vỗ về an ủi. Vừa bước vào trong trướng, Thẩm Doãn Tuất đã hỏi:
– Hiện quân Ngô đang đứng ở đâu?
– Đóng ở vùng bờ đông sông Thanh Phát và Vân Thành – một tay chân của Nang Ngoã đáp.
– Làm sao mà quân Ngô có thể đến nhanh được thế nhỉ – Đôi lông mày của Thẩm Doãn Tuất nhíu lại với nhau thành một cục.
Nang Ngoã đáp:
– Ngô dùng thuỷ quân cứu nước Thái, đi đến Hoài Nhuế thì bỏ thuyền lên bộ, đi quay sang hướng nam, ta đang e rằng quân Ngô vượt Hán Thuỷ, thì sẽ đe doạ đến an toàn kinh đô nước Sở, nên đã đi ngày đi đêm, đến đóng giữ bờ tây Hán Thuỷ. Để phòng ngừa bất trắc, đã cử tướng về Sính đô cáo cấp, nay có tư mã và tướng quân đến tăng viện, thì có thể bảo đảm hoàn toàn chắc chắn rồi.
Chà chà, Nang Ngoã nói thật còn dễ nghe hơn cả tiếng hát, ông ta cứ như không phải sợ quân Ngô giải vây cho nước Thái bỏ chạy đến đây, mà là cân nhắc đến toàn cục, muốn giữ yên cho kinh đô, nên chủ động di chuyển đến cố thủ ở đây không bằng.
Thẩm Doãn Tuất không hề để ý đến những lời véo von như tiếng hót hoạ mi của Nang Ngoã, có thể ông ta còn chưa nghe rõ rốt cuộc đối phương đang nói những gì, nên đã hỏi dồn:
– Nếu nói thế, có nghĩa là thuyền bè của quân Ngô đều vứt ở cửa sông Hoài Nhuế hay sao?
– Theo như tin báo, thì thuyền bè của quân Ngô đúng là đều bỏ ở sông Hoài Nhuế – Nang Ngoã trả lời ráo hoảnh không hề ấp úng hàm hồ.
Thẩm Doãn Tuất ngửa mặt lên, cười ha hả mãi không thôi, cười đến nỗi Nang Ngoã ngớ cả người ra, rồi hỏi:
– Tại sao Tư Mã lại cười?
Thẩm Doãn Tuất đáp:
– Người ta bảo cầm quân như thần, hoá ra chẳng qua là thế, thật là trò đùa.
– Thế nghĩa là thế nào?
– Quân Ngô xưa nay chỉ giỏi đánh nhau trên sông nước, phen này vì chỉ muốn nhanh, đã bỏ thuyền lên bộ, mặt mạnh không dùng, lại dùng mặt yếu, thế thì làm gì mà chẳng thua? Ta chỉ cần dùng một mẹo vặt, dám chắc là quân Ngô sẽ không còn mảnh giáp.
Nói khoác vẫn không phải nộp thuế, Thẩm Doãn Tuất tưởng thế nào, hoá ra cũng đang nói khoác. Kỳ thực hắn đâu có phải là chưa từng đọ với Tôn Tử, mà đã có mấy bận khi quân Ngô chia ba làm suy yếu quân Sở, ông ta đã từng bị Tôn Tử quần cho phải lao lung tung như nhặng mất đầu đến nỗi bươu đầu sứt trán.
Nang Ngoã vội như vồ lấy hỏi:
– Tư mã có diệu kế chi vậy?
Thẩm Doãn Tuất thủng thẳng chậm rãi nói:
– Tôi chia cho ngài năm ngàn quân, Lệnh doãn cho hạ trại dọc sông Hán Thuỷ, tập trung hết thuyền bè ở phía bờ tây Hán Thuỷ, rồi cho thuyền nhỏ đi đi lại lại trên sông, để quân Ngô không cướp được thuyền mà vượt sông. Ta cho một cánh quân, cuốn cờ tắt trống, từ vùng Tàn Tức đi vòng tới vùng cửa sông Hoài Nhuế, xuất kỳ bất ý thu hết thuyền bè của quân Ngô rồi đem đốt phá hết đi, sau đó lại dùng gỗ đá chèn lấp cửa ải Quan Tân ở Hán đông, để quân Ngô không còn đường tháo lui, sao đó hẹn ngày giờ với lệnh doãn đánh ép từ hai phía trước sau, lúc ấy quân Ngô đỡ đằng trước thì không chống được đằng sau, muốn tiến cũng không được, muốn lui cũng không xong, thế thì lo gì mà chúng chẳng tan vỡ hoàn toàn…
– Hay lắm! Đúng là một diệu kế. – Nang Ngoã vỗ tay xuống bàn khen hay.
Tuy Nang Ngoã là cấp trên, nhưng Thẩm Doãn Tuất chưa thật yên tâm về con người này, nên đã dặn đi dặn lại:
– Sau khi tôi đi khỏi đây, chỉ được cố thủ, cho dù quân Ngô có ở bên kia bờ sông chửi bới khiêu khích, lệnh doãn cũng phải nín nhịn, chớ có giao chiến với chúng, nếu không miếng ăn đến miệng lại sểnh. Còn tôi sớm thì mười hôm, nhiều thì nửa tháng, nhất định sẽ có tin.
– Hay lắm! Tư mã quả là cao tay. Điều ta lo ngại là, sau khi ông đi rồi, tướng soái đánh đấm được ở trước mặt ta sẽ chẳng có bao nhiêu, chẳng may không giữ nổi Hán Thuỷ… – Nang Ngoã tỏ ra băn khoăn.
Thẩm Doãn Tuất khảng khái nói:
– Nếu như lệnh doãn thiếu tướng tài, thì tôi để tướng quân Vũ Thành Hắc ở lại đây, hàng ngày sẽ đi tuần trên sông, sẽ cho buộc hết thuyền bè của dân ở bên bờ tây, như thế hẳn lệnh doãn yên tâm chứ gì?
Nang Ngoã cũng làm ra bộ phóng khoáng, nói:
– Được! Như thế thì ta yên tâm rồi. Phen này mà lập được công lớn, đánh bại và đuổi được quân Ngô đi, ta sẵn sàng nhường cho ông chức lệnh doãn này.
Nang Ngoã lúc này hoàn toàn là lấy tấm lòng tiểu nhân để đo dạ quân tử, e rằng Thẩm Doãn Tuất thắc mắc băn khoăn công việc thành công rồi không kiếm chác được gì rồi nửa đường giở quẻ, không chịu gắng sức, cho nên đã cho ăn bánh vẽ.
Thẩm Doãn Tuất ngượng chín cả mặt, vội vàng nói:
– Sao lệnh doãn lại nói thế, tội chết tôi mất!
Đêm ấy, họ đã cân nhắc và định đoạt xong việc lớn xong, rồi để lại năm ngàn quân. Sáng sớm hôm sau, Thẩm Doãn Tuất mang theo một vạn binh mã lên đường, vượt sông, vu hồi cắt đường đến Tân Tức để tới Hoài Nhuế.
Lại nói quân Ngô tới bờ đông sông Thanh Phát và vùng Vân Thành, chỉnh đốn lại đội ngũ, để một bộ phận nhỏ đóng lại, mua chuộc dân chúng trong vùng đóng giả làm quân Ngô để lừa Nang Ngoã. Còn Tôn Tử mang phần lớn quân sĩ rẽ sang hướng đông, ngựa tháo chuông, người ngậm tăm, cuốn cờ tắt trống, xuất quỷ nhập thần đi tới vùng giữa Bách Sơn và Cử Thuỷ, nhập vào với cánh quân phía nam do Ngũ Tử Tư dẫn đầu, để tập trung ưu thế và binh lực, đánh quân Sở dần dần từng miếng một. Sau khi đến đích, quân tướng hai cánh quân gặp mặt ôm lấy nhau mừng rỡ, thế nào, khỏi cần phải nói. Tôn Tử lệnh cho các tướng sĩ nghỉ ngơi tại chỗ để chờ lệnh, tự mình thân chinh dẫn một số tướng lĩnh lên núi, leo cao để nhìn xa, thấy đằng trước đằng sau và cả hai bên đều là núi lớn, núi nhỏ, núi đè lên nhau, núi gối lên nhau, dài dài không dứt. Quan dẫn đường nói với Tôn Tử rằng, quả núi cao ngút trời, liên miên không thấy đầu thấy cuối kia gọi là núi Dự Chương; quả núi ở bên phải núi Dự Chương gọi là Tiểu Dự Chương, còn gọi là Tiểu Biệt Sơn… Tôn Tử xem xong địa hình, vẫy tay gọi quan trung quân:
– Mau. Hãy truyền lệnh của bản soái, cho hạ trại ngay trên núi Hán Âm – Kỳ thực, vùng núi cao nhấp nhô, trùng trùng điệp hàng chục dặm này, tất cả đều gọi là dãy núi Dự Chương, gọi cụ thể ra, có Dự Chương, Tiểu Dương Chương, rồi núi Hán Âm, Bách Sơn vv… theo thói quen gọi là Đại Biệt Sơn, Tiểu Biệt Sơn, núi Hán Âm, Bách Sơn vv…
Ngay lúc đó, trung quân đã truyền lệnh, toàn quân cắm trại và đóng lại núi Hán Âm. Tạm thời dựng lại không đi, tối đến mọi người ngủ một giấc ngon lành. Riêng Tôn Tử, vẫn phải bận với hàng hoạt công việc: chỉ định tuần đêm, truyền khẩu lệnh, cử lính canh, cắt người gác đêm. Đồng thời, ông còn cho thám tử đi nghe ngóng động tĩnh của quân Sở.
Thẩm Doãn Tuất đi rồi, Nang Ngoã cả ngày hí hửng, uống trà tán chuyện, gối cao ngủ kỹ, một hôm, đang ngồi chuyện phiếm với quan tiên phong Sử Hoàng, Nang Ngoã nói:
– Không ngờ Thẩm Tư mã lại có cẩm nang diệu kế như vậy, cứ thế này thì công lao đánh bại quân Ngô, đã ở trong tầm tay rồi.
Nghe nói vậy, Sử Hoàng mỉm cười, cười đến nỗi Nang Ngoã thấy mất tự nhiên liền hỏi:
– Tại sao tiên phong lại cười?
Sử Hoàng lại cười nhạt lần nữa, đáp:
– Hành động đó của Thẩm tư mã, mạt tướng có suy nghĩ của mình, không biết có nên nói bay không?
Nang Ngoã thôi thúc:
– Có gì thì cứ nói, quan tiên phong suy nghĩ thế nào?
Sử Hoàng tỏ ra người rất có mưu mô nói:
– Theo thiển nghĩ của mạt tướng, lệnh doãn đã trúng phải mưu gian của tư mã rồi!
Nang Ngoã ngạc nhiên và khó hiểu, hỏi:
– Ông ta bàn mưu với ta cùng đánh quân Ngô, sao lại bảo ta trúng phải mưu gian của ông ta?
Sử Hoàng tránh không trả lời thẳng vào câu hỏi của Nang Ngoã, nói:
– Mưu của tư mã, đúng là có thể đánh bại quân Ngô, tuy nhiên sau khi đánh bại quân Ngô, mọi người đều được lợi, riêng với lệnh doãn chỉ có hại mà không hề có lợi…
Nang Ngoa cuống lên, ngắt ngang lời Sử Hoàng:
– Thế nghĩa là thế nào?
Sử Hoàng làm ra vẻ thao lược nói:
– Lệnh doãn hẳn còn nhớ buổi đầu Yểm Dư và Chúc Dung của nước Ngô mang quân xâm phạm biên giới, Thẩm Doãn Tuất đã chặn được quân Ngô, Bá Khước Uyển chặn cửa sông Hoài Nhuế, cắt đường về của quân Ngô. Sau khi quân Ngô thất bại, tất cả quân nhu vật tư đều thành của riêng Bá Khước Uyển, về đến Sính đô, Chiêu vương còn ban thưởng trước điện. Cùng đi đánh trận, mà Thẩm Doãn Tuất còn có công lớn, nhưng đến cuối cùng, Bá Khước Uyển lại vớ bở, Thẩm Doãn Tuất chẳng được gì. Nay Thẩm Doãn Tuất cũng học cách Bá Khước Uyển, để lệnh doãn chặn quân Ngô ở Hán Thuỷ, ông ta tạt qua cửa sông Hoài Nhuế, cắt đường về của quân Ngô. Chẳng bao lâu nữa quân Ngô mà thua, ông ta được cả tiếng cả miếng, còn lệnh doãn thử hỏi có khác gì múc nước bằng rá, múc thì đầy nhưng chẳng được gì. Lời người đáng sợ, mọi người đều xì xào bàn tán, ai cũng bảo lệnh doãn bất tài, thua chạy re mới đến Hán Thuỷ, may nhờ Thẩm tư mã tiếp ứng, mới đánh bại được quân Ngô. Đến lúc ấy, ngài còn mặt mũi nào ngồi ở ghế của thừa tướng nữa? Với lại, lệnh doãn đã từng nói với Thẩm tư mã, nếu việc lớn thành công, thì sẽ nhường chức lệnh doãn cho ông ta đó thôi, thế há chẳng phải là tự thừa nhận rằng Thẩm tư mã vượt xa hơn mình sao?
Không để cho Sử Hoàng nói hết, Nang Ngoã vội vàng giải thích:
– Chuyện nhường chỗ cho nhau, là câu hàn huyên cửa miệng ở chốn quan trường, sao có thể coi là thật được?
Sử Hoàng vẫn thủng thẳng tiếp:
– Đấy là những lời đãi bôi, mạt tướng làm gì chẳng biết, có điều sau khi lập công, rồi ông ta sẽ níu lấy câu nói ấy của lệnh doãn, ép người phải nhường ghế cho mà xem, lúc ấy thì liệu tính sao ạ?
Nang Ngoã quay ra trách móc:
– Vậy sao ngươi chẳng nói sớm với ta?
Sử Hoàng giải thích:
– Suốt ngày tai mắt người ta nhiều thế, thì hé răng vào lúc nào ạ?
Nang Ngoã nghĩ bụng, Sử Hoàng suy cho cùng là tâm phúc của ta, hắn nói không sai, nếu làm theo mưu mô của Thẩm Doãn Tuất, mình hoá ra nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì, toàn là làm giá áo túi cơm cho người khác, không, dứt khoát không thể làm cái việc ngu xuẩn ấy được! Chợt quay sang Sử Hoàng, Nang Ngoã hỏi:
– Theo ý ngươi, thì nên làm thế nào?
Sử Hoàng đáp:
– Theo ý của mạt tướng, không phải chờ thẩm tư mã tự đi trước qua sông chiến với quân Ngô. Đánh để mà thắng, đương nhiên là điều không thể trông mong được mà rồi thua cũng chưa biết chừng, hãy cứ chờ đợi dăm bữa nửa tháng, cho quân Ngô nghe tin thuyền bè ở Hoài Nhuế bị đốt phá hết, quân tâm tất sẽ rối loạn, lúc ấy chẳng đánh cũng tan, bỏ trại mà chạy, lệnh doãn chỉ cần ra tay, là được hết tất cả, Thẩm tư mã thì sẽ trắng tay. Lệnh doãn nghĩ thế nào?
– Cái đó… – Nang Ngoã không biết nên thế nào – để ta suy nghĩ cái đã.
Sử Hoàng đi rồi, Nang Ngoã lại cho vời Vũ Thành Hắc đến để hỏi. Vũ Thành Hắc trả lời, cũng giống như Sử Hoàng, điều đó càng làm vững vàng thêm niềm tin của Nang Ngoã trong việc vượt trước qua sông Hoài để giao chiến với quân Ngô.
Tại sao Vũ Thành Hắc lại có sự nhìn nhận giống như Sử Hoàng? Bởi ông này cũng đang ấm ức với Thẩm Doãn Tuất – Ta với người cùng đến đây, người đi, vứt bỏ ta lại đây, rõ ràng chỉ vì một mình riêng chiếm phần béo bở. Ngươi đã bất nhân, thì ta hà tất phải có nghĩa, vì thế ta cứ tóm phắt lấy chân ngươi lại. Qua sông xong, giao chiến với quân Ngô, nếu thắng lợi, để cho ngươi đừng hòng kiếm chác được chút gì; nếu thất bại thì tất cả cùng đen đủi như nhau…
Nang Ngoã đang sắp sửa cho việc vượt sông, bỗng nhận được tình báo: Vùng núi phía đông Bách Cử, cũng có đại quân của nước Ngô thâm nhập. Bị Sử Hoàng và Vũ Thành Hắc xúi giục, Nang Ngoã quyết định dẫn quân vượt Hán Thuỷ sang phía đông, trước hết đánh cánh quân Ngô ở phía nam thâm nhập vào từ đất Tiềm, sau đó sẽ cũng Thẩm Doãn Tuất giáp công đánh cánh quân Ngô ở phía bắc. Như vậy, công của Nang Ngoã tất sẽ ở trên Thẩm Doãn Tuất.
Nang Ngoã dẫn quân Sở vượt qua Hán Thuỷ, không nghỉ ngơi chút nào, lại rầm rầm rộ rộ tiến đến Đại Biệt Sơn, rồi cắm trại quân ở Tiểu Biệt Sơn. Sau khi doanh trại đã cắm xong đâu vào đấy, Nang Ngoã lên trướng quân, lệnh Sử Hoàng và Vũ Thành Hắc mang ba ngàn binh lính, đến trước doanh trại của đại quân nước Ngô ở núi Hán Âm gọi địch ra đánh, để xem rốt cuộc quân Ngô ghê gớm đến đâu.
Hai tướng đem quân đến chân núi Hán Âm, ngửa mặt nhìn lên doanh trại của quân Ngô, cũng chẳng nhìn thấy nơi nào có gì đặc biệt. Quan đánh trận phụng mệnh lên trước lớn tiếng hô lên:
– Này, ở trên núi dỏng tai lên mà nghe nhé, chủ tướng của ta bảo chủ tướng các người ra để hỏi chuyện!
Lính gác ở cửa trại ngang lưng núi cũng gọi xuống:
– Chủ tướng nhà các người là ai, hãy khai họ báo tên ra nào!
– Sử Hoàng! Sử tiên phong!
– Cái gì? Tử tiên phong? Tiên phong chết à? Tiên phong sống còn chẳng ăn ai, cho tiên phong chết đến đây làm gì?
– Không phải Tử, mà Sử, họ Sử, tên Hoàng, với lại Vũ Thành Hắc, Vũ tiên phong!
– Cái gì? Hắc hay là Hoắc, là đen à? Hay là vàng?
– Cả hai đều là quan tiên phong! Mau đi báo cho chúa của các ngươi.
– Được! Hãy đợi đấy! – Một người lính chạy đến trước trướng báo cáo với Tôn Tử.
Ở trong trướng, Tôn Tử đang đi đi lại lại một mình. Tôn Tử không lẩn thẩn như Nang Ngoã, chủ lực của quân Ngô đã rời Vân Thành tiến về phía đông từ lâu, đến bài binh bố trận ở vùng Đại Biệt Sơn, nhưng hắn vẫn còn u u minh minh. Hai quân tuy ở xa nhau, nhưng tình hình điều binh khiển tướng của quân Sở thế nào Tôn Tử rõ như trong lòng bàn tay. Thẩm Doãn Tuất và Vũ Thành Hắc mang một vạn rưỡi quân đến tăng viện cho Nang Ngoã, chỉ ở có một đêm. Thẩm Doãn Tuất bèn đem một vạn quân bí mật vượt Hán Thuỷ, tiến quân về phía Tân Tức, điều đó rõ ràng là muốn hình thành thế giáp công đối với quân ta. Tôn Tử một mặt cho người theo dõi sát, kịp thời báo tin về, một mặt suy nghĩ vạch ra kế để thắng địch. Ông nghĩ rằng, nếu quân Sở muốn hai mặt nam bắc giáp công, mà Nang Ngoã qua sông lúc này, là khí sớm mất một chút. Có điều họ đã qua sông, lại tìm tới tận cửa, thì không nên để cho chúng nhẹ nhàng mà quay về tay không. Tôn Tử đang trù tính như vậy, thì lính canh vào báo cáo tình hình quân Sở đã tới chân núi và đang cho người kêu gọi quân ta đánh trận.
Tôn Tử nghe báo, vẫn ung dung tự nhiên, cứ y như đang đánh cờ với ai đó, mà đối phương lại đi lỡ nước cờ; cũng lại giống như người đang gảy đàn, trên những sợi dây đàn đang rung lên những âm thanh đắc chí hả hê, ông bất giác mỉm miệng cười. Chính trong cái nháy mắt nở nụ cười ngắn ngủi đó, trong óc ông bỗng hình thành và nảy ra một phương án chiến đấu: Lúc này không thể đánh khiến cho Nang Ngoã hoảng sợ được, nếu không, hắn sẽ chuồn trở lại Giang nam; trước tiên hãy đánh nhỏ thôi, đánh từng bước một, đợi đánh qua Hán Thuỷ, lúc ấy mới đánh lớn, đánh nhanh.
Sau đó, Tôn Tử dặn dò người lính canh vừa đến báo việc, ra ngoài cửa trại gọi lớn thế này thế này, sau đó cho người ra cửa trại chuẩn bị như thế như thế. Sau khi hai toán người này ra đi rồi, Tôn Tử lại sắp đặt cho Phu Khái mang ba trăm quân lặng lẽ xuống núi, hành động như thế như thế…
Người lính canh về đến cửa trại, gọi lớn xuống chân núi:
– Này. Dưới kia nghe đây này! Chủ tướng nhà ta đang bận công việc, không được rỗi mà xuống núi, không thì hôm nay hẹn với các người, giờ này ngày mai gặp lại, không nữa thì các người về bên kia sông đi.
– Phó tướng của các người không ai ra lấy một người à?
– Quân ta có nhưng hai phó tướng kia, một là Ngũ tướng quân Ngũ Tử Tư, một nữa là Bá tướng quân Bá Bỉ, hôm nay họ cũng đều không ra được, tạm tha mạng sống cho các ngươi, hôm khác, thế nào cũng có dịp cho các ngươi lên chầu trời!
Quan đánh trận quay về đội, thực thà tâu hết mọi điều. Cho đến tận lúc này bọn chúng mới biết rằng quân Ngô ở hai hướng bắc nam đã hợp làm một, trên mặt Sử Hoàng bỗng hiện ra vẻ bẽn lẽn ngượng ngập, Vũ Thành Hắc thì hầm hầm tức giận.
Sử Hoàng vừa nghe, thấy rõ ràng đây rất rõ là rắp tâm lảng tránh, hay là do không phục thuỷ thổ, mà quân Ngô đang mắc bệnh, Vũ Thành Hắc cũng có thể yên tâm mạnh dạn hơn lên. Hắn chỉ sợ có một mình Ngũ Tử Tư, thế mà Ngũ Tử Tư lại không ra giáp chiến được, thì tại sao mà không xông lên núi, đánh vào doanh trại quân Ngô thì thê nào cũng thắng ngay trận đầu.
Vũ Thành Hắc vẫn là một kẻ nóng nảy, lại không biết che giấu quan điểm của mình bao giờ, bèn nói lớn:
– Tướng nước Ngô đã không dám ra đánh như thế, chắc chắn là trong doanh trại của chúng nhất định đang trống rỗng, tại sao ta lại chẳng xông lên núi đi!…
Sử Hoàng cố làm ra vẻ trầm tư suy nghĩ, sau mới nói:
– Tôi nghĩ tướng bên Ngô không phải là không dám ra đánh, mà có khi là do một nguyên cớ khác kia!
– Mặc nguyên cớ gì cũng kệ, chúng không ra khỏi doanh trại để đón đánh, thì ta xông lên – Võ Thành Hắc nói như đang ngứa ngáy chân tay.
Sử Hoàng chần chừ một lúc lâu, cứ y như là bày tỏ một quyết tâm sau cùng:
– Thôi cũng được, chúng ta xông lên núi, thử một trận xem sao.
Vũ Thành Hắc hô lớn:
– Các con đâu! Xông thẳng lên cho ta!
– A a a… Xông lên aaa… – lính tráng vừa hô vừa xông lên núi Hán Âm ào ào…
Ở trên núi, lúc đầu không động đậy gì, mãi cho đến lúc quân Sở sắp vào đến cửa các doanh trại thì đá hộc, gỗ cây ầm ầm từ đâu lăn xuống, đập vào đám quân Sở đang ở dưới leo lên, kẻ thì vỡ đầu máu chảy, kẻ thì gẫy xương trật gân, kẻ thì thịt nát xương tan, kẻ thì bị đè bẹp. Nhìn thấy vậy, Sử Hoàng và Vũ Thành Hắc mới biết rằng trên núi đã trên núi đã có sự chuẩn bị trước, xông lên núi, đánh vào doanh trại quân Ngô, thì sẽ không ăn thua gì, nhưng quân Ngô sợ không dám ra mặt đánh nhau với mình như thế, cũng có thể gọi là mình thắng rồi, thế là hạ lệnh rút quân. Để phô trương thanh thế, lệnh cho lính tráng đi thành hàng lối và cho đánh trống thắng trận, theo đường cũ về địa bản doanh ở Tiểu Biệt Sơn.
Đám quân Sở gõ trống thắng trận vang trời, bỗng nhiên từ những lùm cây ở ven đường, có đến bảy tám người tâng tâng nhảy ra chắn ngang đường đi. Những người này ai cũng cao to vạm vỡ, vai rộng eo tròn, áo ngắn mặc chẽn, tay người nào cũng lăm lăm một cây gậy gỗ, bề ngang có dễ bằng miệng bát, dài đến ngoài hai trượng, phía trước còn nguyên cả cành lá, trông như một cây chổi lớn. Người đi đầu hô lên “Đánh mạnh vào!”, những người còn lại ào tới, múa cây gậy của mình quét ngang mặt đất. Đám quân Sở hoàn toàn không ngờ rằng lại có người bất ngờ ra tay như vậy, trong đầu óc cũng còn chưa có sự đề phòng chút nào, mà đao và thương có trong tay thì không với tới những người kia, đành bị động ăn đòn, chỉ một loáng đã nằm ngổn ngang đầy mặt đất, tiếng khóc, tiếng kêu vang lên vô cùng thê thảm. Vũ Thành Hắc giận sôi lên, quát gọi quân lính: “Bay đâu! Vây chặt lại cho ta!”. Hô xong, hắn và Sử Hoàng vừa định thúc ngựa lên phía trước, thì từ trong rừng cây lại ào ào lao ra hơn ba trăm người, người nào cũng vung lên những cành cây như cây chổi thế, chẳng nói chẳng rằng, cứ nhè quân Sở mà phang.
Đừng có tưởng quân Sở đông người mà làm gì được lúc này. Hơn ba trăm cành cây ấy cứ thế múa lên ào ào như sóng, cũng đủ làm cho chúng nào bị thương, nào tàn phế lê lết, nào chết ngay tại chỗ, đội ngũ tan tác tả tơi. Vũ Thành Hắc tức quá, gầm lên trên mình ngựa, đường đường là những vị đại tướng như Vũ Thành Hắc, Sử Hoàng lúc này, cũng chỉ còn có thể loay hoay chống đỡ, không thể đánh trả được, đúng như người ta nói “hổ lẻ khó địch được sói bầy”.
Đang lúc quân lính hai bên còn đánh nhau chưa biết ai được ai thua, thì từ trong rừng cây vang lên tiếng quát:
– Này! Tướng giặc chạy đi đâu? Phu Khái đã đến đây!
Tiếng quát còn chưa dứt, Phu Khái vác cây cửu hoàn đại khảm đao, một mình một ngựa xông ra. Sử dĩ Phu Khái ra chậm một chút như vậy, là để cho ba trăm cây chổi kia quét cho quân Sở mệt nhoài ra đã, cho chúng tan tác hết rồi lúc ấy mới ra để lấy đầu Sở Hoàng, Vũ Thành Hắc, nếu được như thế mới gọi là công lớn trùm thiên hạ – Phu Khái xưa nay vẫn là con người tham công hám lợi như thế đấy!
Sử Hoàng, Vũ Thành Hắc lúc này mới biết mình đã rơi vào ổ phục kích, Phu Khái lại là một mãnh tướng của quân Ngô, chưa biết chừng trong rừng rậm kia vẫn còn vô số quân Ngô đang ẩn nấp, mà đội ngũ bên mình thì tan tác tả tơi rồi, đánh tiếp nữa sẽ chẳng mang lại kết quả gì tốt đẹp, chẳng thà tự nhận phần xui xẻo, về doanh rồi tính sau, thế là hạ lệnh lui quân. Vũ Thành Hắc một mình một ngựa lủi nhanh nhất, Sử Hoàng bám sát đằng sau. Lính thất trận như núi lở, quân sĩ kẻ thì chạy, kẻ thì bò, kẻ thì lết đi… chỉ chưa đến nửa canh giờ, đã trốn sạch chẳng còn một tên. Phu Khái cũng không thèm đuổi, theo lời dặn dò của Tôn Tử, tất cả xác chết đều không được chôn, tạm cứ để nguyên tại chỗ, rồi thu quân về trại gặp Tôn Tử báo công.
Mới chỉ va chạm thử một trận mở màn, đã có tin thắng trận. Hạp Lư cảm thấy rất mừng lòng, truyền cho sửa tiệc lớn mừng công. Người đầu sai vừa định bước đi, Tôn Tử đưa tay lên nói:
– Khoan đã! Rượu mừng công xin để ngày mai hãy uống, đêm nay còn một trận đánh lớn hơn!